Đề tài sẽ làm rõ những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng; mối quan hệ, các tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân; cấu trúc và sự vận hành thị trường c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
BÙI NGỌC QUỲNH
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA MẶT HÀNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
TRƯỜNG HỢP CÁC HỘ NUÔI
TẠI THỊ XÃ NINH HOÀ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Nha Trang - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi tên: Bùi Ngọc Quỳnh, học viên lớp cao học 2009, ngành Quản trị kinh doanh, xin cam đoan:
Mọi tài liệu, số liệu dùng tính toán, dẫn chứng trong luận văn này là trung thực Nội dung luân văn này chưa được bất kỳ ai công bố
Nha Trang, tháng 12 năm 2012
Tác giả
Bùi Ngọc Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này trước hết tôi xin cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại Học, Khoa Kinh Tế và quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp cao học ngành Quản trị kinh doanh trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khoá học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Thị Kim Anh đã định hướng và tận tâm hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Hộ nuôi tôm, các Đại lý và các Công ty chế biến
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp đỡ tôi thu thập số liệu trong quá trình thực hiện
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Chuỗi (Filière) 6
1.1.2 Chuỗi giá trị 7
1.2 Phân biệt chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 13
1.3 Nội dung cơ bản trong phân tích chuỗi giá trị 14
1.3.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị 16
1.3.2 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị 19
1.3.3 Quản trị chuỗi giá trị 21
1.3.4 Nâng cấp chuỗi giá trị 22
1.3.5 Liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị 24
1.3.5.1 Khái niệm liên kết kinh tế 24
1.3.5.2 Các hình thức liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị 24
1.3.5.3 Lợi ích của liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị 24
1.4 Tầm quan trọng việc phân tích chuỗi giá trị 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Ở THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Thực trạng ngành thủy sản Việt Nam 26
2.1.1 Sản lượng nuôi trồng, khai thác thủy sản Việt Nam 26
2.1.2 Giá trị và kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam 27
2.2 Thực trạng nghề nuôi tôm thương phẩm tại Việt Nam 29
2.2.1 Sản lượng tôm nuôi thương phẩm tại Việt Nam 29
2.2.2 Giá trị và kim ngạch xuất khẩu tôm thương phẩm Việt Nam 30
2.3 Thực trạng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam 31
2.3.1 Đặc điểm về tôm thẻ chân trắng 31
Trang 62.3.1.1 Phân loại 31
2.3.1.2 Đặc điểm sinh thái và tập tính sinh sống 32
2.3.1.3 Diện tích nuôi, sản lượng khai thác, kim ngạch xuất khẩu và thị trường tiêu thụ tôm thẻ chân trắng 34
2.4 Thực trạng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Khánh Hòa và Ninh Hòa 35
2.4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ninh Hòa 35
2.4.1.1 Vị trí địa lý 35
2.4.1.2 Đặc điểm khí hậu 37
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Ninh Hòa 38
2.4.3 Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng 39
2.4.3.1 Chọn địa điểm nuôi 39
2.4.3.2 Xây dựng hệ thống ao nuôi 39
2.4.3.3 Chuẩn bị ao nuôi 40
2.4.3.4 Thả giống 40
2.4.3.5 Chăm sóc, cho ăn và quản lý thưc ăn 40
2.4.4 Sản lượng nuôi và thị trường tiêu thụ tôm thẻ chân trắng tại thị xã Ninh Hòa 41
2.4.5Quy trình chế biến của Công ty cổ phần thủy sản Nha Trang 44
2.4.6 Các tổ chức, nhà hỗ trợ, thể chế, chính sách, qui định tác động chuỗi giá trị tôm chân trắng 45
2.4.7 Những thuận lợi, khó khăn trong việc nuôi trồng, chế biến xuất khẩu tôm thẻ chân trắng thị xã Ninh Hòa nói riêng và cả nước nói chung 48
2.5 Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu 51
2.5.1 Dữ liệu thứ cấp 51
2.5.2 Dữ liệu sơ cấp 52
2.5.3 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị 52
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Phân tích cấu trúc thị trường tôm thẻ chân trắng - Trường hợp các hộ nuôi tại thị xã Ninh Hòa 56
3.1.1 Những tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng - Trường hợp các hộ nuôi tại thị xã Ninh Hòa 56
3.1.1.1 Hộ nuôi tôm 57
3.1.1.2 Đại lý thu mua cấp 1 58
3.1.1.3 Đại lý thu mua cấp 2 58
Trang 73.1.1.4 Người bán lẻ 59
3.1.1.5 Công ty chế biến 59
3.1.1.6 Nhà nhập khẩu 59
3.1.2 Tình hình cạnh tranh sản phẩm tôm thẻ chân trắng tại thị xã Ninh Hòa 60
3.1.2.1 Mức độ khác biệt sản phẩm 60
3.1.2.2 Rào cản gia nhập ngành 60
3.1.2.3 Tiếp cận thông tin thị trường 62
3.2 Tổ chức vận hành thị trường 63
3.2.1 Phân loại và cơ sở hình thành giá 63
3.2.2 Hoạt động mua vào và bán ra 64
3.2.3 Phương thức giao dịch và thanh toán 68
3.3 Kết quả thị trường 70
3.3.1 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân tham gia trong chuỗi 70
3.3.1.1 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của hộ nuôi tôm 70
3.3.1.2 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên bình quân của Đại lý cấp 1 73
3.3.1.3 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của đại lý cấp 2 76
3.3.1.4 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của người bán lẻ 77
3.3.1.5 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của Công ty chế biến 78
3.3.2 Cơ cấu giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên của các tác nhân tham gia chủ yếu trong chuỗi giá trị 80
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TÔM THẺ CHÂN TRẮNG TẠI THỊ XÃ NINH HÒA 87
4.1 Hỗ trợ Hộ nuôi tôm 87
4.2 Thực hiện liên kết dọc giữa những tác nhân trong chuỗi 91
4.3 Tăng cường liên kết giữa các công ty chế biến xuất khẩu thủy sản trong hoạt động nghiên cứu thị trường nước ngoài 94
4.4 Đẩy mạnh tiêu thụ mặt hàng tôm thẻ chân trắng ở thị trường trong nước và nước ngoài 95
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHUÏ LUÏC
Trang 8CIRAD Trung tâm Hợp tác Quốc tế nghiên cứu nông học vì sự
ISO Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế IUU Illegal, unreported and unregulated fishing
INRA Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia Pháp
IRAM Viện Nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp phát triển LNBQ Lợi nhuận bình quân
VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
R & D Nghiên cứu và phát triển
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các thành phần của tổng giá trị tạo ra do chuỗi giá trị 20
Bảng 1.2: Các chỉ tiêu riêng để nâng cấp chuỗi 23
Bảng 2.1: Giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong năm 2011 28
Bảng 2.2: Giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2011 30
Bảng 2.3: Giá trị xuất khẩu từng loại tôm năm 2011 31
Bảng 2.4: Diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng ở Khánh Hòa năm 2010 35
Bảng 2.5: Tốc độ tăng GDP của thị xã Ninh Hòa giai đoạn 2005-2010 38
Bảng 2.6: Cơ cấu GDP (theo giá hiện hành) của thị xã Ninh Hòa phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 38
Bảng 2.7: Cơ cấu hộ lao động nông thôn phân theo ngành hoạt động 38
Bảng 2.8: Báo cáo tình hình nuôi tôm huyện Ninh Hòa giai đoạn 2008 - 2011 42
Bảng 2.9: Các nhân tố của mô hình SCP 54
Bảng 2.10: Các nhân tố áp dụng của mô hình SCP 54
Bảng 3.1: Rào cản gia nhập ngành đối với hộ nuôi tôm 60
Bảng 3.2: Rào cản gia nhập ngành đối với đại lý cấp 1 61
Bảng 3.3: Mức độ tiếp cận thông tin thị trường của Hộ nuôi tôm 62
Bảng 3.4: Nguồn cung cấp thông tin của Hộ nuôi tôm 63
Bảng 3.5: Doanh thu mặt hàng tôm thẻ chân trắng 67
Bảng 3.6: Sản lượng bình quân ao có diện tích 0,5 ha 70
Bảng 3.7: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của hộ nuôi tôm 70
Bảng 3.8: Giá bán bình quân của đại lý cấp 1 bán cho các tác nhân khác trong chuỗi 73
Bảng 3.9: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của đại lý cấp 1 giao dịch với đại lý cấp 2 74
Bảng 3.10: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của đại lý cấp 1 giao dịch với công ty chế biến 74
Bảng 3.11: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của đại lý cấp 1 giao dịch với người bán lẻ 75
Bảng 3.12: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của đại lý cấp 1 75
Bảng 3.13: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của đại lý cấp 2 77
Bảng 3.14: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của người bán lẻ 78
Bảng 3.15: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của Công ty chế biến 79
Trang 10Bảng 3.16: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của Công ty chế biến (mua tôm thẻ chân trắng trực tiếp từ hộ nuôi tôm) 79 Bảng 3.17: Phân tích chi phí và lợi nhuận biên của Công ty chế biến 80 Bảng 3.18: Tỷ trọng giá trị gia tăng của các tác nhân trong chuỗi từ hộ nuôi tôm, đại lý thu cấp 1, đại lý cấp 2 và công ty chế biến 81 Bảng 3.19: Phân phối lợi nhuận bình quân cho các tác nhân theo kênh hộ nuôi tôm, đại
lý cấp 1, đại lý cấp 2 và công ty chế biến 81 Bảng 3.20: Tỷ trọng giá trị gia tăng của các tác nhân trong chuỗi từ hộ nuôi tôm, đại lý cấp 1 và công ty chế biến 82 Bảng 3.21: Phân phối lợi nhuận bình quân cho các tác nhân theo kênh hộ nuôi tôm, đại
lý cấp 1 và công ty chế biến 83 Bảng 3.22: Tỷ trọng giá trị gia tăng của các tác nhân trong chuỗi từ hộ nuôi tôm cung cấp trực tiếp cho công ty chế biến 83 Bảng 3.23: Phân phối lợi nhuận bình quân cho các tác nhân theo kênh hộ nuôi tôm cung cấp trực tiếp đến công ty chế biến 84 Bảng 3.24: Tỷ trọng giá trị gia tăng của các tác nhân trong chuỗi từ hộ nuôi tôm, đại lý cấp 1 và người bán lẻ 85 Bảng 3.25: Phân phối lợi nhuận bình quân cho các tác nhân theo kênh hộ nuôi tôm, đại
lý cấp 1 và người bán lẻ 85
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Chuỗi giá trị của Michael Porter 8
Hình 1.2: Hệ thống giá trị 9
Hình 1.3 : Mối liên hệ trong chuỗi giá trị giản đơn 10
Hình 1.4: Chuỗi giá trị ngành nội thất .11
Hình 1.5: Một hoặc nhiều chuỗi giá trị 12
Hình 1.6: Mô hình phân tích chuỗi giá trị 13
Hình 1.7: Sơ đồ phân tích chuỗi giá trị 15
Hình 1.8: Lập qui trình cốt lõi đồ thủ công làm từ cói .17
Hình 1.9: Lập sơ đồ những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị tôm thẻ đông lạnh bán sang thị trường Mỹ .17
Hình 1.10: Sơ đồ các hoạt động cụ thể từ quy trình cốt lõi đồ thủ công làm từ cói 18
Hình 1.11: Lập sơ đồ về khối lượng .18
Hình 2.1: Sản lượng nuôi trồng, khai thác thủy sản Việt Nam 26
Hình 2.2: Sản lượng tôm nuôi thương phẩm ở Việt Nam .29
Hình 2.3: Tỷ trọng xuất khẩu tôm tôm Việt Nam các thị trường 31
Hình 2.4: Hình dạng ngoài tôm thẻ chân trắng .32
Hình 2.5: Bản đồ hành chính thị xã Ninh Hòa 37
Hình 2.6: Diện tích nuôi tôm ở Thị Xã Ninh Hòa 42
Hình 2.7 : Sản lượng tôm huyện Ninh Hòa qua các năm .43
Hình 2.8: Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP .53
Hình 3.1: Mô hình chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng .56
Hình 3.2: Phân phối giá trị tăng thêm bình quân của các tác nhân tham gia chủ yếu trong chuỗi từ hộ nuôi tôm, đại lý cấp 1, đại lý cấp 2 và công ty chế biến .81
Hình 3.3: Phân phối giá trị tăng thêm bình quân của các tác nhân tham gia chủ yếu trong chuỗi từ hộ nuôi tôm, đại lý cấp 1 và công ty chế biến 82
Hình 3.4: Phân phối giá trị tăng thêm bình quân của các tác nhân tham gia chủ yếu trong chuỗi từ hộ nuôi tôm trực tiếp đến công ty chế biến 84
Hình 3.5: Phân phối giá trị tăng thêm bình quân của các tác nhân tham gia chủ yếu trong chuỗi từ hộ nuôi tôm, đại lý cấp 1 và người bán lẻ 85
Hình 4.1: Liên kết dọc trong chuỗi 92
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu hàng đầu của nước ta Trong các năm qua, giá trị xuất khẩu thủy sản của nước ta đã liên tục tăng đáng kể Năm 2009 là 4,2513 tỷ USD, đến năm 2010 là 5,034 tỷ USD tăng 18,4 % so với năm 2009 Năm 2011 là 6,117 USD tỷ tăng 21,5 % so với năm 2010 (VASEP) Trong đó, năm 2011 sản phẩm tôm chiếm gần 2,4 tỷ USD, tăng 13,7% so với năm
2010 Hiện nay Việt Nam xuất khẩu sản phẩm tôm sang 91 thị trường thế giới Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc (gồm cả Hồng Kông) và Hàn Quốc là 5 thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm 81,7% tỷ trọng giá trị xuất khẩu tôm cả nước Trong đó, Nhật Bản đứng đầu với giá trị đạt 607,2 triệu USD, chiếm 25,3% tỷ trọng XK, tiếp đến Mỹ (558,5 triệu USD), EU (412,8 triệu USD), Trung Quốc (223,6 triệu USD) và Hàn Quốc (157,5 triệu USD) [27]
Tôm sú vẫn là mặt hàng xuất khẩu tôm chủ lực của Việt Nam Tổng giá trị xuất khẩu tôm sú năm 2011 đạt trên 1,43 tỷ USD chiếm gần 60% tổng giá trị Tuy nhiên, do tôm sú có thời gian nuôi dài ngày, chi phí nuôi cao, dễ mắc dịch bệnh; do đó mặt hàng tôm thẻ chân trắng có xu hướng được thay thế Giá trị tôm thẻ chân trắng năm 2011 đạt 704 triệu USD tăng gần 70% so với năm 2010 [27]
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 hoặc Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ Nam Mỹ, không phân bố tự nhiên ở vùng biển các nước châu Á So với tôm sú (Penaeus monodon), tôm chân trắng có đặc điểm là: tốc độ sinh trưởng nhanh,
có thể nuôi mật độ cao do có đặc tính phân bố đều trong cột nước, tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn nhiều lần so với tôm sú ngay cả trong điều kiện độ mặn biến động lớn,
có khả năng chịu được nhiệt độ thấp (<150C), đặc biệt tôm chân trắng cũng đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein thấp hơn tôm sú nên ngày càng được phát triển nuôi rộng [4] Tôm chân trắng nhập cư vào Việt Nam vào năm 2003 nhưng không được phép nuôi rộng rãi do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho các đối tượng nuôi khác Đến năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã loại bỏ các lệnh cấm này Kể từ
đó, nhiều Hộ nuôi tôm cả nước, đặc biệt là các tỉnh miền Trung lựa chọn nuôi để thay thế cho tôm sú
Trang 13Thị xã Ninh Hòa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa có diện tích mặt nước rộng lớn với 3.209 ha có thể phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợ Diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản nước ngọt là 1.540 ha Ngoài ra, Ninh Hoà nằm trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng ven biển, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hoà, mùa đông không rét buốt Nhiệt độ trung bình hàng năm 26,60C, lượng mưa trung bình hàng năm 1.350 mm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nuôi tôm Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng tăng lên một cách nhanh chóng Năm 2008, diện tích nuôi tôm chân trắng chỉ đạt 300 ha và sản lượng là 425 tấn; đến năm 2011 là 1.500 ha và sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 2.003 tấn Theo Chi cục Thống kê thị xã Ninh Hòa, năm 2010 giá trị GDP của thị xã là 4.609 tỷ đồng, ngành nông lâm nghiệp, thủy sản là 792 tỷ đồng, chiếm 17,8% trong giá trị GDP, rõ ràng tôm thẻ chân trắng có những đóng góp giá trị kinh tế nhất định cũng với những loại thủy sản khác Bên cạnh đó, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng còn góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân và đang từng bước góp phần chuyển dịch cơ cấu nuôi quảng canh sang nuôi công nghiệp Với giá trị kinh tế tiềm năng tôm thẻ chân trắng mang lại, việc nuôi trồng và chế biến tôm thẻ chân trắng cần được phát triển và trở thành ngành sản xuất quan trọng không thể thiếu được trong ngành thủy sản Việt Nam nói chung và Khánh Hòa, thị xã Ninh Hòa nói riêng
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn thị xã Ninh Hòa hiện nay đang gặp nhiều khó khăn và chưa mang lại hiệu quả cao do hộ nuôi tôm thả tôm với mật độ dày, mức độ quay vòng thâm canh ao đầm quá cao làm cho môi trường bị suy thoái không có thời gian phục hồi Dịch bệnh hoành hành, tôm chết hàng loạt, nhiều
hộ nuôi tôm rơi vào tình trạng thua lỗ, nợ nần Ngoài các vấn đề về môi trường, nuôi tôm bền vững, các Hộ nuôi tôm còn phải gặp nhiều khó khăn như biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất thường, người nuôi tôm nuôi chưa đúng kỹ thuật, chất lượng con giống thấp, nguồn nước không đảm bảo,…
Bên cạnh đó, kinh doanh tôm thẻ chân trắng cũng là nguồn thu nhập của nhiều đại lý thu mua, người bán lẻ, họ gặp khó khăn như thiếu kiến thức VSATTP, kiến thức bảo quản làm giảm chất lượng nguyên liệu tôm thẻ chân trắng Các Công ty chế biến, xuất khẩu tôm thẻ chân trắng đang cạnh tranh khốc liệt về nguyên liệu và gặp không ít khó khăn và thử thách trong quá trình hội nhập như sự đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng về các tiêu chuẩn về VSATTP, các chất cấm sử dụng trong nuôi trồng
Trang 14thủy sản như chloramphenicol, trifluralin, quy định về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn Global GAP, BRC của các thị trường nhập khẩu,… Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài
“Phân tích chuỗi giá trị của mặt hàng tôm thẻ chân trắng - Trường hợp các hộ nuôi
tại thị xã Ninh Hòa” rất cần thiết Đề tài sẽ làm rõ những tác nhân tham gia vào chuỗi
giá trị tôm thẻ chân trắng; mối quan hệ, các tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân; cấu trúc và sự vận hành thị trường của loại sản phẩm này; kết cấu phân bổ giá trị tăng thêm của các tác nhân trong chuỗi; từ đó đề xuất biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho chuỗi giá trị tôm chân trắng tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả cấu trúc thị trường, kênh phân phối cũng như mối quan hệ giữa các tác nhân trong khác nhau trong chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng – trường hợp các hộ nuôi tại thị xã Ninh Hòa
- Phân tích, đánh giá kết quả kinh tế giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng – trường hợp các hộ nuôi tại thị xã Ninh Hòa
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm tôm thẻ chân trắng cho các tác nhân trong toàn hệ thống chuỗi
3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu nhằm tập trung trả lời những câu hỏi sau:
- Những tác nhân nào tham gia vào chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng?
- Cấu trúc và sự vận hành thị trường của loại sản phẩm này diễn ra như thế nào?
- Kết cấu phân bổ giá trị tăng thêm của các tác nhân chủ yếu tham gia trong chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng như thế nào?
- Những khó khăn của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị và những kiến nghị nhằm tăng khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm tôm thẻ chân trắng tại thị xã Ninh Hòa?
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài tập trung tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2011): A handbook for Value Chain Research; Tài liệu sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị của dự án M4P, từ đó tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị mặt hàng tôm thẻ chân trắng – Trường hợp các Hộ nuôi tại thị xã Ninh Hòa
- Áp dụng cách tiếp cận mô hình SCP (Structure – Conduct – Perform) kết hợp cách tiếp cận kênh marketing và sự phân chia giá trị gia tăng giữa các tác nhân trong chuỗi
Trang 15Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp mô tả: Mô tả thực trạng hoạt động cung cấp tôm thẻ chân trắng giữa các tác nhân trong chuỗi
- Phương pháp thảo luận nhóm: chủ yếu là thu thập thông tin từ phía hộ nuôi tôm thẻ chân trắng, thảo luận với họ những vấn đề liên quan đến việc nuôi trồng, thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm tôm thẻ chân trắng để xác định những khó khăn và nguyện vọng của các hộ nuôi tôm Những thông tin này sẽ được tổng hợp và phân tích trình bày trong đề tài
- Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu: dựa theo nguồn thông tin thu thập sơ cấp, thứ cấp và kết quả điều tra …sẽ được thống kê, phân tích và trình bày trong đề tài
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Phỏng vấn chuyên sâu các tác nhân chủ yếu tham gia dọc theo chuỗi giá trị Các thông tin này được tổng hợp và phân tích cho phù hợp với mục đích nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Thông tin thứ cấp: dữ liệu thu thập từ các nguồn tài liệu như các báo cáo khoa học, báo cáo hiệp hội, Tổng cục thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thị xã Ninh Hòa, Phòng kinh tế thị xã Ninh Hòa, internet, …
+ Thông tin sơ cấp: dữ liệu thu thập thông qua những khảo sát thực tế từ Hộ nuôi tôm, Đại lý, Người bán lẻ, Công ty chế biến kinh doanh Tôm thẻ chân trắng và thông qua những trao đổi phỏng vấn chuyên sâu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng bao gồm: Hộ nuôi tôm, Đại lý thu mua cấp 1, Đại lý thu mua cấp 2, Người bán lẻ và Công ty chế biến
Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài tập trung nghiên cứu trên phạm vi địa bàn huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa
- Những thông tin thứ cấp chủ yếu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ năm
2008 đến năm 2011 Thời gian điều tra là thời gian bắt đầu vụ nuôi đầu tiên trong năm, từ tháng 2/2012 đến tháng 5/2012
Trang 166 Bố cục đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu bao gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại thị xã Ninh Hòa và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Đề xuất kiến nghị nhằm tăng khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm tôm thẻ chân trắng tại thị xã Ninh Hòa
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm cơ bản
1.1.1 Chuỗi (Filière)
Phương pháp ‘filière’ (filière có nghĩa là dòng hoặc chuỗi) bao gồm các trường phái tư duy và nghiên cứu khác nhau Ban đầu, phương pháp được sử dụng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp vào những năm 1960 Phân tích chủ yếu phục vụ như một công cụ để nghiên cứu
mà hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức trong bối cảnh các nước đang phát triển Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng
Do đó, khái niệm chuỗi (filière) bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được
sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động Tuy nhiên, khái niệm chuỗi (filière) chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng và tự nhiên, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ của mối quan hệ biến đổi
Phương pháp chuỗi có hai luồng tư tưởng chung với phân tích chuỗi giá trị:
- Sự đo lường về mặt kinh tế và tài chính của filière (được đưa ra trong Duruflé, Fabre và Yung (1988) và được sử dụng trong một số dự án phát triển do Pháp tài trợ trong năm 1980 và 1990) tập trung vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa và phân tách các chi phí và thu nhập giữa các thành phần được kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP theo phương pháp ảnh hưởng (méthode des effets)
- Phân tích có tính chất chú trọng vào chiến lược của phương pháp filière, được
sử dụng nhiều nhất ở trường đại học Paris-Nanterre, một số viện nghiên cứu như CIRAD và INRA và các tổ chức phi chính phủ như IRAM, nghiên cứu trong một cách
có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở và kết quả của mỗi tác nhân có liên quan trong chuỗi, các chiến lược cá nhân và tập thể, cũng như các hình thái quy định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn dạng liên quan đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích gồm: quy định trong nước, quy định của thị trường, quy định của nhà nước và quy định kinh doanh nông nghiệp quốc tế Moustier and Leplaideur (1999) đã đưa ra một khung phân tích sự cấu tạo của một chuỗi hàng hóa
Trang 18(lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể), và hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên môn hóa của hộ nuôi tôm và thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa
1.1.2 Chuỗi giá trị
- Khái niệm ‘‘Chuỗi giá trị - Value chain’’ được GS Michael Porter nêu ra
trong cuốn sách ‘‘Lợi thế cạnh tranh’’ được xuất bản vào năm 1985 Porter đã sử dụng
khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: một công ty có thể cung cấp cho khách hàng với một mặt hàng (hoặc dịch vụ)
có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào? Cách khác là làm thế nào để một doanh nghiệp
có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng muốn mua với giá cao hơn (chiến lược khác biệt hóa)?
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế
và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter đã tranh luận rằng nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách một loạt hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp đóng góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và hoạt động hỗ trợ
có ảnh hưởng gián tiếp vào giá trị cuối cùng của sản phẩm
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản xuất, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như kế hoạch chiến lược, nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu, v.v
Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành Ví dụ như một phân tích về chuỗi giá trị của một
Trang 19siêu thị ở Châu Âu có thể chỉ lợi thế cạnh tranh của một siêu thị đó với các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả giống nước ngoài Tìm ra lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đích kinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được
đó, doanh nghiệp kinh doanh siêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng cố mối quan hệ với các nhà sản xuất hoa quả giống ngoại và chiến dịch quảng cáo sẽ chú ý đặc biệt đến những vấn đề này
Hình 1.1: Chuỗi giá trị của Michael Porter
Sản xuất: là hoạt động chuyển nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm hoàn thành
Đầu ra: gồm những hoạt động kết hợp thu thập, lưu trữ và phân phối sản phẩm
từ nhà sản xuất đến người mua
Marketing và bán hàng: là những hoạt động liên quan đến việc quảng cáo, khuyến mại, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ trong kênh và định giá
Dịch vụ khách hàng: (dịch vụ sau bán hàng) liên quan đến việc cung cấp dịch
vụ nhằm gia tăng, duy trì giá trị của sản phẩm
Các hoạt động bổ trợ: bao gồm các hoạt động như thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của công ty
Cơ sở hạ tầng của Công ty Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Thu mua
Đầu vào Sản xuất Đầu ra Marketing
Giá trị biên tế
Trang 20Thu mua: liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nguyên vật liệu, các nhà cung cấp, máy móc…
Phát triển công nghệ: liên quan tới các bí quyết, quy trình, thủ tục, công nghệ được sử dụng
Quản trị nguồn nhân lực: bao gồm các hoạt động liên quan tới chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho người lao động trong công ty
Cơ sở hạ tầng công ty: bao gồm quản lý chung, lập kế hoạch quản lý, tuân thủ luật pháp, tài chính, kế toán, quản lý chất lượng, quản lý cơ sở vật chất…
Một cách khác của phương pháp phân tích lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm của hệ thống giá trị Thay vì chỉ phân tích lơi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là hệ thống giá trị Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động
do tất cả các công ty tham gia trong việc xuất sản một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên vật liệu thô đến phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với chuỗi giá trị của doanh nghiệp Tuy nhiên, cần chỉ ra rằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu là một công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra những quyết định có tính chiến lược
Hình 1.2: Hệ thống giá trị
Nguồn : [1]
- Theo Kaplinsky R And Morris M (2001), khái niệm Chuỗi giá trị là nói đến tất cả những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng
Kaplinsky R And Morris M (2001) đã đưa ra hai khái niệm về chuỗi giá trị :
Chuỗi giá trị giản đơn: Là một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Những hoạt động này gồm : thiết kế và phát triển sản phẩm, sản xuất, marketing và cuối cùng là tiêu thụ và tái sử dụng
Trang 21Hình 1.3 : Mối liên hệ trong chuỗi giá trị giản đơn
Nguồn: [13]
Chuỗi giá trị mở rộng: là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ, ) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Cách tiếp cận này xem xét tất cả các mối liên hệ ngược và xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất, được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng
Chúng ta xem xét trường hợp của ngành công nghiệp nội thất làm ví dụ minh họa cho một chuỗi giá trị mở rộng Nó bao gồm sự cung cấp giống đầu vào, thuốc bảo
vệ thực vật, thiết bị và nước cho khu vực lâm nghiệp Sau đó, những khúc gỗ được chặt và vận chuyển tới nhà máy cưa và cho ra nguyên liệu đầu tiên Từ đó, các thanh
gỗ đã được cưa chuyển tới nhà máy sản xuất, thông qua máy móc thiết bị chế biến, công nghệ sơn và bám dính cũng như kỹ năng vẽ thiết kế và gián nhãn từ các dịch vụ Phụ thuộc vào tình hình thị trường tiêu thụ, thiết bị nội thất được chuyển thông qua các giai đoạn khác nhau đến khi nó tới tay người tiêu dùng cuối cùng, và sau thời gian sử dụng họ sẽ đưa vào tái chế [13]
Marketing
Tiêu thụ và tái sử dụng
Trang 22Hình 1.4: Chuỗi giá trị ngành nội thất
Nguồn: [13]
Ngoài vô số đường nối được mô tả ở hình trên, chuỗi giá trị thậm chí có thể phức tạp hơn khi các nhà sản xuất trong chuỗi đặc biệt là thành viên trong một số chuỗi giá trị khác
Nhà sản xuất nội thất
Tái chế
Máy móc Giống
Hóa chất
Nước
Các dịch vụ bên ngoài Lâm nghiệp
Nhà máy cưa
Trang 23Hình 1.5: Một hoặc nhiều chuỗi giá trị
Nguồn: [13]
Nhiều chuỗi giá trị hoạt động trong một môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường chính trị và pháp luật, những nhân tố cơ bản và dịch vụ hỗ trợ Những nhân tố của môi trường mặc dù không trực tiếp ảnh hưởng tới sản xuất và phân phối, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi giá trị Vai trò của Chính phủ để phát triển công nghiệp, nơi mà chuỗi giá trị hoạt động có thể được thấy từ chính sách và điều chỉnh trong giới hạn của
số lượng và chất lượng để tạo nên một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp Các nhân tố này có thể là một trong những yếu tố sau: luật pháp, tài chính, kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực, tiêu chuẩn, quyền sở hữu, nghiên cứu và phát triển … Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chuỗi giá trị Ví dụ: bộ phận R & D rất quan trọng trong việc phát hiện ra sự sáng tạo trong phát triển sản xuất, đóng gói và những quy trình khác giữa quá trình chuyên chở, đóng gói, kho bãi và vận chuyển Trong khi đó, các tổ chức tài chính là cầu nối cho các khoản vay vốn và đầu tư Cuối cùng, các dịch vụ hỗ trợ bao gồm vận tải, đóng, kho bãi, phương tiện truyền thông, các dịch vụ xuất nhập khẩu… Như hàm ý trong tên của nó, các dịch vụ hỗ trợ làm cho thuận tiện sự hoạt động của chuỗi giá trị Ví dụ, vận tải là một yếu tố then chốt để giao hàng hóa đúng lúc và nhanh chóng nhằm đảm bảo giá trị và chất lượng sản phẩm Một
hệ thống vận tải hiệu quả có thể hiểu là để tiết kiệm chi phí trong quá trình giao hàng, giảm hàng hóa tồn kho, hạn chế việc giảm chất lượng và sự hao hụt Thông tin và kỹ thuật truyền thông rất quan trọng trong việc tối thiểu hóa chi phí, giúp nhà sản xuất đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng và tăng độ tin cậy trong việc giao hàng hóa đúng chủng loại và số lượng như yêu cầu của thị trường
Lâm nghiệp
Giấy và Bột Giấy
Nhà máy cưa Nhà khai
thác
Thiết kế và xây
dựng
Tác nhân trong nước
Nhà sản xuất nội
thất
Lĩnh vực tự phục vụ
Tác nhân nước ngoài
Trang 24Tất cả những hoạt động được thể hiện bởi các thành viên của chuỗi giá trị cũng như môi trường của nó cấu thành nên mô hình phân tích chuỗi giá trị Hình 1.6 minh họa một mô hình phân tích chuỗi giá trị khái quát
Hình 1.6: Mô hình phân tích chuỗi giá trị
Nguồn: [15]
1.2 Phân biệt chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Một câu hỏi có thể phát sinh khi chuỗi giá trị được nghiên cứu: chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng khác nhau hay không? Về cơ bản chúng giống nhau vì cả hai bao gồm mạng lưới như nhau của các thành viên, những người có mối liên hệ với các thành viên khác để cung cấp hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng cuối cùng Nếu chúng
ta so sánh định nghĩa của một chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị, chúng ta có thể nhận ra
sự giống nhau và khác nhau của chúng Chuỗi cung ứng, như hàm ý của nó, tập trung chủ yếu vào hiệu quả và chi phí cung ứng Chuỗi cung ứng được hiểu là việc mang nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất và hoàn thiện sản phẩm tới người tiêu dùng một cách suôn sẻ và tiết kiệm Mục tiêu đầu tiên của chuỗi cung ứng là đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của khách hàng thông qua việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực bao gồm: việc phân bổ công suất, tài nguyên và lao động Một chuỗi cung ứng cố gắng
TỔ CHỨC HỖ TRỢ Pháp luật, tổ chức tài chính, thông tin thị trường, tiêu chuẩn, công nghệ, an
toàn thực phẩm, nghiên cứu và đổi mới, quyền sở hữu,
KHẢ NĂNG HỖ TRỢ DỊCH VỤ Vận chuyển, lưu trữ, đóng gói, thông tin và truyền thông công nghệ, điện và
nhiên liệu, nhập khẩu và xuất khẩu dịch vụ
Sản xuất Sản xuất
trạm
Sự gia công công nghiệp
Trang 25
tìm kiếm để làm cho phù hợp nhu cầu với khả năng cung ứng của tài nguyên khoáng sản Khía cạnh khác của việc đánh giá một cách lạc quan chuỗi cung ứng bao gồm việc giữ liên lạc với nhà cung cấp để loại trừ những yếu tố làm đình trệ khâu sản xuất; chiến lược nguồn lực để tạo nên một sự thăng bằng giữa chi phí nguyên vật liệu và vận chuyển thấp nhất; phương tiện kỹ thuật “Just in time” để đánh giá một cách lạc quan dòng chảy sản xuất; duy trì sự phối hợp đúng đắn giữa vị trí công ty và kho hàng để phục vụ thị trường tiêu dùng, và sử dụng vị trí/sự chỉ định vị trí, phân tích đường vận chuyển, chương trình động lực và dĩ nhiên, sự lạc quan vận chuyển truyền thống để tối
đa hiệu quả của việc phân phối [22]
Ngược lại, chuỗi giá trị bố trí sự tập trung của nó vào tổng giá trị cho người tiêu dùng Vì thế, mục tiêu của một chuỗi giá trị là tối đa giá trị tại chi phí thấp nhất có thể cho người tiêu dùng Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị là một sự thay đổi cơ bản trong sự tập trung từ việc cung cấp dựa vào
người tiêu dùng.[11]
Do đó chiến lược giảm giá và cắt giảm chi phí không đủ để bảm đảm cho lợi thế thị trường có thể chống đỡ được trong thời gian dài, nó cần thiết cho công ty để cung cấp giá trị, cái mà sẽ biện minh cho giá cả sản phẩm Vì vậy, bản thân chuỗi cung ứng đã tiến triển để làm cho khớp nguồn cung và giá trị Dấu hiệu có thể được chú ý trong định nghĩa một chuỗi cung ứng từ the Global Supply Chain Forum (1998): “Sự hợp lại thành một hệ thống nhất của quá trình kinh tế cơ bản từ người sử dụng cuối cùng cho đến người cung ứng đầu tiên cung ứng sản phẩm, dịch vụ và thông tin, những thứ làm tăng thêm giá trị cho người tiêu dùng và khách hàng tiềm năng khác” Quan điểm một chuỗi cung ứng phải làm tăng thêm giá trị cho khách hàng đang làm
giảm đi sự khác biệt tương phản giữa một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị.[11]
1.3 Nội dung cơ bản trong phân tích chuỗi giá trị
Theo Kaplinsky và Morris (2001) bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị áp dụng trong nông nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, lập sơ đồ phân tích một chuỗi giá trị gồm hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, đặc điểm việc làm và khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trong nước và ngoài nước
Trang 26Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Có nghĩa là, phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể được hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn
Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng sản phẩm Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của các bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về những cản trở đang tồn tại
Cuối cùng, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị Quản trị chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị Quản trị quan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về thể chế có thể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều chỉnh các sai lệch về phân phối và tăng giá trị gia tăng trong ngành
Hình 1.7: Sơ đồ phân tích chuỗi giá trị
Nguồn: (Rich 2004)
Hộ nuôi tôm/sản xuất Thương nhân/Thu mua
Chế biến
Bán lẻ Thương nhân Xuất khẩu Tiêu dùng
Thương nhân nước ngoài Phân phối nước ngoài Bán lẻ nước ngoài
Quản trị Nâng cấp Phân phối trong chuỗi
Quản trị
Nâng cấp
Phân phối trong chuỗi
Phân phối trong chuỗi
Một ví dụ chuỗi giá trị trong Nông nghiệp
Trang 271.3.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị bắt đầu với quá trình lập sơ đồ chuỗi giá trị Lập sơ đồ một chuỗi có nghĩa là tạo ra một hình ảnh của các kết nối giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị cũng như các tác nhân khác (Kaplinsky and Morris (2001)) Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dùng các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung được bản chất Điều muốn nói ở đây là "Một bức hình có thể nói lên nhiều hơn là một nghìn từ" Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm cho những gì chúng ta nhìn thấy dễ hiểu hơn [1] Lập
sơ đồ chuỗi giá trị có ba mục tiêu chính:
- Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác nhân và quy trình trong một chuỗi giá trị
- Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị
- Cung cấp cho các bên liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị
Tuy nhiên, điều quan trọng là không để nhầm lẫn giữa lập sơ đồ chuỗi giá trị với phân tích chuỗi giá trị Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là để cung cấp một bức tranh toàn cảnh của chuỗi giá trị phải được nghiên cứu Sơ đồ chuỗi giá trị là một cách
để minh họa (hoặc có thể đơn giản hóa) sự phức tạp của chuỗi giá trị trong thế giới thực Phân tích chuỗi giá trị cần phải vượt qua quá trình vẽ một sơ đồ chuỗi giá trị
Xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị không phải là một công việc nhanh chóng Thay vào đó, nó được thực hành và phát triển trong suốt quá trình phân tích chuỗi giá trị (Kaplinsky and Morris 2001) "Việc thực hiện lập sơ đồ chuỗi giá trị có thể bao gồm nhiều quy trình cốt lõi của chuỗi giá trị Vì vậy, dựa trên nguồn lực có sẵn, phạm vi và mục tiêu của phân tích chuỗi giá trị và nhiệm vụ của tổ chức để lựa chọn các quy trình cốt lõi được lập rất quan trọng "[1] Nguyên tắc là phân biệt được nhiều quy trình chính mà nguyên liệu thô luân chuyển qua trước khi đến giai đoạn tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, quá trình chuyển đổi sản phẩm trong nhiều giai đoạn để trở thành sản phẩm cuối cùng cho khách hàng cuối cùng là gì? Điều quan trọng là hạn chế việc phân tích chuỗi giá trị cho một số lượng nhất định các quy trình cốt lõi Nếu không, nó
sẽ quá phức tạp và làm tốn quá nhiều thời gian và nguồn lực
Trang 28Để lập được sơ đồ chuỗi giá trị, bước đầu tiên là tìm ra các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị Cần xác định và phân biệt được các quy trình chính mà nguyên liệu thô luân chuyển qua trước khi đến giai đoạn tiêu dùng cuối cùng Các quy trình cốt lõi này sẽ khác nhau và tùy thuộc vào tính chất của chuỗi mà ta lập sơ đồ
Hình 1.8: Lập qui trình cốt lõi đồ thủ công làm từ cói
Nguồn: [1]
Sau khi lập được sơ đồ quy trình cốt lõi, chúng ta có thể xác định những tác nhân trực tiếp tham gia vào quá trình Để phân biệt giữa các tác nhân tham gia là tùy vào mức độ phức tạp mà việc lập sơ đồ muốn đạt được Sự khác biệt đơn giản nhất là
để phân loại các tác nhân theo nghề nghiệp chính của họ Ví dụ, người thu gom là những người thực hiện thu gom, trong khi sản xuất là những người tham gia trong sản xuất Đây cách phân loại đơn giản nhưng không cung cấp nhiều thông tin Các tiêu chí phân loại khác có thể là: hình thức sở hữu (nhà nước, doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh, hợp tác xã, hộ gia đình, ), quy mô (lớn, vừa hoặc nhỏ, quy mô quốc gia hoặc quốc tế, vv), phân loại theo địa điểm (xã, huyện, tỉnh, quốc gia, v.v [1] Ví dụ, hộ nuôi tôm có thể được phân loại vào quy mô lớn, vừa và nhỏ Hoặc họ có thể được nhóm lại thành thâm canh, quảng canh, kết hợp tôm-rừng ngập mặn, và kết hợp mô hình lúa-tôm
Hình 1.9: Lập sơ đồ những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị tôm thẻ đông lạnh
Thu gom
Sản Xuất
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Đại lý cấp 2 Công ty
chế biến
Nhà nhập khẩu Mỹ
Nhà xuất khẩu Việt Nam
Người tiêu dùng Mỹ
Nuôi trồng
Thu gom Chế biến Xuất
khẩu
Tiêu dùng
Trang 29động cụ thể do những đối tượng tham gia khác nhau Một chuỗi giá trị đều có các quy trình cốt lõi riêng và hoạt động cụ thể riêng
Hình 1.10: Sơ đồ các hoạt động cụ thể từ quy trình cốt lõi đồ thủ công làm từ cói
Nguồn: [1]
Sau khi các quy trình cốt lõi, các tác nhân và các hoạt động cụ thể trong chuỗi giá trị đã được vạch ra, dòng sản phẩm sẽ được xác định Các dòng sản phẩm sẽ cho biết quá trình trở thành sản phẩm cuối cùng: sự chuyển đổi của các sản phẩm từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng sẵn sàng để bán cho khách hàng cuối cùng
Sau khi sơ đồ của dòng sản phẩm được thực hiện, khối lượng của sản phẩm sau
đó được vạch ra Khối lượng của sản phẩm khi xác định sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về quy mô của các kênh khác nhau trong chuỗi giá trị [1] Ví dụ sau đây thể hiện
sơ đồ khối lượng bằng tỷ lệ phần trăm trong tổng số khối lượng toàn ngành
Hình 1.11: Lập sơ đồ về khối lượng
Khách hàng thị trường 2
Thu gom Xuất Sản Xuất khẩu Nhập khẩu Bán lẻ
Phân loại:
- Xấy khô
- Đan dệt
- Lên khuôn
- Bảo quản
- Lưu trữ
Thu mua:
- Kiểm soát chất lượng
- Lưu trữ
- Vận chuyển
Kiểm soát:
- Chất lượng
- Lưu trữ
- Vận chuyển
- Lưu trữ
- Bán lẻ
Trang 30Theo mô hình phân tích chuỗi giá trị, ngoài các tác nhân nội bộ trực tiếp tham gia vào các quá trình cốt lõi, vẫn có tồn tại những tác nhân bên ngoài cung cấp dịch
vụ Mặc dù các tác nhân bên ngoài cung cấp dịch vụ gián tiếp tham gia nhưng có ảnh hưởng đến hiệu suất của chuỗi trong một cách này hay cách khác Do đó, cần được phân tích đầy đủ Một rủi ro tiềm ẩn của việc phân tích chuỗi giá trị là các môi trường xung quanh không được xem xét đến [1] Khi lập sơ đồ dịch vụ kinh doanh kèm theo vào các chuỗi giá trị, chúng ta cần chú ý dịch vụ có thể được phân loại vào các dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ hỗ trợ Dịch vụ kinh doanh được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ chuyên ngành trên cơ sở lệ phí cho dịch vụ từ môi trường xung quanh Dịch vụ
hỗ trợ được cung cấp như một phần của giao dịch giữa người mua và nhà cung cấp trong chuỗi Ví dụ, để cung cấp tôm sạch cho khách hàng tại EU, các công ty chế biến
có thể cung cấp cho người nuôi những tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của thị trường EU, cũng như về mặt kỹ thuật và tài chính hỗ trợ hộ nuôi tôm không hóa chất
và dư lượng kháng sinh
1.3.2 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị
Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế của chuỗi Các chỉ tiêu kinh tế của chuỗi giá trị như doanh thu, chi phí, lợi nhuận, giá trị gia tăng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, … cần phân tích kỹ để tìm hiểu sự phân phối lợi ích trong chuỗi như thế nào Một số chỉ tiêu thường sử dụng để phân tích chuỗi giá trị như:
Doanh thu: Doanh thu tính bằng cách nhân số lượng hàng bán (Q) với giá bán (P) cộng thêm các nguồn thu nhập thêm như doanh thu từ việc bán phế phẩm, tư vấn, doanh thu từ các dịch vụ có liên quan, … Ta có công thức sau:
Giá cả khác nhau tùy theo kênh phân phối, đoạn thị trường và tuỳ theo loại và
chất lượng hàng bán Giá cả cũng có thể thay đ ổi theo mùa hoặc có thể khác nhau theo từng ngày
Chi phí và lợi nhuận: Việc phân tích chi phí và lợi nhuận có vai trò rất quan
trọng đ ối với người phân tích chuỗi gía trị vì các thông số về chi phí và lợi nhuận
có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan đến chuỗi Cụ thể như sau:
Doanh thu = (Q x P) + những nguồn thu nhập khác
Trang 31- Xác định các chi phí hoạt động và đầu tư đang được phân chia giữa những người tham gia chuỗi giá trị để đưa ra quyết định có thể tham gia chuỗi hay không
- Xác định doanh thu và lợi nhuận đang được phân chia giữa những người tham gia chuỗi giá trị và đưa ra kết luận những người tham gia có thể tăng lợi nhuận trong chuỗi giá trị được không
- Xem chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị thay đổi theo thời gian như thế nào để làm cơ sở dự đoán tăng trưởng hoặc suy giảm trong chuỗi giá trị trong tương lai
- So sánh lợi nhuận của một chuỗi giá trị với lợi nhuận của một chuỗi giá trị khác để đưa ra quyết định nên chuyển từ chuỗi giá trị này sang chuỗi giá trị khác hay không
- So sánh chuỗi giá trị của mình với thực tiễn tốt nhất để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chuỗi giá trị của mình Sự so sánh này nhằm giúp xác định các nhu cầu
và tiềm năng nâng cấp, đồng thời định dạng các cơ hội thị trường mới
Giá trị gia tăng: là thước đo về giá trị đ ược tạo ra trong nền kinh tế
Theo McCormick/ Schmictz, giá trị gia tăng là giá trị mà được cộng thêm vào hàng hóa và dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó Với cách hiểu đó, ta có thể tính giá trị gia tăng theo công thức sau:
Bảng 1.1 : Các thành phần của tổng giá trị tạo ra do chuỗi giá trị
Nguồn: [1])
Trang 32Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêu dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng Người tiêu dùng không tạo ra giá trị gia tăng 1.3.3 Quản trị chuỗi giá trị
Quản trị chuỗi giá trị có nghĩa là giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị được tổ chức trong một hệ thống cho phép các công ty đáp ứng các yêu cầu cụ thể về các sản phẩm, quy trình, và hậu cần phục vụ thị trường của chúng Như vậy, nó ghi nhận rằng nguồn lực được phân phối không đều [1]
Quản trị chuỗi giá trị dễ dàng được nhận ra trong mối quan hệ giữa các công ty hàng đầu trong chuỗi giá trị toàn cầu Một ví dụ rõ ràng là các siêu thi hàng đầu của Anh thực hiện kiểm soát trên toàn chuỗi cung cấp rau quả tươi, không chỉ xác định các loại sản phẩm mà họ muốn mua (bao gồm giống, chế biến và đóng gói), mà còn các quá trình như hệ thống chất lượng cần phải được đặt đúng chỗ Những yêu cầu này được thực thi thông qua một hệ thống kiểm tra, kiểm soát kỹ lưỡng và thông qua quyết định cuối cùng giữ hay loại bỏ một nhà cung cấp Rõ ràng, quản trị trong chuỗi giá trị
là việc thực hiện kiểm soát dọc theo chuỗi [12] Trong ba yếu tố của môi trường xung quanh của một chuỗi giá trị là quy tắc và các quy định Quy tắc và quy định là một phần không thể tách rời trong việc quản lý chuỗi giá trị Quản trị đảm bảo rằng các tương tác giữa các tác nhân cùng một chuỗi giá trị được phản ánh một cách có tổ chức chứ không phải là ngẫu nhiên [13]
Trong thực tế, quản trị đề cập đến các quy tắc và quy định được thiết lập bởi các tác nhân trong chuỗi hoặc bởi những tổ chức nằm ngoài chuỗi như các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, và tổ chức kiểm soát chất lượng Trong trường hợp này đơn giản có thể là yêu cầu đối với sản phẩm bán buôn nông nghiệp được thu hoạch một cách chính xác để ngăn chặn thiệt hại và suy thoái Ngược lại, chúng có thể phức tạp như là sự thực thi đạt tiêu chuẩn quốc tế về mức độ cho phép của dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật trên các sản phẩm nhập khẩu của một chính phủ nước ngoài Một ví dụ khác là thủ tục đối với một công ty đa quốc gia như là một điều kiện tham gia cho một nhà thầu phụ trong chuỗi giá trị toàn cầu của nó [1]
Theo Kaplinsky và Morris (2001), có ba hình thức quản trị chuỗi giá trị, cụ thể
là thiết lập luật quản trị, quản trị điều hành và quản trị tư pháp Thiết lập luật quản trị
đề cập đến các vấn đề về thiết lập quy tắc và quy định điều chỉnh hoạt động của chuỗi giá trị Một khi các quy tắc và các quy định được sinh ra, việc giám sát thực hiện để
Trang 33đảm bảo việc tuân thủ các quy tắc là cần thiết Đây là chức năng quản trị tư pháp Xử phạt cả hai tiêu cực và tích cực là chìa khoá quản trị tư pháp Tuy nhiên, để đáp ứng những quy tắc và các quy định, các tác nhân trong chuỗi giá trị có thể cần sự trợ giúp Điều hành quản trị về việc hỗ trợ người tham gia trong chuỗi giá trị để thực hiện các quy tắc và các quy định yêu cầu Ba hình thức của quản trị có thể được thực hiện bởi
cả những tác nhân bên ngoài và bên trong chuỗi giá trị Phần lớn các cuộc thảo luận hiện tại của quản trị không nhận ra sự khác biệt này của ba loại quản trị này, bởi vì trong một số trường hợp, các bên cùng được cho là bao gồm tất cả ba loại tác động của
ba loại quản trị
1.3.4 Nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường
và phát triển chuỗi một cách bền vững [2]
Có 4 loại nâng cấp chuỗi sau:
- Nâng cấp theo quy trình: tức là cải tiến công nghệ sản xuất, tiêu thụ và hậu cần Hay nói cách khác đó là việc tăng hiệu quả của quy trình bên trong hơn so với các đối thủ, kể cả trong một khâu, và giữa các khâu trong chuỗi
- Nâng cấp sản phẩm: tức là việc đổi mới, đa dạng hóa hay cải tiến sản phẩm
cuối cùng Hay là đưa ra các sản phẩm mới hoặc cải thiện các sản phẩm hiện có nhanh hơn các đối thủ, kể cả trong một khâu và giữa các khâu trong chuỗi
- Nâng cấp chức năng: có nghĩa là việc chuyển các chức năng của chuỗi giá trị từ một người vận hành này sang một người vận hành khác Hay là thêm giá trị gia tăng thông qua thay đổi một số hoạt động trong công ty hoặc chuyển trọng tâm các hoạt động tới các khâu khác trong chuỗi giá trị
- Nâng cấp chuỗi: chuyển đến một chuỗi giá trị mới
Với từng loại nâng cấp chuỗi riêng sẽ dựa vào các chỉ số riêng để sử dụng Cụ thể trong bảng dưới đây:
Trang 34Bảng 1.2 Các chỉ tiêu riêng để nâng cấp chuỗi
Nghiên cứu và phát triển, cải tiến quản lý chuỗi cung ứng, khả năng kinh doanh điện tử, hỗ trợ trao đổi trong chuỗi cung ứng
Giảm chi phí, tăng chất lượng và khả năng giao hàng, giảm thời gian đưa hàng tới thị trường, cải thiện lợi nhuận, thúc đẩy thương hiệu
Giảm giá thành sản phẩm cuối cùng, tăng chất lượng của sản phẩm cuối cùng, giảm thời gian đưa hàng đến thị trường, cải thiện lợi nhuận cho cả chuỗi, thúc đẩy thương hiệu
Hợp tác với nhà cung ứng và khách hàng để phát triển sản phẩm mới - ứng dụng kỹ thuật đồng bộ
Tỷ lệ phần trăm sản phẩm mới trong tổng doanh thu
Tỷ lệ phần trăm sản phẩm
có thương hiệu trong tổng doanh thu
Số nhãn hiệu có bản quyền Tăng giá sản phẩm ở mức tương đối mà không bị mất thị phần
Nâng cấp chức năng
Trong từng khâu
- Giữa các khâu
Đạt được các chức năng tạo ra giá trị gia tăng mới cao hơn từ các liên kết khác trong chuỗi hoặc thuê ngoài các chức năng có giá trị gia tăng thấp
Chuyển đến khâu mới trong chuỗi hoặc rời bỏ các khâu hiện tại
Phân công lao động trong chuỗi Các chức năng cốt lõi được thực hiện trong từng khâu cụ thể của chuỗi
Tăng lợi nhuận, tăng kỹ năng, tăng tiền lương
Nâng cấp chuỗi Ngừng sản xuất trong
chuỗi và chuyển sang chuỗi mới; thêm các hoạt động mới trong chuỗi mới
Lợi nhuận cao hơn, tỷ lệ doanh thu từ khu vực sản xuất mới
Nguồn: [9]
Trang 35Để nâng cấp chuỗi thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò chủ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò hỗ trợ các tác nhân trong quá trình nâng cấp [2] Đồng thời, liên kết ngang và liên kết dọc phải được củng cố và phát triển
1.3.5 Liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
1.3.5.1 Khái niệm liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế kí kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước
1.3.5.2 Các hình thức liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
- Liên kết ngang là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu (Ví dụ: liên kết những người nghèo sản xuất/kinh doanh riêng lẻ thành lập nhóm cộng đồng/ tổ hợp tác) để giảm chi phí, tăng giá bán sản phẩm
- Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi (Ví dụ: nhóm cộng đồng liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm)
1.3.5.3 Lợi ích của liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
Đối với liên kết ngang
- Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho từng thành viên của tổ/nhóm qua đó tăng lợi ích kinh tế cho từng thành viên của tổ
- Tổ/nhóm có thể đảm bảo được chất lượng và số lượng cho khách hàng
- Tổ/nhóm có thể ký hợp đồng đầu ra, sản xuất quy mô lớn
- Tổ/nhóm phát triển sản xuất, kinh doanh một cách bền vững
Đối với liên kết dọc
- Giảm chi phí chuỗi
- Có cùng tiếng nói của những người trong chuỗi
- Hợp đồng bao tiêu sản phẩm được bảo vệ bởi luật pháp nhà nước
- Tất cả thông tin thị trường đều được các tác nhân biết được để sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường
- Niềm tin phát triển chuỗi rất cao
Trang 361.4 Tầm quan trọng việc phân tích chuỗi giá trị
Việc phân tích chuỗi giá trị mang lại nhiều lợi ích cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, …ở những khía cạnh sau:
- Nhận diện lợi thế cạnh tranh: Phân tích chuỗi giá trị giúp cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp,… nhận dạng lợi thế cạnh tranh, hiểu rõ hơn từng công đoạn, từng chi tiết trong chuỗi giá trị, sản phẩm hoặc ngành hàng, xác định được những điểm mạnh và những điểm yếu của sản phẩm hay ngành hàng mình Từ đó, có cơ sở
để có thể xác định chính xác lợi thế cạnh tranh của mình và có chiến lược cụ thể cho sản phẩm hoặc ngành hàng của mình dựa trên lợi thế cạnh tranh sẵn có
- Cải tiến hoạt động: Phân tích chuỗi giá trị giúp các cá nhân, tổ chức, … hiểu
rõ hơn về chuỗi giá trị, xác định được những điểm mạnh, điểm yếu của quá trình cung cấp sản phẩm hay dịch vụ và các yếu tố có liên quan đến chuỗi bao gồm doanh thu, chi phí, lợi nhuận, công nghệ, kiến thức, …Từ đó, sẽ đưa ra những phương pháp điều chỉnh phù hợp, giúp họ hoàn thiện hay nâng cấp những quy trình hoạt động trong chuỗi nhằm tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn
- Phân phối thu nhập hợp lý: Việc phân tích chuỗi giá trị giúp các tổ chức thực hiện việc phân phối thu nhập hợp lý Thông qua cách lập sơ đồ các hoạt động trong chuỗi, phân tích tổng thu nhập của một chuỗi giá trị thành những khoản mà các bên tham gia khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được để có được những đánh giá khách quan về sự đóng góp của các thành phần tham gia vào chuỗi giá trị
- Tạo ra cơ hội đánh giá lại năng lực: Thông qua phân tích chuỗi giá trị sẽ giúp các tổ chức, doanh nghiệp có cơ hội đánh giá lại năng lực của mình, nắm rõ đặc điểm của từng công đoạn trong chuỗi giá trị cũng như hiệu quả hay giá trị gia tăng được tạo
ra từng công đoạn đó dựa vào phân tích các yếu tố liên quan đến chi phí, lợi nhuận, công nghệ, kiến thức, …
Ngoài ra, phân tích chuỗi có tác dụng nhấn mạnh vai trò của quản trị chuỗi giá trị, xác định vai trò nâng cấp chuỗi và làm cơ sở cho việc hình thành các chương trình,
dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Ở THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thực trạng ngành thủy sản Việt Nam
2.1.1 Sản lượng nuôi trồng, khai thác thủy sản Việt Nam
Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2 Việt Nam cũng có vùng mặt nước nội địa lớn rộng hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành công nghiệp Thủy sản Từ lâu Việt Nam cùng với Indonesia và Thái Lan đã trở thành những quốc gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu khu vực Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế
Cụ thể, tổng sản lượng thủy sản cả năm 2011 đạt 5.200 nghìn tấn, tăng 4,4% so với kế hoạch năm và 1,4% so với cùng kỳ Trong đó, sản lượng khai thác đạt 2.200
Trang 38nghìn tấn, đạt kế hoạch và bằng 90,9% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng đạt 3.000 nghìn tấn, tăng 7,8% so với kế hoạch năm 2011 và tăng 10,8% so với cùng kỳ; diện tích nuôi trồng đạt 1.093 ha, bằng 97,3% kế hoạch năm 2011 và tăng 2,5 so với cùng
kỳ Sản lượng thuỷ sản khai thác 06 tháng đầu năm 2012, đạt 1.289 nghìn tấn, tăng 3%
so với cùng kỳ năm 2011; sản lượng nuôi trồng thuỷ sản 06 tháng đầu năm đạt 1.338 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2011 và diện tích nuôi đạt khoảng 4.669 ha.[16]Sản xuất trên biển đã được duy trì và đạt kết quả tương đối ổn định so với năm
2010 Đáng chú ý, mô hình sản xuất trên biển theo tổ, đội đã bước đầu phát huy hiệu quả; công tác quản lý tàu cá được thực hiện tương đối tốt với việc phối hợp quản lý tàu
cá khi xuất bến, quản lý tàu cá bằng thiết bị giám sát đã giúp đảm bảo an toàn hoạt động nghề cá trên biển và phòng tránh thiên tai
Theo Tổng cục Thủy sản đánh giá, công tác thanh kiểm tra điều kiện sản xuất, kinh doanh, kiểm soát các yếu tố đầu vào trong nuôi trồng thủy sản đã bước đầu được duy trì nhưng chưa xây dựng được kế hoạch bài bản với các nội dung trọng điểm (sản phẩm, chỉ tiêu cần kiểm tra, địa điểm, thời điểm…) tạo chuyển biến có tính đột phá
Việc tổ chức các mô hình quản lý cộng đồng trong khai thác và nuôi trồng thủy sản đã được Tổng cục Thủy sản phối hợp với một số địa phương thực hiện Quy chế đồng quản lý nghề cá đã góp phần vào kết quả sản xuất, đặc biệt khi có dịch bệnh và đang được tổng hợp, xây dựng văn bản quy phạm nhưng cần khẩn trương hoàn thành
để ban hành và hướng dẫn thực hiện trên cả nước
Theo kế hoạch năm 2012, Tổng cục Thủy sản đặt ra một số chỉ tiêu như: diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1.110 ha, bằng 101,5% so với ước thực hiện của năm 2011; sản lượng thủy sản nuôi đạt 3.150 nghìn tấn, bằng 105% so với ước thực hiện của năm 2011; khai thác thủy sản đạt 2.200 nghìn tấn
2.1.2 Giá trị và kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Cùng với sản lượng nuôi trồng và khái thác, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong năm 2011 đạt được nhiều kết quả khả quan Theo kế hoạch 2012, Tổng cục Thủy sản đề ra kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6.300-6500 triệu USD Tính đến 6 tháng đầu năm 2012, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản Việt Nam đạt 2.627 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,9 tỷ USD tăng 10,6% so với cùng kỳ [16]
Trang 39Bảng 2.1: Giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong năm 2011
(triệu USD)
So với cùng kỳ năm 2010 (%)
Nguồn: Theo VASEP
Giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 6,1 tỷ USD trong năm 2011, tăng 21,5% so với năm 2010 Ba thị trường lớn nhất của xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn
là EU, Mỹ và Nhật Bản Trong đó, thị trường EU đạt 1.331 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước Với sự đa dạng các sản phẩm xuất khẩu, Việt Nam đã cung cấp nhiều loại sản phẩm khác nhau đến thị trường EU và hiện nay xuất khẩu cá tra đang chiếm ưu thế tuyệt đối, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu từ Việt Nam vào thị trường EU và trị trường EU trở thành thị trường tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam
Cá tra xuất khẩu sang thị trường EU tương đối ổn định về sản lượng, nhưng giá xuất khẩu lại biến động theo chiều hướng ngày càng thấp hơn Năm 2011, xuất khẩu cá tra
Trang 40sang thị trường này giảm hơn 1 % so với năm trước Tuy nhiên, xuất khẩu tôm vào thị trường EU đã có dấu hiệu tốt trong 2 năm gần đây và dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới Năm 2011, xuất khẩu tôm vào thị trường EU tăng 20,3% so với năm 2010 và Việt Nam vào vị trí thứ 5 trong nhóm xuất khẩu tôm hàng đầu vào EU với thị phần tăng từ 6,1% năm 2010 lên 7,5% năm 2011 [19]
Giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2011 tại thị trường Mỹ là 1.178 triệu USD, tăng 21,3%, trong đó giá trị xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ năm 2011 đạt 331,6 triệu USD, tăng gần 87,8% so với cùng kỳ [20]
Giá trị xuất khẩu thủy sản tại thị trường Nhật Bản năm 2011 đạt 1.003,9 triệu USD, tăng 11,9% so với năm 2010 Nhật Bản vẫn được xem là thị trường lớn nhất nhập khẩu tôm Việt Nam, đạt 607,202 triệu USD [18]
Xét toàn bộ các thị trường xuất khẩu thì thị trường các nước ASEAN có tốc độ tăng mạnh nhất, trong năm 2011 đạt 43,2% Tiếp đến là thị trường Trung Quốc và Hông Kông có tốc độ tăng 40,7% so với năm 2010 và thị trường Italia tăng 34,4% so với năm 2010 Trong khi đó, thị trường Hàn Quốc chiếm lấy vị trí thứ 4 về giá trị xuất khẩu, đạt 477 triệu USD, tăng 23,7% và đây là một trong những thị trường ngày càng
có vai trò quan trọng tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam
2.2 Thực trạng nghề nuôi tôm thương phẩm tại Việt Nam
2.2.1 Sản lượng tôm nuôi thương phẩm tại Việt Nam
Sản lượng tôm nuôi thương phẩm Việt Nam từ năm 1991 – 2011 được thể hiện trong hình 2.2 dưới đây
0 100 200 300 400 500 600