1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus linnaeus, 1766) tự nhiên ở vùng biển nha trang – khánh hòa

80 2,1K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp phần phát triển nghề nuôi ghẹ cũng như có những cách nhìn chung về thành phần loài ký sinh trùng ký sinh trên ghẹ để quản lý tốt sức khỏe đàn ghẹ nuôi, Khoa Nuôi trồng Thủy sản,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

  

PHẠM NGUYỄN HẬU

NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG TRÊN GHẸ XANH

(Portunus pelagicus Linnnaeus, 1766) TỰ NHIÊN Ở

VÙNG BIỂN NHA TRANG – KHÁNH HÒA.

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

  

PHẠM NGUYỄN HẬU

NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG TRÊN GHẸ XANH

(Portunus pelagicus Linnaeus, 1766) TỰ NHIÊN Ở

VÙNG BIỂN NHA TRANG – KHÁNH HÒA.

Chuyên ngành: Nuôi Trồng Thủy Sản

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả trong luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự chỉ dẫn tận tình của Thầy hướng dẫn

Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Phạm Nguyễn Hậu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, cùng toàn thể quý thầy cô đã hết lòng giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin tỏa lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn của tôi là TS Võ Thế Dũng và TS Cái Ngọc Bảo Anh đã tận tình, chu đáo giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới GS.TS Glenn A Bristow người đã giúp đỡ tôi về nguồn tài liệu tham khảo, kinh phí cũng như trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị của Phòng Sinh học thực nghiệm và các anh chị học viên lớp CH2009 - NT2 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bố mẹ những người chịu vất vả, khó khăn đã luôn ở bên cạnh và tạo mọi điều kiện để tôi tham gia lớp học

Xin trân trọng cảm ơn !

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii Danh mục bảng v Danh mục hình vi Danh mục các từ viết tắt vii MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của ghẹ xanh 3

1.1.1 Phân bố 3

1.1.2 Sinh thái 3

1.1.3 Sinh sản 4

1.1.4 Vị trí phân loại 5

1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cua ghẹ trên thế giới 5

1.2.1 Trùng đơn bào 5

1.2.2 Giáp xác chân tơ (Rhizocephalan) 7

1.2.3 Giáp xác bám (Octolasmis) 8

1.2.4 Giun (Nemertean) 12

1.3 Những nghiên cứu về bệnh cua, ghẹ ở Việt nam 14

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Mẫu ghẹ nghiên cứu 16

2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16

2.4 Phương pháp nghiên cứu 17

2.4.1 Dụng cụ 17

Trang 6

2.4.2 Xử lý mẫu 17

2.4.3 Các bước tiến hành 18

2.4.4 Chuẩn bị và cố định 19

2.4.5 Xử lý số liệu 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Thành phần loài, tỷ lệ và cường độ nhiễm KST trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus) 21

3.1.1 Thành phần giống loài ký sinh trên ghẹ xanh 21

3.1.2 Một số đặc điểm phân loại các loài ký sinh trùng 23

3.1.2.1 Loài Epistylis sp 23

3.1.2.2 Loài Apiosoma sp 24

3.1.2.3 Loài Loxosomella sp 25

3.1.2.4 Loài Carcinonemertes sp 26

3.1.2.5 Loài Turbellaria (giun dẹp) 29

3.1.2.6 Loài Choniosphaera indica 29

3.1.2.7 Loài Octolasmis warwickii 32

3.1.2.8 Loài Octolasmis sp 33

3.1.3 Phần trăm thành phần loài KST trên ghẹ 35

3.2 Mức độ nhiễm ký sinh trùng trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus) 36

3.2.1 Mức độ nhiễm KST theo giới tính 36

3.2.2 Mức độ nhiễm KST trên ghẹ qua các tháng nghiên cứu 39

CHƯƠNG 4 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 43

4.1 Kết luận 43

4.2 Đề xuất ý kiến 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC 54

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kích thước và số lượng ghẹ nghiên cứu 16

Bảng 3.1 Thành phần ký sinh trùng trên ghẹ xanh 22

Bảng 3.2 Mức độ nhiễm ký sinh trùng trên ghẹ 36

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm theo điều kiện về giới tính 38

Bảng 3.4 Mức độ nhiễm ký sinh trùng qua các tháng nghiên cứu 40

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Hình dạng bên cơ thể ngoài của ghẹ xanh 5

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 17

Hình 3.1: Hình dạng cơ thể Epistylis sp 23

Hình 3.2: Hình dạng cơ thể Apiosoma sp 25

Hình 3.3: Hình dạng cơ thể Loxosomella sp 26

Hình 3.4: Hình dạng cơ thể Carcinonemertes sp 27

Hình 3.5: Hình dạng cơ thể Turbellaria 29

Hình 3.6: Hình dạng cơ thể Choniosphaera indica 31

Hình 3.7: Hình dạng cơ thể Octolasmis warwickii 33

Hình 3.8: Hình dạng cơ thể Octolasmis sp 34

Hình 3.9: Thành phần loài ký sinh trên một con ghẹ 35

Hình 3.10: Tỷ lệ cảm nhiễm của Portunus pelagicus qua các tháng 41

Hình 3.11: Cường độ cảm nhiễm của Portunus pelagicus qua các tháng 41

Trang 10

MỞ ĐẦU

Ngành Nuôi trồng thủy sản thế giới đã tăng trưởng rất nhanh trong những năm gần đây, từ sản lượng 20,8 triệu tấn năm 1994 đạt 41,9 triệu tấn năm 2004 và 55,1 triệu tấn năm 2009 Riêng đối với giáp xác, năm 2008 đã đóng góp 9,5% tổng sản lượng thủy sản của thế giới, với tỷ lệ giá trị đạt 23,1% Sản lượng khai thác gần như đạt đến mức tối đa (khoảng 90 triệu tấn/năm), trong lúc nhu cầu của con người tiếp tục tăng, đã tăng áp lực lên ngành Nuôi trồng thủy sản Năm 2004 sản lượng nuôi nội địa

là 33,8 triệu tấn tăng lên 45,1 triệu tấn năm 2009, và có chiều hướng tăng không đáng

kể trong những năm tới [22] Để giảm áp lực cho nghề nuôi thủy sản nội địa, Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang từng bước phát triển nghề nuôi ra biển - môi trường đầy tiềm năng Nhiều đối tượng nuôi có giá trị kinh tế như: tôm hùm

(Panulirus spp.), cua bùn (scylla serata), cá mú (Epinephlus spp.), cá hồng (Lutjanus spp.), cá chẽm (Lates calcarifer),… đã được nuôi mang lại thu nhập đáng kể và góp

phần nâng cao mức sống cho người dân

Ghẹ xanh (Portunus pelagicus) là loài phân bố rộng, thịt thơm ngon được nhiều

người ưa thích Theo đánh giá của Williams và Primavera (2001) cho đây là loài nuôi tiềm năng ở vùng biển Thái Bình Dương [88] Ở Việt Nam, mặc dù nghề nuôi cua đã phát triển từ rất lâu nhưng ghẹ xanh chỉ mới được chú trọng phát triển trong khoảng mười năm trở lại đây nhờ thành công trong sản xuất giống nhân tạo đối tượng này Tổng sản lượng của nhóm cua, ghẹ nước mặn trong cả nước năm 2000 là 5.085 tấn trên tổng diện tích nuôi 8.256 ha, đến 2009 đã là 49.859 tấn trên diện tích nuôi 312.995 ha Diện tích nuôi cua ghẹ đã ngày càng tăng từ năm 2000 – 2009, tuy nhiên, từ số liệu cho thấy năng suất trung bình của năm 2009 là 0,16 tấn/ha/năm giảm nhiều so với năng suất cua ghẹ nuôi trung bình của năm 2000 là 0,6 tấn/ha/năm Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giảm năng suất cua nuôi trong những năm gần đây được phản ánh là do tình hình dịch bệnh trên cua ghẹ nuôi [3,8,9] Bệnh “cua đắng”, “cua bông” gây ra bởi ký sinh trùng đã làm giảm chất lượng thịt và giá trị thương mại của cua ghẹ [13,50,74]

Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu về ký sinh trùng trên ghẹ đã được công bố ở nhiều nước (Shields, 1992; Fernando và cộng sự, 2003; Gaddes và Sumpton, 2004),

Trang 11

trong lúc ở Việt Nam chưa có một công bố nào về KST của ghẹ xanh nên việc nghiên cứu ký sinh trùng trên ghẹ là cần thiết

Nhằm góp phần phát triển nghề nuôi ghẹ cũng như có những cách nhìn chung về thành phần loài ký sinh trùng ký sinh trên ghẹ để quản lý tốt sức khỏe đàn ghẹ nuôi, Khoa

Nuôi trồng Thủy sản, trường Đại học Nha Trang đã cho phép tôi thực hiện đề tài “Nghiên

cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus Linnaeus, 1766) tự nhiên ở

vùng biển Nha Trang – Khánh Hòa”, với các nội dung:

Xác định thành phần loài, tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm KST trên ghẹ xanh

(Portunus pelagicus)

So sánh mức độ cảm nhiễm theo kích thước và giới tính

So sánh mức độ cảm nhiễm qua các tháng nghiên cứu

Về mặt khoa học, nghiên cứu này nhằm góp phần cung cấp thông tin về thành

phần loài và mức độ nhiễm KST ở ghẹ xanh (Portunus pelagicus) Kết quả nghiên cứu

của đề tài có thể áp dụng vào việc chăm sóc và quản lý sức khỏe ghẹ nuôi cũng như hạn chế mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng và an toàn thực phẩm

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Một số đặc điểm sinh học của ghẹ xanh 1.1.1 Phân bố

Ghẹ xanh (Portunus pelagicus) là loài được tìm thấy ở các vùng cửa sông

của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (phần duyên hải châu Á) cũng như vùng duyên hải Trung - Đông của Địa Trung Hải Loài ghẹ này cũng phân bố rộng ở miền đông Châu Phi, Đông Nam Á, Nhật Bản, Australia và New Zealand [64,80] Ở Việt Nam, ghẹ xanh phân bố khắp các vùng biển và hải đảo từ Bắc đến Nam Mặc dù gọi là ghẹ xanh nhưng màu sắc của chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào môi trường sống [7]

1.1.2 Sinh thái

Khi còn nhỏ, ghẹ đực và ghẹ cái đều có màu xanh nhạt Khi trưởng thành, con đực

có nhiều đốm trắng trên cơ thể, các chân bò có màu tím xanh; con cái, toàn bộ cơ thể có màu xanh vàng và cũng có các chấm trắng trên cơ thể nhưng màu sắc không sặc sỡ như con đực

Phần lớn thời gian ghẹ ẩn nấp dưới cát hay bùn, cụ thể là trong thời gian ban ngày và mùa đông [59] Ghẹ đi kiếm ăn khi thủy triều lên Thức ăn của chúng khá đa dạng, từ động vật hai mảnh vỏ, giáp xác, cá và ít hơn là các loại tảo lớn Theo nghiên cứu của Chanda và Mgaya [17] thì trong dạ dày của ghẹ có 51,3% là thân mềm, 24,1%

là giáp xác, 18,0% là cá xương và 6,6% là những thứ không phân biệt được Ghẹ bơi lội rất tốt, chủ yếu là do các cặp chân dẹp tựa như các mái chèo Ngược với loài cua

xanh (Scylla serrata) trong cùng họ Portunidae, ghẹ xanh không thể sống một thời

gian dài mà không có nước [58,64] Độ mặn thích hợp cho sự phát triển của ghẹ khoảng 30 - 40‰, ghẹ non không thể chịu được độ mặn thấp trong một khoảng thời gian dài, có thể là do khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu quá yếu của nó; điều đó giúp lý giải vì sao chúng di cư hàng loạt từ cửa sông ra biển trong mùa mưa [59]

Với tốc độ tăng trưởng nhanh, dễ nuôi, nhanh đẻ, khả năng chống chịu cả nitrat lẫn ammoniac tốt [58,59] và ghẹ có thể ăn no trong vòng 8 phút và tiêu hóa hết thức ăn trong vòng 6 giờ [83] đã làm cho ghẹ xanh trở thành một trong những loài lý tưởng trong nuôi trồng thủy sản

Trang 13

1.1.3 Sinh sản

Thời gian cho một chu kì sinh sản của ghẹ thay đổi theo nhiệt độ hằng năm

Trứng được đẻ cả năm ở các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở các vùng biển ôn đới thì chúng chỉ đẻ vào các tháng ấm hơn Ghẹ bắt cặp và giao vĩ vào cuối mùa hè

Giao vĩ xảy ra ngay khi ghẹ cái lột xác và khi vỏ còn mềm [7,64,65]

Khi ghẹ cái đã sẵn sàng đẻ trứng thì chúng di cư đến vùng cửa sông, bãi triều có cát Trứng được phóng ra dưới nền cát; sau đó chúng được ghẹ cái gom vào phần phụ bụng dưới yếm, và được ấp ở đó Ban đầu, trứng có màu cam, dần dần chuyển sang màu xám và sau một khoảng thời gian ấu trùng sẽ nở ra và bơi vào môi trường nước

Nghiên cứu của Kumar và ctv (2003) trên loài ghẹ xanh ở vùng biển Nam Australia cho rằng những con cái sẽ đẻ trứng từ tháng mười đến tháng giêng Sức sinh sản của ghẹ tăng theo chiều rộng mai, đạt cực đại ở 134 mm và giảm khi ghẹ có kích thước lớn hơn 134 mm chiều rộng mai Sức sinh sản đạt 83,9 % khi chiều rộng mai tăng từ 105 đến 125 mm [45] Ở Việt Nam, ghẹ xanh bắt đầu tham gia sinh sản khi chiều rộng mai đạt 74,5 mm, khối lượng cơ thể là 30,4g Ghẹ càng lớn thì sức sinh sản càng cao; sức sinh sản trung bình 68.200 trứng/cá thể khi chiều rộng mai từ 70 – 75

mm và 1.025.900 trứng/cá thể khi chiều rộng mai 135 – 140 mm [7]

Trang 14

1.1.4 Vị trí phân loại

Ngành: Arthropoda Phân ngành: Crustacea Lớp: Malocostraca Bộ: Decapoda Họ: Portunidae

Giống: Portunus Loài: Portunus pelagicus Linnaeus, 1758 [89]

Hình 1.1: Hình dạng ngoài của ghẹ xanh (A: ghẹ cái, B: ghẹ đực)

1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cua ghẹ trên thế giới

1.2.1 Trùng đơn bào

Vorticella, Epistylis, Zoothamnium, Acineta là những giống ký sinh trùng thuộc

ngành trùng lông thường gặp trên trứng và ấu trùng cua xanh Một số loài ký sinh trùng của những giống này làm ảnh hưởng đến sự trao đổi khí của trứng và ấu trùng cua, điều này gây bất lợi cho trứng và ấu trùng cua khi chúng ký sinh với mật độ cao

Các loài ký sinh trùng này không làm ảnh hưởng tới tổ chức mô của ấu trùng nhưng chúng gây cản trở ấu trùng trong quá trình vận động, lột xác và lọc thức ăn [48]

Shields (1992) tìm thấy 5 loài nguyên sinh động vật trên ghẹ xanh (Portunus

pelagicus) ở Australia, trong đó 2 loài ở mang, 2 loài ở ruột và 1 loài ở máu [71] Một

loài amip (Paramoeba eilhardi) được biết đến như là loài gây ra bệnh cua xám “gray crab” trên cua xanh (Callinectes sapidus) [81] Bower và các cộng tác viên (1994) cũng xác định loài Paramoeba perniciosa gây ra bệnh cua xám trên các loài

Callinectes sapidus, Cancer irrotatus, Carcinus maenas và Homarus americanus Loài Paramoeba perniciosa này xâm nhập vào mô liên kết ở ruột giữa, tuyến râu, cơ quan

Y, và vi huyết quản ở mang cua Sự thay đổi bệnh lý gây ra bởi một lượng lớn amip:

Trang 15

sự chuyển mô, sự tiêu biến hồng cầu và làm giảm đáng kể hàm lượng protein và đường Biểu hiện của bệnh là bụng cua có màu xám, hoạt động chậm chạp, giảm hoặc không đông máu và tỷ lệ tử vong cao đối với cua mới lột [13]

Loài Paranophrys sp thuộc ngành trùng lông đã được tìm thấy ký sinh trên cua

Cancer magister, chúng xâm nhập vào cơ thể cua con theo các vết thương Nhờ hoạt

động của hệ tuần hoàn cua, chúng nhân lên với mật độ cao và phát tán khắp các tổ chức

của cơ thể vật chủ, gây thoái hóa và hoại tử cơ làm cho cua chết [20] Loài Mesanophrys

sp có ký chủ là Carcinus maenas, Cancer pagurus, Cancer magister cũng xâm nhập và phát triển tương tự như Paranophrys sp Khi bị nhiễm nặng chúng làm cho ký chủ yếu

ớt, cơ thể bị lật ngược và mô cơ tim bị hoại tử [13]

Hematodinium là giống ký sinh trùng thuộc ngành trùng roi ký sinh ở bộ giáp

xác 10 chân Chúng phát triển nhanh chóng và rộng khắp trong máu của cua và tôm,

và kết quả thường gây chết vật chủ Một loài trong giống này là Hematodinium perezi

đã được mô tả từ các mẫu ký sinh trên loài cua Carcinus maenas ở Pháp Trên vùng biển phía đông của Mỹ, Hematodinium sp ký sinh trên loài cua xanh (Callinectes

sapidus), cua đá (Cancer irroratus, C borealis và Ovalipes ocellatus) [52, 61, 86]

Một loài khác, giống như Hematodinium được tìm thấy trên cua Tanner Chionoecetes

bairdi và C opilio ở Alaska và đông Canada [49, 57] Ở vùng biển phía đông của Australia một loài liên quan đến loài trùng roi cũng ký sinh trên loài ghẹ xanh

(Portunus pelagicus), cua xanh (Scylla serrata) và một loài cua sống ở san hô (Trapezia aerolata) Hematodinium sp cũng đã được thấy ký sinh trên loài tôm NaUy (Nephrops norvegicus) [43, 71]

Mặt khác, giống Hematodinium được biết đến như tác nhân gây ra bệnh cua

đắng (bitter crab diseases) Thịt cua có vị đắng do quá trình biến đổi sinh lý mãn tính của vật chủ với ký sinh trùng [56] Bower và các cộng sự (1994) đã xác định bệnh cua

đắng do Hematodinium sp trên 2 loài cua Chionoecetes bairdi và Chinoecetes opilio ở Đông nam Alaska, Mỹ và biển Bering Loài Hematodinium sp xâm nhập vào máu, thịt

của cua, làm các chân càng và phần miệng rủ lại; cua bị bệnh nặng thì vỏ ngực và bụng

có phấn màu trắng, tế bào lympho vón cục, tế bào hồng cầu bị rỗng hoặc chứa đầy tế

bào trùng roi không di động [13] Shields và Squyars (1998) đã cảm nhiễm

Hematodinium perezi (103 hoặc 105

tế bào) lên cua xanh (Callinectes sapidus) Kết quả

cho thấy cua bắt đầu chết sau 14 ngày gây nhiễm, trung bình là 30,3 ngày Tỷ lệ cua

Trang 16

cảm nhiễm chết là hơn 86,0%; cua cảm nhiễm với Hematodinium perezi có mật độ tế

bào máu giảm nhanh chóng (48%) sau 3 ngày; ký sinh trùng trong máu tăng từ khoảng 30% sau 14 ngày, lên 60% sau 21 ngày đến 100% sau 35 ngày [73]

Theo Messick và Shields (2000), loài trùng roi Hematodinium sp ký sinh phổ biến ở cua xanh (Callinectes sapidus) gây tỷ lệ tử vong khá cao, không phân biệt kích

thước, giai đoạn lột xác hay đực cái Bọn ký sinh trùng này phân bố rộng khắp vùng bờ biển Đại Tây Dương của nước Mỹ, nơi có độ mặn từ 26 – 30‰ nhưng không thấy sự

xuất hiện của Hematodinium sp ở nơi có độ mặn nhỏ hơn 11‰ [55]

Microspora (tiểu bào tử) là một ngành chứa các loài ký sinh nội bào mà sản sinh ra những đơn bào nhỏ (thường < 6 µm) với một vách không thủng Các bào tử này thiếu ty thể nhưng chứa một chất bào tử và bộ máy ấp trứng, bao gồm một ống rỗng để tiêm chất bào tử vào trong tế bào vật chủ Trong các loài của nhiều giống bào

tử, bao gồm cả Pleistophora và Thelohania ký sinh trên cua, bào tử phát triển bên trong một cấu trúc màng gọi là túi bào tử Ameson là một giống mà các bào tử không phát triển trong một túi Những cua bị nhiễm bởi Ameson michaelis ở vịnh Chesapeake

và Louisiana được xem là cua có bệnh hoặc gọi là “Bệnh cua bông” (cotton crab disease)

Trong thí nghiệm trên cua bị bệnh, rõ ràng chúng suy yếu bởi tác nhân gây bệnh với một

số cua chết nhưng trong môi trường tự nhiên các cá thể bị bệnh có vẻ rất khỏe mạnh Các sợi actin và myosin của tế bào vật chủ bị tách rời với sự hiện diện của các bào tử Các cơ

bị nhiễm xuất hiện phết trắng qua các khớp của phần phụ, và phần bụng có thể xuất hiện màu xám [74]

Ký sinh trùng đơn bào Haplosporidium sp thuộc ngành bào tử trùng cũng đã được tìm thấy trên cua Carcinus maenas ở Châu Âu Đây là loài ký sinh trong các mô tạo máu

và mô liên kết Chúng được tìm thấy nhiều trong ẩn bào, mô liên kết và mô cơ trong nhân

tế bào vật chủ; khi ở dạng tự do chúng được tìm thấy trong tất cả các khoảng trống của mô máu cua [78]

1.2.2 Giáp xác chân tơ (Rhizocephalan)

Rhizocephalan có khả năng làm mất khả năng sinh sản trên Bộ mười chân, bằng việc làm thay đổi chức năng của hóc – môn và là nguyên nhân của sự phát triển bất

thường trên vật chủ [19] Một số giống giáp xác chân tơ như: Lernaeodiscus,

Sacculina, Loxothylacus, Thompsonia và Briarosaccus thuộc họ Sacculinidae thường

ký sinh trên bộ mười chân Trong đó, 8 loài của Rhizocephalan thuộc 2 giống đã được

Trang 17

tìm thấy trên 16 loài cua Brachyuran ở Đài Loan [42] Ba loài giáp xác chân tơ

(Thompsonia littoralis, T pilodiae và Sacculina granifera) được tìm thấy trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus) ở Singapore và Úc [33, 84] Benny (2004) có ghi nhận đầu tiên về loài Sacculina scabra trên loài ghẹ Charybdis truncate ở Hồng Kông [11] Ở Việt Nam, cũng có 3 loài giáp xác chân tơ (Thylacoplethuss quillae, Pottsia serenei và

Diplothylacus sinensis) được ghi nhận trên ghẹ ba chấm (Portunus sanguinolentus)

[49]

Ấu trùng Sacculinidae phân tính, chỉ có ấu trùng cypris cái ký sinh trên cua bằng cách bám trên lớp chitin Sau đó, cypris cái biến thái thành một kentrogon (thể hình giun) có một gai nhỏ rỗng co lại Các vermigon bên trong thể hình giun sẽ được

hệ thống rễ bên trong mô của vật chủ và hấp thu dinh dưỡng từ máu của vật chủ Hệ thống rễ phát triển cơ quan sinh sản – externa virgin, externa giống như một cấu trúc túi ngày càng tăng dưới bụng cua Túi trứng (externa) gồm vỏ, xoang túi, một buồng trứng và một đôi nang đực Ấu trùng cypris đực qua miệng của túi trứng vào nang đực hình thành tính đực Tinh trùng được sinh ra và thụ tinh cho trứng bên trong xoang túi

[11,38] Những con ghẹ Charybdis longicollis khi bị nhiễm Rhizocephalan (Heterosaccus dollfusi) thì tính hung hãn, hiếu chiến của chúng giảm nhiều so với những con không bị nhiễm [37] Externa của Briarosaccus callosus bắt đầu sinh ra ổ trứng ngay sau khi chúng xuất hiện trên cua Lithodes aequispina khi kích thước

externa vẫn còn nhỏ (9 – 15 mm) [14]

Năm 2003, Stephen và ctv đã nghiên cứu “sự ảnh hưởng của độ mặn lên các

giai đoạn ấu trùng của Loxothylacus texanus: tỷ lệ sống và biến thái với phản ứng của vật chủ, Callinectes sapidus” cho rằng: tỷ lệ sống của ấu trùng cao nhất ở độ mặn 20 –

35 ‰, ấu trùng chết 100% ở độ mặn <20‰ và >50‰ [79]

1.2.3 Giáp xác bám (Octolasmis)

Octolasmis được phân bố rộng khắp trên thế giới trong các vùng biển nhiệt đới

và ôn đới, với hầu hết sống trên bộ xương ngoài của bộ mười chân [32] Một số loài

Octolasmis đã được tìm thấy trên Portunus pelagicus, P sangguinolentis, Podopthalmus vigil, Scylla serreta, và S tranqueberiea ở Ấn Độ, Thái lan [46, 75] Ở

vịnh Mexico đại diện cho 40 họ, 75 giống và 114 loài của bộ mười chân được khảo

sát, kết quả cho thấy có 26 loài thuộc 11 họ bị nhiễm bởi 4 loài Octolasmis [25]

Trang 18

Octolasmis là những “ký sinh trùng” không gian Chúng ký sinh trên bề mặt

mang của vật chủ, làm giảm bớt không gian quanh mang cho việc trao đổi khí bình

thường [28] Theo Causey (1961), Octolasmis là một giống của loài hàu có cuống

(Cirripedia: Thoracia), thường bám trên bề mặt mang hoặc khoang mang của bộ mười chân như sinh vật hội sinh [16]

qua dòng hô hấp hít vào của cua xanh Chúng đi vào các phiến mang Khi đó, các mang đóng lại làm cho các cyprid không thể đi qua phía bên dưới của mang Các cyprid phải có khả năng bám dính tạm thời trước khi tìm một vị trí phù hợp để bám

vào mang; để chúng phát triển và trưởng thành Octolasmic muelleri không những

sống trên nhiều loài cua mà còn sống trên các kích cỡ cua khác nhau Cua chưa trưởng thành thì sự lột xác diễn ra thường xuyên và các con hàu sẽ bị loại ra cùng với vỏ lột

của cua trước khi chúng trưởng thành; khi ở bên ngoài vật chủ thì O muelleri có thể bị chết Vì vậy để hoàn thiện được vòng đời, Octolasmis thường bám vào những cua

trưởng thành và duy trì sự đa dạng của chúng trên một con cua bao gồm các cá thể khác nhau từ ấu trùng đến trưởng thành

Octoclasmis lọc thức ăn là các hạt vật chất trong dòng hô hấp của vật chủ Hàu

không nhận chất dinh dưỡng trực tiếp từ cua và không gây hại cho vật chủ của nó theo

cách này [82] Gannon (1990) đã khảo sát sự phân bố của Octolasmis muelleri trên mang loài cua xanh (Callinectes sapidus) Tỷ lệ nhiễm hàng tháng dao động từ 17%

đến 67% không ảnh hưởng theo mùa rõ rệt Cường độ nhiễm trung bình trên cua là 21,8 trùng/cua và cá thể cua bị nhiễm nhiều nhất là 432 con Những con hàu (barnacle) được tìm thấy nhiều nhất trên các phiến mang ở vị trí 3, 4, 5 và 6 của cua Chúng có thể gây hại cho vật chủ ở những vị trí mà chúng chọn [35]

Gaddes và Sumpton (2004) có khảo sát sự phân bố của loài hàu ký sinh ngoài

trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus) ở khu vực vịnh Moreton, Australia Trong tổng số

952 con ghẹ được kiểm tra sự hiện diện của sinh vật ký sinh ngoài trên mang và mai,

92% ghẹ bị nhiễm với Octolasmis spp Trung bình có 2,35 con hàu (O warwickii) ở mai và 71,1 con hàu (chủ yếu là O angulata) ở khoang mang Sự gây nhiễm của

những con hàu có sự khác biệt đáng kể theo mùa, khu vực và giới tính với các độ sâu khác nhau Tỷ lệ nhiễm cao nhất được tìm thấy trên bề mặt của các phiến mang 3, 4 và

5 [34]

Trang 19

Những Octolasmis trưởng thành thường được tìm thấy ở cua và tôm hùm

Octolasmis warwickii luôn ký sinh bên ngoài mai, râu và các phần phụ vận động Một

loài khác, Octolasmis triens thường bám bên ngoài miệng, dọc bên trong lề mai, trên

các chân và dọc động mạch mang của tôm hùm Ở cua, chúng thường bám bên trong

khoang mang Một số loài khác như O angulata, O bullata, O lowei và O neptuni

luôn luôn được tìm thấy bên trong các khoang mang của cua và tôm hùm [29]

Vòng đời của Octolasmis bao gồm 6 giai đoạn ấu trùng naupli, 1 giai đoạn ấu

trùng cyprid và con trưởng thành không cuống Theo Jerries và Voris (1996), những con hàu trưởng thành sống được quan sát trong tự nhiên và trong phòng thí nghiệm – với những tấm đá vôi trắng, cơ thể màu nhạt và hoạt động không ngừng Giải phẫu một con hàu thấy có cả con đực và con cái trên cùng một cá thể Các khối trứng liên tiếp được chuyển vào các khoang ở đầu Một vài ngày sau, trứng phát triển thành ấu trùng; ấu trùng bơi lội tự do ở khoang đầu và nhập vào môi trường ngoài thông qua

N1 rất khó nhìn thấy bằng mắt thường và hình thái của chúng không giống với con trưởng thành [29]

Trong vòng 24 giờ sau khi nở, ấu trùng lột xác lần đầu tiên (chủ yếu ăn tảo) và chuyển sang giai đoạn N2 Sau đó, mỗi naupli lần lượt lột xác để trở thành N3, N4, N5

và N6, ở Octolasmis cor mất khoảng 2 ngày cho mỗi giai đoạn Qua mỗi giai đoạn thì

chúng lớn hơn, phức tạp hơn và hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước đó nhằm hỗ trợ cho những hoạt động cần thiết, bơi lội và háo ăn Nauplius 6 là giai đoạn cuối để ấu trùng ăn, kéo dài khoảng 9 ngày, trước khi chúng lột xác chuyển sang giai đoạn ấu trùng cyprid không ăn Giai đoạn cyprip sống tự do trong môi trường nước trước khi

chúng tìm một vị trí phù hợp và bám vào cua Một số loài Octolasmis, các ấu trùng

cyprid ngưng ký sinh trên vật chủ cho đến khi cua đã lột xác hoàn toàn chúng mới bám vào [28,29]

William & ctv (1982) [27] điều tra 56 loài giáp xác thuộc bộ mười chân ở

Singapore, đã phát hiện 26 loài giáp xác nhiễm với 10 loài Octolasmis (Octolasmis

angulata, O bullata, O cor, O lowei, O neptuni, O triens, O warwickii và ba loài

chưa được đặt tên) Trong 10 loài Octolasmis nói trên, có 1 loài thường ký sinh bên ngoài cơ thể và 9 loài thường ký sinh trong khoang mang của giáp xác Octolasmis chỉ xuất hiện ở một vài loài vật chủ Octolasmis thường ký sinh phía bên trong mang nhiều

Trang 20

hơn phía ngoài mang của vật chủ Chúng phân bố không đều ở phần đầu, phần giữa và phần sau của mang

Santos và Bueno (2002) đã nghiên cứu sự gây nhiễm của Octolasmis lowei lên các khoang mang của hai loài cua Callinectes danae và Callinectes ornastus (Decapoda:

Portunidae) ở Brazil Trên cua C danae, tỷ lệ và cường độ nhiễm trung bình không có

sự khác biệt đáng kể giữa con đực và con cái Sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ nhiễm giữa con trưởng thành và chưa trưởng thành, giữa con cái trưởng thành ôm trứng và không ôm trứng và giữa các giai đoạn lột xác khác nhau Không có sự tương quan giữa

tỷ lệ nhiễm O lewei với kích thước cua Ở cua C ornatus, tỷ lệ nhiễm không có sự khác

biệt đáng kể giữa các giai đoạn lột xác nhưng tỷ lệ nhiễm có sự khác biệt đáng kể giữa cua chưa trưởng thành và trưởng thành [70]

Ảnh hưởng của việc nhiễm Octolasmis lewei lên quá trình trao đổi khí trên cua xanh (Callinectess sapidus) đã được đánh giá bằng cách so sánh các thông số hô hấp

giữa cua bị nhiễm với cua không bị nhiễm Cua bị nhiễm duy trì sự hấp thụ oxy cùng mức với cua đối chứng (28 µmol/kg/min); tuy nhiên, nhịp tim và tỷ lệ quạt nước của cua bị nhiễm tăng tương ứng là 1,4 lần và 1,8 lần Cua bị nhiễm nặng không có sự

mmol/l) Điều này cho thấy cua có thể bù đắp lượng khí hao hụt do hàu ký sinh thông qua việc tăng cường hô hấp của cua Tuy nhiên, cua vừa bị nhiễm biểu hiện độ pH

Những giá trị này tương tự như những cua xanh trong quá trình thí nghiệm Việc bù đắp đạt được bằng cách cua gia tăng thể tích nước lưu thông qua mang (1,7 lần) và cung lượng tim (1,4 lần); đồng thời cua cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự cung cấp oxy vào các mô để việc bù đắp được đầy đủ hơn Những cua bị nhiễm nặng (>20 sinh vật hội sinh ngoài) thể hiện sự bù đắp cho sự hiện diện của Barnacle, cua bị nhiễm (>50 sinh vật hội sinh ngoài) đã không sống sót trong thí nghiệm Bởi vì mức độ nhiễm trung bình của cua ngoài tự nhiên thấp nên các Barnacle không phải là mối đe dạo nghiêm trọng đối với quần thể cua xanh [36]

Ngoài ra, một loài ký sinh trùng copepod như Choniospharea indica và

Choniophaera cancrorum được biết đến như loài ăn trứng trên một số loài cua Neptunus sp và một số loài cua xanh [31,39]

Trang 21

1.2.4 Giun (Nemertean)

Nemertean của giống Carcinonemertes là sinh vật cộng sinh chuyên biệt trên

giáp xác bộ mười chân (Kollier, 1845) Humes (1942) người đầu tiên có những mô tả

toàn diện về sinh học của một trong những loài Carcinonemertes (Carcinonemertes

carcinophila) trên loài cua xanh (Callinectes sapidus) [41]

Một vài loài của Carcinonemertes được thừa nhận là động vật ăn trứng của vật chủ Thói quen dinh dưỡng này dường như là đặc trưng của giống Carcinonemertes

[47,85] Nhiều loài cua đã được ghi nhận là vật chủ của Nemertean: 7 loài thuộc

Brachyura bị nhiễm với Carcinonemertes immiuta, một số loài thuộc Portunus bị nhiễm bởi Carcinonemertes mitsukurri [41] Shields và ctv (1989) đã có mô tả về loài

C regicides, một sinh vật cộng sinh ăn trứng trên loài cua đỏ Paralithodes camtschatica ở Alaska [76]

Những phân tích về sự phân bố và đa dạng của Carcinonemertes epialti liên quan đến lột xác và sinh sản của cua Hemigrapsus orgonensis được báo cáo bởi Kuris

(1978) [47] Sadeghian và Kuris (2001) khảo sát sự phân bố và đa dạng của loài giun

ăn trứng Carcinonemertes sp trên loài cua tím (Randallia ornata) Những con giun

tìm được có kích thước khoảng 10 mm chiều dài Tỷ lệ nhiễm tổng cộng là 70% (85%

trên cua cái ôm trứng, 67% trên cua cái sau khi ôm trứng và 45% trên cua đực) Giun trưởng thành được tìm thấy trên khối trứng cua, giun trưởng thành thoái hóa nằm dưới phần bụng của cua cái sau khi ôm trứng và những nang ấu niên được tìm thấy trên cua

cái chưa trưởng thành và cua đực [68] Tỷ lệ nhiễm của Carcinonemertes errans trên cua Dungeness (Caner magister) ở cửa sông thấp hơn đáng kể so với cua ở vùng khơi;

tỷ lệ nhiễm trung bình ở cửa sông và vùng khơi tương ứng là 6% và 79% [53] Santos

và Bueno (2001) khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm của Carcinonemertes carcinophila

imminuta trên mang của 2 loài cua Callinectes danae và callinectes ornatus ở Brazil

cho rằng có sự khác nhau có ý nghĩa về tỷ lệ nhiễm giữa cua đực và cua cái, giữa cua chưa trưởng thành và cua trưởng thành, và giữa cua ôm trứng và không ôm trứng trên

cua C danae [69]

Vòng đời của Carcinonemertes epialti được mô tả bởi Kuris (1978) [47] trên loài cua Hemigrapsus orgonensi: khi cua cái bắt đầu đẻ trứng là dấu hiệu bắt đầu pha sinh sản trong chu kỳ sống của Carcinonemertes Những nang ấu niên trên khu vực

tách biệt của bộ xương ngoài, từ bên ngoài khối trứng của vật chủ và di chuyển đến

Trang 22

phần phụ bụng hoặc bề mặt xương ức của ngực và bụng Ở đây mỗi cá thể xây dựng

và sinh sống trong một ống nhầy riêng nhưng thỉnh thoảng, giun đực và giun cái được tìm thấy trong cùng một ống nhầy lớn Giun cái ôm trứng thường đẻ trứng sau ống nhầy của chúng Thời gian phát triển phôi mất khoảng 8 ngày Trứng giun sẽ nở trong

25 ngày tiếp theo cho đến khi trứng của cua nở Sự tăng trưởng của giun trên khối trứng cua khá nhanh chóng Chiều dài trung bình của ấu niên là 1mm, những giun cái phát triển đến một kích thước trưởng thành trung bình là 3,9 mm sau 24 - 30 ngày khi vật chủ ôm trứng; con đực phát triển chậm hơn, đạt chiều dài trung bình 2,5 mm sau

18 – 24 ngày khi cua ôm trứng

về các vị trí khác nhau trên cua Đến thời gian Zoae nở, trung bình chiều dài của những con giun cái là 2,8 mm và giun đực là 1,6 mm Kích thước trung bình của tất cả các con giun trên trứng cua là 2,5 mm sau 30 ngày khi cua đẻ và sau đó giảm đến 1,4

mm trong thời gian cua nở

Khi trứng cua gần nở, các con giun sẽ ngừng phát triển Một số con sẽ di chuyển đến khoang mang của cua Ở đây chúng bao cơ thể lại, giảm kích thước và không sinh sản Chẳng bao lâu sẽ không thể phân biệt chúng với các con giun chưa trưởng thành Một số con giun có thể bị chết nếu chúng không rời khỏi khối trứng Khi kiểm tra ruột của những con giun dưới kính hiển vi, trứng cua dường như là nguồn dinh dưỡng duy nhất của những con giun trưởng thành Những con giun chưa trưởng thành có ruột rỗng

Một số loài giun khác, ấu trùng và ấu niên giun sẽ tiếp cận với những con cua cái tiền ôm trứng Các vị trí cư ngụ bởi ấu niên trên cua tương tự như việc cư ngụ của những ấu niên trên cua không ôm trứng Tuy nhiên, một ngày hoặc hai ngày sau khi cua chưa ôm trứng đẻ, thì hầu như tất cả các ấu niên của giun sẽ bao bọc cơ thể chúng

và di chuyển đến các vùng lân cận của khối trứng của vật chủ Ở đây chúng bắt đầu giai đoạn phát triển nhanh chóng, phân biệt về giới tính và phân biệt giun trưởng thành Giao phối giữa chúng có thể xảy ra khi giun đực nhập vào vỏ nhầy của con cái

[47] Một trường hợp ngoại lệ của loài Carcinonemertes đã được Roe (1986) ghi nhận

Công trình này cho biết loài Carcinonemertes epialti có thể sinh sản đơn tính Đây là báo cáo đầu tiên ghi nhận về trường hợp sinh sản đơn tính trên loài C epialti [67]

Trang 23

Tỷ lệ tử vong các giai đoạn phát triển phôi của cua biến đổi theo giai đoạn Roe

(1984) cho rằng những con giun Carcinonemertes epilti có thể ăn trứng ở tất cả các giai đoạn phát triển phôi của cua Hemigrapsus orgonensi Nghiên cứu của Roe và thí

nghiệm của Okazaki (1986) trong môi trường phòng thí nghiệm của loài

Carcinonemertes errans trên cua Cancer magister cho thấy những trứng mới đẻ thì

chúng dễ dàng bị ăn hơn so với những trứng đã phát triển đầy đủ đến gần nở Một con giun trưởng thành có thể ăn 4,9 – 7,1 trứng/ngày [63,66] Cách mà loài

Carcinonemertes ăn trứng cua là đặc trưng của thể hút Chúng sử dụng một gai nhọn

để thâm nhập vào màng trứng; sau đó, ruột trước được chèn vào trứng; một lực hút khá mạnh được tạo ra để di chuyển vật chất trong khối trứng vào ruột [66]

Okazaki (1983) có phân tích về tỷ lệ tử vong trứng do Carcinonemertes errans trên phần phụ bụng thứ hai bên trái của 37 con cua Cancer magister, kết quả cho thấy

tỷ lệ tử vong của trứng cua luôn luôn nặng nhất ở trung tâm của phần phụ bụng, trung bình mất 42% trứng Trong khi phía đầu phần phụ là 26% và phía sau là 27% trứng bị mất [62]

1.3 Những nghiên cứu về bệnh cua, ghẹ ở Việt nam

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bệnh cũng như ký sinh trùng trên cua, ghẹ chỉ mới bắt đầu trong vài chục năm trở lại đây

Theo Bùi Quang Tề và ctv (1997) thì thời gian 1993 - 1994 cua nuôi thương phẩm

tại Hải Phòng thường bị nhiễm một số bệnh như: bệnh run chân, bệnh cua sữa và bệnh hoa mu vào mùa hè khi thời tiết nắng nóng kéo dài và sau đó là mưa rào [6] Ngoài ra, Phan Hồng Dũng và ctv [1] cũng đã thông báo bệnh đen mang, bệnh phồng mang, bệnh chậm lớn, bệnh rong bám, bệnh vỏ, bệnh khó lột xác … là các bệnh thường gặp trên cua nuôi lồng ở Hải Phòng

Theo Hoàng Đức Đạt (2000) thì cua nuôi ở giai đoạn Zoea thường bị bệnh trùng loa kèn và bệnh phát sáng Tác nhân gây bệnh là Zoothanium, Epistylis (bệnh trùng loa kèn) và V parahaemolyticus (bệnh phát sáng) Tác giả đưa ra phương pháp trị bệnh bằng

thể sử dụng kháng sinh như: Chloramphinicol 1 – 3 ppm kết hợp với Oxytetracyclin, Bactrim, Erythromycine trong 3 ngày liên tục để trị bệnh phát sáng, nhưng hiệu quả không ổn định [4]

Lê Văn Yến & ctv [8] đã điều tra một số bệnh thường gặp trên cua cho thấy đối

Trang 24

với sinh sản nhân tạo cua giống thường gặp các bệnh như:

+ Bệnh phát sáng, bệnh “Nấm đỏ” (cách gọi tên bệnh của người sản xuất giống), bệnh do nguyên sinh động vật như trùng loa kèn

+ Bệnh giun ký sinh ở giai đoạn phát triển của phôi cua (giai đoạn cua ôm trứng)

đã xuất hiện làm giảm tỷ lệ nở và chất lượng ấu trùng

Đối với cua nuôi thương phẩm đã xuất hiện một số hiện tượng bệnh lý như:

+ Cua thường bị đen mang, ăn kém, chết rải rác, hay gặp ở cua 200gr/con

+ Cua bị bám rong, bẩn trên khắp cơ thể, khó lột xác, chậm lớn, xốp cua

+ Các chân cua rũ xuống, có nhiều dịch nhớt màu trắng sữa chảy ra từ cơ thể

+ Toàn bộ phần bụng cua có màu trắng phấn, kém ăn, chết rải rác, thường xuất hiện vào đầu mùa xuân, khoảng tháng 2 - 3

Từ đó, đề tài đã khảo sát thành phần vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng trên mẫu cua

ghẹ Kết quả ký sinh trùng tìm được trên 2 loài cua bùn (Scylla serrata, Scylla

paramamosain) là 4 loài protozoa (Zoothamnium sp.,Vorticella sp., Epistylis sp và Hematodinum sp.), 2 loài giáp xác (Octolasmis sp và Sacculina sp.), 1 loài hàu và 1 loài

giun Và trên loài ghẹ xanh (Portunus pelagicus) tìm được 2 loài protozoa (Epistylis sp.,

Zoothamnium sp.), 2 loài giáp xác bám (Octolasmis sp và Octolasmis warwickii) Nhưng

đề tài chỉ ghi nhận về thành phần loài ký sinh trùng trên các mẫu bệnh mà chưa có đánh giá về tỷ lệ và cường độ nhiễm của các nhóm trên ghẹ

Trang 25

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 1 năm 2012 Địa điểm: Mẫu ghẹ còn sống được thu từ các ngư dân đánh bắt bằng lưới ở Vịnh

Nha Trang – Khánh Hòa Mẫu được vận chuyển về Phòng Sinh học thực nghiệm của Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III để phân tích Ghẹ được đựng trong thùng xốp có nước biển lọc sạch và sục khí Mỗi tháng sẽ thu khoảng 30 con ghẹ để nhiên cứu, việc nghiên cứu ký sinh trùng được thực hiện ngay trong ngày thu mẫu (3 – 6 con/ngày)

Đối tượng nghiên cứu: Thành phần giống loài nội - ngoại ký sinh trùng ký sinh

trên ghẹ (Portunus pelagicus)

2.2 Mẫu ghẹ nghiên cứu

Tổng số có 159 mẫu ghẹ được kiểm tra Khối lượng và chiều rộng mai của ghẹ được thể hiện trong Bảng 2.1

Bảng 2.1 Kích thước và số lượng ghẹ nghiên cứu

mẫu (con)

Kích thước trung bình/Min – Max

P pelagicus

65 - 300

12,21 ± 1,32 8,2 – 15,4

70 - 290

12,12 ± 1,19 9,5 – 15,5

65 - 300

12,31 ± 1,44 8,2 – 15,4

2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Trang 26

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu 2.4.1 Dụng cụ

Kính hiển vi, kính soi nổi, lam kính, lamen, dao giải phẫu, kéo, panh kẹp, hộp lồng, kim giải phẫu, cốc thủy tinh, đèn cồn, pipet hút, khay đựng mẫu, cân, thước đo,… Nước muối sinh lý, nước biển sạch, nước cất, cồn, formol, hematoxylin, nhựa canada, acid acetic, lactophenol, …

2.4.2 Xử lý mẫu

Trước khi kiểm tra và thu thập ký sinh trùng, cần ghi đầy đủ các thông tin:

ngày, tháng, năm, địa điểm thu mẫu

Mẫu ghẹ nghiên cứu

Làm tiêu bản Thu thập, cố định và bảo quản mẫu

Kiểm tra các cơ quan bên ngoài (mai,

càng, chân, antel,…)

Kiểm tra các cơ quan bên trong (mang, dạ dày, tim,…) Xác định khối lượng và CW

Trang 27

Xác định khối lượng ghẹ bằng cân có độ chính xác 0,1 gram; đo chiều rộng mai bằng thước kẹp có độ chính xác 1mm

2.4.3 Các bước tiến hành

Đặt ghẹ lên đĩa Petri có chứa nước biển Xem xét cẩn thận ký sinh trùng và sinh vật cộng sinh ở bên ngoài cơ thể bằng mắt thường và dưới kính giải phẩu Khi phát hiện thấy động vật ký sinh (ĐVKS) thì tiến hành tách chúng ra dưới kính giải phẩu, đặt lên lam rồi quan sát ở các độ phóng đại lớn hơn để thấy rõ hơn các bộ phận của ĐVKS Cuối cùng xác định cường độ nhiễm, chụp hình, vẽ, đo và cố định mẫu

Dùng xilanh lấy máu của ghẹ (ở gốc chân bò thứ năm) dàn đều lên lam kính

Đem quan sát dưới kính hiển vi với các độ phóng đại khác nhau (10x4, 10x10, 10x40, 10x100 lần) để kiểm tra phát hiện ký sinh trùng Ở máu ghẹ có thể bắt gặp một số

giống ĐVKS: Ameson, Hematodinium, levinseniella Nếu phát hiện ĐVKS thì thu

mẫu, làm sạch mẫu, chụp hình, đo, vẽ,… để tiến hành phân loại

Tiếp theo dùng kéo cắt yếm ghẹ cho vào hộp lồng có chứa nước biển Tách phần phụ bụng và khối trứng đối với những con ghẹ ôm trứng, và kiểm tra dưới kính sôi nổi Khi phát hiện ĐVKS dùng kim giải phẩu tách chúng ra, dùng pipet hút ĐVKS cho vào lam kính xem tươi dưới kính hiển vi; tiến hành chụp hình, vẽ, đo kích thước

và cố định mẫu

Cắt các phần của miệng ghẹ cho vào hộp lồng chứa nước biển và quan sát dưới kính sôi nổi Khi phát hiện ĐVKS thì tách chúng ra, cho vào lam và quan sát các bộ phận của chúng dưới kính hiển vi Chụp hình, vẽ, đo kích thước để tìm khóa phân loại ĐVKS

Tháo mai, cắt mang cho vào các hộp lồng chứa nước biển và kiểm tra dưới kính sôi nổi Lấy những mảnh nhỏ của mang đặt trên lam và kiểm tra dưới kính hiển vi Khi phát hiện có ĐVKS, cắt các tơ mang có trùng cho vào hộp lồng khác, dùng chui nhọn tách trùng đưa lên lam kính, đậy lamen lên và quan sát dưới kính hiển vi với các độ phóng đại khác nhau

Dùng gắp tách tim cho vào lam, ép tim ở giữa hai lam và kiểm tra dưới kính hiển vi

Tách dạ dày → cắt chúng ra từ thực quản → đặt trên đĩa petri có chứa nước biển → kiểm tra dưới kính lúp và kính hiển vi

Ép tuyến sinh dục ở giữa hai miếng lam và kiểm tra dưới kính hiển vi

Trang 28

Cắt ruột theo chiều dọc bằng kéo nhỏ, ép nhẹ giữa hai lam kính

Đặt gan tụy lên đĩa petri lớn và ép phẳng bằng đĩa petri nhỏ lên trên

Lấy mô cơ từ càng ra và ép lại giữa hai tấm kính

nổi và kính hiển vi Khi phát hiện trùng thì tách chúng ra cho vào nước muối sinh lý

Tiếp theo cho trùng lên lam kính, đậy lamen và quan sát dưới kính hiển vi với các độ phóng đại từ nhỏ đến lớn Có thể phân loại trùng qua mẫu tươi hoặc nhuộm trùng để quan sát các bộ phận bên trong dễ dàng hơn

2.4.4 Chuẩn bị và cố định

Nhóm trùng lông (Ciliate) được quan sát trong môi trường sống bằng kính hiển

vi và sau đó cố định trong dung dịch formaldehyde 4%

Giun tròn (Nematodes) được di chuyển ra từ pipet và gắn kết (mẫu được đặt lên lam kính, thêm một ít Vaseline vào 4 góc của lamen, ép nhẹ mặt lamen có Vaseline lên lam kính nơi có mẫu vật) Đầu tiên, giun tròn được xử lý với dung dịch Berland (Glacial acetic acid – GAA) hoặc dung dịch Berland trộn với thuốc nhuộm đỏ DYLON của Mexico (0,1 g/lít) để ngăn chúng cuộn lại Sau đó, Lactophenol sẽ được thêm vào làm cho mẫu vật trong suốt để có thể nhìn cấu trúc bên trong Sau đó đưa lên kính hiển vi để quan sát và vẽ hình dạng cơ thể cùng các cơ quan bên trong [12]

Giun nhiều tơ, giun ít tơ và copedods được cố định trong Lactophenol Động vật thân mềm 2 mảnh vỏ và hàu được cố định trong Formaldehyde 4% (Berland, 2005) [12]

Các sinh vật được quan sát dưới kính hiển vi với ống kính bản vẽ kèm theo (Camera Lucida) để vẽ các mẫu vật, hình ảnh được chụp với máy ảnh Sony Cyber – shot

Nhuộm và làm tiêu bản:

+/ Động vật đơn bào: Lấy lam có trùng xếp một lượt vào hộp lồng lớn,

10 phút Sau đó rửa nước sạch nhiều lần và ngâm lam trong nước ngập sâu khoảng 1,0

- 1,5 cm, phơi dưới ánh nắng mặt trời trong thời gian 30 - 60 phút Rửa nước cất nhiều lần, để khô Kiểm tra trên kính hiển vi, chọn tiêu bản đẹp, gắn tiêu bản bằng Canada balsam Dán etyket, ghi nhãn đầy đủ

Trang 29

+/ Sán lá đơn chủ: Tách sán cẩn thận ra khỏi nơi ký sinh, rửa sạch bằng nước muối sinh lý, đưa lên lam kính, nhỏ một giọt Glacial acetic acid lên cơ thể sán, làm khô, sau đó gắn tiêu bản bằng Canada balsam Dán etyket, ghi nhãn đầy đủ

+/ Sán lá song chủ: Đặt trùng lên lam kính sạch, nhỏ vài giọt acid acetic đậm đặc lên trùng và để trong thời gian 5 - 10 phút (tùy theo kích thước trùng) Hoặc

phút Sau đó, dùng giấy thấm lau sạch những phần xung quanh Nhỏ 1 giọt carmin lên trùng và để trong khoảng thời gian 5 - 10 phút Trong quá trình nhuộm thường xuyên quan sát dưới kính hiển vi, nếu thấy trùng bắt màu vừa đạt thì dùng nước cất rửa sạch mẫu Gắn tiêu bản bằng nhựa Canada balsam Dán etyket, ghi nhãn đầy đủ

Đối với KST có kích thước lớn như giun tròn, giáp xác, đếm toàn bộ số KST trên ghẹ:

Số liệu được phân tích và xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học dùng phần mềm Microsoft Excel Các số liệu được thể hiện dưới dạng trung bình ± SD (độ lệch chuẩn)

So sánh mức độ cảm nhiễm bằng phương pháp Chi – square

So sánh cường độ cảm nhiễm bằng Mann Whitney U test

Các kết quả so sánh với mức ý nghĩa α = 0,05

Trang 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài, tỷ lệ và cường độ nhiễm KST trên ghẹ xanh (Portunus

pelagicus)

3.1.1 Thành phần giống loài ký sinh trên ghẹ xanh

Kết quả nghiên cứu ký sinh trùng từ 159 con ghẹ xanh (Portunus pelagicus) đã

tìm thấy 7 loài thuộc 5 họ và 1 loài giun dẹp chưa xác định (Bảng 3.1) Trong đó, 2

(Entoprocta), 1 loài thuộc ngành giun (Nemertea) và 3 loài thuộc ngành động vật chân khớp (Arthropoda) Shields (1992) [71] đã nghiên cứu ký sinh trùng và sinh vật cộng

sinh trên ghẹ xanh (Portunus pelagicus) ở Australia; kết quả tìm được 6 loài protozoa,

5 loài giun và 4 loài giáp xác

Trang 31

Stt Ngành Lớp Bộ Họ Giống Loài

1 Ciliophora Doflien,

1901

Oligohymenophorea Puytoracetae, 1974

Peritrichida Stein, 1859 Epistylididae Kahl,

Peritrichida Stein, 1859 Epistylididae Kahl,

2006

Poecilasmatidae Annandale, 1909

2006

Poecilasmatidae Annandale, 1909

Trang 32

3.1.2 Một số đặc điểm phân loại các loài ký sinh trùng

Trang 33

Epistylis callinectes ngắn, hình trứng thon dài, đối xứng và cuống phân đôi; với chiều

dài thân và cuống tương ứng là 35 – 64 (µm) và 21 – 30 (µm) Nhân lớn hình móng

ngựa nằm ở khoảng một phần ba thân Epistylis clampi có chiều dài thân và cuống tương ứng là 40 – 57 (µm) và 18 – 33 (µm) Cơ thể Epistylis clampi dài hơn loài E

callinectes, không đối xứng, và cuống phân đôi Hình dạng cơ thể giống như chiếc

bình, thon dài Nhân lớn hình móng ngựa ở vị trí cao hơn phân nữa thân Kích thước

của hai loài trên nhỏ hơn loài Epistylis sp đã được tìm thấy trong nghiên cứu này

Hình dạng cơ thể cũng như vị trí nhân lớn của Epistylis sp không giống với loài

Epistylis clampi và E callinectes

Theo mô tả về giống Epistylis của Jiri và Iva (1992) thì hình dạng cơ thể của loài Epistylis sp giống như loài E apiosomae và E transvaalensis, nhưng cuống của chúng không phân nhánh như các loài Epistylis khác [30] Giống Epistylis thường ký

sinh ngoài trên động vật không xương sống, trên bề mặt mang của cá nước ngọt, và trứng và ấu trùng cua xanh [30,48]

Apiosoma sp., với dãy lông mao trên vòm miệng, bên dưới là một không bào co bóp

nằm trực tiếp dưới vòm miệng và xung quanh cơ quan hình phễu Nhân lớn nằm ở phần sau của cơ thể, nó có dạng như hình trụ và thon gọn về phía dưới

Trang 34

Hình 3.2 : Hình dạng cơ thể Apiosoma sp

1: lông mao, 2: đĩa miệng, 3: không bào co bóp, 4: cơ quan hình phễu, 5: nhân nhỏ,

6: nhân lớn

Apiosoma là giống xuất hiện khá nhiều trên các loài cá nước ngọt [30] và đã có

ghi nhận loài này trên cá mú, cá chẽm ở Việt Nam [2,5] Đây có thể là ghi nhận đầu tiên về sự ký sinh của loài này trên ghẹ xanh

3.1.2.3 Loài Loxosomella sp.

Cơ quan ký sinh: mang

TLCN: 5,08 %, CĐCN: 28,86 (trùng/ghẹ)

Mô tả hình thái:

Cơ thể Loxosomella sp chia làm hai phần: phần cuống và phần đài Chiều dài cơ

Đài có chiều dài lớn hơn chiều rộng, dạng như hình oval, với 6 xúc tu Các xúc tu mở rộng để tìm thức ăn, khi gặp tác động thì các xúc tu co lại trên vòm miệng Dạ dày giống như dạng quả lê úp ngược Ở những con trưởng thành thường có một chồi mọc ra từ phần sau của đài, đây có thể là

cá thể con của Loxosomella sp

Trang 35

Hình 3.3: Loxosomella sp

a: phần đài, b: phần cuống 1: xúc tu, 2: dạ dày, 3: chồi

Dorothy và John (1965) đã tìm thấy hai loài Loxosomella macginiteorum và

Loxosomella prenanti trên loài tôm tít Pseudosquilla bigelowi [21] Nghiên cứu này là

ghi nhận đầu tiên về giống Loxosomella trên giống Portunus

3.1.2.4 Loài Carcinonemertes sp.

Cơ quan ký sinh: mang, yếm ghẹ đực, trứng ghẹ cái

TLCN: Mang của ghẹ cái và ghẹ đực (72,96%); Yếm ghẹ đực (61,25%); Trứng ghẹ cái (50,00%)

CĐCN: Mang của ghẹ cái và ghẹ đực (47,76 trùng/ghẹ); Yếm ghẹ đực (31,06 trùng/ghẹ); Trứng ghẹ cái (22,39 trùng/ghẹ)

Mô tả hình thái:

Loài giun này xuất hiện khá nhiều trên cơ thể ghẹ Những cá thể nhỏ chưa trưởng thành thường thấy trên yếm của ghẹ đực và phần cuối của mang ghẹ, với kích thước khoảng 0,70 ± 0,06 mm chiều dài Những cá thể lớn hơn thường xuất hiện ở phần giữa và đầu của mang ghẹ, cơ thể gập lại trong lớp màng nhầy Các cá thể trưởng thành nằm trên khối trứng dưới yếm ghẹ cái

Trang 36

Hình 3.4: Carcinonemertes sp

A: Hình dạng cơ thể; hình giun trên mang và trên trứng ghẹ B, C, D: Hình vẽ phần

đầu, phần thân và mấu thực quản (Stylet)

1: xoang miệng; 2: mắt đơn; 3: vòng thần kinh; 4: khoang trước; 5: mấu thực quản (stylet); 6: khoang giữa; 7: thực quản; 8: khoang sau; 9: dây thần kinh; 10: ruột

Trang 37

Cơ thể nhỏ, thon dài, hình chỉ, hình trụ tròn; chiều dài con trưởng thành khoảng 1,19 ± 0,23 cm, khi duỗi ra có thể đạt 5 – 7 cm Cơ thể không ngoằn ngoèo hoặc nhiều cuộn nhưng hình dạng thường khoanh lại để phần trước của cơ thể nằm tương đương

và tiếp xúc với phần sau (giun ở mang) Cơ thể màu gạch nhạt Đầu không tách biệt với phần bên của rảnh, không có ranh giới phân chia với thân Hai mắt đơn, một phần của mắt không đều về đường nét; đôi lúc hình lưỡi liềm, nằm hai bên xoang miệng

Thực quản ngắn và riêng biệt, mở rộng vào về phía ruột, nằm ngay sau vòng thần kinh

Ruột rộng với các khoang bên ngắn, phần sau của cơ thể ít phát triển Xoang miệng kém phát triển, không có thành tế bào cơ, chỉ đơn thuần là một màng mỏng kèm theo một ống nhỏ Khu vực stylet có thể rút lại nhưng ít nhất phải nằm phía sau vòng thần kinh; do đó khoang trước rất ngắn Chiều dài của stylet khoảng 34 – 42 µm Với chiều

dài cơ thể khoảng 1,19 cm thì Carcinonemertes sp ngắn hơn loài Carcinonemertes

carcinophila (2 – 7 cm) nhưng dài hơn loài C epialti (0,4 – 0,6 cm) Mặt khác, loài

này có stylet dài hơn loài C carcinophila và C epialti là 34 – 42 µm so với 25 – 30

µm và 5 – 8 µm [18]

Theo kết quả nghiên cứu của Sadeghian và Kuris (2001) khảo sát sự phân bố và

đa dạng của loài giun ăn trứng Carcinonemertes sp trên loài cua tím (Randallia

ornata) Những con giun tìm được có kích thước khoảng 10 mm chiều dài Tỷ lệ

nhiễm tổng cộng là 70% (85% trên cua cái ôm trứng, 67% trên cua cái sau khi ôm trứng và 45% trên cua đực) Cường độ nhiễm lên đến 32 KST/cua [68] Santos và

Bueno (2001) cho rằng tỷ lệ nhiễm Carcinonemertes carcinophila imminuta trên mang

KST/cua [69] Tỷ lệ nhiễm loài Carcinonemertes mitsukurii trên ghẹ xanh (Portunus

pelagicus) ở Vịnh Moreton, Australia là 23,9 % ở mang và trứng của ghẹ [71] Kết quả

nghiên cứu này cho thấy tỷ nhiễm tương đối cao (trên 50%) được tìm thấy trên ghẹ

Một con giun trưởng thành có thể ăn 4,9 – 7,1 trứng/ngày [63] và ăn ở tất cả các giai đoạn phát triển phôi của cua [66]; từ đó cho thấy ghẹ xanh có thể mất trung bình khoảng 920 – 1610 trứng sau 8 – 10 ngày phát triển phôi, thời gian phát triển phôi kéo dài thì tỷ lệ trứng mất nhiều hơn Với tỷ lệ trứng mất như vậy thì không đáng kể so với khối trứng của ghẹ xanh (khoảng 68,000 – 1 triệu trứng) nhưng cũng cần xem xét

Trang 38

những ảnh hưởng của chúng trên khối trứng về tỷ lệ nở và sức khỏe của ấu trùng ghẹ khi chúng ra môi trường ngoài

3.1.2.5 Loài Turbellaria (giun dẹp)

Planoceroid turbellarian trên ghẹ Portunus pelagicus với tỷ lệ nhiễm là 5,4 %, ông cho

đây là một dạng ấu trùng của ký sinh trùng [71]

Hình 3.5 : Turbellaria 1: miệng, 2: hầu, 3: điểm mắt

3.1.2.6 Loài Choniosphaera indica

Cơ quan ký sinh: trứng

TLCN: 29,41% ; CĐCN: 43,50 trùng/ghẹ

Mô tả hình thái:

Cơ thể giống như dạng hạt, hình trái xoan, phần sau của thân nhô ra phía sau dạng đuôi Cơ thể mất tất cả các phân đoạn, phần bụng nối liền với phần đầu ngực Ký sinh trùng có màu vàng nhạt và nhại với màu của trứng ghẹ Cơ thể không trong suốt

Trang 39

Ống miệng có dạng như cái tách, chúng bám chắc chắn trên trứng của ghẹ nhờ sự hỗ trợ của 2 đôi chân hàm Cấu tạo chân hàm gồm 4 đốt, đốt thứ hai dài hơn các đốt còn lại, đốt cuối cùng có một gai ngắn và một cái gai dài dạng lược Antel thứ nhất gồm 5 đốt, đốt đầu tiên có một cái gai và đốt cuối mang 4 cái gai Antel thứ 2 có 5 đốt kết hợp, đốt thứ 3 có một cái gai và đốt cuối có 2 gai thon dài, 1 cái đinh ngắn và một cái

tơ cứng dài, chắc khỏe

Cơ thể Choniosphaera indica có chiều dài là 1,04 ± 0,12 mm và chiều rộng

0,52 ± 0,09 mm Kích thước này tương đương với kích thước trên con cái trưởng thành trong nghiên cứu của Gnanamuthu (1954) là 0,8 – 1,2 mm chiều dài và chiều rộng bằng phân nửa chiều dài [39]

Loài Choniosphaera indica đã được tìm thấy trên loài cua Neptunus

sanguinolentus ở Ấn Độ [39] Tỷ lệ nhiễm Choniosphaera indica trên ghẹ xanh trong

nghiên cứu của Shields (1992) [71] là 7,3 % và Shields & Wood (1993) [72] là 2,4 %

Hai kết quả về tỷ lệ nhiễm ở trên thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu này Mặc

dù loài Choniosphaera indica được biết đến như loài ký sinh ăn trứng cua ghẹ đã lâu

nhưng mức độ gây hại cũng như khả năng ăn trứng của chúng vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Có thể đây là loài gây hại không lớn trên khối trứng của quần thể ghẹ xanh

Trang 40

Hình 3.6: Choniosphaera indica

A: Hình dạng cơ thể; B: C indica đang bám trên trứng C: Hình vẽ cơ thể và các phần

Ngày đăng: 16/08/2014, 02:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình dạng ngoài của ghẹ xanh (A: ghẹ cái, B: ghẹ đực) - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của ghẹ xanh (A: ghẹ cái, B: ghẹ đực) (Trang 14)
Bảng 2.1. Kích thước và số lượng ghẹ nghiên cứu. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Bảng 2.1. Kích thước và số lượng ghẹ nghiên cứu (Trang 25)
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 26)
Hình 3.1: Hình dạng cơ thể Epistylis sp. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.1 Hình dạng cơ thể Epistylis sp (Trang 32)
Hình 3.2 : Hình dạng cơ thể Apiosoma sp. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.2 Hình dạng cơ thể Apiosoma sp (Trang 34)
Hình 3.3: Loxosomella sp. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.3 Loxosomella sp (Trang 35)
Hình 3.4: Carcinonemertes sp. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.4 Carcinonemertes sp (Trang 36)
Hình 3.6: Choniosphaera indica. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.6 Choniosphaera indica (Trang 40)
Hình 3.7: Octolasmis warwickii. a: phần đầu; b: phần cuống. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.7 Octolasmis warwickii. a: phần đầu; b: phần cuống (Trang 42)
Hình 3.8: Hình dạng cơ thể Octolasmis sp. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.8 Hình dạng cơ thể Octolasmis sp (Trang 43)
Hình 3.9 : Thành phần loài ký sinh trên một con ghẹ. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Hình 3.9 Thành phần loài ký sinh trên một con ghẹ (Trang 44)
Bảng 3.2: Mức độ nhiễm ký sinh trùng trung bình trên ghẹ đực và ghẹ cái. - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Bảng 3.2 Mức độ nhiễm ký sinh trùng trung bình trên ghẹ đực và ghẹ cái (Trang 45)
Bảng 3.3: Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm theo điều kiện về giới tính - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm theo điều kiện về giới tính (Trang 47)
Bảng  3.3  cho  thấy  tỷ  lệ  nhiễm  trên  ghẹ  đực  có  kích  cỡ  khác  nhau  cũng  khác  nhau - Nghiên  cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (portunus pelagicus  linnaeus, 1766) tự nhiên ở  vùng biển nha trang – khánh hòa
ng 3.3 cho thấy tỷ lệ nhiễm trên ghẹ đực có kích cỡ khác nhau cũng khác nhau (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm