Chi cục Bảo vệ nguồ lợi thuỷ sản Hải Phòng UBND huyện Cát Hải UBND xã Phù Long Hội đồng quản lí nguồn lợi xã Phù Long Đồn biên phòng 50 Ông Nguyễn Văn Hào- chủ nhiệm đề tài xây dựng, th
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ SẢN
LÊ KHẢ TẠO
ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH QUẢN LÍ NGHỀ CÁ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở
XÃ PHÙ LONG, CÁT HẢI, HẢI PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha trang, tháng 8 năm 2005
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ SẢN
LÊ KHẢ TẠO
Đánh giá mô hình quản lí nghề cá dựa vào cộng đồng ở xã Phù Long, Cát hải,
Hải Phòng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên nghành: Công nghệ khai thác thuỷ sản
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Long
Nha trang, tháng 8 năm 2005
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Đồng thời tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nha trang, tháng 8 năm 2005
Tác giả
Lê Khả Tạo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn:
TS Nguyễn Long- Viện Nghiên cứu hải sản là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Chi cục Bảo vệ nguồ lợi thuỷ sản Hải Phòng UBND huyện Cát Hải
UBND xã Phù Long Hội đồng quản lí nguồn lợi xã Phù Long Đồn biên phòng 50
Ông Nguyễn Văn Hào- chủ nhiệm đề tài xây dựng, thực nghiệm mô hình quản lí nguồn lợi ven bờ xã Phù Long
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập và xử lý số liệu cho luận văn
Nha trang, tháng 8 năm 2005
Tác giả
Lê Khả Tạo
Trang 5MỤC LỤC
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 12
15
1.3.1 Những chính sách quản lí nghề cá đã áp dụng 15 1.3.2 Các tồn tại trong công tác quản lí nghề cá hiện nay 16
1.5 Thực trạng nghề cá ở Hải Phòng và Phù Long 19
1.5.1.4 Thực trạng công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở Hải Phòng 23
Trang 63.1.2 Công tác quản lí trước khi thực hiện mô hình 33
3.2.2.1 Chức năng vai trò của các tổ chức thực hiện 37
3.2.2.3 Cách tổ chức để cộng đồng ngư dân tham gia 38
Trang 7Chương 4 41
Kết quả thực hiện quản lí dựa vào công đồng ở xã Phù Long 41
4.2.1 Sự thay đổi nhận thức và năng lực của cộng đồng 42
4.2.3 Sự thay đổi về quyền sử dụng quản lí nguồn lợi của địa phương 47 4.2.4 Sự thay đổi thu nhập và đời sống của người dân 49 4.3 Đánh giá mô hình quản lí nguồn lợi ven bờ tại xã Phù Long 51
5.2 Kinh nghiệm một số việc chưa thành công 55 5.3 Bầi học rút ra cho công tác quản lí nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn lợi ven bờ có vai trò vô cùng quan trọng đối với Việt Nam-một đất nước nghèo có trên 17 triệu dân sinh sống dọc theo bờ biển chủ yếu dựa vào nghề khai thác nhỏ ven bờ Việc bảo vệ nguồn tài nguyên này có ý nghĩa to lớn về kinh
tế và xã hội
Với Cát Hải- một huyện đảo có đời sống kinh tế dựa trên 2 ngành kinh tế
cơ bản là du lich và thủy sản, tài nguyên ven biển lại càng mang ý nghĩa to lớn Tuy nhiên,cũng như tại các địa phương ven biển khác, tài nguyên và môi trường biển Cát Hải đang xuống cấp nhanh chóng do ô nhiễm nước biển, các hoạt động khai thác hủy diệt như mìn, hóa chất kích điện và các loại lưới mắt nhỏ
Chính quyền và nhân dân Huyện đảo cần phải quản lý, bảo vệ nguồn sống của mình để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Huyện đảo Khi cơ chế quản
lý nguồn lợi biển theo ngành tỏ ra chưa hiệu quả, giải pháp được huyện lựa chọn là quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng
Mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ xã Phù Long, huyện Cát Hải là mô hình đầu tiên về quản lý nguồn lợi ven bờ do cộng đồng địa phương thưc hiện được thử nghiệm tại Việt Nam Trong đó chính quyền và ngư dân địa phương cùng chia xẻ
và hơp tác chặt chẽ trong việc bảo vệ tài nguyên biển của địa phương mình
Ủy ban Nhân dân và các chi hội nghề cá xã Phù Long đã thành lâp một hội đồng quản lý nguồn lợi ven biển cấp xã để thực hiện trách nhiệm quản lý hoạt động khai thác trên toàn bộ phần mặt nước của xã theo hướng bền vững Các sinh
kế bền vững của địa phương cũng được khuyến khích và hỗ trợ phát triển để tạo thu nhập cho ngư dân và giảm bớt áp lực đối với nguồn lợi biển
Trang 10
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Quản lý nguồn lợi ven bờ:
Là một hệ thống quản lí cho phép ngư dân và các bên liên quan khác tiếp tục sử dụng phát triển nguồn lợi ven biển một cách hợp lí trong khi vẫn đảm bảo được tính bền vững của nguồn lợi đó và đảm bảo được đời sống kinh tế xã hội của ngư dân
Tổ chức cộng đồng:
Tổ chức cộng dồng là một tổ chức đại diện cho những người dân nghề cá quy mô nhỏ, được những ngư dân của địa phương bầu ra Tổ chức này sẽ là chiếc cầu nối giữa cơ quan quản lí của nhà nước và những ngư dân địa phương
Tổ chức cộng đồng sẽ cùng với ngư dân địa phương xây dựng quy chế quản
lí vùng nước ven bờ do nhà nước giao cho thuộc địa phận của địa phương và trực tiếp giám sát quản lí và sử dụng vùng nước này, được nhà nước hỗ trợ hướng dẫn các biện pháp quản lí nhằm từng bước bảo vệ, duy trì tốt nguồn lợi thuỷ sản, khai thác hợp lí, phát triển nghành nghề từ đó nâng cao mức sống của ngư dân địa phương
Cộng đồng :
Cộng đồng bao gồm phần lớn là những ngư dân đánh bắt thuỷ sản quy mô nhỏ và có thể nhiều đối tượng với nhiều lợi ích khác nhau cùng sống ở địa phương
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1-1 Trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi và đáy ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ năm 2003
19
1-2 Sự biến động tàu thuyền và sản lượng khai thác 20
1-4 Phân bố lao động nghề cá ở Hải Phòng năm 1999 22
1-5 Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ nguồn lợi vùng biển Hải Phòng 23
1-6 Sự biến động tàu thuyền, sản lượng khai thác xã Phù Long từ năm
2000 đến năm 2004
25
1-7 Các loại nghề khai thác ở xã Phù Long năm 2004 26
1-8 Diễn biến sản lượng nuôI trồng thuỷ sản xã Phù Long từ năm
2000-2004
27
1-10 Những khó khăn chính của nghành thuỷ sản ở xã Phù Long 28
3-1 Số các vụ vi phạm trong 4 năm tại khu vực xã Phù Long 34
4-3 Vai trò của người dân trong việc ra các quyết định liên quan đến mô hình
44
4-4 Sự tham gia lập kế hoạch quản lí nguồn lợi ven bờ 45
4-5 Biểu đồ tương quan giữa tàu và sản lượng khai thác 46
4-6 Biểu đồ sản lượng nuôi trồng thuỷ sản theo các năm 47
4-8 ý kiến những người dân được hỏi về việc cùng nhau giải quyết vấn đề 49
Trang 12nguồn lợi
4-9 Tạo sinh kế mới thay cho nghề khai thác biển 50
4-10 Thu nhập của người dân so với trước khi có mô hình 50
Phần phụ lục
1 Thống kê số lượng tàu thuyền, sản lượng và lao động nghề cá Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2003
61
2 Kết quả khảo sát thực địa một số loàI thường gặpở Phù Long trong một
mẻ lưới giã có công suất 30cv
62
8 Mẫu phiếu điều tra
9 Bản đồ khu vực thực nghiêm mô hình
Trang 13PHẦN 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Tình hình chung về quản lí nghề cá ở nước ngoài
Khai thác thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế lớn Vì vậy nhiều nước trên thế giới đã luôn tăng cường đầu tư và phát triển, song cùng với sự gia tăng khai thác thì nguồn lợi thuỷ sản cũng bị suy giảm theo, nhiều bãi san hô, rạn đá ngầm, rừng ngập mặn cũng bị tàn phá Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lợi vùng ven bờ, nhiều nước đã phát triển nghề cá với quy mô lớn có khả năng khai thác ở vùng xa bờ, đồng thời có những chiến lược bảo vệ và phát triển nguồn lợi vùng ven bờ dựa vào cộng đồng như: trồng thêm rừng ngập mặn, thả bổ xung con giống, khai thác có mùa vụ và phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản
Một số nước tiên tiến trên thế giới cũng sử dụng phương pháp quản lý nghề
cá dựa vào cộng đồng để thực hiện quản lý thủy sản vùng nội địa và ven bờ Nhật Bản đã cấp 100% vùng nước ven bờ cho các Hội hợp tác nghề cá để tự quản lý vùng nước, giảm nhẹ chi phí cho nhà nước đồng thời tăng hiệu quả quản lý Ngư dân có cảm nhận nguồn lợi thủy sản là của mình, cộng đồng mình và có trách nhiệm hơn đối với quản lý thủy sản
Để giảm cường độ khai thác vùng ven bờ nhiều nước như: Trung Quốc đã cấm đóng tàu có công suất nhỏ, cấm đánh bắt các loài có giá trị kinh tế còn nhỏ, khuyến khích đóng tàu có công suất lớn, xây dựng các vùng cấm đánh bắt và bảo
vệ nguồn lợi biển Năm 2004 là năm thứ 10 liên tiếp Trung Quốc thực hiện cấm khai thác theo mùa vụ Cấm khai thác theo thời gian trong năm và theo mùa, tất nhiên dẫn đến tình trạng thu hẹp công ăn việc làm của ngư dân vùng ven biển, nhưng hiệu quả về sinh thái là rõ rệt Để thực hiện tốt việc này cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chủ quản và nghề cá ở địa phương cũng như công tác tuyên truyền đến mọi ngư dân
Ở Pêru, Chilê vốn là những cường quốc về thuỷ sản, nhưng trước thực tế nguồn lợi ngày càng suy giảm, các nước này cũng đã bắt đầu áp dụng các hình
Trang 14thức hạn chế khai thác Thí dụ ở Chilê từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm trong vùng biển từ 05 hải lí trở vào đều bị cấm khai thác
Philipin với 20 năm thực hiện quản lý tài nguyên thiên nhiên, năm 1998 có
439 khu bảo tồn biển Tuy nhiên chỉ có 10% trong đó bao gồm 26.500 ha mặt nước
đã hoạt động đầy đủ theo nội dung của nó Ở Philipin cũng hình thành các văn bản pháp quy liên quan đến bảo vệ nguồn lợi ven biển Cụ thể là năm 1987, Chính phủ
đã có biện pháp bảo hộ quyền sinh sống của các ngư dân và cộng đồng ven biển sống dựa vào khai thác nguồn lợi ven bờ Năm 1991, Chính phủ đã trao quyền quản lý nguồn lợi ven biển trong khu vực mặt nước ven bờ cho các huyện và thành phố quản lý Năm 1998, Chính phủ ra luật nghề cá xác định quản lý tài nguyên ven
bờ, trong đó vai trò của chính quyền địa phương là chủ yếu Cơ sở để quản lý nguồn lợi ven biển của Phiipin là sự đe dọa an ninh lương thực Năm 1996, lợi ích kinh tế từ tài nguyên ven biển ước đạt 3,5 tỷ USD chiếm 17% GDP Tổn thất kinh
tế từ sự hủy hoại tài nguyên ven biển vào khoảng 0,5 tỷ USD/năm Xu hướng ưu tiên toàn cầu hiện nay là bảo vệ sự đa dạng sinh học của biển và thay đổi khí hậu toàn cầu
Mô hình quản lý tài nguyên dựa trên cơ sở cộng đồng được nhiều nước sử dụng, đặc biệt ở những nước đang phát triển, và mô hình này gần đây cho thấy tính hiệu quả của nó Quy mô của hình thức quản lý kiểu này thường được áp dụng trong phạm vi nhỏ và mục tiêu chủ yếu là bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên Bảo vệ nguồn lợi là nhằm tăng cường khả năng tái tạo của chúng Phương thức quản lý này duy trì tiềm năng sinh học và nâng cao tiềm năng kinh tế lâu dài của nguồn lợi tự nhiên có khả năng tái tạo
1.2.Thực trạng quản lí nghề cá ở Việt Nam
1.2.1.Số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản ở Việt Nam
Từ bảng 1 phụ lục có thể nhận xét
Số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản và tổng công suất máy tàu tăng lên không ngừng trong vòng 15 năm qua Trong thời kỳ từ năm 1998- 2003, tổng công suất tăng lên từ 609.317cv lên đến 4.100.00 cv, tức là tăng gấp 6,72 lần trong khi
đó sản lượng khai thác từ 662.861 tấn lên đến 1.426.223 tấn, tăng lên 2,15 lần Trong khi đó sản lượng khai thác của một đơn vị mã lực bị giảm từ 1,08
Trang 15tấn/cv/năm(1998) xuống còn 0,35 tấn/cv/năm (2003) điều này chứng tỏ nguồn lợi hải sản đã bị giảm đi một cách đáng kể
Trong giai đoạn từ năm 1990 – 1996 số lượng tàu tăng từ 72.000 chiếc lên đến 97.000 chiếc, trong khi đó số lượng thuyền thủ công không tăng mà giảm đi
từ 31.000 chiếc năm 1990 xuống còn 27.000 chiếc năm 1996
Đặc biệt là từ năm 1997- 2003, nhà nước có chính sách đầu tư khuyến khích hải sản xa bờ, tàu thuyền tăng nhanh về công suất từ 2.125.647 cv năm 1997 lên đến 4.100.000 cv năm 2003 tức là tăng gấp 1,92 lần Trong khi đó số lượng tàu từ 68.729 chiếc năm 1997 tăng lên 83.000 chiếc năm 2003, tăng 1,2 lần, do người dân không đầu tư vào việc tăng tàu thuyền mà đầu tư nhiều vào tăng công suất như năm 1997 công suất đạt 30,9cv/ tàu đến năm 2003 đạt 50 cv/ tàu Như vậy tốc độ tàu thuyền trong giai đoạn này có xu thế tăng chậm Điều đó chứng tỏ hiệu quả kinh tế trong khai thác có dấu hiệu suy giảm
1.2.2.Lao động nghề cá:
Hiện nay lực lượng lao động nghề cá khá dư thừa tăng nhanh hàng năm, mỗi năm tăng khoảng 26.500 lao động Số lao động này thường nghèo không có điều kiện đóng tàu lớn để đánh bắt xa bờ, không có nghề gì khác để kiếm sống vì vậy nghề cá là duy nhất đối họ Mặc dù lực lượng lao động nghề cá nhiều như vậy nhưng số thuyền trưởng, thủy thủ có trình độ chuyên mô cao thì còn rất thiếu
Hiện nay đa số thanh niên vùng ven biển không muốn làm nghề biển do lao động nặng nhọc, thu nhập thấp, không khuyến khích được người đi biển
1.2.3.Sản lượng khai thác
Từ bảng 1 phụ lục 1 có thể nhận xét
Sản lượng khai thác thủy sản trong 15 năm qua đã giảm sút nghiêm trọng Nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức từ 1,08 tấn/cv/năm(1998) xuống còn 0,35 tấn/cv/ năm (2003) Đặc biệt năm 2002 sản lượng khai thác đã vượt qua ngưỡng 1.400.000 tấn [ 4] ]
Như vậy hiệu quả khai thác đã bị suy giảm, thực tế đã có nhiều tàu, hợp tác
xã bị phá sản Do số lượng tàu thuyền tăng nhiều, nguồn lợi bị suy giảm, nên sản lương của mỗi đơn vị tàu ngày càng giảm Để đảm bảo được hiệu quả kinh tế buộc
Trang 16các chủ tàu phải tăng số mẻ khai thác trong một ngày đêm, tăng thời gian hoạt động trên biển, giảm kích thước mắt lưới
Từ những phân tích ở trên đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa những người sử dụng nguồn lợi với nhau, các ngành nghề khai thác với nhau, cạnh tranh giữa các tàu đánh cá của các địa phương với nhau, cạnh tranh giữa nghề cá quy mô lớn và nhỏ với nhau, cạnh tranh giữa các tàu lớn với tàu nhỏ với nhau Nhằm đem lại hiệu quả kinh tế nhiều người đã sử dụng hình thức khai thác bất hợp pháp, phản khoa học như xung điện , chất nổ, hóa chất, sử dụng lưới có kích thước mắt nhỏ, nhằm mang lại lợi ích trước mắt, nhưng thiệt hại về nguồn lợi không thể tính được Vấn đề này nếu không được giải quyết kịp thời, sẽ ảnh hưởng rất xấu đến nguồn lợi đồng thời dẫn đến nguồn lợi sẽ bị cạn kiệt
1.3 Những chính sách quản lí nghề cá đã áp dụng và những tồn tại cần khác phục
Năm 1991 Chính phủ đã ra Quyết định số: 130/CT ngày20/4/1991 về việc thành lập Cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, thuộc Bộ Thuỷ sản Tổ chức bảo vệ nguồn lợi thủy sản được thành lập với hai cấp quản lí ở Trung ương và địa phương, ở Trung ương Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ở địa phương có các Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản trực thuộc Sở thủy sản hoạc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngày 10/8 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số: 415-TTg cho phép nghành thủy sản thành lập Thanh tra Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 25/4/1989 và sửa đổi năm 1996
Nghị định số: 70/2003/NĐ - CP của Chính phủ ban hành ngày17/6/2003 quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực thủy sản
Trang 17Chỉ thị số: 01/1998/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 2/1/1998 về việc nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thuỷ sản
Quyết định số: 682/TS-QĐ ngày 11/9/1993 của Bộ trưởng bộ Thuỷ sản về việc ban hành quy chế khai thác và quản lí nguồn lợi thuỷ sản trên ngư trường trọng điểm
Nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của nghành thủy sản năm 2003 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật thủy sản
Trước những đòi hỏi phát triển của ngành thủy sản, sự quan tâm chỉ đạo của
Bộ thủy sản, UBND các cấp và sự hỗ trợ của các bộ, ngành có liên quan chỉ trong một thời gian ngắn đã hình thành một hệ thống tổ chức Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trong cả nước, đến nay đã có 34 Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Ngoài ra các địa phương còn xây dựng các trạm, mạng lưới cộng tác viên bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đến các cấp xã phường Đội tàu bảo vệ nguồn lợi trên biển ngày càng được phát triển về số lượng đến năm 2001 đã có 92 chiếc tàu KN [14] Lực lượng Bảo
vệ nguồn lợi hàng năm tiến hành kiểm tra và xử lí tới 16.000 vụ vi phạm đồng thời kết hợp với lực lượng Biên Phòng tiến hành xua đuổi, bắt 41 tàu nước ngoài vào đánh trộm hải sản trên vùng biển Việt Nam
Các chi cục ở các địa phương tiến hành quản lí nghề cá, tuyên truyền với nhiều hình thức như báo đài truyền hình, in và phát hành nhiều tờ bướm, các ấn phẩm tuyên truyền về Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản
1.3.2.Các tồn tại trong công tác quản lí nghề cá hiện nay
Hiện nay, tổ chức cơ cấu sản xuất ngành thủy sản đã thay đổi rất nhiều so với thời kỳ trước đây Tất nhiên đây là sự phát triển mới phù hợp với những chính sách cải cách của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Khi tổ chức sản xuất thay đổi thì đương nhiên bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý điều hành sản xuất phải thay đổi để phù hợp với nhu cầu đó
Trong việc quản lý bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản như hiện nay chỉ tập trung ở
bộ máy cấp tỉnh thành phố nên việc kiểm tra giám sát không được chặt chẽ ở các khu vực bởi lực lượng thanh kiểm tra quá mỏng trên diện tích quá rộng Nếu như
so với số lượng ngư dân và tàu thuyền khai thác thì số lượng cán bộ trực tiếp quản
Trang 18lý nghề cá quá ít không thể kiểm tra được trên vùng biển rộng nếu như không có
sự tham gia của ngư dân
Nghề cá Việt Nam là nghề cá nhân dân với quy mô nhỏ, số lương ngư dân lớn tập trung phân bố rải rác ở các vùng ven biển một số hộ sống trực tiếp dưới thuyền nay đây mai đó tùy theo mùa vụ
Về phương diện quản lí, ngư dân là đối tượng điều chỉnh Vì vậy để việc thực thi luật thủy sản có hiệu quả, bên cạnh quản lý nhà nước cần phải nêu cao vai cho của ngư dân Chuỗi quản lý nghề cá hiện nay đang bị đứt đoạn thiếu mắt xích nối xuống tới người dân
Thông thường nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và bắt buộc mọi người phải thi hành, thông qua tổ chức chuyên trách do nhà nước quy định Những tổ chức chuyên trách này thường bị hạn chế về số lượng và biên chế, một số quy định lại chưa phù hợp, không sát với thực tế nghề cá của ngư dân nên hiệu quả quản lý không cao
Chưa khống chế được số lượng tàu thuyền; phân bố các loại nghề; lực lượng lao động nghề cá tăng hàng năm một cách tự phát
Việc thực thi pháp luật Bảo vệ nguồn lợi còn hạn chế, lực lượng kiểm tra kiểm soát còn quá mỏng Hầu hết các ngư cụ sử dụng đều vi phạm về kích thước mắt lưới quá nhỏ so với quy định Các phương pháp đánh bắt hủy diệt chưa kiểm soát được hết
Chưa kiểm soát được sản lượng đánh bắt của các loại nghề, các khu vực cho phép
Việc thực thi các khu vực cấm và hạn chế đánh bắt vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để
Việc quản lí theo nguyên tắc tập trung không có sự tham gia của những người sử dụng nguồn lợi trực tiếp đánh mất quyền làm chủ và trách nhiệm đối với những người sinh sống phụ thuộc vào nguồn lợi thủy sản
Người dân vẫn chưa phát huy quyền làm chủ, họ thể hiện một cách thụ động chờ hướng dẫn từ trên xuống
Để khắc phục tình trạng trên, nhà nước ta đang tiến hành thí điểm các phương thức quản lý mới, trong đó có phương thức quản lý nguồn lợi thủy sản
Trang 19vùng ven bờ dựa vào cộng đồng, thay phương thức quản lý tập trung chỉ đạo từ trên xuống dưới được thay bằng phương thức từ dưới lên trên Họ tự đề ra các quy chế, quy định quản lí, họ tự thực thi thì sẽ có ý nghĩa thực tế hơn
1.4.Vấn đề quản lí dựa trên cộng đồng
Từ các yêu cầu và tồn tại trên, đòi hỏi cần phải có một biện pháp quản lí nghề cá phù hợp Hệ thống quản lí nghề cá hiện nay quản lí tập trung chỉ đạo từ trên xuống đang bị thiếu mắt xích là tổ chức ngư dân để quản lí nghề cá Vì vậy chỉ khi áp dụng quản lí theo hình thức mọi người cùng tham gia mới có thể giải quyết triệt để nghề cá ven bờ như hiện nay Vì vậy cần phải có một mô hình quản
lí Đó là mô hình quản lí dựa trên cộng đồng
Nói chung, ngư dân có xu hướng nghĩ rằng các điều khoản quản lí nghề cá của Nhà nước đề ra không sát với thực tế nghề cá của họ Vì vậy họ không tự nguyện thực hiện những quy định này Ngược lại, nếu được tham gia xây dựng những điều khoản quản lí, ngư dân sẽ rất cẩn thận tự đề ra các quy định cho họ Đây là những bước đầu tiên rất quan trọng trong công tác quản lí nghề cá
Một điều quan trọng nữa là hệ thống quản lí phải được nhận thức từ chính ngư dân mà không có sự ép buộc của chính quyền Ngư dân tự đề ra các điều khoản quản lí và chính họ phải thực hiện
Thực hiện “ngư dân tự quản” có ý nghĩa như sau:
- Ngư dân có khả năng phát hiện được những vi phạm trong số những người đánh cá
- Sự hạn chế đánh bắt nêu ra trong các quy định của Nhà nước được áp dụng cho tất cả các vùng, nên thường không sát Ngược lại, nếu ngư dân trực tiếp tham gia xây dựng các quy định hạn chế đánh bắt cho địa phương họ thì sẽ rất chi tiết và có hiệu quả thực sự trong quản lí nguồn lợi và khai thác
Vai trò của Tổ chức ngư dân (hay Hợp tác xã kiểu mới) trong quản lí nghề
Trang 20- Quản lí nghề cá ven bờ chỉ thành công khi tồn tại một Hợp tác xã mạnh, với những ngư dân đã hiểu rõ tầm quan trọng của quản lí nghề cá
Quản lý dựa vào cộng đồng là một phương pháp quản lý nguồn lợi trong
đó chính quyền và cộng đồng địa phương xây dựng các quy chế, biện pháp của riêng họ để bảo vệ và phát triển các nguồn lợi tự nhiên vùng ven biển tại địa phương một cách bền vững, đem lại lợi ích cho địa phương Chính quyền và người dân địa phương đi đầu
Đây là một khái niệm mới ở Việt Nam và thực tế hiện nay chỉ có một vài
dự án đang ở giai đoạn thực hiện thí điểm áp dụng cơ chế này
1.5 Thực trạng nghề cá ở Hải Phòng và Phù Long
1.5.1 Nghề cá Hải Phòng
1.5.1.1 Nguồn lợi hải sản
Vùng biển Hải Phòng có vị trí quan trọng ở vịnh Bắc Bộ, vì vậy nghề cá của Hải Phòng thể hiện rõ đặc điểm nghề cá của vịnh Bắc Bộ Từ bảng 1-1 ta nhận thấy vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ có trữ lượng khoảng 174.405 tấn, trong đó 119.800 tấn cá nổi và 54.605 tấn cá đáy, khả năng cho phép khai thác khoảng 81.742 tấn trong đó 59.900 tấn cá nổi 21.842 tấn cá đáy
Bảng1-1: Trữ luợng và khả năng khai thác cá nổi và đáy ở vùng biển ven bờ Vịnh Bắc Bộ năm 2003
Trữ lượng Vùng biển Nhóm sinh thái
Khả năng khai thác (tấn)
Vịnh Bắc Bộ (Nửa phía tây) Cá đáy 54.605 31,3 21.842
Nguồn: Dụ án điều tra nguồn lợi hải sản ven bờ năm 2003
Theo tài liệu [13] Sản lượng khai thác vịnh Bắc Bộ ở nơi có độ sâu < 50 m nước năm 1999 đã đạt tới mức 146.203 tấn, năm 1994 sản lượng khai thác vùng ven bờ đạt được 109.744 tấn, trong khi khả năng cho phép khai thác là 109.282
Trang 21tấn Như vậy sản lượng khai thác vùng ven bờ của vịnh Bắc Bộ đã vượt quá giới hạn cho phép từ năm 1994 đến nay
1.5.1.2.Số lượng tàu thuyền khai thác:
Bảng 1-2: Sự biến động tàu thuyền sản lượng khai thác
Số lượng tàu thuyền
TT Năm
Thủ công (Chiếc)
Gắn máy (Chiếc)
Tổng công suất
CV
Sản lượng ( Tấn)
Trang 22Trong vòng 6 nămsố lượng thuyền thủ công giảm đi 15,5 lần từ 680 chiếc
năm 1990 xuống còn 44 chiếc năm (1999) do nguyên nhân
+ Nguồn lợi ven bờ đã bị cạn kiệt, việc khai thác không còn đem lại hiệu quả kinh tế , buộc người dân phải thay đổi tăng thêm công suất
+ Không thể cạnh tranh với những thuyền gắn máy có công suất lớn hơn cùng khai thác trong một vùng
+ Năm 1996 Chi cục bảo vệ nguồn lợi giao cho địa phương quản lí những thuyền thủ công
Từ năm 2002 đến 2004 số lượng tàu giảm đi 1,3 lần trong khi đó công suất tăng lên 0,9 lần Các phương tiện có công suát nhỏ hơn 20cv hoạt động ven bờ kém hiệu quả kinh tế, một số tàu bị phá sản do làm ăn thua lỗ, phải giải bản để đầu tư tàu có công suất cao hơn
Trong vòng 20 năm từ năm 1976 đến 1996, sản lượng khai thác16.500 tấn không thay đổi nhiều, trong khi đó tổng công suất tăng lên 44 lần
Sản lượng khai thác từ những năm 1996 là 16.500 tấn ( bình quân đạt tấn 0,45T/CV/năm), đến năm 2004 sản lượng khai thác đạt 31.722 tấn ( bình quân đạt
khoảng: 0,3tấn/CV/năm) Năng suất theo mã lực giảm đi trong khi đó thì công
suất tăng lên 2,83 lần từ 36.300 cv năm 1996 đến 102.811cv năm 2004, sản lượng chỉ tăng 1,92 lần Nếu cứ tiếp tục tăng công suất thì chi phí cho sản xuất cao hiệu quả kinh tế sẽ giảm đi
Năm 1990 sản lượng khai thác của Hải Phòng chiếm tới 13,5%, công suất chiếm 11,3% sản lượng và công suất của toàn vịnh Bắc Bộ gồm 9 tỉnh từ Quảng Ninh tới Quảng Trị Năm 1999 sản lượng khai thác của toàn vịnh Bắc Bộ đạt 169.000 tấn, tổng công suất là 471.100cv sản lượng đạt 0,35 tấn/cv/ năm 1999 Trong đó Hải Phòng chiếm 14,5% về công suất và 11,6% về sản lượng.(Bảng 1-2)
Nghề cá của Hải Phòng nằm trong tổng thể nghề cá của vịnh Bắc Bộ bị ảnh hưởng trực tiếp biến động về nguồn lợi trong toàn vịnh
Tổng số 2680 tàu thuyền máy của Hải Phòng năm 2001 được phân ra các loại công suất như sau:
Bảng 1-3: Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất
Nhóm công suất Số lương tàu (chiếc) Tỉ lệ %
Trang 2315-20cv 1059 39,5
Nguồn: Sở thủy sản Hải Phòng
Các tàu có công suất máy nhỏ hơn 45cv chiếm tới 79,2% tổng số tàu, các tàu này thường hoạt động vùng ven bờ theo thời vụ, ngoài ra vẫn có một số hộ nông dân sắm thuyền nhỏ khai thác ở ven bờ vào mùa nông nhàn, đã gây ra tình trạng khai thác quá mức ở vùng nước ven bờ
1.5.1.3 Lao động nghề cá
Nghề cá quy mô nhỏ của Hải Phòng chiếm tới 99% số lượng tầu 93% tổng công suất, chiếm 99% tổng số lao động đánh cá và khai thác được 90% tổng số sản lượng khai thác toàn thành phố
Bảng 1-4: Phân bố lao động nghề cá ở Hải phòng năm 1999
TT Tên đơn vị
Số hộ kt (Hộ)
Lao động TT
Lao động
DV
Tổng số (người)
Nguồn: Sở thủy sản Hải Phòng
Năm 1999, lao động nghề cá Hải Phòng có 12.175 người Trong thực tế, lao động trực tiếp làm nghề khai thác thủy sản thường không đủ phải đi thuê nhân công từ các tỉnh khác đến Do năng suất thấp, thu nhập kém, thanh niên không
Trang 24muốn đi biển Ngư dân thường có trình độ văn hóa thấp, chất lượng lao đông nghề cá không cao, và làm nghề bằng kinh nghiệm Ngư dân ít được đào taọ qua lớp ngắn hạn hoặc chính quy
Do việc khai thác quá mức ở vùng biển ven bờ nên nguồn lợi bị cạn kiệt, do
đó sản lương khai thác giảm, nên thu nhập không cao, không khuyến khích hộ đi biển Từ bảng 1-3 ta nhận thấy lao động nghề cá tập trung đông ở hai trung tâm du lịch Cát Hải, Đồ Sơn Riêng Huyện Thủy Nguyên gần như không có sản xuất nông nghiệp
1.5.1.4 Thưc trạng công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở Hải Phòng:
Năm 1992 Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản được thành lập theo quyết định số: 640/QĐ-TCCQ ngày 21/5/1992 của Chủ tịch UBND TP Hải Phòng Năm
1996 Nhà nước cấp cho tàu Kiểm Ngư 400 CV, cuối năm 2002 trạm Kiểm Ngư Cát Bà đi vào hoạt động
Hiện nay Chi cục có 20 người, trong đó có 01 tàu kiểm ngư, 01 trạm Kiểm ngư Cát Bà với 06 thanh tra viên bảo vệ nguồn lợi và 09 lao động hợp đồng Với lực lượng ít, quản lí trên một địa bàn có diện tích rộng khoảng 15.850 hải lý vuông, nên việc quản lí và bảo vệ nguồn lợi còn gặp nhiều khó khăn
Ngoài ra còn có khoảng 700 - 800 tàu thuyền từ các địa phương khác đến đánh bắt thủy sản tại khu vực ven biển Hải Phòng
Do cơ chế quản lí phân theo vùng biển giữa các địa phương, nên khi bị kiểm tra các phương tiện vi phạm bỏ chạy sang vùng biển của tỉnh khác, gâykhó khăn cho công tác kiểm tra kiểm soát
Hơn nữa, các tàu cá khai thác bất hợp pháp thường thông tin cho nhau khi
có tàu của lực lượng kiểm tra nên việc kiểm soát rất khó khăn
Bảng 1- 5: Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ nguồn lợi vùng biển Hải Phòng
Nội dung 1998 1999 2000 2001 2002 Tổng số
Số lượt P T kiểm tra 1100 2300 2077 2100 2500 10077
Xử phạt số P.T vi phạm 500 719 622 615 320 2776
Trang 25Nguồn: Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Qua bảng:1-5 nhận thấy số vụ vi ngày càng tăng Các vụ sử dụng chất nổ, chất độc chủ yếu là tầu thuyền đánh bắt ở ngoài khơi hoạt động theo mùa vụ, con nước, còn các phương tiện dùng xung điện để đánh bắt thuỷ sản chủ yếu là thuyền nan và tàu gỗ có công suất nhỏ hoạt động chủ yếu ở tuyến ven bờ và lộng với các tàu có công suất nhỏ hơn 45cv
Sử dụng chất độc thực chất không phải giảm đi mà do việc khai thác nguồn lợi đã bị cạn kiệt (đặc biệt ở đảo Bạch Long Vỹ, đảo Cô Tô) không đem lại hiệu quả kinh tế nên họ chuyển làm nghề khác
Thống kê các phương tiện đánh bắt bất hợp pháp ở khu vực ven bờ cho thấy
có 57% ngư dân sử dụng thuyền máy 6 CV Số tàu thuyền có công suất lớn hơn, từ
12 – 22 CV chiếm 34% và khoảng 9% tàu có công suất trên 22CV
Trên đây là một số vụ vi phạm được phát hiện, thực chất còn quá nhỏ đối với vùng biển Hải Phòng nói riêng và vịnh Bắc Bộ nói chung
Tuy nhiên, công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vẫn còn nhiều bất cập đó là:
- Việc quản lý tàu cá trong đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép khai thác
- Các thủ tục khác như bằng thuyền trưởng, bằng máy trưởng, sổ danh bạ thuyền viên
- Việc hoạt động tại các tuyến khai thác; tuyến ven bờ, tuyến lộng, tuyến xa
bờ
- Đặc biệt các nghề khai thác vi phạm bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản còn nhiều hạn chế
Trang 26-Lực lượng của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản còn rất mỏng cả về biên
chế và các phương tiện dùng trong công tác kiểm ngư, không thể thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
- Công tác tuyên truyền các văn bản về nguồn lợi thuỷ sản còn nhiều hạn chế
- Các cơ chế chính sách nhằm tăng cường bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ
- Ý thức của ngư dân và cộng động nhân dân còn thấp, đời sống của phần lớn của các ngư dân còn gặp khó khăn
- Việc quan tâm đúng mức và phối kết hợp trong công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản của các cấp, các ngành, các lực lượng trên địa bàn thành phố còn bất cập
và lúng túng
1.5.2.Tổng quan nghề cá Phù Long
1.5.2.1.Tàu thuyền
Điều tra về phương tiện đánh bắt ở cả hai khu vực đánh bắt Phù Long và
Cát Hải có tới 681 thuyền máy trong đó cho thấy 53% ngư dân sử dụng thuyền lắp
máy 6cv Số tàu thuyền có công suất lớn hơn từ 12-15 cv chiếm gần 41% và
khoảng 6% là tàu thuyền có công suất trên 15cv
Loại 6 cv 360 chiếc Loại 6- 15cv 280 chiếc Loại trên 15cv 41 chiếc
Trang 27Lao động (người) 220 180 140 144 150
Nguồn: hội đồng quản lí xã Phù Long năm 2005
Hiện nay mỗi hộ gia đình sở hữu một chiếc thuyền phần lớn có công suất (6-12 CV) Đầu tư cho một chiếc thuyền này khoảng 7 triệu đồng, và 2 triệu đồng cho ngư lưới cụ rồi tự đi đánh cá Số tiền đầu tư không lớn vì vậy 97% ngư dân có thể là chủ phương tiện, chỉ còn lại 3% là sở hữu chung theo quan hệ anh em ruột thịt họ hàng
1.5.2.2 Nghề khai thác
-Nghề khai thác thủy sản ở huyện Cát Hải có truyền thống lâu đời Trong cơ chế quản lý nghề cá cũ, trước đây HTX nghề cá Cát Hải đã một thời phát triển là
điển hình của miền Bắc, đạt được điều đó là nhờ nghề cá mang tính thủ công
Từ bảng 1-8 nhận thấy rằng ghề khai thác biển là nguồn thu nhấp chính của phần lớn ngư dân được hỏi, cụ thể trong 102 trường hợp thì chiếm tới 77,3% số hộ
có thu nhập hoàn toàn dựa vào nghề biển Từ tài liệu [2] nguồn lợi tại khu vực xã Phù Long- huyện Cát Hải trong vòng 20 năm trở lại đây năng suất đã giảm đi 15 lần năm 1980 từ 30kg/người / ngày đến năm 2001 còn 2kg/ người/ ngày
Điều tra ở 75 hộ khai thác có tất cả 107 ngư cụ, bao gồm 04 loại nghề chính Nghề khai thác ở Phù long chủ yếu hoạt động vùng ven bờ
Bảng 1-7: Các loại nghề khai thác ở xã Phù Long năm 2004
Trang 28Điều kiện tự nhiên của Phù Long sẵn có một vùng rừng ngập mặn lớn là khu vực Cái Viềng dồi dào nguồn giống tự nhiên, chất lượng nước tốt và nguồn dinh dưỡng cao để đưa năng suất cao và lợi nhuận lớn cho nghề nuôi tôm
Đối tượng nuôi là tôm sú (Penaeus monodon) và tôm rảo (Metapenaeus ensis) Phần lớn diện tích nuôi tôm sú theo hình thức quảng canh cải tiến hoặc xen canh tôm sú và cua Từ năm 2001có xu hướng chuyển dần sang nuôi kết hợp tôm
và các loài cá biển do nuôi cá ít gặp rủi ro hơn so với nuôi tôm và cua Kỹ thuật nuôi chủ yếu do kinh nghiệm của địa phương và kinh nghiệm của các địa phương lân cận Các hộ nông dân bằng nguồn vốn tự có cùng với vốn vay từ ngân hàng đã đầu tư, cải tạo và khoanh đầm nuôi Tuy nhiên sự chuyển đổi còn chậm do thiếu vốn, thiếu kiến thức và kỹ năng nuôi trồng
Theo điều tra, thời vụ nuôi chính của tôm sú là mùa xuân hè Trong khi tôm rảo có thể nuôi quanh năm
Giống tôm rảo, tôm lớt có nguồn gốc tự nhiên thông qua hệ thống cung cấp nước của các đầm Hầu hết các hộ nuôi sử dụng trực tiếp nguồn nước từ biển, từ sông Cái Viềng, sông Phù Long Bên cạnh việc cung cấp nguồn tôm giống, cua và
cá tự nhiên, vùng nước ven bờ còn cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên quan trọng cho các đầm nuôi
Bảng1-8: Diễn biến sản lượng nuôi xã Phù Long
Năm Chỉ tiêu
Nguồn: số liệu thống kê xã Phù Long năm 2005
Toàn xã có 1.200 ha nuôi trong đó gồm 70 đầm nuôi Từ bảng 1-7 nhận thấy sản lượng nuôi năm 2002 tăng 1,94 lần so với năm 2000 do mô hình của xã Phù Long đã đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 2000, riêng năm 2003 sản lương bị giảm 0,56 lần so với năm 2002 do dịch bệnh ảnh hưởng của đợt mưa nhiều ngày Sản lượng năm 2004 tăng 1,68 lần so với năm 2002 do năm 2004 xã Phù Long đã chuyển 115 ha khu vực A1 và A2 làm muối sang khu nuôi công nghiệp
1.5.2.4 Đời sống kinh tế của người dân xã Phù Long
Trang 29Qua điều tra hiện tại Phù Long vẫn là một xã nghèo Nguyên nhân là do nguồn sống chính của xã trước đây dựa vào nghề cá, chủ yếu là khai thác thủy sản
ở vùng ven bờ Song nguồn lợi ven bờ đã suy giảm nghiêm trọng, trong khi các sinh kế mới lại chưa được hình thành
Xã có 440 hộ với 225 hộ làm nghề thủy sản, tức là 51% dân số của xã phụ thuộc vào nghề biển Từ bảng 8-1 nhận thấy trên 70% thu nhập của ngư dân Phù Long có nguồn gốc từ nghề biển
Bảng 1-9: Thu nhập từ nghề khai thác biển
% tổng thu nhập chính Số câu trả lời % Số câu trả lời
Trong hoàn cảnh biến động về chính sách quản lý, cơ cấu nghề nghiệp, kinh
tế xã hội , nghề thủy sản ở địa phương đã phải đối đầu với nhiều khó khắn lớn Để tìm hiểu các khó khăn này, đã tiến hành khảo sát 102 hộ làm nghề thuỷ sản
Bảng 1-10: Những khó khăn chính của ngành thủy sản ở xã Phù Long
Khó khăn Số câu trả lời % Số câu trả lời
Cạn kiệt nguồn lợi năng suất kém 24 23,6
Trang 30
Từ con số của bảng trên đã chỉ ra những khó khăn của người dân làm nghề
biển, chủ yếu là cạn kiệt về nguồn lợi năng suất kém, chi phí lớn
1.6 Nhận xét đánh giá về nghề cá ở Việt Nam nói chung và Phù Long nói riêng:
Nghề cá Việt Nam là nghề cá nhân dân, bởi vậy số lượng tàu thuyền của cả nước tăng nhanh tự phát, không có sự quản lí của nhà nước, lực lượng lao động nghề cá, số lượng tàu ngày càng tăng, mỗi năm tăng 2300 chiếc tàu nhỏ, số lượng lao động nghề cá vùng ven biển tăng lên 26.000 người/ năm
Sau khi thực hiện hiêp định nghề cá vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc các tàu cá khai thác vùng ngoài vịnh Bắc bộ có xu thế ngày càng vào gần bờ hơn, qua đợt kiểm tra tháng 3 năm 2005, trong 80 tàu khai thác vùng đánh cá chung thì các phương tiện này về mặt thủ tục đầy đủ nhưng họ lại không ra ngoài vùng đánh cá chung
Nghề cá ở xã phù Long có quy mô nhỏ, tàu thuyền có công suất nhỏ từ 6cv đến 22 cv là phổ biến, chủ yếu hoạt động ở vùng ven bờ
Số lượng tàu thuyền quá nhỏ, rất nhiều phương tiện chỉ khai thác vùng ven
bờ nên hiệu quả kinh tế kém do nguồn lợi thủy sản bị suy giảm nghiêm trọng
Tất cả các Quận, Huyện có nghề cá ở Hải Phòng đều không có phòng ban thủy sản, chỉ duy nhất có Huyện Cát Hải có phòng thủy sản Việc quản lí thủy sản được sát nhập với phòng nông nghiệp hoặc phòng kinh tế kỹ thuật Việc cán bộ quản lí, kỹ thuật còn mỏng và yếu
Từ những phân tích trên đã chứng minh được rằng vấn đề quản lí cộng đồng là rất cần thiết và là lối thoát duy nhất để đảm bảo đời sống của ngư dân vùng ven biển và duy trì nguồn lợi, tạo điều kiện cho nghề cá nơi đây phát triển bền vững
Trang 31
CHƯƠNG 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Tài liệu
2.1.1 Tài liệu chung:
4 Kết quả xây dựng và thực nghiệm mô hình cấp xã quản lí nguồn lợi vùng ven
bờ xã Phù Long - Nguyễn Văn Hào và Lê Khả Tạo( Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng năm 2003)
5 Hiện trạng và một số giải pháp quản lí, sử dụng tài nguyên rừng ngập mặn xã Phù Long, Huyện Cát Hải theo hướng bền vững - PGS.TS Mai Sỹ Tuấn cùng nhóm nghiên cứu Trung tâm Tài nguyên Môi trường năm 2003
6 Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi
7 Hỗ trợ ngư dân phát triển sinh kế thay thế cho nghề khai thác tại Phù Long - Trung tâm Phát triển Nông thôn năm 2002
2.1.2 Tài liệu điều tra
Thông qua 102 phiếu điều tra phát ra và thu vào 102 phiếu Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn lấy ý kiến của ngư dân thông qua các mẫu phiếu
Phỏng vấn trực tiếp từ các hộ đang làm nghề cùng một số quan chức lãnh đạo huyện Cát Hải, xã Phù Long
Thông qua việc nấy các mẫu, các mẻ lưới, của các tàu đang làm nghề tại khu vực thực hiện mô hình xã quản lí
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài các phiếu,tài liệu điều tra đã có từ khi thực hiện mô hình Thu thập các số liệu thông qua102 phiếu điều tra của 75 hộ làm nghề khai thác và 27 hộ làm nghề nuôi trồng và dịch vụ thuỷ sản
Trang 32Phỏng vấn trực tiếp các hộ làm nghề ở địa phương khác đến khai thác, nuôi trồng ở khu vực mô hình quản lí
Thông qua điều tra thực địa tại các tàu đang làm nghề trong khu vực mô hình quản lí của xã Phù Long được trình bày ở bảng 6 phần phụ lục
- Phương pháp xử lý số liệu:
Theo phương pháp xác xuất thống kê
Sử dụng giá trị trung bình nội suy - Phương pháp đánh giá:
Thông qua việc đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình tại xã Phù Long Thông qua việc đánh giá về nguồn lợi
Thông qua về hiệu quả quản lí về tàu thuyền
Thông qua thu nhập của người dân
2.3.Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng và thực nghiệm mô hình cấp xã quản lí nguồn lợi vùng ven bờ xã Phù Long
Trang 33PHẦN 2
KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ PHÙ LONG
3.1.Hiện trạng công tác quản lí ở xã Phù Long trước khi thực hiện mô hình quản lí dựa vào cộng đồng
3.1.1 Thông tin cơ bản:
Đứng trước thực tế về những khó khăn do việc khai thác quá mức vùng ven
bờ, nguồn lợi bị suy giảm, năng suất khai thác kém và hiệu quả kinh tế của các hoạt động khai thác đạt thấp, cùng với nguyện vọng đề xuất của nhân dân, chính quyền xã Phù Long, năm 2001 UBND huyện Cát Hải đã giao cho chính quyền, nhân dân xã Phù Long quản lý vùng nước thuộc địa phận hành chính của xã
Năm 2001 UBND Thành phố Hải Phòng giao cho Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng thực hiện mô hình
Trung tâm phát triển nông thôn hỗ trợ xã Phù Long kinh phí thực hiện mô hình tự quản lí nguồn lợi
*Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:
Xã Phù Long nằm ở phía Tây nam của đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải – thành phố Hải Phòng Ba mặt giáp với các xã khác trên đảo; phần phía tây giáp với Lạch Huyện là một cửa sông lớn của sông Bạch Đằng
Tuy chỉ có vài km chiều dài tiếp giáp với Lạch Huyện là một vùng rừng ngập mặn, xen lẫn một số đảo và bán đảo đá vôi nhỏ và vùng Bãi Triều rộng lớn, điển hình cho hệ sinh thái vùng cửa sông trong vịnh Bắc Bộ
Vùng triều cửa sông, ven biển và đảo là nơi tập trung của nhiều đối tượng
có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực chính trị, giao thông vận tải và quốc phòng Trong những năm gần đây do sự phát triển thiếu quy hoạch của một số ngành kinh tế cũng như ngư dân ven biển, sử dụng hệ sinh thái chưa hợp lí nên nguồn lợi sinh vật vùng ven bờ bị giảm sút, ảnh hưởng đến đời sống của ngư dân trong xã
Trang 34*Các hoạt động kinh tế:
Hiện nay nghề cá vẫn là một lĩnh vực kinh tế chính của xã Xã có 3 thôn với
440 hộ và 1873 nhân khẩu trong đó có tới 225 hộ làm nghề thuỷ sản, ứng với 51%
số hộ trong xã sống bằng nghề khai thác cá biển và nuôi trồng hải sản là chính Cả
xã hầu như không có hoạt động về nông nghiệp
Khai thác thuỷ sản: 40% họ sử dụng phương tiện đánh bắt chủ yếu là
thuyền nan(4-12CV), khai thác chủ yếu ở vùng nước ven bờ Sản lượng đánh bắt các năm là:30 kg/người/năm (1980), 20 kg (1990), 3 kg (1995), 2 kg (2001) Những con số này thể hiện rất rõ thu nhập của ngư dân bị giảm sút và đời sống của các hộ ngư dân rất khó khăn
Nuôi trồng thuỷ sản (bắt đầu từ những năm 1985): Hiện có 40% hộ, gần
20% hộ nuôi từ trước năm 1993 còn lại sau năm 1999 Đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú và cua Nuôi quảng canh cải tiến trên diện tích hơn 90 ha và quảng canh trên đầm ngập mặn có diện tích hơn 200 ha Diện tích nuôi tăng nhanh trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1995, đồng thời kèm theo diện tích rừng ngập mặn bị giảm đi
Dịch vụ thủy sản: 15% hộ thu mua thuỷ sản, cung cấp đầu vào cho nuôi
trồng và khai thác thuỷ sản, cung cấp hàng hoá sinh hoạt hàng ngày
3.1.2.Công tác quản lí trước khi thực hiện mô hình
Việc quản lí nghề cá ở xã Phù Long theo chuỗi liên tục sau:
UBND Huyện Cát Hải Phòng thủy sản Huyện Cát Hải Chính quyền xã Phù Long ngư dân xã Phù Long
Công tác quản lí theo sự chỉ đạo theo mệnh lệnh từ trên xuống dưới
Nhược điểm:
Mọi đường lối chủ trương chỉ đạo từ trên xuống dưới không sát với thực tế của người dân nên việc quản lí còn gặp nhiều bất cập
Đối với nuôi trồng người dân thi nhau chặt phá rừng làm đầm không có quy
hoạch, diện tích nuôi trồng đạt tới 1500 ha năm 2000
Đối với khai thác biển thì nguồn lợi bị đánh bắt cạn kiệt, tình trạng khai thác bất hợp pháp ngày càng tăng Việc khai thác bừa bãI, không có sự kiểm soát
Trang 35diễn ra không những từ các tàu của ngư dân xã Phù Long mà còn từ nhiều phương tiện của các địa phương khác đến
Bảng 3-1: Số các vụ vi phạm trong 4 năm tại khu vực xã Phù Long
Tất cả các vấn đề trên của xã Phù Long cần phải giải quyết ngay nếu không trong một thời gian tới đời sống của ngư dân đã khó khăn ngày càng gặp khó khăn hơn
3.2 Áp dụng mô hình quản lí
3.2.1 Giới thiệu về mô hình
3.2.1.1 Tại sao xã Phù Long được chọn:
Phù Long là một xã rộng thưa dân của Huyện đảo Cát Hải nằm trong vành đai vùng đệm của vườn quốc gia Cát Bà, vùng dự trữ sinh quyển thế giới, với
hệ sinh thái động thực vật phong phú và nguồn lợi sinh vật biển mang đặc tính chung của vùng cửa sông ven biển Vịnh Bắc Bộ
Phù Long trước đây có diện tích rừng ngập mặn (RNM) lớn từng được coi
là vào loại tốt nhất miền Bắc
Lãnh đạo địa phương huyện Cát Hải, xã Phù Long đã bắt đầu nhìn nhận ra nguy cơ của tình trạng môi trường biển xuống cấp
Trang 36Thực trạng đang diễn ra đối với nguồn lợi thủy sản ở Huyện Cát Hải, xã Phù Long là tình trạng cạn kiệt tài nguyên Nguyên nhân chung được xác định do
sử dụng nguồn lợi một cách vô tổ chức, khai thác không theo hướng bền vững
Cơ hội mở ra khi Chi cục bảo vệ nguôn lợi thủy sản Hải Phòng được UBND thành phố Hải Phòng giao xây dựng, thực nghiệm mô hình quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng tại xã Phù Long
3.2.1.2 Mục tiêu, kết quả mô hình
Mục tiêu bao trùm:
Thực nghiệm mô hình QLDTCĐ tại quy mô một xã nhằm rút kinh nghiệm
để nhân rộng nhằm phát triển nghề cá bền vững
Mục tiêu cụ thể:
Hỗ trợ chính quyền, nhân dân xã Phù Long thực hiện quản lí thành công mô hình quản lí nghề cá dựa trên cơ sở cộng đồng
Hỗ trợ ngư dân xã Phù Long ổn định cải thiện thu nhập, ưu tiên các ngư dân
bị ảnh hưởng bởi cơ chế quản lí cộng đồng
Kết quả mong đợi ở việc áp dụng mô hình
* Nguồn lợi ven bờ xã Phù Long được quản lý có hiệu quả:
+ Giảm việc khai thác nguồn lợi ven bờ xuống đưới mức khai thác cho phép + Chấm dứt các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt
+ Trữ lượng nguồn lợi trong khu sẽ tăng lên
+ Chấm dứt hiện tượng chặt rừng ngập mặn
+ Phần rừng còn lại sẽ được bảo vệ và phát triển tốt hơn
+ Có giải pháp cân bằng giữa nghề nuôi và duy trì rừng ngập mặn
*Thu nhập của ngư dân địa phương được ổn định và cải thiện hơn nhờ nguồn lợi tự nhiên tăng lên và phát triển các sinh kế thay thế
*Nâng cao năng lực và nhân thức của cộng đồng địa phương
3.2.1.3 Nội dung mô hình quản lý
* Nội dung của mô hình
Thấy rõ được tầm quan trọng và phức tạp của quản lí nghề cá ven bờ Nghề
cá ven bờ có số lượng ngư dân chiếm đa số lao động nghề cá Số ngư dân này sống
Trang 37rải rác dọc ven biển Họ là những người nghèo và rất nghèo Cuộc sống của họ gắn chặt với những con thuyền nhỏ bé hoạt động vùng ven bờ Những điều này dẫn đến tình trạng cạnh tranh ngày càng ráo riết trong khai thác hải sản, làm cho nguồn lợi ven bờ bị cạn kiệt nhanh chóng và lại đẩy cuộc sống của ngư dân vào chỗ bế tắc
Để có thể đảm bảo phát triển nghề cá bền vững, chỉ có con đường duy nhấtlà áp dụng “Quản lí nghề cá dựa vào cộng đồng” Với nội dung chính của mô hình này là:
- Thành lập các tổ chức ngư dân hoặc các Hợp tác xã kiểu mới Giao cho ngư dân quyền tự quản vùng nước ven bờ của họ
- Giao vùng nước sát bờ (khoảng 3-5 hải lý) cho cộng đồng ngư dân tự quản
- Giao quyền đánh cá cho các tổ chức ngư dân
- Cấp các giấy phép đánh cá Các giấy này sẽ quy định rõ cỡ tàu, loại nghề
và khu vực hoạt động của tàu cá đó
- Nhà nước sẽ hỗ trợ về mặt pháp lí, hỗ trợ ngư dân trong việc tổ chức điều hành, còn chính ngư dân sẽ phải tự đề ra các quy định quản lí vùng nước được giao, tự bảo vệ và sử dụng vùng nước này
*Sơ đồ tổ chức mô hình quản lí dựa vào cộng đồng ở xã Phù Long
Chi cục bảo vệ nguồn lợi
Chính quyền địa phương
Hội đồng quản lý nguồn lợi vùng ven biển
Đội tuần tra bảo vệ nguồn lợi vùng ven bờ