Trước tình hình đó cần thiết phải tổchức lại sản xuất, trước mắt là cải thiện tình thế sản xuất của đội tàu hành nghềkhai thác xa bờ chủ lực của địa phương, cụ thể là nghề lưới vây và lư
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG .4
1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên: 4
1.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội: 5
1.2 THỰC TRẠNG CÁC NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ CỦA TIỀN GIANG .6
1.3 TỔ CHỨC SẢN XUẤT KHAI THÁC HẢI SẢN .8
1.4 THỰC TRẠNG NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ CHỦ LỰC CỦA TỈNH TIỀN GIANG .9
1.4.1 Nghề lưới vây kết hợp ánh sáng: 9
1.4.2 Nghề lưới kéo đơn: 12
CHƯƠNG 2 15
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .15
CHƯƠNG 3 22
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT .22
3.2 THỰC TRẠNG CÁC TỔ HỢP TÁC KHAI THÁC NGHỀ L ƯỚI VÂY KẾT HỢP ÁNH SÁNG VÀ NGHỀ LƯỚI KÉO ĐƠN XA BỜ Ở TIỀN GIANG .22
3.2.1 Mô hình tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây kết hợp ánh sáng: 23
3.2.2 Các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn: 26
3.3 PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CỦA CÁC TỔ HỢP TÁC SẢN XUẤT NGHỀ KHAI THÁC XA BỜ Ở TIỀN GIANG VÀ MỘT VÀI ĐỊA PHƯƠNG KHÁC .30
3.3.1 Lợi ích của một số tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác thủy sản ngoài tỉnh: 30
3.3.2 Lợi ích của các tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang: 33
Trang 23.4 SO SÁNH LỢI ÍCH GIỮA HÌNH THỨC KHAI THÁC ĐƠN LẺ VÀ
KHAI THÁC THEO TỔ HỢP TÁC SẢN XUẤT Ở TIỀN GIANG .34
3.4.1 Kết quả nghiên cứu đối với nghề lưới vây xa bờ ở Tiền Giang: 35
3.4.2 Kết quả nghiên cứu đối với nghề lưới kéo đơn xa bờ ở Tiền Giang: 43
3.4.3 Nhận xét chung: 51
3.5 NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ TỒN TẠI TRONG MÔ HÌNH TỔ HỢP TÁC SẢN XUẤT CÁC NGHỀ KHAI THÁC XA BỜ Ở TIỀN GIANG .51
3.5.1 Những nguyên nhân khiến ngư dân duy trì hình thức khai thác đơn lẻ: 51
3.5.2 Những tồn tại cần khắc phục trong mô h ình tổ hợp tác sản xuất các nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang: 52
3.5.3 Những giải pháp khắc phục khó khăn, tồn tại: 53
3.6 CƠ SỞ TÍNH TOÁN ĐỀ XUẤT MÔ H ÌNH HỢP TÁC SẢN XUẤT PHÙ HỢP .54
3.6.1 Mô hình hợp tác sản xuất nghề lưới vây xa bờ ở Tiền Giang: 54
3.6.2 Mô hình hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn xa bờ ở Tiền Giang: 58
3.6.3 Đề xuất quy chế hoạt động chung của các tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang: 62
3.7 ĐỀ XUẤT QUI TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP CÁC TỔ HỢP TÁC SẢN XUẤT NGHỀ KHAI THÁC XA BỜ Ở TIỀN GIANG .65
CHƯƠNG 4 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÙ HỢP 67
4.1 KẾT LUẬN .67
4.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH HỢP TÁC SẢN XUẤT PHÙ HỢP 67
4.2.1 Mô hình hợp tác sản xuất phù hợp của nghề lưới vây xa bờ ở Tiền Giang: 67
4.2.2 Mô hình hợp tác sản xuất phù hợp của nghề lưới kéo đơn xa bờ ở Tiền Giang: 68
4.3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 69
4.4 KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN
CV Đơn vị tính công suất máy (còn gọi là mã lực)
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1.1: Thống kê năng lực khai thác biển của tỉnh Tiền Giang 7Bảng 3.1: Thống kê số phương tiện khai thác xa bờ được khảo sát 22Bảng 3.2 Thống kê số lượng tàu trong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây 23Bảng 3.3: Thống kê lãi ròng bình quân trong năm 2007 của 1 tàu trong các tổhợp tác sản xuất nghề lưới vây 23Bảng 3.4: Thống kê bình quân chu kỳ vận chuyển sản phẩm và chu kỳ về bờtrong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây 24Bảng 3.5: Thống kê lãi ròng bình quân trong năm 2007 của 1 tàu trong các
tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn 27Bảng 3.6: Thống kê bình quân chu kỳ vận chuyển sản phẩm và chu kỳ về bờtrong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn 28Bảng 3.7: Thống kê hiệu quả ở các tàu khai thác đơn lẻ 35Bảng 3.8: Thông số các tàu nghề lưới vây được khảo sát để so sánh các chỉ
tiêu kinh tế - kỹ thuật trong năm 2007 35Bảng 3.9: Kết quả xác định các chỉ tiêu hiệu qủa trên 1 tàu của hai nhóm tàunghề lưới vây trong năm 2007 36Bảng 3.10: Kết quả so sánh với 01 t àu nghề lưới vây xa bờ ở Tiền Giang 39Bảng 3.11: Thông số các tàu nghề lưới kéo được khảo sát để so sánh các chỉtiêu kinh tế - kỹ thuật trong năm 2007 4 3Bảng 3.12: Kết quả xác định các chỉ tiêu hiệu qủa trên 1 tàu của hai nhóm tàunghề lưới kéo đơn trong năm 2007 4 4Bảng 3.13: Kết quả so sánh với 01 tàu nghề lưới kéo đơn xa bờ ở Tiền Giang 47
Trang 5bờ ở địa phương luôn ổn định ở mức khá cao, lợi nhuận thu đ ược từ 40 – 80 triệuđồng/chuyến biển/tàu, có hộ làm ăn khấm khá đã đầu tư từ 8 - 12 tàu hoạt độngkhai thác thủy sản xa bờ Trong thời gian gần đây hiệu quả khai thác của các tàukhai thác xa bờ ngày càng giảm sút do nhiều nguyên nhân: nguồn lợi suy giảm;điều kiện thời tiết bất lợi; giá nguy ên nhiên liệu đầu vào tăng cao nhiều nguy
cơ làm cho các tàu khai thác xa b ờ ngừng sản xuất Các tàu khai thác đạt hiệuquả cao chỉ thu lợi nhuận từ 15 – 25 triệu đồng/chuyến/tàu, riêng các tàu khaithác kém hiệu quả thì hòa vốn hoặc thua lỗ
Trong các nguyên nhân làm cho hi ệu quả khai thác trên từng đơn vị tàu bịgiảm sút thì có hai nguyên nhân nổi trội: một là chi phí nguyên - nhiên liệu đầuvào tăng cao trong khi giá sản phẩm thủy sản lại không tăng đồng bộ, so với năm
1997 thì hiện nay chi phí mỗi chuyến biển tăng khoảng 30 – 50 triệu đồng/tàu;hai là nguồn lợi giảm cộng với thời tiết bất lợi n ên tàu phải đi khai thác xa hơn,chuyến biển kéo dài hơn mới đủ sản lượng và đủ chi phí làm cho chất lượng sảnphẩm bị giảm sút không bán được giá cao Trước tình hình đó cần thiết phải tổchức lại sản xuất, trước mắt là cải thiện tình thế sản xuất của đội tàu hành nghềkhai thác xa bờ chủ lực của địa phương, cụ thể là nghề lưới vây và lưới kéo.Hướng tổ chức lại sản xuất của các nghề n ày là thành lập tổ hợp tác sản xuấtnhằm luân phiên chuyển cá đánh bắt của các thành viên về đất liền, để từ đó kéodài chuyến biển của tàu, giảm chi phí, tăng cường lực và hiệu quả khai thác
Vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá mô hình tổ
hợp tác sản xuất nghề khai thác hải sản xa bờ tỉnh Tiền Giang và đề xuất mô hình hợp tác sản xuất phù hợp” nhằm làm tăng hiệu quả khai thác cho các tàu
Trang 6hành nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang Đây cũng l à nhu cầu cấp bách của ngưdân địa phương và của Ngành thuỷ sản Tiền Giang.
Mục đích của luận văn:
Nghiên cứu đánh giá mô hình tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác hải sản
xa bờ tỉnh Tiền Giang Từ kết quả nghiên cứu tiến hành phân tích và đề xuất môhình hợp tác sản xuất phù hợp cho từng loại nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang.Trên cơ sở đó qua công tác khuyến ngư sẽ triển khai cho ngư dân trong tỉnh vàngư dân ngoài tỉnh có điều kiện tương tự cùng ứng dụng nhằm giảm chi phí vàtăng hiệu quả khai thác
Nội dung nghiên cứu của luận văn:
1 Nghiên cứu thực trạng nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang chủ yếu l à hainghề khai thác chủ lực của tỉnh là nghề lưới kéo đơn và lưới vây kết hợp ánhsáng của tỉnh
2 Nghiên cứu phân tích và đánh giá mô hình tổ hợp tác sản xuất nghềkhai thác hải sản xa bờ của tỉnh
3 Nghiên cứu đề xuất mô hình hợp tác sản xuất phù hợp cho nghề khaithác xa bờ chủ lực của tỉnh là nghề lưới kéo đơn và nghề lưới vây kết hợp ánhsáng ở địa phương
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Nghiên cứu đánh giá mô hình tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác hải sản
xa bờ ở Tiền Giang nhằm tìm ra những cơ sở khoa học vững chắc để lựa chọn
mô hình hợp tác sản xuất phù hợp nhằm phát triển sản xuất trên cơ sở tăng hiệuquả sản xuất Trước mắt duy trì hoạt động khai thác hải sản trước thực trạng chiphí đầu vào tăng cao nhiều tàu thua lỗ và đang đứng trước nguy cơ ngừng sảnxuất
Nghề khai thác hải sản xa bờ tỉnh Tiền Giang hiện có khoảng 12 tổ hợptác sản xuất, tuy nhiên mỗi tổ có mỗi kiểu hợp tác khác nhau ch ưa theo mộtkhuôn mẫu nhất định, mức độ hợp tác và hiệu quả mang lại ở mỗi tổ cũng khácnhau, chưa có nghiên cứu đánh giá nào để đưa ra mô hình hợp tác tối ưu nhất chotừng loại nghề khai thác Việc nghiên cứu phân tích và đề xuất mô hình hợp tácphù hợp cho từng loại nghề khai thác xa bờ sẽ l àm cơ sở nhân rộng cho ngư dân
Trang 7trong và ngoài tỉnh có điều kiện nghiên cứu tương tự cùng ứng dụng góp phầntăng hiệu quả khai thác trên mỗi đơn vị tàu thuyền của mình.
Nội dung của luận văn bao gồm:
- Tổng quan
- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Kết luận và đề xuất mô hình phù hợp
Kết quả nghiên cứu trong luận văn chỉ là bước đầu của bản thân trong thờigian qua Đề tài cần hoàn thiện nếu qua giai đoạn thử nghiệm và hiệu chỉnh Tuynhiên đây là luận chứng giúp địa phương chỉ đạo đổi mới sản xuất nghề cá xa bờgóp phần phát triển sản xuất trong thời gian tới
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG 1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên:
Tiền Giang là một tỉnh ven biển Nam Bộ thuộc v ùng đồng bằng sông CửuLong (ĐBSCL) với diện tích 248.177ha bao gồm 10 huyện - thị và 169 xã,phường, thị trấn Dân số được thống kê đến năm 2004 là 1.688.185 người Thếmạnh của tỉnh là sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa và cây ăn trái, trongthời gian gần đây với chủ trương từng bước công nghiệp hóa - hiện đại hóa tỉnhnhà nên công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sản xuất thủy sản phát triển khámạnh
- Đặc điểm khí hậu: nhiệt độ khá ổn định, nhiệt độ trung b ình trong năm
khoảng 28oC Độ ẩm trung bình 84 – 86% Gió vào mùa mưa có hư ớng thịnhhành là Tây và Tây Nam, thể hiện rõ từ tháng 6 đến tháng 9; gió vào mùa khô cóhướng thịnh hành là hướng Đông thể hiện rõ từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm,tốc độ gió trung bình 2 – 4m/s Mùa mưa mỗi năm bắt đầu từ tháng 5 đến tháng
11, lượng mưa trung bình 1.334,5 – 1.894,4mm nhưng phân bố không đều, mưatập trung nhiều vào các tháng 8, tháng 9 và tháng 10 hàng năm và chi ếm 80%lượng mưa trong năm Địa bàn tỉnh ít xuất hiện bão mà thường chịu ảnh hưởng làchính
- Đặc điểm địa hình: Tiền Giang thuộc vùng ven biển của ĐBSCL có địa
hình tương đối thấp và bằng phẳng, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ0,6 – 3,0m Có hai sông lớn qua địa bàn tỉnh và đổ ra biển là sông Tiền và sôngVàm Cỏ Tây, Ngoài hai nhánh sông lớn còn có một hệ thống sông, kênh, rạchnhỏ chằng chịt trong nội đồng
- Đặc điểm về biển: là một tỉnh ven biển, có chiều dài bờ biển là 32km và
3 cửa sông lớn chảy ra biển Đông l à cửa Soài Rạp thuộc khu vực xã Vàm Lánghuyện Gò Công Đông, Cửa Tiểu và Cửa Đại của sông Tiền thuộc khu vực huyện
Gò Công Đông Nhờ các cửa sông này mà bờ biển có nhiều phù sa, chất mùn, tạo
ra một dãi bờ biển có nhiều điều kiện cho các lo ài sinh vật phát triển, đặc biệt là
Trang 9các loài giáp xác và nhuyễn thể Chính vì vậy mà tỉnh đã quy hoạch tại vùng biểnnày được 2.500ha bãi biển ven bờ phục vụ cho nuôi ngh êu hàng năm cung cấpmột lượng lớn nghêu thương phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu Những cửa sônglớn thông với biển Đông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang còn là đường giao thông đilại của tàu thuyền đánh cá và các phương tiện giao thông thủy khác từ biển v àonội địa và ngược lại Địa hình đáy biển khá bằng phẳng, độ sâu biến đổi chậm, độdốc đáy biển chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và ít chướng ngại vật Chế
độ thủy triều chịu sự chi phối chung của chế độ triều biển Đông Nam Bộ v à VịnhThái Lan, phía biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, phía biển Tây cóchế độ nhật triều không đều Chế độ gió ở v ùng biển này thể hiện rõ ở hai hướngchính theo hai mùa thời tiết trong năm là hướng Đông Bắc và Tây Nam, tốc độgió tương đối yếu và đều hơn so với các vùng biển thuộc khu vực miền Trung vàmiền Bắc Mùa mưa hàng năm bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, lượngmưa trung bình khoảng 1.400 – 1.500mm số ngày mưa hàng năm khoảng 100ngày Nhiệt độ nước biển thường cao hơn nhiệt độ không khí từ 2 – 3oC, nhiệt độcao nhất vào tháng 5 trung bình từ 30 – 31oC và thấp nhất vào tháng 1 trung bình
từ 26 – 28oC Xu thế chung là nhiệt độ trong mùa Đông tăng dần từ bờ ra khơi,
do đặc điểm biển nông nên nhiệt độ nước biển gần như đồng nhất từ tầng mặtđến tầng đáy [7]
1.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội:
Tỉnh Tiền Giang có phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 32km, phíaTây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre v à tỉnh Vĩnh Long, phíaBắc giáp tỉnh Long An Chiều dài sông Tiền qua địa bàn tỉnh khoảng 114km [7]
Trong 10 huyện - thị của tỉnh thì có 6 huyện có hoạt động khai thác hảisản đó là Châu Thành, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông, Thị xã GòCông và Thành phố Mỹ Tho Trong đó các tàu hành nghề khai thác xa bờ tậptrung nhiều nhất là ở TP Mỹ Tho và huyện Gò Công Đông, vì vậy mà cảng cáVàm Láng (huyện Gò Công Đông) và cảng cá Mỹ Tho (TP Mỹ Tho) cũng sớmđược xây dựng và đi vào hoạt động làm nhiệm vụ trung chuyển hàng hóa cho cáctàu khai thác hải sản xa bờ của tỉnh và khu vực Nam – Trung bộ Các cơ sở chế
Trang 10biến công nghiệp, đông lạnh và đóng sửa tàu thuyền tập trung chủ yếu ở TP MỹTho và một phần ở huyện Gò Công Đông.
Là một tỉnh được quy hoạch vào vùng kinh tế trọng điểm của khu vựcĐBSCL và cũng là cửa ngõ giao thương hàng hóa cả đường thủy và đường bộgiữa các tỉnh ĐBSCL với thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại nên thời gian gầnđây tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh khá mạnh v à ổn định, bình quân trên8%/năm Các khu, cụm công nghiệp được đầu tư phát triển như: khu công nghiệpTân Huơng và cụm công nghiệp Bình Đức (huyện Châu Thành); khu côngnghiệp Mỹ Tho, cụm công nghiệp Trung An v à cụm công nghiệp Tân Mỹ Chánh(TP Mỹ Tho); khu công nghiệp Long Giang (huyện Tân Ph ước)… đã giải quyếtviệc làm và tạo thu nhập ổn định cho một lượng lớn lực lượng lao động ở địaphương, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh
1.2 THỰC TRẠNG CÁC NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ CỦA TIỀN GIANG.
Tiền Giang có 3 cửa sông lớn ăn thông ra biển l à: cửa Đại, cửa Tiểu vàcửa Xoài Rạp, nguồn lợi thủy sản của tỉnh khá phong phú, nên nghề khai thácthủy sản của tỉnh sớm phát triển v à là nghề truyền thống của ngư dân của tỉnh
Từ đầu những năm 1990, năng lực khai thác biển đ ã liên tục tăng nhanh,ngư trường khai thác đã mở rộng trên khắp vùng biển Đông, Tây Nam Bộ và cảtrên khu vực quần đảo Trường Sa Sản lượng khai thác hàng năm dao động từ60.000 – 70.000tấn/năm và đạt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra hàng năm Cường lựckhai thác liên tục tăng qua các năm, thông qua số l ượng tàu thuyền và công suấtmáy được minh chứng qua bảng 1.1
Trang 11Bảng 1.1: Thống kê năng lực khai thác biển
của tỉnh Tiền Giang
lượng
(tấn) 64276 65247 65575 67525 67499 71582 71500 71953Năng
suất
Nguồn: Sở Thuỷ sản Tiền Giang [8]
Từ bảng 1.1 cho thấy tổng sản lượng khai thác thủy sản có tăng qua cácnăm nhưng sản lượng khai thác trên đơn vị công suất máy lại có hướng giảm dần.Nguyên nhân do nguồn lợi thủy sản ở các ngư trường truyền thống ngày cànggiảm do khai thác quá mức Mặt khác chi phí đầu vào phục vụ khai thác ngàycàng tăng nhưng giá sản phẩm đầu ra tăng chậm nên lợi nhuận chưa hấp dẫnngười dân đầu tư vào lĩnh vực khai thác Trong lực lượng tàu khai thác xa bờ ởTiền Giang có những tàu hành nghề rất hiệu quả và ngược lại cũng có những tàukém hiệu quả Đa phần các tàu khai thác kém hiệu quả đều thuộc trường hợp khaithác đơn lẻ và ngược lại phần lớn các tàu khai thác đạt hiệu quả cao đều thuộccác tập đoàn khai thác của các chủ tàu có nhiều vốn
Trong cơ cấu các nghề khai thác thủy sản của tỉnh th ì nghề lưới vây kếthợp ánh sáng và lưới kéo đơn là hai nghề khai thác xa bờ chủ lực của tỉnh, có vịtrí quan trọng và ảnh hưởng lớn đến đời sống của ngư dân địa phương Đến cuốinăm 2007 toàn tỉnh có 1.421 tàu hành nghề khai thác biển thì có trên 500 tàu khaithác xa bờ (có công suất trên 90CV) chủ yếu tập trung vào hai loại nghề chính lànghề lưới kéo đơn tập trung ở huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang và nghềlưới vây kết hợp ánh sáng tập trung ở TP Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang
Trang 12Đây là hai loại nghề luôn dẫn đầu về sản lượng và hiệu qủa kinh tế củatỉnh, sản lượng khai thác chiếm từ 70 - 85% tổng sản lượng khai thác biển củatoàn tỉnh Đối tượng khai thác chủ yếu của nghề l ưới vây là các loài cá nổi thíchánh sáng như: cá nục, bạc má, cá thu, cá ngừ, cá ngân, cá trao tráo, cá chỉ v àng…Khoảng 90% sản phẩm khai thác phục vụ nhu cầu ti êu thụ nội địa, trong đó sốchế biến đóng hộp chỉ từ 2 – 3%, khoảng trên dưới 25% sản phẩm có chất lượngthấp dùng cho chế biến bột cá, thức ăn gia súc, l àm thức ăn cho cá bè ở AnGiang, Đồng Tháp, Tiền Giang và làm nước mắm, tỷ lệ sản phẩm xuất khẩuchiếm khoảng 10% Riêng đối tượng khai thác của nghề kéo đ ơn chủ yếu là cácloại tôm, ghẹ, các loại mực và cá sống tầng đáy, trong đó tỷ lệ sản phẩm phục vụxuất khẩu chiếm từ 15 – 20% còn lại 80 – 85% là tiêu thụ nội địa [8]
1.3 TỔ CHỨC SẢN XUẤT KHAI THÁC HẢI SẢN.
Ngoài nước: Trên thế giới có các tổ quản lý cộng đồng tr ên lĩnh vực nuôi
và khai thác thuỷ sản, các mô hình đồng quản lý nhằm bảo vệ và khai thác nguồntài nguyên một cách bền vững [4] Ở các nước phát triển và một số nước trongkhu vực có nghề cá phát triển, các đội tàu khai thác xa bờ với các nghề tương tựnhư Việt Nam đều hoạt động dưới dạng công ty tư nhân hay tập đoàn khai tháclớn Mô hình này chưa phù hợp với nghề cá qui mô nhỏ, cá thể ở Việt Nam Donghề khai thác thuỷ sản ở nước ta có nhiều điểm đặc trưng riêng nên trên thế giớicũng chưa có nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
Trong nước: Trong thời gian gần đây ở một số địa phương đã hình thành
các tổ liên kết sản xuất trong khai thác xa bờ, mỗi địa ph ương có loại nghề vàcách thức liên kết sản xuất khác nhau như: Tổ hợp tác khai thác thuỷ sản ở B ìnhThuận (nghề lưới vây rút chì); Tổ hợp tác khai thác nghề lưới vây ở huyện Ba Tritỉnh Bến Tre, nghề lưới vây ánh sáng xa bờ ở Long Hải tỉnh B à Rịa - Vũng Tàu,nghề câu mực và câu cá ngừ đại dương ở Bình Định; các tổ hợp tác khai thác ởthành phố Đà Nẵng; khai thác cá ngừ đại dương với quy mô lớn của các Công ty
tư nhân ở Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên tổ chức sản xuất của nghề
cá tư nhân nhỏ lẻ vẫn chưa có mô hình nào khả thi thành công trở thành mô hìnhmẫu trong nghề cá
Trang 13Ở Tiền Giang hiện có khoảng 12 tổ có sự li ên kết trong khai thác xa bờ, đa
số tự phát dưới dạng gia đình, anh em và người thân, hiệu quả khai thác của cáctàu trong tổ luôn ổn định từ khá đến cao Mỗi tổ có từ 3 – 10 phương tiện khaithác, phần lớn là do một chủ quản lý và điều hành Chưa có mô hình tổ hợp táckhai thác hợp tác một cách toàn diện do tàu của nhiều chủ liên kết với nhau, docòn nhiều tồn tại và bất cập chưa khắc phục được
1.4 THỰC TRẠNG NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ CHỦ LỰC CỦA TỈNH TIỀN GIANG.
1.4.1 Nghề lưới vây kết hợp ánh sáng:
Ngư trường hoạt động của nghề: Trước đây chủ yếu là ngư trường Đông
Nam Bộ, ban đầu chỉ khai thác ở khu vực quanh Côn Đảo Tuy nhi ên do sự tăngnhanh về số lượng lẫn chất lượng của phương tiện hoạt động nghề này trong tỉnhcũng như trong khu vực nên hiện nay ngư trường đã mở rộng trên toàn vùng biểnĐông và Tây Nam Bộ, phạm vi hoạt động có thể cách bờ biển tr ên 200 hải lý, ởtọa độ từ 102– 110 kinh Đông và từ 5- 9 vĩ Bắc thuộc vùng tiếp giáp vớiMalaixia, Campuchia và cả vùng tiếp giáp với các nước Indonêxia, Thái Lan với
độ sâu khai thác trung bình từ 40 - 70m nước Thời gian trung bình từ bờ đến ngưtrường khai thác khoảng 48 giờ Chi phí nhiên liệu cho mỗi chuyến đi hoặc vềcủa một tàu trung bình khoảng 1.900 lít dầu thành tiền 26.600.000đ (với giá dầu14.000đ/lít)
Tàu thuyền khai thác: ở Tiền Giang tàu khai thác nghề lưới vây xa bờ hầu
hết là tàu vỏ gổ kiểu dáng dân gian thông dụng tại miền Nam, với các thông s ố
kỹ thuật chủ yếu như sau:
- Chiều dài: Lmax từ 17,6 – 23,7m
Trang 14Trang bị máy hàng hải: trên tất cả các tàu nghề này đều được trang bị máy
định vị, la bàn, hải đồ, máy thông tin liên lạc tầm trung, tầm xa để liên lạc giữacác tàu và giữa tàu với trạm bờ Ngoài ra còn có các trang bị khác như máy phátđiện, hệ thống đèn phục vụ sản xuất, các trang bị an to àn theo quy định Đồngthời có khoảng 25% tàu thuyền trang bị máy đo sâu, dò cá nhằm tăng thêm hiệuquả sản xuất
Mức độ cơ giới hóa: Trước đây đa số các tàu chỉ mới trang bị được tời
trích lực từ máy chính để thu dây rút ch ì, thu neo còn việc thu lưới chủ yếu thựchiện bằng tay, hiện nay đa số phương tiện đều có trang bị tời thủy lực (tự chế) đểthu lưới, bước đầu có hiệu quả trong việc giảm đ ược thời gian thu lưới cũng nhưsức lao động của thủy thủ
Ngư cụ: các thông số kỹ thuật của vàng lưới như sau.
- Chiều dài: từ 500 - 700m, (kéo căng từ 600 – 800m)
- Chiều cao: từ 90 - 100m, (kéo căng từ 120 – 150m)
- Vật liệu làm áo lưới: dùng sợi tổng hợp PA
- Độ thô chỉ lưới: từ 1,2 – 1,5mm
- Kích thước mắt lưới ở tùng: 2a = 25mm
Các vàng lưới chủ yếu được chế tạo thủ công (lưới dệt, đan lắp ráp thủcông)
Kỹ thuật khai thác: Trước năm 1995 hình thức khai thác chủ yếu của nghề
là “chong đèn để dẫn dụ, gom cá rồi đánh lưới” Từ sau năm 1995 tất cả các t àuthuyền nghề này đều kết hợp việc thả chà với sử dụng ánh sáng để gom cá H ìnhthức này giúp giảm được chi phí dò tìm và khai thác đạt hiệu quả hơn, ngưtrường ổn định hơn Trung bình mỗi chủ phương tiện có từ 5 – 10 cụm chà, có
hộ lên đến 20 cụm được đặt ở các khu vực khác nhau để có thể chủ động thay đổingư trường theo mùa vụ Chà được thả ở độ sâu 45 - 70m, kết cấu gồm đá dằn,dây buộc, tre cây và lá dừa hoặc bả lưới cũ Trung bình giá thành mỗi cụm chàhiện nay khoảng 1.500.000đ Các t àu khai thác từ 1 – 2 mẻ lưới trong một ngàyđêm, mỗi mẻ lưới khai thác được 0,9 – 1 tấn hải sản các loại, mỗi chuyến biển
Trang 15kéo dài 22 – 45 ngày và thu được 27 – 45 tấn hải sản Mỗi năm các tàu khai thác
từ 8 – 10 chuyến biển
Tổng giá trị tài sản phương tiện nghề lưới vây kết hợp ánh sáng theo thờiđiểm hiện nay khoảng từ 1,9 – 2,5 tỷ đồng cho một phương tiện mới
Bảo quản sản phẩm: Trên tất cả các tàu lưới vây ở Tiền Giang đều dùng
phương pháp bảo quản lạnh khô Sản phẩm sau khi khai thác được rửa sạch vàcho vào khay nhựa hoặc túi nylon sau đó cho v ào hầm bảo quản, sau mỗi lớp cá
là một lớp đá lạnh xay nhuyễn Ưu điểm của phương pháp này là chi phí thấp,đơn giản dễ thực hiện, bảo quản được cho mọi đối tượng Tuy nhiên phươngpháp này cũng có nhược điểm là chất lượng sản phẩm sẽ giảm dần theo thời gian
do đó không thể bảo quản trong thời gian dài Theo nghiên cứu của các nhà khoahọc chất lượng sản phẩm thủy sản sẽ giảm dần sau khi bảo quản bằng n ước đá(hay bảo quản lạnh khô) kể từ ngày thứ 8 và càng về sau tốc độ giảm sút của chấtlượng thủy sản càng nhanh [6]
Phương thức tổ chức sản xuất: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 15%
số tàu nghề này tổ chức sản xuất theo hình thức hộ gia đình và tổ hợp tác sảnxuất Đã có khá nhiều hộ đăng ký sở hữu từ 3 đến 10 t àu công suất trên90CV/chiếc, tổng giá trị tàu và ngư lưới cụ trên hàng chục tỷ đồng Cơ chế hợptác và phương thức ăn chia giữa các thành viên của tổ trong khai thác theophương thức “tự thoả thuận hình thức hợp tác, thỏa thuận ăn chia theo từng thờigian và mùa vụ nhất định” Với hình thức các tàu trong tổ cùng khai thác và dồnsản phẩm sang một tàu để chuyển về bờ tiêu thụ, nhờ vậy chủ phương tiện chủđộng hơn trong việc chọn thời điểm giá sản phẩm cao để chuyển về bờ ti êu thụ,sản phẩm có chất lượng cao hơn, hạn chế tình trạng lúc thì khan hiếm lúc thì ứđọng sản phẩm (khi các phương tiện cùng về một lúc) Đồng thời còn giúp tăngthời gian bám biển của tàu, tiết kiệm được chi phí nhiên liệu v.v Bên cạnh đócòn tạo được sự liên kết từng nhóm tàu trong quá trình khai thác trên bi ển, đặcbiệt là ở những vùng biển khơi (các ngư trường giáp ranh với Malaixia,Indonexia) để hỗ trợ nhau về những thông tin ng ư trường, dịch vụ tiêu thụ, cungứng – trao đổi lương thực, vật tư, thiết bị, nhiên liệu và về an toàn hàng hải cũng
Trang 16như an ninh trên biển Nhìn chung các tàu tổ chức sản xuất theo hình thức nàyđều có hiệu quả cao hơn từ 20 – 25% so với các tàu khai thác riêng lẻ.
Hiệu quả kinh tế: thường mỗi tàu khai thác nghề lưới vây của tỉnh có 19 –
22 lao động, thời gian mỗi chuyến biển từ 22 – 45 ngày, chi phí cho mỗi chuyếnbiển từ 120 – 160 triệu đồng (chưa tính lương thuyền viên), sản lượng từ 27 –45tấn/chuyến, lợi nhuận từ 20 – 60 triệu đồng/chuyến Thường các tàu khai tháctheo nhóm, tổ hợp tác có lợi nhuận cao và ổn định hơn các tàu khai thác riêng lẻ
1.4.2 Nghề lưới kéo đơn:
Ngư trường hoạt động của nghề: Đối với nghề lưới kéo đơn của tỉnh, ngư
trường hoạt động chủ yếu ở vùng biển Đông và Tây Nam Bộ Phạm vi hoạt động
có thể cách cảng xuất phát đến 150 hải lý với độ sâu khai thác trung b ình từ 30 60m nước Thời gian trung bình từ bờ đến ngư trường khai thác khoảng 24 giờ.Chi phí nhiên liệu cho mỗi chuyến đi hoặc về của một tàu trung bình khoảng 850lít dầu thành tiền 11.900.000đ (với giá dầu 14.000đ/lít)
-Tàu thuyền khai thác: hầu hết tàu lưới kéo đơn xa bờ của Tiền Giang đều
là tàu vỏ gổ kiểu dáng dân gian thông dụng tại miền Nam, với các thông số kỹthuật chủ yếu như sau:
- Chiều dài: Lmax từ 15,5 – 20,4m
- Chiều rộng: Bmax từ 4,5 – 5,90m
- Chiều cao: Hmaxtừ 2,4 – 3,50m
- Trọng tải: GT từ 60 – 90 tấn
- Công suất máy chính: N từ 90 - 600CV
Trang bị máy hàng hải: trên tất cả các tàu nghề này đều được trang bị máy
định vị, la bàn, hải đồ, máy thông tin liên lạc tầm trung, tầm xa, máy đo sâu d ò
cá Ngoài ra còn có các trang bị an toàn theo quy định
Mức độ cơ giới hóa: phần lớn các thao tác nặng nhọc tr ên tàu lưới kéo
đơn của Tiền Giang đều được thực hiện thông qua tời trích lực từ máy chính
Ngư cụ: các thông số kỹ thuật của ngư cụ như sau.
Trang 17- Chiều dài giềng phao: từ 26 - 28m.
- Chiều dài giềng chì: từ 28 - 32m
- Vật liệu làm áo lưới: dùng sợi tổng hợp PA
- Kích thước ván lưới: 1,2 x 2,4m
- Kích thước mắt lưới ở đụt: 2a = 25mm
Tổng giá trị tài sản phương tiện nghề lưới kéo đơn theo thời điểm hiện naykhoảng từ 1,7 – 2,0 tỷ đồng cho một phương tiện mới
Kỹ thuật khai thác: Các tàu khai thác nghề kéo đơn ở Tiền Giang thường
khai thác theo kinh nghiệm cha truyền - con nối Các điểm khai thác ở ngưtrường thường được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Mỗi tàu khai thác từ 1 -
2 mẻ lưới trong một ngày đêm, mỗi mẻ lưới kéo dài từ 3 – 4 giờ, mỗi chuyếnbiển kéo dài từ 45 – 60 ngày, mỗi năm các tàu khai thác từ 5 – 6 chuyến biển.Sản lượng khai thác mỗi mẻ lưới từ 350 – 400kg hải sản các loại, mỗi chuyếnbiển khai thác được 25 – 40 tấn hải sản
Bảo quản sản phẩm: Hiện nay đa số các tàu lưới kéo đơn xa bờ của Tiền
Giang đều thực hiện bảo quản sản phẩm bằng ph ương pháp bảo quản lạnh ướt.Sản phẩm sau khai thác được rửa sạch, phân loại, cho vào túi nylon rồi đưa vàobảo quản trong các thùng (composite) có chứa hỗn hợp nước đã làm lạnh bằngnước đá Ưu điểm của phương pháp này là tránh được va chạm cơ học trong quátrình bảo quản, tăng diện tích bề mặt tiếp xúc nhiệt của đối t ượng, nhiệt độ bảoquản đều, thích hợp để bảo quản các đối t ượng có giá trị, các đối tượng có hìnhdạng lớn Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm là không thể bảoquản dài ngày vì sẽ làm bẩn nước có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm, phải định kỳ kiểm tra điều chỉnh để đảm bảo nhiệt độ bảo quản Qua thực
tế khai thác của ngư dân địa phương với phương pháp này thì chất lượng sảnphẩm sẽ bắt đầu giảm sút kể từ ngày thứ 10 và càng về sau chất lượng sản phẩm
sẽ giảm sút càng nhanh, để hạn chế sự giảm sút chất lượng cá thì sau 10 ngàyphải tiến hành thay nước và tăng lượng đá làm lạnh nước
Trang 18Phương thức tổ chức sản xuất sản xuất: hiện nay ngoài các tổ hợp tác sản
xuất theo họ hàng thân tộc thì các tàu kéo đơn ở Tiền Giang thường có sự liên kếtvới nhau trong sản xuất Tuy mỗi chuyến biển kéo d ài từ 45 – 60 ngày nhưngkhoảng 15 – 20 ngày các tàu cặp bến hoặc gửi sản phẩm về bờ ti êu thụ
Hiệu quả kinh tế: thường mỗi tàu khai thác nghề lưới kéo đơn của tỉnh có
10 – 12 lao động, thời gian mỗi chuyến biển từ 45 – 60 ngày, chi phí cho mỗichuyến biển từ 120 – 150 triệu đồng (chưa tính lương thuyền viên), sản lượng từ
30 – 40tấn/chuyến, lợi nhuận từ 15 – 56 triệu đồng/chuyến Các tàu khai tháctheo nhóm, tổ hợp tác thường có lợi nhuận cao và ổn định hơn các tàu khai thácriêng lẻ
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Đối tượng nghiên cứu là các tàu khai thác nghề lưới vây và lưới kéo đơn
xa bờ ở Tiền Giang, trong đó chú trọng đến các mô h ình hợp tác sản xuất củanghề lưới vây kết hợp ánh sáng và nghề lưới kéo đơn xa bờ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU.
Xác định thực trạng mô hình sản xuất hợp tác các nghề cần nghiên cứu ởđịa phương bằng phương pháp sau:
- Điều tra thực trạng kinh tế - kỹ thuật – xã hội của mô hình bằng phươngpháp điều tra bằng phiếu Phiếu điều tra được thiết kế gồm 2 trang với 15 nộidung khảo sát được thiết kế phù hợp với yêu cầu nghiên cứu của đề tài Nội dungphiếu điều tra được thể hiện trong phụ lục 1
- Thống kê kết quả điều tra và xác định các chỉ tiêu hiệu quả bằng công cụExcel Các chỉ tiêu được tính bằng giá trị trung bình
Xác định hiệu quả nghề bằng các chỉ ti êu:
Số tàu được chọn ngẫu nhiên để xác định các chỉ tiêu gồm 4 tàu khai thácđơn lẻ (được gọi là nhóm I) và 4 tàu khai thác theo t ổ hợp (được gọi là nhóm II).Các tàu được chọn phải có những điều kiện t ương đồng nhau về trang bị, ngưtrường và loại nghề khai thác
A/ Chỉ tiêu thời gian:
a) Thời gian sản xuất bình quân trong một năm “T” (ngày - đêm/năm):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
Trang 20T : Là thời gian sản xuất bình quân trong một năm của một tàu trongnhóm tàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
4 3 2
1 ,T ,T ,T
T : Là thời gian sản xuất trong một năm của các tàu thuộc nhómtàu khai thác đơn lẻ (I)
8 7 6
5 ,T ,T ,T
T : Là thời gian sản xuất trong một năm của các tàu thuộc nhómtàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
b) Thời gian đi lại bình quân trong một năm “Tdl”(giờ/năm):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
dl T T T
T1 , 2 , 3 , 4 : Là thời gian đi lại trong một năm của các tàu thuộc nhómtàu khai thác đơn lẻ (I)
dl dl dl
T T
- Nhóm tàu khai thác theo tổ hợp (II):
24IIdl
II IIkt T T
Trang 21T : Là thời gian khai thác thực tế trên biển bình quân trong một năm củamột tàu trong nhóm tàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
B/ Tiêu thụ nước đá bình quân trong năm “B” (cây/tàu):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
1 ,B ,B ,B
B : Là lượng nước đá tiêu thụ trong một năm của các tàu thuộcnhóm tàu khai thác đơn lẻ (I)
8 7 6
5 ,B ,B ,B
B : Là lượng nước đá tiêu thụ trong một năm của các tàu thuộcnhóm tàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
C/ Tiêu thụ dầu bình quân trong năm “C” (lít/tàu):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
1 ,C ,C ,C
C : Là lượng dầu tiêu thụ trong một năm của các tàu thuộcnhóm tàu khai thác đơn lẻ (I)
8 7 6
Trang 22E/ Sản lượng khai thác bình quân trong năm “E” (tấn/tàu):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
1 ,E ,E ,E
E : Là sản lượng hải sản khai thác trong một năm của các tàuthuộc nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I)
8 7 6
5 ,E ,E ,E
E : Là sản lượng hải sản khai thác trong một năm của các tàuthuộc nhóm tàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
F/ Thời gian bảo quản, chất lượng và giá trị sản phẩm:
+ Thời gian bảo quản “Tbq”(ngày-đêm/chuyến): Thời gian bảo quản sảnphẩm trong mỗi chuyến biển được xác định là khoảng thời gian từ lúc cá đượckhai thác đưa vào hầm bảo quản đến khi cá được đưa về bờ đến nơi tiêu thụ
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
4
4 3 2
Ibq
T T T T
- Nhóm tàu khai thác theo tổ hợp (II):
4
8 7 6
IIbq
T T T T
bq T T T
T1 , 2 , 3 , 4 : Là thời gian bảo quản sản phẩm bình quân trong mộtchuyến biển của các tàu thuộc nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I)
Trang 23bq bq bq
1 ,F ,F ,F
F : Là giá trị bình quân 1 tấn sản phẩm của các tàu thuộc nhómtàu khai thác đơn lẻ (I)
8 7 6
5 ,F ,F ,F
F : Là giá trị bình quân 1 tấn sản phẩm của các tàu thuộc nhómtàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
G/ Doanh thu bình quân trong năm “G” (triệu đồng/tàu):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I): G I E I F I
- Nhóm tàu khai thác theo tổ hợp (II): G II E II F II
H/ Chi phí bình quân trong năm “H” (triệu đồng/tàu):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
Trang 24H : Là chi phí trong một năm của các tàu thuộc nhóm tàu khaithác đơn lẻ (I).
8 7 6
H : Là chi phí trong một năm của các tàu thuộc nhóm tàu khaithác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
I/ Lợi nhuận bình quân trong năm “I” (triệu đồng/tàu):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I): I I G I H I
- Nhóm tàu khai thác theo tổ hợp (II): I II G II H II
J/ Thu nhập bình quân của thuyền viên trong năm “J” (triệu đồng/người):
- Nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I):
1 ,J ,J ,J
J : Là thu nhập bình quân của một thuyền viên trong một năm ởcác tàu thuộc nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I)
Trang 258 7 6
5 ,J ,J ,J
J : Là thu nhập bình quân của một thuyền viên trong một năm ởcác tàu thuộc nhóm tàu khai thác theo tổ hợp tác sản xuất (II)
Xác định mô hình hợp tác sản xuất phù hợp bằng phương pháp sau:
- Tính toán số lượng tàu thuyền tối ưu trong một tổ cho mỗi loại nghề dựavào trọng tải tàu, kết quả khai thác bình quân trong một ngày đêm của mỗi loạinghề và phương pháp cũng như thời gian cho phép bảo quản sản phẩm trên biển
- Lựa chọn phương án hợp tác tối ưu phát huy nhiều lợi ích trong hợp tácsản xuất trên biển, được đa số ngư dân đồng thuận
Trang 26CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT.
Thời gian khảo sát được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2008
Tổng số phiếu khảo sát được là: 177 phiếu gồm 112 phiếu khảo sát tàukhai thác nghề lưới kéo và 65 phiếu khảo sát tàu khai thác nghề lưới vây Tổng
số tàu khai thác xa bờ ở Tiền Giang được khảo sát là 165 tàu, trong đó có 5 tàulưới kéo đơn và 7 tàu lưới vây được khảo sát lặp lại 2 lần ở hai thời điểm khácnhau nhằm nâng cao tính ổn định và độ chuẩn xác của thông tin được khảo sát.Phân bố phiếu khảo sát theo nghề và thời gian được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Thống kê số phương tiện khai thác xa bờ được khảo sát
Hiện tại trên địa bàn tỉnh Tiền Giang có 12 tổ hợp tác sản xuất trong khaithác hải sản xa bờ, trong đó có 10 tổ hoạt động nghề l ưới vây kết hợp ánh sáng
và 02 tổ hoạt động nghề lưới kéo đơn Mỗi tổ có từ 3 – 10 tàu hình thức và mức
độ hợp tác ở mỗi tổ cũng khác nhau Hầu hết các tổ hợp tác sản xuất đều do mộtchủ quản lý hoặc do anh, em thân tộc li ên kết lại nhằm nâng cao hiệu quả sả nxuất
Trang 273.2.1 Mô hình tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây kết hợp ánh sáng:
3.2.1.1 Qui mô và lợi nhuận:
Mỗi tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây ở Tiền Giang đều do một chủ quản
lý, vì vậy qui mô của tổ cũng như số lượng tàu thuyền trong tổ phụ thuộc vào khảnăng tài chính của chủ tàu Trong 10 tổ hợp tác sản xuất thì tổ ít nhất là 3 tàu, tổnhiều nhất là 10 tàu được thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Thống kê số lượng tàu trong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây
Trên các tàu trong tổ đều được trang bị các thiết bị đáp ứng yêu cầu khaithác Tuy nhiên, các trang thiết bị trên các tàu không đồng nhất về thông số kỹthuật cũng như giá trị Đồng thời hiệu quả mang lại của các tổ hợp tác sản xuấttrên từng đơn vị tàu thuyền cũng khác nhau
Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, ngư trường và kinh nghiệm, tay nghềthuyền trưởng mà mức lợi nhuận thu được của mỗi tàu trên từng chuyến biểncũng khác nhau Lợi nhuận của các tàu trong các tổ hợp tác sản xuất nghề lướivây khá ổn định Theo kết quả điều tra, l ãi ròng bình quân năm 2007 của một tàutrong các tổ được thể hiện qua bảng 3.3
Bảng 3.3: Thống kê lãi ròng bình quân trong năm 2007 của 1 tàu
trong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây
BìnhquânLãi 1 chuyến
Trang 283.2.1.2 Phương thức hợp tác sản xuất:
Do những đặc điểm khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội nên mỗi tổ cómức độ hợp tác khác nhau Nhìn chung các tàu trong tổ hợp tác sản xuất nghềlưới vây thường thực hiện hợp tác trong khai thác với nguy ên tắc hợp tác và nộidung chủ yếu sau:
- Nguyên tắc hợp tác: Hợp tác trong chuyên chở và giúp nhau trong sảnxuất, riêng mỗi thành viên sẽ tự thu – chi và hạch toán độc lập
- Nội dung hợp tác:
+ Luân phiên vận chuyển sản phẩm vào bờ: sản phẩm sau khai thác, đượcdồn lại cho một tàu chở về bờ để tiêu thụ nhằm bán được giá cao, giảm chi phí đilại và tăng thời gian bám biển khai thác của các t àu còn lại Các tàu thay phiênnhau vận chuyển sản phẩm về bờ và đưa nguyên - nhiên liệu trở lại ngư trườngcung cấp cho các tàu trong tổ Tùy thuộc vào số lượng tàu trong mỗi tổ, sảnlượng cá khai thác được mà thời gian về bờ giữa các tàu trong tổ dài hay ngắn,thể hiện qua bảng 3.4
Bảng 3.4: Thống kê bình quân chu kỳ vận chuyển sản phẩm
và chu kỳ về bờ trong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây
BìnhquânChu kỳ chuyển
để hạch toán hiệu quả sản xuất Các tàu thuộc tổ thứ 2 và tổ thứ 10 có chu kỳ về
bờ (thời gian chuyến biển) như nhau (45 ngày) nhưng chu kỳ vận chuyển sảnphẩm về bờ của tổ thứ 2 là 15 ngày do số lượng tàu trong tổ này ít (chỉ 3 tàu),
Trang 29ngược lại ở tổ thứ 10 chu kỳ vận chuyển sản phẩm về bờ chỉ 5 ngày do số lượngtàu trong tổ khá nhiều (10 tàu).
+ Trao đổi thông tin về ngư trường khai thác: Do đặc điểm nghề l ưới vây
ở Tiền Giang là khai thác kết hợp với ánh sáng và chà rạo nên ngư trường khaithác của các tàu cũng khá ổn định Với hình thức khai thác theo tổ hợp tác sảnxuất mà các tàu đều do một chủ quản lý thì thông tin về ngư trường, nguồn lợiluôn được chia sẽ kịp thời cho các tàu thành viên Nhờ đó giảm được chi phí đilại cũng như không mất thời gian chong đèn khai thác thăm dò ở từng cụm chà
+ Giúp đỡ lẫn nhau khi có sự cố trên biển: Các tàu trong tổ hợp tác thườngkhai thác ở các khu vực gần nhau và liên lạc hàng ngày để trao đổi thông tin vềsản lượng cũng như diễn biến tình hình khai thác nên kịp thời hỗ trợ giúp đỡ lẫnnhau khi có sự cố trên biển như: tai nạn lao động, các hỏng hóc tàu thuyền cũngnhư trang thiết bị phục vụ khai thác và các sự cố khác do thiên tai v.v Nhờ đógiảm thiểu tối đa thiệt hại khi có sự cố xảy ra tr ên các tàu thành viên
+ Hợp tác trong sử dụng lao động: Lực l ượng lao động nghề cá ở TiềnGiang nói riêng và cả nước nói chung thường không ổn định, lao động có xuhướng chuyển từ tàu có hiệu quả thấp sang các tàu khai thác có hiệu quả caonhằm cải thiện thu nhập cho bản thân Tuy nhi ên lao động trên các tàu trong tổhợp tác sản xuất nghề lưới vây ít có sự xáo trộn do thuyền vi ên tự ý chuyển đổiphương tiện khai thác nhờ vào cơ chế thống nhất giữa các tàu thành viên trong tổtrong việc sử dụng lao động như: không nhận lao động của các tàu thành viên tự
ý chuyển sang, không cạnh tranh lao động giữa các t àu trong tổ…
3.2.1.3 Phương thức ăn chia lợi nhuận:
Lợi nhuận trên các tàu trong tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây được chiatheo tỷ lệ 6:4 (chủ 6 và thuyền viên 4) sau khi trừ chi phí sản xuất trong từngchuyến biển Thường sau khi trừ chi phí sản xuất, lãi ròng của chủ tàu từ 20 – 60triệu đồng (bảng 3.3), mỗi thuyền viên được hưởng từ 2 – 5 triệu đồng sau mỗichuyến biển 30 – 45 ngày tuỳ theo phân điểm do thuyền trưởng chấm công Lợinhuận trên các tàu thành viên phần lớn được ăn chia một cách độc lập dựa tr ênkết quả sản xuất của chuyến biển, không phân bổ đồng cho các t àu thành viên
Trang 30Trong 10 tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây ở Tiền Giang có 1 tổ cũng ănchia theo tỷ lệ 6:4 (chủ 6 và thuyền viên 4) tuy nhiên lợi nhuận lại được hạchtoán đều cho tất cả các tàu thành viên.
Phương thức ăn chia độc lập hoặc hạch toán đều cho các t àu thành viênđều có những ưu, nhược điểm nhất định Hạch toán đều tạo sự đo àn kết tốt, triệt
để trong lực lượng lao động cũng như các tàu thành viên nhưng c ũng dễ gây tâm
lý so đo giữa các tàu cũng như lao động trong tổ và phương thức này chỉ thựchiện được ở các tổ do một chủ tàu quản lý Phương thức hoạch toán độc lập chotừng tàu dựa trên kết quả sản xuất thì ngược lại tuy chưa tạo được sự gắn kết triệt
để giữa các tàu thành viên nhưng lại có ưu điểm là kích thích sản xuất và thựchiện được ở các tổ mà tàu thành viên do 1 hoặc nhiều chủ quản lý
3.2.1.4 Phương thức quản lý điều hành và cơ chế kích thích sản xuất:
Các tàu lưới vây xa bờ ở Tiền Giang đều do một chủ quản lý v ì vậy kháthuận lợi trong quản lý điều hành trên bờ cũng như trên biển Việc ghi chép sổsách mua bán của các tàu ở bờ đều do chủ tàu thực hiện, riêng quản lý và điềuhành tổ chức sản xuất trên biển đối với các tàu cũng do người nhà của chủ thựchiện thông qua hệ thống thông tin, li ên lạc
Cơ chế kích thích thuyền viên chủ yếu là hình thức ăn chia 6:4 giữa chủtàu và thuyền viên, lợi nhuận của tàu càng cao thì lương thuyền viên càng cao vàngược lại Chưa có tổ nào có những cơ chế khác để kích thích sản xuất tr ên từngtàu cũng như trong tổ hợp tác sản xuất của mình
3.2.2 Các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn:
3.2.2.1 Qui mô và lợi nhuận:
Cả hai tổ hợp tác sản xuất nghề l ưới kéo đơn xa bờ ở Tiền Giang tuykhông do một chủ quản lý nhưng các chủ phương tiện đều có mối quan hệ thântộc họ hàng Qui mô của tổ cũng như số lượng tàu thuyền trong tổ phụ thuộc vàokhả năng tài chính của chủ tàu và số lượng anh em, thân tộc Trong 2 tổ hợp tácsản xuất thì có một tổ 4 tàu và một tổ 7 tàu Trên các tàu trong tổ nhìn chung đềuđược trang bị các thiết bị khá đầy đủ đáp ứng y êu cầu khai thác, tuy nhiên cáctrang thiết bị trên các tàu trong tổ đều không đồng nhất về thông số kỹ thuật cũng
Trang 31như giá trị Đồng thời hiệu quả mang lại tr ên từng đơn vị tàu của hai tổ hợp tácsản xuất trên cũng khác nhau.
Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, ngư trường và kinh nghiệm, tay nghềthuyền trưởng mà mức lợi nhuận thu được của mỗi tàu trên từng chuyến biểncũng khác nhau Qua kết quả khảo sát, lợi nhuận của các tàu trong các tổ hợp tácsản xuất nghề lưới kéo đơn trong năm 2007 khá ổn định, bình quân mỗi tàu thulãi ròng từ 48 – 56 triệu đồng trong mỗi chuyến biển, được thể hiện trong bảng3.5 như sau:
Bảng 3.5: Thống kê lãi ròng bình quân trong năm 2007 của 1 tàu
trong các tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn
- Nguyên tắc hợp tác: Hợp tác trong chuyên chở sản phẩm, cung ứng dịch
vụ hậu cần, trao đổi thông tin ng ư trường và giúp nhau trong sản xuất Riêng vềthu – chi và hạch toán sản xuất thì mỗi thành viên tự thực hiện độc lập
- Nội dung hợp tác:
+ Luân phiên vận chuyển sản phẩm vào bờ: sản phẩm sau khai thác, đượcdồn lại cho một tàu chở về bờ để tiêu thụ nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm vàbán được giá cao, giảm chi phí đi lại v à tăng thời gian bám biển khai thác của cáctàu Các tàu thay phiên nhau vận chuyển sản phẩm về bờ và đưa nguyên - nhiênliệu trở lại ngư trường cung cấp cho các tàu trong tổ Tùy thuộc vào số lượng tàutrong mỗi tổ, sản lượng hải sản khai thác được mà chu kỳ vận chuyển sản phẩm
Trang 32và chu kỳ về bờ của các tàu trong tổ dài hay ngắn Qua kết quả khảo sát, chu kỳvận chuyển sản phẩm và chu kỳ về bờ của các tàu trong tổ hợp tác khai thác nghềlưới kéo đơn được thể hiện qua bảng 3.6
Bảng 3.6: Thống kê bình quân chu kỳ vận chuyển sản phẩm
và chu kỳ về bờ trong các tổ hợp tác sản xuất nghề l ưới kéo đơn
Qua bảng 3.6 cho thấy cứ 9 – 11 ngày thì có 1 tàu trong tổ vận chuyển sảnphẩm về bờ Đồng thời chu kỳ về bờ của mỗi tàu trong tổ hợp tác khai thác nghềlưới kéo đơn từ 45 – 60 ngày và được tạm tính là một chuyến biển để hạch toánhiệu quả sản xuất
+ Trao đổi thông tin về ngư trường khai thác: Các tàu khai thác nghề lướikéo đơn ở Tiền Giang thường khai thác trên phạm vi rộng và rải đều ở vùng biểnĐông Nam Bộ và Tây Nam Bộ theo mùa vụ khai thác Tuy nhiên các tàu khaithác theo tổ hợp tác sản xuất thì có chung ngư trường và đi khai thác theo đoàn
để thuận tiện trong liên kết sản xuất Thông tin về ngư trường, nguồn lợi luônđược chia sẽ kịp thời cho các tàu thành viên Các tàu trong tổ bám ngư trườngkhai thác nên theo dõi sát diễn biến nguồn lợi ở ngư trường nhờ đó giảm đượcchi phí đi lại cũng như chi phí thăm dò
+ Giúp đỡ lẫn nhau khi có sự cố trên biển: Nhờ tổ chức sản xuất theo đo ànnên các tàu trong tổ hợp tác kịp thời hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau khi có sự cố tr ênbiển như: tai nạn lao động, các hỏng hóc tàu thuyền cũng như trang thiết bị phục
vụ khai thác và các sự cố khác do thiên tai v.v Nhờ đó giảm thiểu đáng kểnhững thiệt hại khi có sự cố xảy ra tr ên các tàu thành viên Riêng trong năm
2007, các tàu trong 2 tổ hợp tác khai thác nghề lưới kéo đơn đã giúp đỡ nhau xử
lý kịp thời: 3 vụ hỏng máy chính; 1 vụ thủng t àu; 2 vụ tìm vớt thuyền viên bị nạntrên biển và nhiều vụ hỏng ngư cụ khác… với tổng giá trị làm lợi cho các chủ tàuước tính khoảng 600 triệu đồng [8]
Trang 33+ Hợp tác trong sử dụng lao động: Nhờ vào cơ chế thống nhất giữa cácchủ tàu thành viên trong tổ trong việc sử dụng lao động nh ư: không nhận laođộng của các tàu thành viên tự ý chuyển sang, không cạnh tranh lao động giữacác tàu trong tổ nên lực lượng lao động trên các tàu lưới kéo đơn trong tổ hợp tácsản xuất khá ổn định so với các tàu lưới kéo đơn khai thác riêng lẻ Cụ thể khi cóthuyền viên trong tổ mượn nợ của chủ tàu rồi chuyển sang tàu khác, đều đượccác thành viên trong tổ thông báo cho nhau về tình hình cũng như hướng xử lý.
3.2.2.3 Phương thức ăn chia lợi nhuận:
Lợi nhuận trên các tàu trong tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn ở TiềnGiang được chia theo tỷ lệ 6:4 (chủ 6 và thuyền viên 4) hoặc 5:5 sau khi trừ chiphí sản xuất trong từng chuyến biển Th ường sau khi trừ chi phí sản xuất lãi ròngcủa chủ tàu từ 48 – 56 triệu đồng (xem bảng 3.5), mỗi thuyền viên được hưởng từ2,5 – 6 triệu đồng sau mỗi chuyến biển 45 – 60 ngày tuỳ theo phân điểm dothuyền trưởng chấm công Lợi nhuận trên các tàu thành viên được ăn chia mộtcách độc lập dựa trên kết quả sản xuất của chuyến biển, không phân bổ đồng chocác tàu thành viên
3.2.2.4 Phương thức quản lý điều hành và cơ chế kích thích sản xuất:
Mỗi tàu lưới kéo đơn thành viên do một chủ chủ quản lý, vì vậy mỗi tàu tựquản lý việc thu – chi trong sản xuất của mình Tuy nhiên để điều hành hoạt độngcủa tổ thì các chủ tàu trong tổ sẽ họp định kỳ và thống nhất kế hoạch điều hànhsản xuất Việc ghi chép sổ sách mua bán ở bờ cũng nh ư sản lượng khai thác trênbiển do thuyền trưởng và chủ tàu của mỗi tàu thực hiện
Cơ chế kích thích thuyền viên chủ yếu là hình thức ăn chia 6:4 hoặc 5:5giữa chủ tàu và thuyền viên, lợi nhuận của tàu càng cao thì lương thuyền viêncàng cao và ngược lại Chưa có tổ nào có những cơ chế khác để kích thích sảnxuất trên từng tàu một cách hiệu quả hơn
Bên cạnh những tổ hợp tác sản xuất ổn định, ng ư dân hành nghề lưới kéo
ở Tiền Giang thường hay liên hệ với nhau để gửi sản phẩm khai thác về bờ khi cótàu cập bến Đây cũng là kiểu liên kết hợp tác nhưng ở mức độ thấp, không bềnvững do không có bất cứ ràng buộc nào Chỉ hỗ trợ qua lại nhằm giúp cá không
bị hỏng do bảo quản dài ngày trên biển
Trang 343.3 PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CỦA CÁC TỔ HỢP TÁC SẢN XUẤT NGHỀ KHAI THÁC XA BỜ Ở TIỀN GIANG VÀ MỘT VÀI ĐỊA PHƯƠNG KHÁC.
3.3.1 Lợi ích của một số tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác thủy sản ngo ài tỉnh:
Tỉnh Bến Tre: hiện nay ở Bến Tre ngoài đội tàu lưới vây của Công ty Lâm
Sản còn có các đội tàu nghề lưới kéo, nghề lưới vây ở huyện Bình Đại và huyện
Ba Tri do một chủ quản lý cũng có hình thức hợp tác sản xuất giống như các tổhợp tác sản xuất của ngư dân Tiền Giang
Ngoài ra ở huyện Ba Tri còn có kiểu hợp tác sản xuất giữa các t àu nghềlưới vây của nhiều chủ giống nh ư mô hình hợp tác xã (HTX): các chủ tàu tựnguyện góp tàu, góp vốn để đầu tư sản xuất và lợi nhuận được chia đều cho cáctàu thành viên
Tuy hình thức hợp tác ở các tổ có khác nhau nh ưng nhìn chung đều cócùng mục đích là duy trì chất lượng sản phẩm; tăng thời gian bám biển khai thác ;giảm chi phí xăng dầu đi lại và trao đổi thông tin về ngư trường, nguồn lợi từ đógóp phần gia tăng hiệu quả khai thác của con t àu
Mô hình khai thác theo tổ hợp tác nhiều tàu, hạch toán độc lập có ưu điểm
là kích thích sản xuất nhưng cũng có nhược điểm là thông tin về nguồn lợi khôngđược các thành viên chia sẽ một cách triệt để Riêng mô hình hợp tác theo hìnhthức HTX thì ngược lại, thông tin về nguồn lợi được các thành viên chia sẽ triệt
để nhưng mô hình này cũng còn một số nhược điểm cần khắc phục như tỷ lệ gópvốn chưa đều, mỗi tàu đều có các thông số kỹ thuật khác nhau, gây tâm lý so đogiữa thuyền viên các tàu trong tổ…
Tuy mỗi mô hình đều có những ưu, nhược điểm nhất định nhưng nhìnchung các tàu trong tổ hợp tác sản xuất đều mang lại lợi nhuận ổn định h ơn cáctàu khai thác đơn lẻ nhờ giảm được chi phí đầu vào; tăng thời gian bám biển khaithác của các tàu; sản phẩm bán được giá nhờ chất lượng tốt… Vì vậy các tổ hợptác sản xuất nghề khai thác của tỉnh tiếp tục đ ược duy trì và phát triển
Tỉnh Bình Thuận: Nhằm để khắc phục tình trạng khai thác ven bờ kém
hiệu quả, trong thời gian gần đây một số ng ư dân tỉnh Bình Thuận đã huy động
Trang 35cổ đông đầu tư đóng tàu hành nghề lưới vây khai thác xa bờ còn gọi là các HTXkhai thác nghề lưới vây Hình thức thực hiện là ngư dân tự nguyện góp vốn vào
để đóng tàu, mua sắm ngư lưới cụ để hành nghề khai thác xa bờ Trong HTX,ngư dân vừa là chủ vừa là người làm công và tham gia tất cả các hoạt động củaHTX từ khai thác đến dịch vụ hậu cần v à tiêu thụ sản phẩm
Tuy mỗi HTX chỉ là một tàu do các cổ đông đầu tư nhưng nhờ các tàu có
sự liên kết trao đổi thông tin trong khai thác, tất cả lao động đều l à cổ đông đượcchia lợi nhuận nên tích cực sản xuất nâng cao lợi nhuận Mô h ình hợp tác sảnxuất này nếu với qui mô nhỏ từ 1 đến 2 tàu thì chưa phát huy được hiệu quả trongviệc giảm chi phí khai thác cũng nh ư liên kết hỗ trợ trong sản xuất trên biển Tuynhiên hình thức hợp tác sản xuất này đã giúp tạo nhiều việc làm cho ngư dânvùng biển, đặc biệt là đối với dân nghèo không có vốn lớn để đầu tư trang bị tàulớn để khai thác xa bờ
Tỉnh Khánh Hoà: trong phát triển kinh tế hợp tác ở Khánh Hòa, nổi trội là
HTX Thống Nhất của TP Nha Trang, nguồn vốn của HTX đ ược huy động từ các
cổ đông, các cổ đông của HTX vừa góp vốn để đ ược chia lợi nhuận vừa có việclàm ổn định trong HTX Hợp tác xã này hoạt động trên nhiều lĩnh vực từ khaithác đến đóng mới và sửa chữa tàu thuyền cũng như cung ứng dịch vụ hậu cần và
hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm sau khai thác Điểm đặc biệt của HTX l à mọi hoạt độngđều được thực hiện theo cơ chế khoán theo định mức, lao động đ ược hưởng lợikhi thực hiện vượt định mức Nhờ đó kích thích lao động tích cực sản xuất
Trong HTX có đội tàu nghề lưới đăng, kể từ khi được chuyển sang cơ chếkhoán sản phẩm, hiệu quả của đội tàu luôn ổn định ở mức khá cao Tuy nhiênviệc thực hiện cơ chế khoán sản phẩm chỉ áp dụng thích hợp cho các t àu khaithác thuộc các HTX và đối với những loại nghề khai thác có hiệu quả ổn định, ítphụ thuộc vào tự nhiên và các tác động khách quan từ bên ngoài
Thành phố Đà Nẵng: từ khi Ủy ban Nhân dân TP Đ à Nẵng ban hành
Quyết định số 06/2005/QĐ-UB ngày 14 tháng 01 năm 2005 v ề ban hành quy chế
tổ chức khai thác hải sản trên biển theo hình thức tổ, sau gần 3 năm thực hiện đ ã
có 93 tổ khai thác hải sản được thành lập với 595 tàu cá Hình thức hợp tác củacác tàu trong tổ hợp tác khai thác hải sản là hỗ trợ tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn, ngư
Trang 36trường khai thác, hỗ trợ vốn để mua ng ư cụ, thiết bị phục vụ sản xuất, hỗ trợnhau về mặt tinh thần, hỗ trợ kết nối thông tin giữa t àu với tàu, giữa biển với đấtliền… Các tổ khai thác hải sản ở Đ à Nẵng đã mang lại hiệu quả tích cực về mặtkinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Nhờ có sự hỗ trợ lẫn nhau mà các tàu đãmạnh dạn vươn khơi khai thác ở những ngư trường mới, đạt sản lượng cao.Ngoài ra các tàu trong tổ hợp tác khai thác hải sản còn tham gia làm nhiệm vụbảo vệ chủ quyền vùng biển Quốc gia, thường xuyên thông tin với bộ đội Biênphòng diễn biến tình hình trên biển cũng như giúp nhau tìm kiếm lưới bị đứt trôitrên biển, giúp đỡ thiết bị, vật tư và nhân lực sửa chữa máy móc khi bị hỏng hóctrên biển để tàu tiếp tục hoạt động đã làm lợi cho các chủ tàu hàng trăm triệuđồng Tuy vẫn còn một số hạn chế cần được tiếp tục nghiên cứu khắc phụcnhưng trên thực tế mô hình các tổ hợp tác khai thác hải sản ở Đà Nẵng đã khẳngđịnh được hiệu quả vượt trội trong khai thác hải sản cả về mặt kinh tế, x ã hộicũng như an ninh quốc phòng [3]
Các tập đoàn khai thác cá ngừ đại dương ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và TP
Hồ Chí Minh: Đặc điểm của nghề khai thác cá ngừ đạ i dương là thường khai thác
ở vùng khơi xa, di chuyển ngư trường trong phạm vi rộng Do để giảm chi phínhằm đảm bảo hiệu quả khai thác, các Công ty khai thác cá ngừ ở B à Rịa – VũngTàu và TP Hồ Chí Minh đã đầu tư nhiều tàu để thành lập các tập đoàn khai thác
cá ngừ đại dương như Mạnh Hà, Việt Tân, Đại Dương, Tân Biển Đông v.v mỗiđoàn có từ 7 – 14 tàu do Đoàn trưởng chỉ huy điều hành sản xuất Các tàu trongđoàn thường liên hệ chặt chẽ với nhau trong sản xuất Để kích thích sản xuất cácCông ty thường khoán chia lương dựa trên sản lượng khai thác, ngoài ra còn tríchthưởng thêm cho thuyền viên dựa trên lợi nhuận hàng năm Ngoài việc chia sẽthông tin ngư trường trên biển, cung cấp nguyên – nhiên liệu và vận chuyển sảnphẩm về bờ, các tàu trong tổ còn hỗ trợ đắc lực cho nhau khi có sự cố về t àuthuyền và ngư cụ cũng như việc bảo vệ nhau trên biển trong khai thác xa bờ Đâycũng là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao các Công ty khai thác cá ng ừđại dương luôn có hiệu quả cao và ổn định hơn các tàu khai thác cá ngừ của ngưdân thực hiện khai thác riêng lẻ trong thời gian qua
Trang 373.3.2 Lợi ích của các tổ hợp tác sản xuất nghề khai thác xa bờ ở Tiền Giang:
- Nâng cao chất lượng sản phẩm cho xã hội do sản phẩm được bảo quảntrong thời gian ngắn
- Tạo nên tinh thần đoàn kết tương thân tương ái giữa các chủ tàu vàthuyền viên giữa các tàu trong nhóm, điều này là rất cần thiết cho các tàu khaithác xa bờ
- Hỗ trợ đắc lực cho nhau khi có sự cố trên biển, đảm bảo an toàn cho tàu
và thuyền viên
- Đảm bảo sản phẩm khai thác ở bờ lúc n ào cũng có để đáp ứng nhu cầungười tiêu dùng Hạn chế được tình trạng các tàu cùng cập bến gây ứ đọng sảnphẩm khai thác (cung vượt cầu), lại có những lúc sản phẩm ở bờ khan hiếm(cung không đủ cầu) khi không có tàu cập bến
- Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chính quyền địa phương trong việc quản
lý tàu thuyền cũng như điều động tàu khi cần thiết và tập hợp để chuyển giaokhoa học kỹ thuật cũng như các chủ truơng, chính sách pháp luật cho ngư dân
Trang 38- Chủ động được thời gian đưa sản phẩm về bờ hạn chế tình trạng các tàu
về cùng một lúc gây ứ đọng hàng hoá, nhờ vậy sản phẩm luôn bán được với mứcgiá cao
- Thực phẩm luôn được thay đổi và cung cấp thường xuyên đảm bảo tươingon nhờ vậy luôn đảm bảo được sức khoẻ cho thuyền viên góp phần tăng năngsuất lao động và hiệu quả sản xuất
- Hạn chế được tình trạng ngư phủ chuyển tàu góp phần giúp hoạt độngkhai thác của tàu ổn định hơn
Tất cả các yếu tố trên góp phần làm tăng cao hiệu quả khai thác của con tàu, làmtăng hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho chủ tàu cũng như thuyền viên
3.4 SO SÁNH LỢI ÍCH GIỮA HÌNH THỨC KHAI THÁC ĐƠN LẺ VÀ KHAI THÁC THEO TỔ HỢP TÁC SẢN XUẤT Ở TIỀN GIANG.
Qua kết quả khảo sát trong lực lượng tàu khai thác xa bờ hành nghề lướivây và lưới kéo đơn ở Tiền Giang, có những tàu hành nghề rất hiệu quả và ngượclại cũng có những tàu kém hiệu quả do rất nhiều nguyên nhân Đa phần các tàukhai thác kém hiệu quả đều thuộc trường hợp khai thác đơn lẻ và ngược lại phầnlớn các tàu khai thác đạt hiệu quả cao đều thuộc các tập đoàn khai thác của cácchủ tàu nhiều vốn Trong 165 tàu được khảo sát có 50 tàu hành nghề lưới vây và
11 tàu hành nghề lưới kéo đơn hoạt động theo hình thức tổ hợp tác sản xuất, cònlại 104 tàu hoạt động riêng lẻ Trong đó có 10 tổ hợp tác sản xuất nghề lưới vây
và 02 tổ hợp tác sản xuất nghề lưới kéo đơn Kết quả khảo sát như sau:
- Số tàu trong mỗi tổ hợp tác sản xuất: 3 – 10 tàu, phụ thuộc chủ yếu vàokhả năng vốn của chủ tàu (xem bảng 3.2)
- Hiệu quả khai thác của các tàu trong tổ hợp: 12/12 tổ đều thu lãi, khaithác đạt hiệu quả 100% trên tổng số tàu trong tổ Hiệu quả khai thác luôn ổn định
từ khá đến cao với mức lãi ròng trên 15 triệu đồng/chuyến/tàu (xem bảng 3.3 vàbảng 3.5)
- Hiệu quả ở các tàu khai thác đơn lẻ: Qua kết quả điều tra, hiệu quả cáctàu khai thác đơn lẻ khá thấp và không ổn định trong từng chuyến biển, được thểhiện qua bảng 3.7
Trang 39Bảng 3.7: Thống kê hiệu quả ở các tàu khai thác đơn lẻ
Hiệu quả
khai thác
Lãi ròng trên15tr.đ/tàu/chuyến
Lãi ròng từ 5 –15tr.đ/tàu/chuyến
Lãi ròng dưới5tr.đ/tàu/chuyến
Tổngcộng
Qua bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ các tàu khai thác bị thua lỗ, hoà vốn, lãi thấp(mức lãi ròng dưới 5 triệu đồng/tàu/chuyến) ở các tàu khai thác đơn lẻ khá nhiều,chiếm 50% (52 tàu) trên tổng số tàu khai thác đơn lẻ được khảo sát
3.4.1 Kết quả nghiên cứu đối với nghề lưới vây xa bờ ở Tiền Giang:
3.4.1.1 Xác định nhóm đối tượng nghiên cứu:
Đối với nghề lưới vây, để đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và sosánh lợi ích giữa hình thức khai thác đơn lẻ và khai thác theo tổ hợp tác sản xuất,tôi tiến hành chọn nhóm tàu khai thác theo hình thức tổ hợp tác gồm 4 tàu vànhóm tàu khai thác đơn lẻ gồm 4 tàu Các tàu giữa hai nhóm có các điều kiện sảnxuất gần tương tự nhau về ngư trường khai thác, số lao động, công suất máy,trang thiết bị phục vụ khai thác, thời gian từ bờ đến ng ư trường… Kết quả đượcnghiên cứu trong một chu kỳ sản xuất là 1 năm, cụ thể là kết quả sản xuất của hainhóm tàu trên trong năm 2007 Thông số kỹ thuật của hai nhóm tàu được chọnnghiên cứu thể hiện qua bảng 3.8
Bảng 3.8: Thông số các tàu nghề lưới vây được khảo sát để so sánh các chỉ ti êu
kinh tế - kỹ thuật trong năm 2007
STT Số tàu Kích thước (m)(Lmaxx Bmaxx
H max )
Công suất (CV)
Trọng tải (tấn)
Số LĐ (người) Ngư trườngkhai thác
Trang 4006 TG91027TS 17,8 x 5,0 x 2,6 150 75 21 Đông-Tây NB
07 TG92547TS 22,4 x 6,3 x 3,5 300 90 22 Đông-Tây NB
08 TG92718TS 23,5 x 6,8 x 3,5 350 100 22 Đông-Tây NB
3.4.1.2 Cơ sở xác định các chỉ tiêu so sánh trong một năm sản xuất:
Các số liệu được khảo sát trong một năm (2007) và ứng dụng công cụExcel để thống kê và xác định giá trị bình quân Qua kết quả xử lý số liệu điềutra, các chỉ tiêu hiệu quả nghề của hai nhóm tàu khai thác đơn lẻ (I) và khai tháctheo tổ hợp tác sản xuất (II) của nghề lưới vây được thể hiện qua bảng 3.9
Bảng 3.9: Kết quả xác định các chỉ tiêu hiệu qủa trên 1 tàu
của hai nhóm tàu nghề lưới vây trong năm 2007
TT Chỉ tiêu Nhóm (I) Nhóm (II) Chú thích chỉ tiêu
01 T 320 315 Thời gian sản xuất (ngày-đêm/tàu/năm)
02 Tdl 960 672 Thời gian đi lại (giờ/tàu/năm)
03 Tkt 280 287 Thời gian khai thác (ngày-đêm/tàu/năm)
04 B 13.000 7.700 Tiêu thụ nước đá (cây/tàu/năm)
05 C 90.000 63.000 Tiêu thụ dầu (lít/tàu/năm)
09 G 1.950 2.520 Doanh thu (triệu đồng/tàu/năm)
10 H 1.760 1.470 Chi phí (triệu đồng/tàu/năm)
11 I 190 1.050 Lợi nhuận (triệu đồng/tàu/năm)
Qua bảng 3.9 ta có thể đưa ra một số nhận xét sau:
- Tuy các tàu thuộc nhóm (I) và nhóm (II) có thời gian sản xuất như nhau(sản xuất quanh năm) nhưng nhờ việc khai thác theo tổ hợp tác sản xuất nên cáctàu thuộc nhóm (II) giảm được thời gian đi lại (288 giờ) khoảng 30% so với cáctàu thuộc nhóm (I) Nhờ đó các tàu thuộc nhóm (II) cũng tăng được thời sản xuấtthực tế trên biển cao hơn so với các tàu thuộc nhóm (I) khoảng 3% (7 ngày)