1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần giống loài ốc nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên

75 993 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần giống loài ốc nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Tác giả Nguyễn Phước Bảo Ngọc
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Võ Thế Dũng, Tiến Sĩ Ngô Anh Tuấn
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Luận văn
Thành phố Phú Yên
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 6,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu ...22Bảng 3.2: Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu...24 Bảng 3.3: Vị trí phân

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là kết quả nghiên cứu thật sự của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của 2 giáo viên hướng dẫn là Tiến

sĩ Võ Thế Dũng và Tiến sĩ Ngô Anh Tuấn

Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới hình thức nào trước khi trình bảo vệ

Tác giả

Nguyễn Phước Bảo Ngọc

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, cùng toàn thể qúi thầy cô đã hết lòng giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức qúi báu trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Võ Thế Dũng và TS Ngô Anh Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Lãnh Đạo Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản 3, Dự án “FIBOZOPA” đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian và vật chất cho tôi hoàn thành luận văn

Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn các Anh/Chị đang công tác tại Phòng Sinh học thực nghiệm - Viện NCNTTS 3 đã giúp đỡ tôi về trang thiết bị, cơ sở thí nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn đến Bố Mẹ, các Anh chị em đã luôn giúp đỡ, động viên và khích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Nguyễn Phước Bảo Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH vi

KÝ HIỆU VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về ốc nước ngọt 3

1.1.1 Đặc điểm chung của lớp chân bụng 3

1.1.2 Phân bố của ốc nước ngọt 5

1.1.2.1 Suối và mạch nước ngầm 5

1.1.2.2 Sông và các nhánh sông lớn 5

1.1.2.3 Các hồ lớn trên thế giới 5

1.1.2.4 Những vùng đất ngập nước 6

1.1.3 Ốc nước ngọt với sức khỏe con người 6

1.1.4 Tình hình nghiên cứu thành phần loài ốc nước ngọt 6

1.2 Tổng quan về ấu trùng cercaria 8

1.2.1 Chu kỳ phát triển chung của sán lá song chủ (Trematoda) 8

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ấu trùng cercaria trên ốc nước ngọt 10

1.2.3 Khóa định loại các nhóm cercaria của sán lá ở Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 18

2.2.1 Phương pháp thu mẫu ốc: 18

2.2.2 Phương pháp kiểm tra cercaria: 18

2.2.3 Phương pháp cảm nhiễm ấu trùng cercaria trên cá chép 19

2.2.4 Phương pháp kiểm tra metacercaria 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

3.1 Kết quả thu mẫu ốc tại hai xã An Mỹ và An Hòa 22

Trang 4

3.2 Một số đặc điểm phân loại các loài ốc thu được tại các thủy vực của hai xã An

Mỹ, An Hòa huyện Tuy An tỉnh Phú Yên 25

3.2.1 Melanoides tuberculata Muller, 1774 25

3.2.2 Sermyla tornatella Lea, 1850 25

3.2.3 Tarebia granifera Lamarck, 1822 26

3.2.4 Thiara scabra Muller, 1774 27

3.2.5 Filopaludina sumatrensis Dunker, 1852 28

3.2.6 Sinotaia lithophaga Heude, 1889 28

3.2.7 Pomacea sp 29

3.2.8 Gyraulus sp 29

3.2.9 Indoplanrbis exustus Deshayea, 1834 30

3.2.10 Bithynia sp 30

3.2.11 Lymnaea sp 31

3.3 Một số đặc điểm phân loại các loài ấu trùng cercaria thu được tại các thủy vực của hai xã An Mỹ, An Hòa, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên: 32

3.3.1 Nhóm Gymnocephalus cercaria (Cercaria 1) 33

3.3.2 Nhóm Xiphidiocercaria (Cercaria 2) 34

3.3.3 Nhóm Pleurolophocercaria (Cercaria 3) 36

3.3.4 Nhóm Monostome cercaria (Cercaria 4) 37

3.3.5 Nhóm Echinostome cercaria (Cercaria 5) 39

3.4 Thành phần loài ốc và mức độ nhiễm ấu trùng cercaria ở ốc 40

3.4.1 Biến động thành phần loài ốc qua các tháng nghiên cứu 40

3.4.2 Sự phân bố thành phần loài ốc tại các thủy vực 41

3.4 3 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng cercaria của sán song chủ trên ốc theo thủy vực 42

3.4 4 Mức độ nhiễm ấu trùng cercaria của từng loài ốc 44

3.4 5 Sự biến động tỷ lệ nhiễm cercaria ở ốc theo tháng 46

3.4.6 Kết quả cảm nhiễm ấu trùng cercaria lên cá 47

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49

Tài liệu tham khảo 50

PHỤ LỤC 60

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu 22Bảng 3.2: Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu 24 Bảng 3.3: Vị trí phân loại các giống loài cercaria được tìm thấy trong nghiên cứu này 32

Bảng 3.4: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Gymnocephalus sp và Cercaria megalura 33 Bảng 3.5: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Loxogenoides sp và Loxogenoides bicolor 35 Bảng 3.6: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan Centrocestus formosanus 37 Bảng 3.7 So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Catatropis sp .38

Bảng 3.8: Mức độ lây nhiễm của ấu trùng cercaria của từng loài ốc 44 Bảng 3.9: Mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria thuộc 2 nhóm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép .47Bảng 3.10: Mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria thuộc nhóm echinostome trên cá chép 48

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 : Cấu tạo trong của Gastropoda 3

Hình 2.1 : Bản đồ địa điểm nghiên cứu: xã Mỹ An, An Hòa huyện Tuy An 17

Hình 2.2 : Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18

Hình 2.3 : Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép 19

Hình 2.4 : Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Echinostome trên cá chép 20

Hình 3.1 : Melanoides tuberculata 25

Hình 3.2 : Sermyla tornatella .26

Hình 3.3 : Tarebia granifera 26

Hình 3.4 : Thiara scabra .27

Hình 3.5 : Filopaludina sumatrensis .28

Hình 3.6 : Sinotaia lithophaga 28

Hình 3.7 : Pomacea sp .29

Hình 3.8 : Gyraulus sp .29

Hình 3.9 : Indoplanrbis exustus 30

Hình 3.10: Bithynia sp .30

Hình 3.11: Lymnaea sp .31

Hình 3.12 : Cercaria megalura .33

Hình 3.13 : Loxogenoides bicolor .35

Hình 3.14 : Centrocestus formosanus 37

Hình 3.15 : Catatropis indicus .39

Hình 3.16 : Artyfechinostomum mehrai 41

Hình 3.17 : Thành phần loài, số lượng ốc qua các tháng thu mẫu 42

Hình 3.18 : Thành phần loài, số lượng ốc tại các thủy vực 43

Hình 3.19 : Mức độ ốc nhiễm ấu trùng cercaria tại các thủy vực 44

Hình 3.20 : Phân bố ấu trùng cercaria theo tháng 48

Hình 3.21 : Metacercaria Centrocestus formosanus 50

Hình 3.22 : Metacercaria Echinostome spp 50

Trang 8

MỞ ĐẦU

An toàn thực phẩm đã và đang trở thành một vấn đề nóng, được nói đến thường xuyên trên nhiều diễn đàn Quốc tế, khu vực và Quốc gia, trên các phương tiện thông tin đại chúng,… Trong tương lai, các vấn đề an toàn thực phẩm còn được quan tâm nhiều hơn nữa, đặc biệt các bệnh truyền qua đường ăn uống của con người như bệnh sán ký sinh trong ruột người có thể gây viêm ruột, tiêu chảy, buồn nôn và đau đầu [100] Ở các nước phát triển và đang phát triển số người bị nhiễm sán lá ngày một tăng

[18, 53, 97], ví dụ bệnh Clonorchiasis, Opisthorchiasis gây ảnh hưởng không nhỏ đến

sức khỏe con người ở nhiều nước trên thế giới Hầu hết các loài sán có giai đoạn phát triển ấu trùng trên các loài động vật thân mềm (trong đó có ốc nước ngọt) trước khi lây sang người Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu về lây nhiễm sán lá trên ốc được thực

hiện ở các khu vực khác nhau Đến nay, ở Việt Nam đã có 4 loài ốc Lymnaea viridis,

L swinhoei, Parafossarulus striatulus và Melanoides tuberculata được báo cáo là vật

chủ trung gian của sán lá lây nhiễm cho gia cầm [57] Ngoài ra, họ Viviparidae thường được con người sử dụng làm thực phẩm có tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán rất cao, ví dụ

Angulyagra polyzonata (69,31%), Cipangopaludina lecythoides (40,06%) và Sinotoia aeruginosa (54.16%) [56]

Những năm gần đây ở Việt Nam bệnh sán lá gan ngày càng phát triển và lan rộng, nhất là ở các tỉnh thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên Từ lúc bùng phát bệnh sán lá gan lớn vào năm 2006 thì hàng năm trên 80% số ca nhiễm sán lá gan lớn, 6 tháng đầu năm 2009 số ca nhiễm sán lá gan lớn có xu hướng tăng cao hơn hẳn so với các năm trước đây [1] Sự phân bố và mật độ ký chủ trung gian là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng và hình thức lây nhiễm sán song chủ [98] Bệnh thường xuất hiện ở những vùng đồng bằng, nơi có khu hệ cá nước ngọt và khu hệ ốc là những vật chủ trung gian truyền bệnh phát triển mạnh Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán ở hai

loài ốc mút (Melanoides tuberculatus) là 4,7 - 5,0%; ốc đá nhỏ xanh (Parafossarulus stritulus) là 4,6% - 4,8% Tỷ lệ nhiễm ấu trùng metacercaria sán song chủ ở cá mè trắng (Hypophthamichthys harmandii) là 44,47%, cá chép (Cyprinus carpio): 25,00%,

cá trôi (Cirrhina molitorella): 13,85%, cá rô đồng (Anabas testudineus): 32,00%, cá trắm cỏ (Ctenopharynogodon idellus): 13,33%, cá diếc (Carassius auratus): 15,63% [9]

Trang 9

Để đóng góp một phần nhỏ vào việc phòng ngừa và trị bệnh ký sinh trùng ở ốc nước ngọt và một số loài động vật thủy sản, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại

học Nha Trang cho phép thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần giống loài ốc nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã

An Mỹ, An Hòa, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên”

Nội dung đề tài:

- Nghiên cứu thành phần giống loài ốc nước ngọt phân bố tại 2 xã An Mỹ và xã

An Hòa huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

- Nghiên cứu thành phần ấu trùng cercaria của sán song chủ ký sinh trên ốc nước

ngọt tại 2 xã An Mỹ và An Hòa huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

- Nghiên cứu mức độ cảm nhiễm (tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm) của

ấu trùng sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã An Mỹ và An Hòa, huyện Tuy

Ý nghĩa của đề tài:

Nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng là ấu trùng cercaria của sán lá song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại Phú Yên Ngoài ra còn cung cấp thêm thông tin loài ốc nào là ký chủ trung gian đang mang mầm bệnh để cảnh báo con người phòng tránh khi sử dụng ốc nước ngọt làm thực phẩm cho người và động vật

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về ốc nước ngọt

1.1.1 Đặc điểm chung của lớp chân bụng

Đây là lớp thuộc ngành động vật thân mềm (Mollusca), có khoảng 85.000 loài,

đa phần sống ở biển, một số sống ở nước ngọt, sống ở trên cạn và một số ít sống ký sinh

Hình1.1: Cấu tạo trong của Gastropoda

Cơ thể gồm có đầu, chân và nội tạng Đầu rất phát triển, đối xứng hai bên, có từ 1-2 xúc tu Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cơ thể có sự quay quanh và uốn vặn nên không đối xứng hai bên Vỏ xoắn ốc có cấu tạo phức tạp hay đơn giản tùy loài (trên mặt vỏ có khi có gai, u nhỏ) Miệng vỏ cũng vậy, có loài đơn giản, có loài phức tạp (có mương lớn, có gờ) Hình dạng vỏ là một ống rỗng dài, cuộn quanh một trục tạo nên các vòng xoắn chập nhau thành trụ ốc, trụ này có thể rỗng và mở ra ngoài ở chỗ gần miệng vỏ tạo lỗ trục hay có khi không tạo nên lỗ trục Các vòng xoắn có khi nằm trên một mặt phẳng hay các mặt phẳng khác nhau tạo thành tháp

Xác định vỏ quay về hướng phải trái: bằng cách đặt đỉnh vỏ lên trên, miệng vỏ đối diện với người quan sát, miệng vỏ ở phía bên nào thì vỏ quay về hướng đó

Trang 11

Xác định tầng xoắn ốc bằng cách đặt vỏ có miệng hướng về phía trước và đếm

số đường nối giữa hai tầng xoắn ốc (đường suture) rồi cộng thêm 1

Chân có nhiều dạng:

+ Chân có rãnh giữa chia làm hai phần thay đổi động tác cho nhau

+ Chân phát triển thành hai dạng lưỡi cày, khi di chuyển nó xô đất về hai bên,

có rãnh ngang tạo thành chân trước và chân sau (các loài ốc sống ở bùn và đất ẩm)

+ Chân dẹp như lưỡi dao (ở những loài có tập tính nhảy để di chuyển, ví dụ các

loài thuộc giống Strombus)

+ Hai mép trước của chân kéo dài tạo xúc tu

+ Chân phát triển thành cơ quan bơi lội

+ Đối với bọn sống ký sinh thì chân không phát triển chỉ có cơ quan bám

+ Còn bọn ít di chuyển thì chân bị thoái hóa

Màng áo bao bọc toàn bộ thân mềm từ đầu đến thân

Xoang miệng rất phát triển, bên trong xoang có phiến hàm và lưỡi sừng

Hệ thần kinh: gồm hạch não, hạch bên, hạch chân và hạch tạng Dây thần kinh nối hạch bên và hạch tạng không đối xứng Bọn sống ký sinh có hệ thần kinh phân bố không rõ ràng

+ Xúc giác: toàn bộ cơ thể con vật đều làm nhiệm vụ xúc giác, có một số bộ phận chuyên hóa (xúc tu) đảm nhận chức năng khứu giác

+ Vị giác: nằm trên ống tiêu hóa, có tế bào vị giác phân bố (nằm ở mặt bụng hay hai bên xoang miệng)

+ Thị giác ở gốc hay đỉnh xúc tu, có nhiệm vụ cảm quang, những nhóm sống đáy sâu có khi bị tiêu giảm

Hệ tiêu hóa: Miệng có đôi môi, đối với những loài ăn thịt thì có môi dài, xoang miệng có phiến hàm và lưỡi sừng, có tuyến nước bọt, có một số loài có men Proteaza

và acid Sunphuric (H2SO4), thực quản to và nhăn nheo để chứa thức ăn, có loài có tuyến Leiblein tiêu hóa thức ăn ở dạ dày, kế đó là ruột và hậu môn

Tim nằm ở mặt lưng, gồm 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ

Hệ hô hấp: hô hấp bằng mang, bọn ốc phổi không có mang nhưng vách màng

áo có nhiều vi mạch lấy oxy, một số loài hô hấp bằng màng áo

Hệ thống bài tiết: gồm thận, xoang tim và xoang máu Thận ở mặt lưng cạnh xoang tim, ống dẫn sản phẩm bài tiết dài và đổ ra xoang màng áo

Trang 12

Ốc có thể lưỡng tính hay đơn tính Tuyến sinh dục nằm ở mặt lưng gần đỉnh của nang nội tạng (có khi tập trung thành khối hay phân tán quanh gan), những loài có cơ quan giao cấu thì thụ tinh trong, loài không có cơ quan giao cấu thì phóng tinh và trứng ra ngoài môi trường nước [3]

1.1.2 Phân bố của ốc nước ngọt

Sự biến đổi của địa lý và khí hậu dẫn đến sự thay đổi về phân bố của nhiều quần thể sinh vật trên trái đất như chim, côn trùng và các thảm thực vật ở nước ngọt,

lợ, mặn; mỗi yếu tố tác động đều ảnh hưởng đến đặc điểm sinh học, sinh thái, sinh lý

và sinh sản của mỗi loài Sự biến đổi này có sự khác biệt đáng kể về di truyền và phân

bố không đồng đều theo địa lý [30, 88, 76] Giống như nhiều động vật không xương sống khác, ốc nước ngọt có sự đa dạng về thành phần loài và số lượng nhiều ở vùng nhiệt đới và giảm dần theo vĩ độ cao [85]

1.1.2.1 Suối và mạch nước ngầm

Suối và ở đầu nguồn dòng suối thường là nơi chứa nhiều thức ăn của ốc nước ngọt Mặc dù vậy, thành phần loài và số lượng ốc ở đây thường không cao, có từ 1 - 6 loài phân bố, chủ yếu họ Hydrobioidae chiếm đa số; tương tự như vậy ở các tầng nước ngầm, mạch nước ngầm họ Hydrobioidae chiếm đa số, có trên 300 loài phân bố Các con suối có nhiều loài ốc phân bố như: suối Great Artesian Basin của Australia, suối New Caledonia ở Pháp, suối và các hang động Dinaric Alps của Balkans, khu núi đá vôi của Pháp và Tây Ban Nha, suối Florida ở Mỹ [39]

1.1.2.2 Sông và các nhánh sông lớn

Các con sông: Côngo (Châu Phi), Mekong (Châu Á), Mobile Bay (Bắc Mỹ) và Rio Dela Plata (Nam Mỹ) là những nơi có động vật thân mềm phong phú về loài nhưng độ phong phú của các loài ốc nước ngọt không cao Họ Viviparidae (ở khu vực Bắc Mỹ, khu vực phương Đông, Australia), họ Pachychilidae và họ Pleuroceridae (Bắc Mỹ và Nhật Bản), họ Thiaridae (vùng nhiệt đới), họ Pomatiopsidae và họ Stenothyridae (khu vực phương Đông); nhóm ốc phổi (Pulmonata) thường có thành phần loài ít [39]

1.1.2.3 Các hồ lớn trên thế giới

Hồ Baikal, hồ Ohrid, hồ Tanganyika và hồ Sulawesi có họ Viviparidae, Pachychilidae, Paludomidae, Thiaridae, Hydrobiidae, Planorbidae, Acroloxidae, Ancylidae và họ Valvatidae phân bố Họ Planorbidae phân bố nhiều ở các hồ vùng ôn

Trang 13

đới hơn các hồ vùng nhiệt đới Các loài ốc hóa thạch ở hồ Miocene Lake Steinheim, Pleistocene Lake Turkana ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành loài và tiến hóa của loài ốc nước ngọt [39]

1.1.2.4 Những vùng đất ngập nước

Có nhiều quần thể ốc sinh sống ở những vùng đất ngập nước, ví dụ: nhiều vùng

ở Châu Á và miền Bắc Australia có họ Viviparidae, Thiaridae, Bithyniidae, Lymnaeidae và Planorbidae sinh sống Những báo cáo gần đây cho thấy, ở những

vùng đất ngập nước của Vịnh Carpentaria ở miền Bắc nước Úc có 56 loài ốc trong đó

có 13 loài đặc hữu [39]

1.1.3 Ốc nước ngọt với sức khỏe con người

Nhiều loài ốc là ký chủ trung gian của một số loài giun sán gây bệnh cho động vật, đáng chú ý nhất là truyền bệnh sán lá cho con người Ít nhất 40 triệu người nhiễm

bệnh sán lá gan (Opisthorchis) và sán lá phổi (Paragonimus) và hơn 200 triệu người bị

bệnh sán máng chủ yếu ở các khu vực Châu Phi, Đông Nam Á, Nam Mỹ, nơi có nền kinh tế lạc hậu Họ Pomatiopsidae và họ Planorbidae là ký chủ trung gian của sán

máng (Schistosomiasis), họ Pachychilidae, Pleuroceridae, Thiaridae, Bithyniidae và

Lymnaeidae là ký chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan và sán lá phổi [60, 26,73]

Con người cũng có thể bị giun tròn (Angiostrongyliases) ký sinh thông qua ký chủ trung gian Ampullariidae Họ Ampullariidae và Pachychilidae thường được dùng làm thực phẩm ở khu vực Đông Nam Á càng thúc đẩy sự lây lan của Angiostrongyliasis và Paragonimiasis (sán lá phổi) [58]

1.1.4 Tình hình nghiên cứu thành phần loài ốc nước ngọt

Strong (2008) cho biết, có khoảng 4.000 loài ốc nước ngọt trên thế giới, tối

thiểu có 33 - 38 họ thuộc các bộ Neritimorpha, Caenogastropoda và Heterobranchia

Hồ Baikal, Ohrid, Tanganyika… là những nơi có mật độ lớp chân bụng (Gastropoda) cao Một số nơi có mật độ thấp hơn, ví dụ các lưu vực sông Congo, Mekong, và Mobile Bay Hiện nay, ốc nước ngọt thế giới phải đối mặt với sự đe dọa từ sự suy thoái môi trường, cá và các loài địch hại khác Sử dụng không bền vững đất, nước, thay đổi cảnh quan, gây hại tài nguyên đã và đang phá hủy nhiều sông, suối, và đe dọa

sự đa dạng các loài ốc đặc hữu ở khu vực sông suối, nước ngầm Tình hình ngày càng trầm trọng hơn do thiếu sự quan tâm và quản lý của con người [39]

Trang 14

Ở Bắc Mỹ, có khoảng 650 loài ốc nước ngọt khác nhau, có thể nói, thành phần loài ở khu vực này là đại diện cho thành phần loài ốc của thế giới; tuy nhiên vào những năm đầu của thể kỷ XX thành phần loài ốc nước ngọt tại Bắc Mỹ đã bị giảm, khoảng

60 loài bị tuyệt chủng, 20 loài có nguy cơ tuyệt chủng, 290 loài khác đang được quan tâm để bảo tồn Nói cách khác ốc nước ngọt Bắc Mỹ có 9% bị tuyệt chủng và 48% được bảo tồn Sự suy thoái này là do xây đập, đê, kênh, ô nhiễm công nông nghiệp và

những suy thoái môi trường [50]

Ndifon và ctv (1989), nghiên cứu môi trường sống của ốc nước ngọt ở Tây

Nam Nigeria cho thấy, có 14 loài sống ở khu vực này bao gồm: Biomphalaria pfeifferi, Bulinus globosus, Bulinus rohlfsi, Lymnaea natalensis, Physa ( Aplexa) waterloti, Bulinus forskali, Gyraulus costulatus, Ferrissia sp., Segmentorbis sp., Lanistes libycus, Lanistes ovum, Pila wernei, Potadoma moerchi và Melanoides tuberculata

B globosus và B pfeieri phân bố rộng và xuất hiện thường xuyên và cũng là vật chủ trung gian của sán Schistosoma, còn B rohlfsi rất ít xuất hiện ở khu vực nghiên cứu [70]

Mattison (1995), khảo sát quần thể ốc nước ngọt vào mùa mưa và mùa khô ở

Aligarh, Bắc Ấn Độ, kết quả có 7 loài ốc phân bố gồm: Bithynia tentaculata, Gyraulus convexiusculus, Helicorbis coenosus, Indoplanorbis exustus, Lymnaea acuminata, L luteola và Vivipara bengalensis Số lượng và kích thước ốc nước ngọt cũng thay đổi theo mùa Kiểm tra cercaria trên các loài ốc thu được thì B tentaculata và V bengalensis bị nhiễm metacercarial và cysticercoid Còn G convexiusculus, I exustus

và L luteola bị lây nhiễm bởi ấu trùng Paramphistomes [63]

Ofoezie (1999), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của ốc tại hồ

Oyan Reservoir ở Tây Nam nước Nigeria Có 7 loài ốc được tìm thấy ở hồ gồm: Bulinus globosus, B forskalii, B truncatus, Lymnaea natalensis, Indoplanorbis exustus, Potadoma freethi và Potadoma moerchi Tỷ lệ các loài này 17.6% (B globosus), 16.1% (B forskalii), 0.2% (B truncatus), 12.9% (L natalensis), 23.4% (I exustus) và 29.8% (Potadoma spp.) Mực nước và lượng mưa thay đổi theo mùa nên mật độ ốc cũng thay

đổi theo, nhiều nhất vào tháng 8 (mùa mưa), ít vào các tháng 11 và tháng 12 (mùa khô) [73]

Krailas (2003), báo cáo ốc nước ngọt ở Rừng Toa Dum, Saiyok National Park, tỉnh Kanchanaburi, Thái Lan Nghiên cứu được thực hiện từ đầu con suối đến cuối con suối Thu mẫu ốc bằng tay hoặc bằng vợt Kết quả chỉ tìm thấy một loài ốc thuộc họ

Pleuroceridae thuộc giống Paludomus Ốc có vỏ hình bầu dục, chiều cao 7,3mm và

Trang 15

chiều rộng 5,7mm Kiểm tra ký sinh trùng ở 317 mẫu ốc cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán là 2,52% [35]

Diego và ctv (2006), nghiên cứu thành phần loài của lớp chân bụng nước ngọt tại các con sông ở khu vực Đông Bắc của Argentina Tác giả cho biết có 66 loài thuộc

9 họ phù hợp với tài liệu đã công bố trước đây Có 33 loài thuộc họ Ampullariidae, Ancylidae, Lymnaeidae, Physidae, và Planorbidae và 33 loài thuộc họ Lithoglyphidae, Cochliopidae, Thiaridae, và Chilinidae; ngoài ra, tác giả còn tìm thấy thêm 2 loài thuộc họ Ancylidae Vì vậy, hiện nay có 68 loài ốc sống ở khu vực Đông Bắc của Argentina và họ Planorbidae có số lượng nhiều nhất Không tìm thấy loài nào thuộc họ

Thiaridae [34]

Haruay (2008), nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sự phân bố và mật độ họ

Viviparidae ở tỉnh Khon Kaen, Thái Lan Ba loài gồm Filopaludina (Siamopaludina) martensi martensi, F (Filopaludina) sumatrensis speciosa và Idiopoma umbilicata được tìm thấy Thức ăn của ốc thuộc họ Viviparidae là sinh vật phù du và tảo Kiểm tra cercaria trên các loài ốc này, chỉ có nhóm Xiphidiocercariae ký sinh trên F (S.) martensi martensi Độ mặn ảnh hưởng đáng kể đến mật độ và sự phân bố của họ

Viviparidae, những nơi có độ mặn cao thì mật độ ít và ngược lại [87]

Lombardo (2010), nghiên cứu hoạt động sống của các loài ốc nước ngọt ở các

hồ lớn của Italia Bithynia (=Codiella) leachii, Physa (=Physella) acuta và Planorbis planorbis hoạt động mạnh nhất vào ban ngày Valvata piscinalis cũng biểu hiện hoạt

động vào ban ngày nhưng có giai đoạn co rút vào bên trong vỏ, các loài còn lại gồm

Galba (=Lymnaea) truncatula và Radix (=Lymnaea) auricularia) cũng hoạt động vào ban ngày nhưng rất ít P acuta và P planorbis chỉ hoạt động nhiều vào ban đêm [59]

1.2 Tổng quan về ấu trùng cercaria

1.2.1 Chu kỳ phát triển chung của sán lá song chủ (Trematoda)

Sán lá song chủ đẻ trứng, giao phối trên cùng một cơ thể Trứng nhỏ nhưng số lượng nhiều Trứng của sán lá song chủ nở ra ấu trùng; sau đó, ấu trùng phải qua nhiều giai đoạn để phát triển thành cơ thể trưởng thành

Giai đoạn ấu trùng miracidium: Trứng sau khi rơi vào nước, nở ra ấu trùng

miracidium có lông tơ và điểm mắt Phần lớn cơ thể có tuyến đầu, đoạn sau cơ thể có

một đám tế bào mầm, ống tiêu hóa đơn giản Hệ thần kinh và bài tiết không phát triển Miracidium không ăn, nhờ glucogen dự trữ trong cơ thể nên sống tự do trong nước

Trang 16

một thời gian rồi nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớp biểu mô chui vào tổ chức gan của cơ thể ốc Trong cơ thể ký chủ trung gian, ấu trùng miracidium mất lông tơ, mất điểm mắt và ruột biến thành bào nang sporocyste

Giai đoạn ấu trùng bào nang sporocyst: Bào nang hình tròn hay hình túi, bề

mặt có khả năng thẩm thấu dinh dưỡng Bào nang sporocyst có thể xoang lớn, nó sinh sản đơn tính (vô tính) tạo ra nhiều ấu trùng redia

Giai đoạn ấu trùng redia: Redia hình túi, có thể di động, cấu tạo cơ thể có hầu

và ruột dạng hình túi ngắn Ấu trùng redia lớn lên, phá màng của bào nang để ra khỏi

tổ chức gan rồi vào cơ quan tiêu hóa của ốc Cơ thể ấu trùng redia dài ra, hầu và ruột phát triển, có hai ống bài tiết Phía sau cơ thể có một đám tế bào mầm tiến hành sinh sản đơn tính cho nhiều ấu trùng cercariae Có những loài sán song chủ không qua giai đoạn ấu trùng redia mà phát triển trực tiếp thành cercaria

Giai đoạn ấu trùng cercaria: Cơ thể cercaria chia làm hai phần: thân và đuôi,

bề ngoài cơ thể có móc, có một hoặc hai giác hút Cơ quan tiêu hóa gồm có miệng, hầu, thực quản và ruột Cercaria có hệ thống bài tiết và đốt thần kinh ở phía trước cơ thể, có tuyến tiết ra men phá hoại tổ chức để xâm nhập vào cơ thể ký chủ, đồng thời biểu mô ở dưới lớp nguyên sinh chất có tuyến phân tiết tạo ra vách của bào nang Cercaria sống tạm thời trong cơ thể ốc, sau đó ra môi trường nước, hoạt động trong một thời gian ngắn, mất đuôi biến thành ấu trùng có vỏ bọc metacercaria Cũng có giống loài sán lá song chủ, ấu trùng cercaria của chúng có thể trực tiếp xâm nhập vào

da của ký chủ, rồi đến mạch máu sau đó qua thời kỳ ấu trùng bào nang metacercaria và phát triển thành trùng trưởng thành Ngược lại cũng có một số loài khi cercaria ra môi trường nước mất đuôi rồi hình thành bào nang (kén) bám trên các thực vật thủy sinh thượng đẳng hay vỏ ốc, nếu gặp ký chủ ăn vào sẽ phát triển thành trùng trưởng thành

Một số giống loài ấu trùng cercaria sau khi tách khỏi cơ thể redia hình thành bào nang (metacercaria) ngay trong cơ thể ốc hoặc chui ra nhưng lại tiếp tục xâm nhập vào cơ thể ốc đó; ốc có ấu trùng, ký chủ tiếp theo ăn vào ruột sẽ phát triển thành trùng trưởng thành

Giai đoạn ấu trùng metacercaria: do có vỏ bọc lại, cơ thể nằm trong bào nang

nên không di chuyển được Cấu tạo cơ thể phát triển gần với trùng trưởng thành Bề mặt cơ thể có móc, giác miệng, giác bụng, lỗ miệng và lỗ bài tiết

Trang 17

Cấu tạo trong có cơ quan tiêu hóa, cơ quan bài tiết, thần kinh và cơ quan sinh dục Hệ thống sinh dục một số loài phát triển nhưng đơn giản, một số loài có cơ quan sinh dục cái đã hoàn chỉnh, thậm chí đã có lúc trong cơ quan sinh dục cái có trứng xuất hiện

Metacercaria ký sinh trong cơ thể ký chủ trung gian thứ II bị ký chủ sau cùng ăn vào

trong ống tiêu hóa, do tác dụng của dịch tiêu hóa vỏ bọc vỡ ra ấu trùng thoát ra ngoài

di chuyển đến cơ quan thích hợp của ký chủ và phát triển thành trùng trưởng thành

Quá trình phát triển của sán lá song chủ bắt buộc phải có ký chủ trung gian nhất định, ký chủ trung gian thứ nhất là ốc, ký chủ trung gian thứ II hoặc ký chủ cuối cùng thường là động vật thân mềm, giáp xác, côn trùng, cá, lưỡng thê, bò sát, chim và động vật có vú Có những loài phát triển qua 3-4 ký chủ trung gian

Nhìn chung chu kỳ phát triển của sán lá song chủ chia làm hai dạng:

Có một ký chủ trung gian:

- Ấu trùng cercariae đi trực tiếp vào ký chủ cuối cùng, ví dụ: sán máu (Schitosoma sp.)

- Ấu trùng cercariae ra ngoài môi trường hình thành bào nang metacercaria bám trên các thực vật thủy sinh thượng đẳng, ký chủ ăn vào phát triển thành trùng trưởng thành

Có hai ký chủ trung gian:

- Cả hai ký chủ trung gian là động vật thân mềm, ví dụ Echinostoma cinetorchis ký

chủ trung gian thứ nhất là ốc nước ngọt, ký chủ trung gian thứ hai là hai mảnh vỏ

- Ký chủ trung gian thứ hai là giáp xác hay côn trùng lưỡng thê hoặc cá

Tác hại của sán lá song chủ: Khả năng gây hại của sán lá ký sinh đối với ký chủ phụ

thuộc vào chủng loài hoặc vị trí ký sinh của chúng Thường sán lá ký sinh trong mắt, trong hệ thống tuần hoàn, hệ tiêu hóa và một số cơ quan quan trọng; một số giống loài sán lá ký sinh làm chết ký chủ Ngoài ra, giai đoạn ấu trùng của một số ít loài ký sinh trên cá có khi không gây tác hại lớn nhưng giai đoạn trưởng thành lại ký sinh ở người

và gia súc; do đó nếu có tập quán ăn thịt cá sống như ăn gỏi cá có thể lây bệnh cho người Vì vậy, công tác phòng bệnh và trị bệnh sán lá song chủ ở động vật thủy sản có

ý nghĩa góp phần bảo vệ sức khỏe cho con người và cả gia súc [8]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ấu trùng cercaria trên ốc nước ngọt

Rất nhiều loài ốc nước ngọt là ký chủ trung gian của ký sinh trùng (sán lá, sán dây, giun đũa, giun kim) gây bệnh ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Sự lây nhiễm bệnh đã lan rộng mặc dù mức độ tử vong ở người không cao Ký sinh trùng có thể truyền bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp từ ốc sang người Hầu hết các loài ký sinh trùng

Trang 18

gây bệnh cho người đều là giun sán, chủ yếu là sán ký sinh ở gan hay ruột Trong số

những loài sán thì sán lá gan có tỷ lệ nhiễm cao nhất gồm: Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini Các loài sán lá ruột cũng rất phổ biến ở Đông Nam Á, chúng

bao gồm nhiều nhóm ký sinh trùng chủ yếu thuộc họ Heterophyidae và Echinostomatidae Việc loại bỏ những loài ký sinh này từ nguồn cung cấp thực phẩm, đặc biệt là cá là một công việc đầy khó khăn và thách thức [80]

Đặng Tất Thế (2005), khảo sát khu hệ ốc nước ngọt và tỷ lệ nhiễm sán lá của ốc nước ngọt ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Tiền Giang Kết quả thu được 14 loài ốc

gồm: Stenomelania reevei, Antimelania sp., Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana, Filopaludina sumatrensis, Pomacea sp., Gyraulus convexiusculus, Indoplanorbis exustus và Lymnaea viridis, Thiara scabra, Antimelania siamensis, Assiminea sp., Dostia violacea và Clithon sp

Stenomelania reevei, M tuberculata và B fuchsiana bị nhiễm ấu trùng cercaria của các nhóm Echinostome, Xiphidiocercaria và Pleurophocercaria, nhiều nhất là nhóm ấu trùng Pleurolophocercaria Ở An Giang, M tuberculata bị nhiễm Xiphidiocercaria và Pleurolophocercaria; nhưng ở Cần Thơ và Tiền Giang, chúng lại

bị nhiễm 4 nhóm cercaria khác Bithynia fuchsiana bị nhiễm 5 nhóm cercaria nhưng không bị nhiễm Pleurolophocercaria [90]

Bùi Thị Dung (2006), thực hiện “khảo sát khu hệ ốc và ấu trùng cercariae ký

sinh trên ốc tại An Giang” Đợt khảo sát tìm thấy 9 loài ốc nước ngọt ở An Giang bao

gồm: Pomacea sp., F sumatrensis, B fuchsiana, M tuberculatus, Stenomelania sp., Antimelania sp., L viridis, G convexiusculus và Paraplanorbis Trong đó, B fuchsiana và M tuberculatus là 2 ký chủ bị nhiễm cả 7 nhóm ấu trùng cercaria Các nhóm cercaria được tìm thấy trong ốc gồm: Echinostomata, Amphistomata, Xiphidiocercaria, Fucocercaria, Cysticerca, Monostomata, Pleurolophocercaria Sự xuất hiện ấu trùng Pleurolophocercaria cho biết ký sinh trùng sán gây bệnh đã tồn tại

ở An Giang từ lâu, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm rất thấp [2]

Jakob và ctv (2009), nghiên cứu “vòng đời sán lá ruột nhỏ trên cá nước ngọt ở

miền Bắc Việt Nam bằng kỹ thuật phân tử” Kết quả cho thấy 3 loài H pumilio, H taichui và Procerovum sp gây bệnh sán lá ruột ở người, giai đoạn cercaria ký sinh trên Melanoides tuberculata và giai đoạn metacercaria ký sinh ở ruột và mô cá nuôi (mè

trắng, trôi Ấn Độ và rô đồng) Kết quả nghiên cứu cho biết, rất khó để xác định mối

Trang 19

quan hệ phát triển từ cercaria lên metacercaria của cùng một loài, nếu chỉ dựa vào các đặc điểm hình thái Sử dụng kỹ thuật PCR và giải mã trình tự gen đối với cercaria và

metacercaria đã làm rõ được quan hệ giữa cercaria và metacercaria của H pumilio

Các loài ký sinh trùng đã phát hiện tại các ao cá không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe cá nuôi mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho con người khi ăn cá chưa chín [83]

Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (2009), nghiên cứu “mật độ nhiễm ấu trùng sán lá

ruột nhỏ ở cá trong các ao ương giống ở Miền Bắc Việt Nam” Kết quả cho thấy cá bột

không bị nhiễm sán lá Không có quan hệ rõ ràng giữa tỷ lệ nhiễm cercaria trên ốc và

tỷ lệ nhiễm ấu trùng metacercariae ở cá của sán lá ruột nhỏ Không tìm thấy ốc bị nhiễm ấu trùng cercaria của sán lá ruột Vì vậy cần có những nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn để kiểm tra ấu trùng có trong ốc tại những ao này [4]

Bùi Thị Dung và ctv (2010), khảo sát khu hệ ốc nước ngọt và tình hình nhiễm

ấu trùng sán lá ở 2 xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Tỷ lệ nhiễm chung là 4,12% Số lượng và thành phần loài ốc tìm thấy ở ao cá giống cao hơn ao cá thịt Một phát hiện khác ở ao cá thịt có thả cá trắm đen

(Mylopharyngodon piceus) cho thấy số lượng ốc thu thập được thấp hơn so với ao

không thả cá trắm đen Trong số 16 loài ốc thu được và định loại tại địa điểm nghiên

cứu có 4 loài ốc phân bố rộng là: Angulyagra polyzonata, Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana và Pomacea bridgesi Những loài ốc phổ biến ở ao cá là những loài

ốc thuộc họ Thiaridae, Viviparidae; còn những loài ốc thuộc họ Bithyniidae, Stenothyridae và Planorbidae thì phần lớn phổ biến ở kênh mương và ruộng lúa Có 8 loài ốc được xác định đóng vai trò vật chủ trung gian của ấu trùng sán lá lây bệnh cho

cá, bao gồm: Melanoides tuberculata, Sermyla tornatella, Thiara scabra, Tarebia granifera, Bithynia fuchsiana, Stenothyra messageri, Gyraulus convexiusculus, Lymnaea swinhoei Trong đó loài Melanoides tuberculata có tỷ lệ nhiễm cercaria cao

nhất 13,28% và là vật chủ nhiễm nhiều nhóm cercaria Không phát hiện cercaria ở các

loài ốc A polyzonata, Idiopoma umblicata, P bridgesi, P canaliculata, Pila polita, Neritina violacea, và Lymnaea viridis Cercaria của 5 nhóm được xác định sau khi phân tích 10.878 mẫu ốc là: Parapleurolophocercaria, Xiphidiocercaria, Monostomecercaria, Echinostomecercaria Gymnocephalous Nhóm

Parapleurolophocercaria là nhóm ấu trùng được tìm thấy phổ biến ở địa điểm nghiên cứu, chiếm 40,53% tổng số ốc nhiễm, thấp hơn là nhóm Echinostome cercaria 24,56%,

Trang 20

Xiphidiocercaria 17,73% Hai loài ốc Sermyla tornatella và M tuberculata đóng vai trò vật chủ chính chứa nhóm Parapleurolophocercaria; Thiara scabra chứa nhóm Echinostome; Bithynia fuschiana chứa nhóm Xiphidiocercaria [36]

Kanev và ctv (1995), nghiên cứu vòng đời Echinostoma jurini cho thấy: (1) ký

chủ trung gian đầu tiên là ốc thuộc họ Viviparidae, (2) ký chủ trung gian thứ hai là

ếch, rùa, (3) ký chủ cuối cùng là động vật có vú, (4) E jurini thường xuất hiện ở các nước thuộc Châu Âu và có thể ở Châu Á, nơi mà Viviparidae phân bố [51]

Wadsan (2005), nghiên cứu ấu trùng cercaria của sán song chủ Echinostoma

sp trên ốc Indoplanorbis exustus ở suối nước ngọt thuộc Al-Hasa ở Saudi Arabia Kiểm tra 50 mẫu ốc Indoplanorbis exustus cho thấy có sự xuất hiện của ấu trùng cercaria của Echinostoma sp với tỷ lệ nhiễm 20% [96]

Ukong và ctv (2007), nghiên cứu hình thái cercaria tìm thấy trên ốc nước ngọt ở thác Erawan Waterfall, công viên Erawan, Thái Lan Tác giả sử dụng phương pháp để các ấu trùng cercaria ký sinh trên ốc tự thoát ra ngoài môi trường nước và định loại

được 6 loài thuộc 3 nhóm Nhóm Pleurolophocercous cercariae gồm: Haplorchis pumilio (C1) và Stictodora tridactyla (C3) Nhóm Furcocercous cercariae gồm: Mesostephanus appendicalatus (C2), Transversotrema laruei (C6) và Cardicola alseae (C4) Nhóm Xiphidiocercariae chỉ có Loxogenoides bicolor (C5) Tổng số mẫu

ốc là 1.163 mẫu chỉ có 62 mẫu bị nhiễm cercaria, tỉ lệ nhiễm là 5,33% Trong 687 mẫu

ốc Melanoides jugicostis, có 45 mẫu (6.5%) bị nhiễm, 91 mẫu ốc Tarebia granifera có

6 mẫu (6.6%) bị nhiễm, 296 mẫu ốc Thiara scabra có 1 mẫu (0.3%) bị nhiễm và 89 mẫu ốc Melanoides tuberculata có 10 mẫu (11.2%) bị nhiễm [93]

Wivitchuta và ctv (2007), nghiên cứu ấu trùng cercaria của sán lá trên ốc nước ngọt thuộc họ Thiaridae ở sông Khek, Thái Lan Kết quả thu được 9.568 mẫu ốc, gồm

14 loài: Tarebia granifera, Melanoides tuberculata, Thiara scabra, Paracrostoma pseudosulcospira pseudosulcospira, P paludiformis paludiformis, P paludiformis dubiosa, P morrisoni, Brotia (Brotia) binodosa binodosa, B (Brotia) microsculpta, B (Senckenbergia) wykoffi, B (Brotia) pagodula, B (Brotia) binodosa spiralis, B (Brotia) insolita và B (Brotia) manningi Các loài ốc bị nhiễm ấu trùng cercaria gồm

T granifera, M tuberculata, T scabra, P paludiformis paludiformis và B (Senckenbergia) wykoffi Cercaria của 2 nhóm Parapleurolophocercous và Xiphidiocercariae được tìm thấy và mô tả hình thái dưới kính hiển vi Nhóm

Trang 21

Parapleurolophocercous gồm các loài Haplorchis pumilio, Centrocestus formosanus Nhóm Xiphidiocercariae gồm các loài Acanthatrium hitaense, Loxogenoides bicolor

và Haematoloechus similis [33]

Moema và ctv (2008), nghiên cứu sự phát triển của ấu trùng cercaria trên ốc

Lymnaea natalensis thu tại những vùng Pretoria, tỉnh Gauteng, Nam Phi Nghiên cứu tìm thấy 3 loài cercaria ký sinh trên ốc Lymnaea natalensis gồm: Trichobilharzia sp thuộc họ Schistosomatidae, Echinostomatid thuộc họ Echinostomatidae và Xiphidiocercaria thuộc họ Plagiorchiidae Hình thái cercaria được quan sát và mô tả

dưới kính hiển vi [65]

Yousif và ctv (2010), nghiên cứu hình thái học của 11 loài cercaria trên ốc

Melanoides tuberculata ở Ai Cập Các loài cercaria thuộc 4 nhóm: Xiphidiocercariae (2 loài), Furcocercous cercariae (2 loài), Pleurolophocercous (4 loài) và Gymnocephalous cercariae (3 loài) Có 13.840 mẫu ốc thu được trong các mùa khác

nhau ở sông Nile và các hệ thống thủy lợi tại các địa phương khác ở Ai Cập Cercaria được cố định lại, chụp hình và mô tả chi tiết [41]

Uthpala (2010), nghiên cứu ấu trùng cercaria của sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại các thủy vực sông, suối của Sri Lanka Tác giả đã thu được 4 loài ốc

Thiara scabra, Thiara tuberculata, Paludomous sphearica và Gyraulus saigonens Trong đó, loài ốc thuộc giống Thiara là ký chủ trung gian có tỉ lệ nhiễm cercaria cao nhất Cercaria của 8 nhóm được tìm thấy gồm: Oculopleurolophocercous, Distome, Gymnocephalous, Echinostomous, Gymnophallus, Xiphidiocercariae, Macrocercous

và Furcocercous; thuộc 6 họ Heterophyidae, Schistosomatidae, Psilostomidae,

Echinostomidae, Gymnophallidae, Lecithodendriidae Tổng số mẫu ốc thu được có 16% số mẫu bị nhiễm một hoặc nhiều loài cercaria Sự đa dạng thành phần loài và tỷ

lệ nhiễm cercaria khác nhau ở các thủy vực Đa dạng thành phần loài ở các nhóm cercaria trong mùa mưa cao nhưng tỷ lệ nhiễm thấp 10,1%, vào mùa khô tỷ lệ nhiễm là 77,4% và giao điểm giữa mùa khô và mùa mưa là 33,9% [94]

Yousif và ctv (2011), nghiên cứu sán lá ký sinh trên ốc nước ngọt Gabbiella senaariensis (Bithyniidae) ở Ấn Độ, có 3 nhóm cercaria được tìm thấy: Xiphidiocercaria, Furcocercous cercaria và Monostome cercaria Tác giả còn xác định chu kỳ sống của Monostome cercaria bằng cách sử dụng chuột bạch Rattus norvegicus

làm ký chủ cuối cùng để làm thí nghiệm và đã thu được sán trưởng thành Ký sinh trùng

Trang 22

sán lá được xác định là Catatropis indicus (Notocotylidae) Sán trưởng thành có nhiều

tuyến bụng chồng lên nhau Trứng có một hoặc hai sợi rất dài ở mỗi cực Redia màu nâu hoặc màu vàng nhạt thường chứa 2 cercaria Cercaria có 3 điểm mắt màu đen Metacercaria có màu nâu sẫm thường có 3 lớp, hai lớp bên trong và 1 lớp bên ngoài không thường xuyên xuất hiện [40]

Devi (2011), nghiên cứu cercaria ký sinh trên ốc Thiara (Melanoides) tuberculata tại 5 khu vực khác nhau ở thung lũng Doom của Ấn Độ Nghiên cứu tìm thấy 2 nhóm cercaria là Xiphidiocercariae và Furcocercous ký sinh trên ốc Thiara (Melanoides) tuberculata Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở khu vực Dudhlee (22,85%), tiếp

theo là Lacchiwala (22,23%), Gularghati (22,00%), Sahaspur (16,66%) và Asan Barrage (13,42%) Tại hầu hết các khu vực, tỷ lệ ốc nhiễm cercaria cao nhất trong tháng 11 và tháng 12, ngoại trừ khu vực Gularghati có tỷ lệ nhiễm cao vào tháng 9 và tháng 10 [77]

Chandore và ctv (2011), nghiên cứu ấu trùng sán gây nhiễm trên ốc nước ngọt ở Đầm Girana và nguồn nước ở Nandgaon Tehsil ở huyện Nashik, (M.S.) India Ốc được thu tại ao, suối, sông và các thủy vực mà trâu, bò, dê, cừu thường xuyên uống

nước Tác giả cho biết các loài ốc Melania scabra, Lymnia trancunatula, Viviperous bengalysis, Gyrulus anisus, Limnia auricularia và Limnia accuminata bị nhiễm ấu

trùng cercarie, redia và cả metacercarie [22]

1.2.3 Khóa định loại các nhóm cercaria của sán lá ở Việt Nam

Trang 23

13 (14) Đuôi chẻ đôi 7 Fucocercaria

14 (13) Đuôi không chẻ đôi

16 (15) Không có viền cổ, và móc

17 (18) Cơ thể có nhiều tế bào nang, không có tế bào thẩm thấu 9 Gymnocephala

18 (17) Cơ thể không có tế bào nang, nhưng có tế bào bào thẩm thấu

19 (20) Không có điểm mắt, luôn có gai nhỏ (stylet) 10 Xiphidocercaria

20 (19) Có 2 mắt, đôi khi có gai nhỏ (stylet)

21 (22) Đuôi có chùm lông dài 11 Triichocerca

22 (21) Đuôi không có lông hay lông không mọc thành chùm 12 Pleurolophocercaria [46]

Trang 24

1 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

- Địa điểm: Kênh, rạch, đầm lầy, đồng ruộng thuộc 2 xã An Mỹ và An Hòa, huyện

Tuy An, tỉnh Phú Yên Thu mẫu ngẫu nhiên và không giới hạn số lượng

- Địa điểm phân tích mẫu: Mẫu ốc được chuyển từ Phú Yên về và được phân tích tại

phòng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Nha Trang, Khánh Hòa

- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 06/2011 đến tháng 12/2011

Đối tượng nghiên cứu: các loài ốc nước ngọt và các loại ấu trùng cercaria ký sinh

trên chúng

Hình 2.1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu: xã Mỹ An, An Hòa huyện Tuy An

Xã An Hòa và

xã An

Mỹ

Trang 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Sơ đồ nghiên cứu:

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.2.1 Phương pháp thu mẫu ốc: mẫu ốc được thu trong diện tích 1m2 tại 3 địa điểm khác nhau ở mỗi thủy vực Ốc được thu bằng tay hoặc bằng vợt ở các thủy vực khác nhau Ốc ở các thủy vực khác nhau được giữ trong các lọ khác nhau, tất cả các lọ được đặt vào một thùng xốp không có nước và vận chuyển bằng xe ô tô đến phòng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III

Mẫu ốc được bảo quản trong dung dịch ethanol 70% và giữ lại như một mẫu vật

để tham khảo trong trường hợp nghi ngờ về kết quả phân loại

Phân loại ốc: Ốc được xác định dựa trên tài liệu Brandt (1974) [15], Đặng Ngọc

Thanh (1980) [9]

2.2.2 Phương pháp kiểm tra cercaria: Sử dụng phương pháp để cercaria tự thoát ra

ngoài của Frandsen và Christensen (1984) [42], mỗi cá thể ốc được giữ riêng biệt trong cốc trong suốt chứa 5ml nước sạch trong vòng 24 giờ

Mẫu ốc nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần AT cercaria ký sinh trên ốc

Mức độ nhiễm

AT cercaria

Mức độ nhiễm AT metacercaria trên cá

Trang 26

Định loại Cercaria: Cercaria được định loại theo khóa phân loại của

Ginetsinskaya (1988) [43] và Dung và ctv (2010) [36] Cercariae được vẽ, chụp ảnh và đo kích thước từ kính hiển vi ở độ phóng đại 40x và 100x

Mẫu của tất cả các loài cercariae được bảo quản trong formalin 4% Ngoài

ra, mẫu phải được bảo quản trong dung dịch ethanol 70% và giữ lại có thể xác định sử dụng kỹ thuật phân tử khi cần thiết

2.2.3 Phương pháp cảm nhiễm ấu trùng cercaria trên cá chép

 Thí nghiệm gây cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên

cá chép : được tiến hành vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8

- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức

Hình 2.3 Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép

- Cá chép có khối lượng trung bình 3,5g, chiều dài từ 27- 40 mm và chiều cao 5 - 9

mm, được bố trí trong can nhựa có thể tích 3 lít, sụt khí 24/24 giờ Mật độ 15con/can

- Cho cercaria Pleurolophocercaria thoát ra từ ốc vào nghiệm thức 2

- Cho cercaria Xiphidiocercaria thoát ra từ ốc vào nghiệm thức 3

- Mật độ bố trí cercaria: cho tất cả cercaria thoát ra từ ốc vào can chứa cá chép cảm nhiễm

- Cá chép được cho ăn thức ăn công nghiệp và thay nước từ ngày thứ hai trở đi

- Cá chép được nuôi trong 10 ngày, sau đó đem kiểm tra metacercaria

 Thí nghiệm gây cảm nhiễm Echinostome trên cá chép: được tiến hành vào

tháng 11 và tháng 12

Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức:

Bố trí thí nghiệm

Trang 27

Hình 2.4: Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Echinostome trên cá chép

Tiến hành cho cercaria Echinostome vào nghiệm thức 2, mật độ cercaria cho tất cả cercaria thoát ra từ ốc vào can chứa cá chép cảm nhiễm Các bước thí nghiệm còn lại làm tương tự như thí nghiệm cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép

 Cercaria thuộc 2 nhóm Monostome và Gymnocephalus có tìm thấy trên ốc nhưng mật độ rất ít không đủ để bố trí thí nghiệm cảm nhiễm trên cá chép

2.2.4 Phương pháp kiểm tra metacercaria

Phương pháp tiêu cơ: Áp dụng phương pháp nghiên cứu metacercaria của Darwin (2005) [27] Các bước tiến hành như sau:

- Đo chiều dài của cá chép bằng thước đo và cân khối lượng cá bằng điện tử

- Nghiền từng mẫu cá chép bằng cối sứ hoặc máy xay thịt

- Chuyển mẫu nghiền vào cốc thủy tinh 100 ml có chứa 50 ml dung dịch tiêu cơ (8 ml HCl + 6g pepsin trong 1.000 ml nước cất), dung dịch tiêu cơ ngập 1/3 thể tích mẫu

- Trộn đều mẫu và dung dịch tiêu cơ, đặt mẫu trong tử ấm 370C từ 2-3 giờ, thỉnh thoảng khuấy đều mẫu

- Thêm 50 ml nước cất, lắc rồi để lắng, lọc sản phẩm tiêu cơ qua lưới lọc 1x1 mm

và rửa qua nước muối sinh lý, để dung dịch lắng cho đến khi phần lắng cặn dễ quan sát

- Loại bỏ phần nổi một cách nhẹ nhàng và giữ lại phần lắng cặn

- Lặp lại 7 đến 8 lần cho đến khi chất lắng trở nên trong

- Chuyển chất lắng mỗi lần một lượng nhỏ vào trong đĩa petri chứa nước muối sinh lý Xoay nhẹ đĩa petri bằng tay sao cho các chất lắng tập trung vào giữa đĩa Dùng pipette loại bỏ phần nhẹ nổi trên bề mặt

- Quan sát phần lắng cặn trên kính sôi nổi, kiểm tra metacercaria

Trang 28

Số ốc bị nhiễm KST

Tổng số ốc kiểm tra X 100%

TLCN =

- Tách riêng từng loại và đếm số lượng metacercaria của mỗi loài sán

- Định loại metacercaria: Metacercaria được xác đinh theo khóa định loại của

Tính tỷ lệ cảm nhiễm (TLCN) Metacercaria trên cá

Cường độ cảm nhiễm (CĐCN) Metacercaria trên cá

Trang 29

2 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả thu mẫu ốc tại hai xã An Mỹ và An Hòa

Đã thu được 4.224 mẫu ốc ngoài tự nhiên tại các thủy vực ở hai xã An Mỹ và An Hòa Số lượng và kích thước mẫu ốc nghiên cứu thể hiện ở Bảng 3.1

Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu

Kích thước (nhỏ nhất-lớn nhất) Loài ốc

Số lượng mẫu Chiều cao (mm) Chiều rộng (mm)

hơn so với kết quả nghiên cứu khu hệ ốc ở 2 xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú, Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định của Bùi Thị Dung (2010), công trình này đã thu được 16

loài ốc gồm: Neritina violacea, Thiara scabra, Tarebia granifera, Melanoides tuberculata, Sermyla riquetii, Pila polita, Pomacea canaliculata, Pomacea insularum, Idiopoma umbilicata, Angulyagra polyzonata, Bithynia fuchsiana, Stenothyra messageri, Polypylis hemisphaerula, Gyraulus convexiusculus, Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis Trong đó, có 4 loài ốc phân bố rộng là: Angulyagra polyzonata, Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana và Pomacea bridgesi [36] Khu hệ ốc ở ba

Trang 30

tỉnh An Giang, Cần Thơ và Tiền Giang, gồm 14 loài ốc Các loài được tìm thấy gồm:

Stenomelania reevei, Antimelania sp., Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana, Filopaludina sumatrensis, Pomacea sp., Gyraulus convexiusculus, Indoplanorbis exustus, Lymnaea viridis, Thiara scabra, Antimelania siamensis, Assiminea sp., Dostia violacea và Clithon sp [90] Sự khác biệt này do tại mỗi khu vực địa lý khác nhau thì

thành phần và số lượng loài ốc sẽ khác nhau [30, 88, 76]

Trang 31

Bảng 3.2: Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu

Melanoides Melanoides tuberculata

Thiaridae

Filopaludina Filopaludina sumatrensis

Viviparidae

Sinotaia Sinotaia lithophaga

Mesogastropoda

Bulinidae Indoplanrbis Indoplanrbis exustus

Neogastropoda

Mollusca Gastropoda

Trang 32

Hình 3.1: Melanoides tuberculata

3.2 Một số đặc điểm phân loại các loài ốc thu được tại các thủy vực của hai xã An

Mỹ, An Hòa huyện Tuy An tỉnh Phú Yên

3.2.1 Melanoides tuberculata Muller, 1774

Tên đồng nghĩa: Melania tuberculata Bort, 1874

Mô tả hình thái : Ốc có dạng hình tháp, vỏ

thon dài màu vàng hoặc màu nâu, có 12 - 16 vòng

xoắn Trên các vòng xoắn có gờ nổi dọc, gờ này có

thể rõ ở cá thể nhỏ và mờ ở cá thể lớn, rãnh xoắn ốc

nông hẹp cuộn quanh cơ thể Lỗ miệng hình bầu

dục vành miệng sắc

Phân bố: Ở kênh, rạch, ao, hồ, sông, suối,

khe suối trên núi Loài ốc này phân bố nhiều nơi

trên thế giới từ Châu Âu, Châu Á đến quần đảo Tây

Thái Bình Dương và Châu Úc [15] Ở nước ta, có

thể bắt gặp ở các thủy vực đồng bằng, miền núi và

vùng trung du [10]

Ký chủ trung gian truyền bệnh: Melanoides tuberculata là ký chủ trung gian của ấu trùng cercaria ở Đông Bắc đảo Leyte, Philippines [49] M tuberculata là ký chủ trung gian đầu tiên của Echinochasmus japonicus với tỉ lệ nhiễm là 1,1% [23] Người ta tìm thấy M tuberculata bị nhiễm ấu trùng Philophthalmus sp ở Israel và Jordan Loài ốc này là ký chủ trung gian của ấu trùng Schistosome lây bệnh cho chim,

và gây viêm da ở con người [11] Ở nước ta, M tuberculata được tìm thấy ở các thủy vực nước ngọt của tỉnh Ninh Bình, và chúng bị nhiễm ấu trùng cercaria của Clonorchis

scinensis (sán lá gan nhỏ) với tỷ lệ nhiễm là 13,3% [54]

3.2.2 Sermyla tornatella Lea, 1850

Tên đồng nghĩa: Melania tornatella Bort, 1874

Mô tả hình thái: Ốc cỡ nhỏ, đỉnh tầy, có nhiều gờ nổi dọc Có 6 - 8 vòng xoắn, các vòng xoắn dẹp, đều và đẹp, rãnh xoắn nông rõ Vòng xoắn cuối chiếm hơn nửa chiều cao vỏ, hơi phình to ở khoảng giữa Mặt vỏ màu trắng ngà, phần dưới vòng xoắn cuối, ngang miệng vỏ có các đường vòng đều đặn Phần trên vòng xoắn cuối và mặt trên các vòng xoắn đầu có nhiều gờ nổi dọc xoắn về phía trái, các gờ này nhỏ dần về

Trang 33

Hình3.2: Sermy latornatella

Hình 3.3: Tarebia granifera

phía đỉnh vỏ Miệng vỏ hình bầu dục, mép ngoài miệng vỏ sắc, phía dưới tạo thành mũi nhọn, nhỏ phía trên thành góc nhọn

Phân bố: sống trong môi trường nước ngọt,

nước lợ và vùng cửa sông Trên thế giới phân bố:

Philipin, Trung Quốc [15], Bờ biển Ấn Độ và phía

Tây Thái Bình Dương [10] Tại Thái Lan loài này

được tìm ở các cửa sông của những con sông lớn

nhỏ [15] Ở Deep Bay - Hong Kong loài Sermyla

tornatella phân bố với mật độ rất cao, mật độ

trung bình 816 con/m2 [17] Ở nước ta, loài này

phân bố tại thủy vực nước ngọt ở vùng đồng bằng,

trung du, vùng nước lợ và cửa sông [10]

Ký chủ trung gian gây bệnh: chỉ tìm thấy ấu

trùng cercaria của sán dạ cỏ (Paramphistomatidosis

) gây bệnh trên trâu bò ký sinh trên loài ốc này, không tìm thấy ấu trùng sán gây bệnh trên con người [6]

3.2.3 Tarebia granifera Lamarck, 1822

Tên đồng nghĩa: Melania granifera Bort, 1874

Tarebia obliquigranosa Tchang Si, 1964

Mô tả hình thái: Ốc cỡ trung bình, đỉnh tầy

có 9 - 10 vòng xoắn thường bị gặm mòn Các vòng

xoắn đầu dẹp, ở con non vuốt nhọn, ở con trưởng

thành tà hơn Vòng xoắn cuối lớn, phình to ở giữa,

chiếm khoảng ½ chiều cao vỏ Mặt vỏ có nhiều nốt

sần ngang, màu vàng đất hay đen Miệng vỏ hình

bầu dục dẹp góc nhọn, vành miệng dài và sắc, phía

dưới tạo thành rãnh rộng, phía trên thành ngoài

miệng cong lên Lớp sứ bờ trục dày, màu trắng vôi

Phân bố: tập trung chủ yếu trong các ao, hồ, sông, kênh, rạch, chúng sống trong

môi trường nước ngọt không chịu đựng được độ mặn cao như loài S riqueti [15] Bắt

gặp ở nhiều nơi trên thế giới như: Ấn Độ, Indonesia, Philipines, Trung Quốc và phía tây quần đảo Thái Bình Dương Tại Thái Lan loài này được tìm thấy hầu như tất cả các

Trang 34

Hình 3.4: Thiara scabra

tỉnh Ở nước ta, loài ốc này được tìm thấy ở các thủy vực ở vùng núi, vùng trung du Đông Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ [9]

Ký chủ trung gian truyền bệnh: Tarebia granifera là vật chủ trung gian truyền

bệnh sán lá tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á [11] Ấu trùng cercaria ký sinh

trên Tarebia granifera gồm: sán lá ruột Centrocestus formosanus lây nhiễm trên cá [64] và sán mắt Philophthalmus gralli [67]

3.2.4 Thiara scabra Muller, 1774

Tên đồng nghĩa: Plotia scabra Muller, 1774

Helix scabra Chemnitz, 1786

Melania scabra Bort, 1877

Mô tả hình thái: Ốc cỡ nhỏ, hình tháp có 9

vòng xoắn, đỉnh vuốt nhọn Các vòng xoắn đầu đều

đặn, tạo thành góc ở khoảng giữa vòng xoắn, rãnh

xoắn sâu Vòng xoắn cuối chiếm hơn nửa chiều cao

vỏ, phình to, tạo thành gốc ở phía trên Trên các vòng

xoắn có các đường vòng thô và các gờ nổi dọc hơi xiên về phía trái Khoảng giữa các

gờ nổi dọc có hàng nốt sần, có khi kéo dài thành gai mảnh dài Ở vòng xoắn cuối các

gờ dọc chỉ dài ngang gốc miệng vỏ Miệng vỏ hình bầu dục, chiếm gần nửa chiều cao

vỏ, phía dưới tạo thành rãnh rộng Mép ngoài miệng vỏ sắc

Phân bố: ao, hồ, sông, suối, kênh, rạch, khe núi và được tìm thấy từ thượng nguồn xuống đến cửa sông Trên thế giới, loài này phân bố ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, Philippin, Sri Lanka, các đảo ở Thái Bình Dương và Tây

Ấn Độ Dương [15] Ở nước ta, chúng thường sống ở sông, suối, hồ, vùng núi trung du

và miền đồng bằng [10]

Ký chủ trung gian: Là ký chủ trung gian đầu tiên của ấu trùng sán lá ruột

Paragonimus westermani [15] và Transversotrema patialensis tại huyện Mae Taeng tỉnh Chiang Mai của Thái Lan [19] Tại tỉnh Nam Định, Việt Nam ốc Thiara scabra là

ký chủ trung gian chứa cercaria của sán lá Echinostome lây bệnh qua cá [36]

Trang 35

Hình3.5: Filopaludina sumatrensis

3.2.5 Filopaludina sumatrensis Dunker, 1852

Tên đồng nghĩa: Paludina sumatrensis Conch, 1869

Mô tả hình thái: Ốc cỡ trung bình, mặt vỏ

bóng màu nâu vàng, trên mỗi vòng xoắn có 5

đường chỉ màu nâu đen chạy song song với rãnh

xoắn Có 6 vòng xoắn, vòng xoắn cuối phình to,

gờ dưới nổi rõ Các vòng xoắn đầu hơi lồi, rãnh

xoắn nông cạn Miệng vỏ hình tim, mặt trong

miệng vỏ màu trắng sữa Lỗ trục không rõ

Phân bố: sống ở các thủy vực ao, hồ, sông và suối Bắt gặp ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt phân bố rất nhiều ở Châu Á (bao gồm cả Việt Nam) [15]

Ký chủ trung gian: Filopaludina sp là ký chủ trung gian thứ nhất hoặc thứ hai của sán lá ruột Echinostomes ở Thái Lan [89]

3.2.6 Sinotaia lithophaga Heude, 1889

Tên đồng nghĩa: Bellamya lithopaga Yen, 1943

Mô tả hình thái: ốc cỡ trung bình, có 6

vòng xoắn, chiều cao tháp ốc gần bằng miệng

vỏ, ốc có dạng thấp ngắn và mập Các vòng

xoắn lớn đều, vòng xoắn cuối không phình rộng

so với các vòng xoắn đầu Rãnh xoắn sâu, đỉnh

tầy Vỏ mỏng, mặt vỏ có nhiều khía dọc màu

xanh vàng, ở vòng xoắn cuối có hai đường chỉ

nâu song song Miệng vỏ hình bán nguyệt Lỗ

trục rõ

Lưỡi gai: gai rìa ngoài tròn, đầu mút có 9 răng Gai trung gian có trụ giữa hình vòng lớn, mỗi bên có 4 răng nhọn Gai bên có trụ giữa phẳng, mỗi bên có 4 răng Gai giữa có trụ giữa gồ cao, bên trái có 5 răng, bên phải có 4 răng tròn đầu [10]

Phân bố: ở các thủy vực nước ngọt Phân bố ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở Châu Á Ở Việt Nam: phân bố nhiều ở các tỉnh phía Bắc [9]

Hình3.6: Sinotaia lithophaga

Trang 36

Hình 3.7: Pomacea sp

Hình 3.8: Gyraulus sp.

3.2.7 Pomacea sp

Mô tả hình thái: Vỏ không bóng,

hình cầu có nhiều màu: màu vàng,

màu đen, màu nâu và màu xanh lá

cây, có 5 - 6 vòng xoắn Miệng vỏ loe

rộng, mép miệng vỏ sắc, lỗ trục sâu

và rộng Nắp vỏ dày Các vòng xoắn

đầu nhỏ hơn rất nhiều so với vòng

xoắn cuối Ốc còn nhỏ có màu vàng nhạt, trưởng thành có màu vàng, màu nâu hoặc màu xanh lá cây

Phân bố: Các loài ốc thuộc giống Pomacea là loài lưỡng cư sống cả ở trên cạn và

dưới nước Trên thế giới: loài ốc này phân bố khắp Châu Á [10], và một số nước thuộc châu Mỹ như: Brazil, Uruguay, Paraguay, Boliva và Argentina [101] Tại Việt Nam, chúng sống ở ao, hồ, sông, đồng bằng và trung du [10]

Các loài ốc thuộc giống Pomacea có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được di nhập vào Châu Á vào năm 1980 gồm 4 loài: P canaliculata, P diffusa, P insularum và Pomacea scalaris [41]

Các loài ốc thuộc giống Pomacea có thể làm thực phẩm cho con người, bên cạnh

đó nó cũng trở thành loài gây hại nghiêm trọng đối với mùa màng [69] và là mối đe

dọa với hệ sinh thái tự nhiên [16] Hiện nay, P canaliculata là loài gây hại mùa màng

nhiều nhất ở các nước Châu Á và là ký chủ trung gian của

E malayanum giai đoạn metacercaria ở Thái Lan [97]

3.2.8 Gyraulus sp

Mô tả hình thái: loài này thuộc loài ốc nhỏ có đường

kính 5mm trở lại, chiều cao không quá 2mm, vỏ dẹp, hình

vành khăn, có 4 vòng xoắn, cả hai bên đều lõm hoặc phẳng,

vòng xoắn cuối có dạng hình tròn, lỗ rốn mặt trên và dưới

đều nông Vỏ có màu vàng nhạt hoặc màu trắng nhạt

Phân bố: Trên thế giới, bắt gặp ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ [15] Ở Việt Nam, bắt gặp ở ao, ruộng, vùng đồng bằng, trung du và miền Bắc [10]

Trang 37

Hình 3.9: Indoplanrbis exustus

Hình 3.10: Bithynia sp

Ký chủ trung gian: Gyraulus sp là ký chủ trung gian đầu tiên của sán Schinostornatidae [15] và Echinostomes gây bệnh trên người và chim [28] Ở Việt Nam, loài Gyraulus convexiusculus là ký chủ trung gian của sán lá phổi Fasciolopsis buski [55]

3.2.9 Indoplanrbis exustus Deshayea, 1834

Tên đồng nghĩa: Planorbis exustus Deshayea, 1834

Mô tả hình thái: Ốc có dạng hình đĩa, mặt

trên hơi lõm vào, màu nâu hoặc màu vàng, vỏ

ốc dày có dạng hình tròn gồm 4 vòng xoắn ốc

Mặt trên và mặt dưới lõm vào Vòng xoắn cuối

tròn đều Lỗ trục mặt trên và dưới cạn Miệng

vỏ rộng không có nắp vỏ

Phân bố: Trên thế giới phân bố rộng ở các nước Châu Á và Hawaii; ở Thái Lan chủ yếu tìm thấy ở những vùng đất thấp [15] Ở Việt Nam, chủ yếu bắt gặp ở các tỉnh phía Nam [90]

Ký chủ trung gian: loài này chứa nhiều ký sinh trùng sán lá khác nhau gây bệnh

cho người và động vật, trong đó Sthistosorna spindale, S indicum và S nasale ở giai đoạn ấu trùng gây bệnh viêm da ở con người [79] Indoplanorbis exustus đã được báo cáo là ký chủ trung gian của Paraphistome [38], Schistosome [32] và Echinostome [86]

3.2.10 Bithynia sp

Mô tả hình thái: Ốc cỡ nhỏ có 4 - 5 vòng xoắn,

các vòng xoắn đầu chiếm gần nửa chiều cao vỏ, vòng

xoắn cuối phình to Vỏ màu nâu đen hoặc màu vàng

nhạt Rãnh xoắn sâu, lỗ miệng vỏ hình bán nguyệt, lỗ

rốn hẹp

Phân bố: Trên thế giới bắt gặp ở tất cả các châu lục

ngoại trừ đảo Indopacific của Mỹ [15] Ở nước ta,

thường bắt gặp ở ruộng lúa ở đồng bằng và trung du [10]

Ký chủ trung gian: nhiều loài thuộc giống Bithynia là ký chủ trung gian của sán

lá gan Opisthorchis viverrini gây bệnh trên con người [20] Bithynia funiculata là ký chủ trung gian của Opisthorchis tenuicollis ở Chieng Mai và Lampun, Thái Lan [15] Ở Việt Nam tại tỉnh Nam Định thì Bithynia fuschiana chứa Xiphidiocercaria [33] Ở các

Ngày đăng: 16/08/2014, 02:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Chương và Triệu Nguyên Trung (2007), “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán lá gan lớn ở một số điểm của 2 tỉnh miền Trung”, Kỷ yếu công trình NCKH 2001-2006. Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn, NXB Y học, 2007: 410-416 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán lá gan lớn ở một số điểm của 2 tỉnh miền Trung
Tác giả: Nguyễn Văn Chương và Triệu Nguyên Trung
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
2. Bùi Thị Dung (2006), “Khảo sát khu hệ ốc và ấu trùng cercaria của chúng tại An Giang”, Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật, 18 Hoàng Quôc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Fishborne Zoonotic Parasites in Vietnam, 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khu hệ ốc và ấu trùng cercaria của chúng tại An Giang
Tác giả: Bùi Thị Dung
Năm: 2006
4. Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Viết Khuê, Jesper Clausen, K. Darwin Murrell, Phan Thị Vân, Ander Dalgaard, Đặng Tất Thế, Hernry Madsen (2009), “Mật độ ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ - nhân tố dự báo sự lây nhiễm ở cá trong các ao ương giống ở miền Bắc Việt Nam”, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Fishborne Zoonotic Parasites in Vietnam, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mật độ ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ - nhân tố dự báo sự lây nhiễm ở cá trong các ao ương giống ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Viết Khuê, Jesper Clausen, K. Darwin Murrell, Phan Thị Vân, Ander Dalgaard, Đặng Tất Thế, Hernry Madsen
Năm: 2009
6. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sĩ Lăng và Nguyễn Văn Quăng, (2008), Giáo trình ký sinh trùng học thú y, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội: 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sĩ Lăng và Nguyễn Văn Quăng
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội: 160
Năm: 2008
7. Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Hà Ký và Bùi Quang Tề
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2007
8. Bùi Quang Tề (2002), Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1: 40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá
Tác giả: Bùi Quang Tề
Năm: 2002
9. Bùi Quang Tề (2005), “Giun sán ký sinh trên động vật thủy sản có lien quan đến sức khỏe của người”, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, Từ Sơn, Bắc Ninh.Zoonotic Parasites in Viet Nam ,05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh trên động vật thủy sản có lien quan đến sức khỏe của người
Tác giả: Bùi Quang Tề
Năm: 2005
10. Đặng Ngọc Thanh (1980), Định loại động vật không xương sống nước ngọt miền Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa Học Kĩ Thuật Hà Nội: 440-490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại động vật không xương sống nước ngọt miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Kĩ Thuật Hà Nội: 440-490
Năm: 1980
11. Banks, William M. (1951), “A New Megalura Cercaria from Ohio”, The Ohio Journal of Science, Vol 51: 309-312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A New Megalura Cercaria from Ohio
Tác giả: Banks, William M
Năm: 1951
12. Barber, K.E. and Caira, J.N. (1995), “Investigation of the life cycle and adult morphology of the avian blood fluke Austrobilharzia variglandis (Trematoda:Schistosomatidae) from Connecticut”, Journal of Parasitology, 81:584-592 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigation of the life cycle and adult morphology of the avian blood fluke Austrobilharzia variglandis (Trematoda: Schistosomatidae) from Connecticut
Tác giả: Barber, K.E. and Caira, J.N
Năm: 1995
13. Bogéa, T., Cordeiro, F., De Gouveia, J. (2005), “Melanoides tuberculatus (Gastropoda: Thiaridae) as intermediate host of Heterophyidae (Trematoda:Digenea) in Rio de Janeiro metropolitan area, Brazil”, Revista do Instituto de Medicine Tropical de São Paulo, 47: 87-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Melanoides tuberculatus (Gastropoda: Thiaridae) as intermediate host of Heterophyidae (Trematoda: Digenea) in Rio de Janeiro metropolitan area, Brazil
Tác giả: Bogéa, T., Cordeiro, F., De Gouveia, J
Năm: 2005
14. Bowman, D.D., Hendrix, C.M., Linsay, D.S., Barr, S.C. (2003), “Feline clinical parasitology”, Iowa University Press, Iowa:105-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Feline clinical parasitology
Tác giả: Bowman, D.D., Hendrix, C.M., Linsay, D.S., Barr, S.C
Năm: 2003
15. Brandt, A.M.R. (1974), The non-marine aquatic Mollusca of Thailand. Archiv fur Molluskenkunde, 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The non-marine aquatic Mollusca of Thailand
Tác giả: Brandt, A.M.R
Năm: 1974
16. Carlsson, N.O.L, Brửnmark, C. and Hansson, L.A. (2004), “Invading herbivory: the golden apple snail alters ecosystem functioning in Asian wetlands”, Ecology, 85: 1575–1580 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Invading herbivory: the golden apple snail alters ecosystem functioning in Asian wetlands
Tác giả: Carlsson, N.O.L, Brửnmark, C. and Hansson, L.A
Năm: 2004
17. Cha, M.W. (1999), “A survey of mudflat gastropods in Deep Bay, Hong Kong. Proceedings of the International Workshop on the Mangrove Ecosystem of Deep Bay and the Mai Po Marshes, Hong Kong”, Hong Kong University Press: 33-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A survey of mudflat gastropods in Deep Bay, Hong Kong. Proceedings of the International Workshop on the Mangrove Ecosystem of Deep Bay and the Mai Po Marshes, Hong Kong
Tác giả: Cha, M.W
Năm: 1999
18. Chai, J., Murrell, K.D., Lymbery, A.J. (2005), “Fish-borne parasitic zoonoses: status and issue”, International Journal Parasitology, 35: 1233–1254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fish-borne parasitic zoonoses: status and issue
Tác giả: Chai, J., Murrell, K.D., Lymbery, A.J
Năm: 2005
19. Chalobol Wongsawad (2009), “The occurrence of cercarial stage infection in snails from Mae Taeng district, Chiang Mai province in rainy season 2009”, Congress on Science and Technology of Thailand (36): 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The occurrence of cercarial stage infection in snails from Mae Taeng district, Chiang Mai province in rainy season 2009
Tác giả: Chalobol Wongsawad
Năm: 2009
20. Chanawong, A., Waikagul, J., Thammapalerd N. (1990), “Detection of shared antigens of human liver flukes Opisthorchis viverrini and its snail host, Bithynia spp.”, Tropcal Medicine and Parasitology, 41: 419-421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of shared antigens of human liver flukes "Opisthorchis viverrini "and its snail host, "Bithynia "spp
Tác giả: Chanawong, A., Waikagul, J., Thammapalerd N
Năm: 1990
21. Chandler, A.C. (1942), “The morphology and life cycle of a new stigeid Fibricola texensis parasitic in raccoons”, Trans Am Microsc Soc, 61:156-157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The morphology and life cycle of a new stigeid "Fibricola texensis" parasitic in raccoons
Tác giả: Chandler, A.C
Năm: 1942
22. Chandore, L.S., Ghatule, V.A., Kadam, D.M. and Suryawanshi N.V. (2011), “The Larval Trematode Infecting Fresh Water Snails in the Girana Dam and Surrounding Water Resources at Nandgaon Tehsil of Nashik District, (M.S.) India”, Journal of Ecobiotechnology 3(2): 01-03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Larval Trematode Infecting Fresh Water Snails in the Girana Dam and Surrounding Water Resources at Nandgaon Tehsil of Nashik District, (M.S.) India
Tác giả: Chandore, L.S., Ghatule, V.A., Kadam, D.M. and Suryawanshi N.V
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ địa điểm nghiên cứu: xã Mỹ An, An Hòa huyện Tuy An - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 2.1. Bản đồ địa điểm nghiên cứu: xã Mỹ An, An Hòa huyện Tuy An (Trang 24)
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 25)
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép. - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép (Trang 26)
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Echinostome trên cá chép. - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Echinostome trên cá chép (Trang 27)
Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu. - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Bảng 3.1 Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 3.2:  Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Bảng 3.2 Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu (Trang 31)
Hình 3.1: Melanoides tuberculata 3.2. Một số đặc điểm phân loại các loài ốc thu được tại các thủy vực của hai xã An Mỹ, An Hòa huyện Tuy An tỉnh Phú Yên - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 3.1 Melanoides tuberculata 3.2. Một số đặc điểm phân loại các loài ốc thu được tại các thủy vực của hai xã An Mỹ, An Hòa huyện Tuy An tỉnh Phú Yên (Trang 32)
Hình 3.3: Tarebia granifera - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 3.3 Tarebia granifera (Trang 33)
Bảng 3.3:  Vị trí phân loại các giống loài cercaria  được tìm thấy trong nghiên cứu này - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Bảng 3.3 Vị trí phân loại các giống loài cercaria được tìm thấy trong nghiên cứu này (Trang 39)
Bảng 3.4: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Gymnocephalus sp. - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Bảng 3.4 So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Gymnocephalus sp (Trang 40)
Hình 3.12: Gymnocephalus sp. - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 3.12 Gymnocephalus sp (Trang 40)
Hình 3.13: Loxogenoides sp. - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 3.13 Loxogenoides sp (Trang 41)
Hình 3.14: Centrocestus formosanus - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Hình 3.14 Centrocestus formosanus (Trang 43)
Bảng 3.6: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan Centrocestus - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Bảng 3.6 So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan Centrocestus (Trang 44)
Bảng 3.7: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Catatropis sp. và - Nghiên cứu thành phần giống loài ốc  nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã  an mỹ, an hòa, huyện tuy an, tỉnh phú yên
Bảng 3.7 So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Catatropis sp. và (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w