DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu ...22Bảng 3.2: Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu...24 Bảng 3.3: Vị trí phân
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là kết quả nghiên cứu thật sự của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của 2 giáo viên hướng dẫn là Tiến
sĩ Võ Thế Dũng và Tiến sĩ Ngô Anh Tuấn
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới hình thức nào trước khi trình bảo vệ
Tác giả
Nguyễn Phước Bảo Ngọc
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, cùng toàn thể qúi thầy cô đã hết lòng giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức qúi báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Võ Thế Dũng và TS Ngô Anh Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Lãnh Đạo Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản 3, Dự án “FIBOZOPA” đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian và vật chất cho tôi hoàn thành luận văn
Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn các Anh/Chị đang công tác tại Phòng Sinh học thực nghiệm - Viện NCNTTS 3 đã giúp đỡ tôi về trang thiết bị, cơ sở thí nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn đến Bố Mẹ, các Anh chị em đã luôn giúp đỡ, động viên và khích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Nguyễn Phước Bảo Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH vi
KÝ HIỆU VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về ốc nước ngọt 3
1.1.1 Đặc điểm chung của lớp chân bụng 3
1.1.2 Phân bố của ốc nước ngọt 5
1.1.2.1 Suối và mạch nước ngầm 5
1.1.2.2 Sông và các nhánh sông lớn 5
1.1.2.3 Các hồ lớn trên thế giới 5
1.1.2.4 Những vùng đất ngập nước 6
1.1.3 Ốc nước ngọt với sức khỏe con người 6
1.1.4 Tình hình nghiên cứu thành phần loài ốc nước ngọt 6
1.2 Tổng quan về ấu trùng cercaria 8
1.2.1 Chu kỳ phát triển chung của sán lá song chủ (Trematoda) 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ấu trùng cercaria trên ốc nước ngọt 10
1.2.3 Khóa định loại các nhóm cercaria của sán lá ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp thu mẫu ốc: 18
2.2.2 Phương pháp kiểm tra cercaria: 18
2.2.3 Phương pháp cảm nhiễm ấu trùng cercaria trên cá chép 19
2.2.4 Phương pháp kiểm tra metacercaria 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Kết quả thu mẫu ốc tại hai xã An Mỹ và An Hòa 22
Trang 43.2 Một số đặc điểm phân loại các loài ốc thu được tại các thủy vực của hai xã An
Mỹ, An Hòa huyện Tuy An tỉnh Phú Yên 25
3.2.1 Melanoides tuberculata Muller, 1774 25
3.2.2 Sermyla tornatella Lea, 1850 25
3.2.3 Tarebia granifera Lamarck, 1822 26
3.2.4 Thiara scabra Muller, 1774 27
3.2.5 Filopaludina sumatrensis Dunker, 1852 28
3.2.6 Sinotaia lithophaga Heude, 1889 28
3.2.7 Pomacea sp 29
3.2.8 Gyraulus sp 29
3.2.9 Indoplanrbis exustus Deshayea, 1834 30
3.2.10 Bithynia sp 30
3.2.11 Lymnaea sp 31
3.3 Một số đặc điểm phân loại các loài ấu trùng cercaria thu được tại các thủy vực của hai xã An Mỹ, An Hòa, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên: 32
3.3.1 Nhóm Gymnocephalus cercaria (Cercaria 1) 33
3.3.2 Nhóm Xiphidiocercaria (Cercaria 2) 34
3.3.3 Nhóm Pleurolophocercaria (Cercaria 3) 36
3.3.4 Nhóm Monostome cercaria (Cercaria 4) 37
3.3.5 Nhóm Echinostome cercaria (Cercaria 5) 39
3.4 Thành phần loài ốc và mức độ nhiễm ấu trùng cercaria ở ốc 40
3.4.1 Biến động thành phần loài ốc qua các tháng nghiên cứu 40
3.4.2 Sự phân bố thành phần loài ốc tại các thủy vực 41
3.4 3 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng cercaria của sán song chủ trên ốc theo thủy vực 42
3.4 4 Mức độ nhiễm ấu trùng cercaria của từng loài ốc 44
3.4 5 Sự biến động tỷ lệ nhiễm cercaria ở ốc theo tháng 46
3.4.6 Kết quả cảm nhiễm ấu trùng cercaria lên cá 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49
Tài liệu tham khảo 50
PHỤ LỤC 60
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu 22Bảng 3.2: Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu 24 Bảng 3.3: Vị trí phân loại các giống loài cercaria được tìm thấy trong nghiên cứu này 32
Bảng 3.4: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Gymnocephalus sp và Cercaria megalura 33 Bảng 3.5: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Loxogenoides sp và Loxogenoides bicolor 35 Bảng 3.6: So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan Centrocestus formosanus 37 Bảng 3.7 So sánh một số chỉ tiêu kích thước các cơ quan của Catatropis sp .38
Bảng 3.8: Mức độ lây nhiễm của ấu trùng cercaria của từng loài ốc 44 Bảng 3.9: Mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria thuộc 2 nhóm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép .47Bảng 3.10: Mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria thuộc nhóm echinostome trên cá chép 48
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 : Cấu tạo trong của Gastropoda 3
Hình 2.1 : Bản đồ địa điểm nghiên cứu: xã Mỹ An, An Hòa huyện Tuy An 17
Hình 2.2 : Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 2.3 : Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép 19
Hình 2.4 : Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Echinostome trên cá chép 20
Hình 3.1 : Melanoides tuberculata 25
Hình 3.2 : Sermyla tornatella .26
Hình 3.3 : Tarebia granifera 26
Hình 3.4 : Thiara scabra .27
Hình 3.5 : Filopaludina sumatrensis .28
Hình 3.6 : Sinotaia lithophaga 28
Hình 3.7 : Pomacea sp .29
Hình 3.8 : Gyraulus sp .29
Hình 3.9 : Indoplanrbis exustus 30
Hình 3.10: Bithynia sp .30
Hình 3.11: Lymnaea sp .31
Hình 3.12 : Cercaria megalura .33
Hình 3.13 : Loxogenoides bicolor .35
Hình 3.14 : Centrocestus formosanus 37
Hình 3.15 : Catatropis indicus .39
Hình 3.16 : Artyfechinostomum mehrai 41
Hình 3.17 : Thành phần loài, số lượng ốc qua các tháng thu mẫu 42
Hình 3.18 : Thành phần loài, số lượng ốc tại các thủy vực 43
Hình 3.19 : Mức độ ốc nhiễm ấu trùng cercaria tại các thủy vực 44
Hình 3.20 : Phân bố ấu trùng cercaria theo tháng 48
Hình 3.21 : Metacercaria Centrocestus formosanus 50
Hình 3.22 : Metacercaria Echinostome spp 50
Trang 8MỞ ĐẦU
An toàn thực phẩm đã và đang trở thành một vấn đề nóng, được nói đến thường xuyên trên nhiều diễn đàn Quốc tế, khu vực và Quốc gia, trên các phương tiện thông tin đại chúng,… Trong tương lai, các vấn đề an toàn thực phẩm còn được quan tâm nhiều hơn nữa, đặc biệt các bệnh truyền qua đường ăn uống của con người như bệnh sán ký sinh trong ruột người có thể gây viêm ruột, tiêu chảy, buồn nôn và đau đầu [100] Ở các nước phát triển và đang phát triển số người bị nhiễm sán lá ngày một tăng
[18, 53, 97], ví dụ bệnh Clonorchiasis, Opisthorchiasis gây ảnh hưởng không nhỏ đến
sức khỏe con người ở nhiều nước trên thế giới Hầu hết các loài sán có giai đoạn phát triển ấu trùng trên các loài động vật thân mềm (trong đó có ốc nước ngọt) trước khi lây sang người Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu về lây nhiễm sán lá trên ốc được thực
hiện ở các khu vực khác nhau Đến nay, ở Việt Nam đã có 4 loài ốc Lymnaea viridis,
L swinhoei, Parafossarulus striatulus và Melanoides tuberculata được báo cáo là vật
chủ trung gian của sán lá lây nhiễm cho gia cầm [57] Ngoài ra, họ Viviparidae thường được con người sử dụng làm thực phẩm có tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán rất cao, ví dụ
Angulyagra polyzonata (69,31%), Cipangopaludina lecythoides (40,06%) và Sinotoia aeruginosa (54.16%) [56]
Những năm gần đây ở Việt Nam bệnh sán lá gan ngày càng phát triển và lan rộng, nhất là ở các tỉnh thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên Từ lúc bùng phát bệnh sán lá gan lớn vào năm 2006 thì hàng năm trên 80% số ca nhiễm sán lá gan lớn, 6 tháng đầu năm 2009 số ca nhiễm sán lá gan lớn có xu hướng tăng cao hơn hẳn so với các năm trước đây [1] Sự phân bố và mật độ ký chủ trung gian là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng và hình thức lây nhiễm sán song chủ [98] Bệnh thường xuất hiện ở những vùng đồng bằng, nơi có khu hệ cá nước ngọt và khu hệ ốc là những vật chủ trung gian truyền bệnh phát triển mạnh Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán ở hai
loài ốc mút (Melanoides tuberculatus) là 4,7 - 5,0%; ốc đá nhỏ xanh (Parafossarulus stritulus) là 4,6% - 4,8% Tỷ lệ nhiễm ấu trùng metacercaria sán song chủ ở cá mè trắng (Hypophthamichthys harmandii) là 44,47%, cá chép (Cyprinus carpio): 25,00%,
cá trôi (Cirrhina molitorella): 13,85%, cá rô đồng (Anabas testudineus): 32,00%, cá trắm cỏ (Ctenopharynogodon idellus): 13,33%, cá diếc (Carassius auratus): 15,63% [9]
Trang 9Để đóng góp một phần nhỏ vào việc phòng ngừa và trị bệnh ký sinh trùng ở ốc nước ngọt và một số loài động vật thủy sản, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại
học Nha Trang cho phép thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần giống loài ốc nước ngọt và ấu trùng cercaria sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã
An Mỹ, An Hòa, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên”
Nội dung đề tài:
- Nghiên cứu thành phần giống loài ốc nước ngọt phân bố tại 2 xã An Mỹ và xã
An Hòa huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
- Nghiên cứu thành phần ấu trùng cercaria của sán song chủ ký sinh trên ốc nước
ngọt tại 2 xã An Mỹ và An Hòa huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
- Nghiên cứu mức độ cảm nhiễm (tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm) của
ấu trùng sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại 2 xã An Mỹ và An Hòa, huyện Tuy
Ý nghĩa của đề tài:
Nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng là ấu trùng cercaria của sán lá song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại Phú Yên Ngoài ra còn cung cấp thêm thông tin loài ốc nào là ký chủ trung gian đang mang mầm bệnh để cảnh báo con người phòng tránh khi sử dụng ốc nước ngọt làm thực phẩm cho người và động vật
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về ốc nước ngọt
1.1.1 Đặc điểm chung của lớp chân bụng
Đây là lớp thuộc ngành động vật thân mềm (Mollusca), có khoảng 85.000 loài,
đa phần sống ở biển, một số sống ở nước ngọt, sống ở trên cạn và một số ít sống ký sinh
Hình1.1: Cấu tạo trong của Gastropoda
Cơ thể gồm có đầu, chân và nội tạng Đầu rất phát triển, đối xứng hai bên, có từ 1-2 xúc tu Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cơ thể có sự quay quanh và uốn vặn nên không đối xứng hai bên Vỏ xoắn ốc có cấu tạo phức tạp hay đơn giản tùy loài (trên mặt vỏ có khi có gai, u nhỏ) Miệng vỏ cũng vậy, có loài đơn giản, có loài phức tạp (có mương lớn, có gờ) Hình dạng vỏ là một ống rỗng dài, cuộn quanh một trục tạo nên các vòng xoắn chập nhau thành trụ ốc, trụ này có thể rỗng và mở ra ngoài ở chỗ gần miệng vỏ tạo lỗ trục hay có khi không tạo nên lỗ trục Các vòng xoắn có khi nằm trên một mặt phẳng hay các mặt phẳng khác nhau tạo thành tháp
Xác định vỏ quay về hướng phải trái: bằng cách đặt đỉnh vỏ lên trên, miệng vỏ đối diện với người quan sát, miệng vỏ ở phía bên nào thì vỏ quay về hướng đó
Trang 11Xác định tầng xoắn ốc bằng cách đặt vỏ có miệng hướng về phía trước và đếm
số đường nối giữa hai tầng xoắn ốc (đường suture) rồi cộng thêm 1
Chân có nhiều dạng:
+ Chân có rãnh giữa chia làm hai phần thay đổi động tác cho nhau
+ Chân phát triển thành hai dạng lưỡi cày, khi di chuyển nó xô đất về hai bên,
có rãnh ngang tạo thành chân trước và chân sau (các loài ốc sống ở bùn và đất ẩm)
+ Chân dẹp như lưỡi dao (ở những loài có tập tính nhảy để di chuyển, ví dụ các
loài thuộc giống Strombus)
+ Hai mép trước của chân kéo dài tạo xúc tu
+ Chân phát triển thành cơ quan bơi lội
+ Đối với bọn sống ký sinh thì chân không phát triển chỉ có cơ quan bám
+ Còn bọn ít di chuyển thì chân bị thoái hóa
Màng áo bao bọc toàn bộ thân mềm từ đầu đến thân
Xoang miệng rất phát triển, bên trong xoang có phiến hàm và lưỡi sừng
Hệ thần kinh: gồm hạch não, hạch bên, hạch chân và hạch tạng Dây thần kinh nối hạch bên và hạch tạng không đối xứng Bọn sống ký sinh có hệ thần kinh phân bố không rõ ràng
+ Xúc giác: toàn bộ cơ thể con vật đều làm nhiệm vụ xúc giác, có một số bộ phận chuyên hóa (xúc tu) đảm nhận chức năng khứu giác
+ Vị giác: nằm trên ống tiêu hóa, có tế bào vị giác phân bố (nằm ở mặt bụng hay hai bên xoang miệng)
+ Thị giác ở gốc hay đỉnh xúc tu, có nhiệm vụ cảm quang, những nhóm sống đáy sâu có khi bị tiêu giảm
Hệ tiêu hóa: Miệng có đôi môi, đối với những loài ăn thịt thì có môi dài, xoang miệng có phiến hàm và lưỡi sừng, có tuyến nước bọt, có một số loài có men Proteaza
và acid Sunphuric (H2SO4), thực quản to và nhăn nheo để chứa thức ăn, có loài có tuyến Leiblein tiêu hóa thức ăn ở dạ dày, kế đó là ruột và hậu môn
Tim nằm ở mặt lưng, gồm 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ
Hệ hô hấp: hô hấp bằng mang, bọn ốc phổi không có mang nhưng vách màng
áo có nhiều vi mạch lấy oxy, một số loài hô hấp bằng màng áo
Hệ thống bài tiết: gồm thận, xoang tim và xoang máu Thận ở mặt lưng cạnh xoang tim, ống dẫn sản phẩm bài tiết dài và đổ ra xoang màng áo
Trang 12Ốc có thể lưỡng tính hay đơn tính Tuyến sinh dục nằm ở mặt lưng gần đỉnh của nang nội tạng (có khi tập trung thành khối hay phân tán quanh gan), những loài có cơ quan giao cấu thì thụ tinh trong, loài không có cơ quan giao cấu thì phóng tinh và trứng ra ngoài môi trường nước [3]
1.1.2 Phân bố của ốc nước ngọt
Sự biến đổi của địa lý và khí hậu dẫn đến sự thay đổi về phân bố của nhiều quần thể sinh vật trên trái đất như chim, côn trùng và các thảm thực vật ở nước ngọt,
lợ, mặn; mỗi yếu tố tác động đều ảnh hưởng đến đặc điểm sinh học, sinh thái, sinh lý
và sinh sản của mỗi loài Sự biến đổi này có sự khác biệt đáng kể về di truyền và phân
bố không đồng đều theo địa lý [30, 88, 76] Giống như nhiều động vật không xương sống khác, ốc nước ngọt có sự đa dạng về thành phần loài và số lượng nhiều ở vùng nhiệt đới và giảm dần theo vĩ độ cao [85]
1.1.2.1 Suối và mạch nước ngầm
Suối và ở đầu nguồn dòng suối thường là nơi chứa nhiều thức ăn của ốc nước ngọt Mặc dù vậy, thành phần loài và số lượng ốc ở đây thường không cao, có từ 1 - 6 loài phân bố, chủ yếu họ Hydrobioidae chiếm đa số; tương tự như vậy ở các tầng nước ngầm, mạch nước ngầm họ Hydrobioidae chiếm đa số, có trên 300 loài phân bố Các con suối có nhiều loài ốc phân bố như: suối Great Artesian Basin của Australia, suối New Caledonia ở Pháp, suối và các hang động Dinaric Alps của Balkans, khu núi đá vôi của Pháp và Tây Ban Nha, suối Florida ở Mỹ [39]
1.1.2.2 Sông và các nhánh sông lớn
Các con sông: Côngo (Châu Phi), Mekong (Châu Á), Mobile Bay (Bắc Mỹ) và Rio Dela Plata (Nam Mỹ) là những nơi có động vật thân mềm phong phú về loài nhưng độ phong phú của các loài ốc nước ngọt không cao Họ Viviparidae (ở khu vực Bắc Mỹ, khu vực phương Đông, Australia), họ Pachychilidae và họ Pleuroceridae (Bắc Mỹ và Nhật Bản), họ Thiaridae (vùng nhiệt đới), họ Pomatiopsidae và họ Stenothyridae (khu vực phương Đông); nhóm ốc phổi (Pulmonata) thường có thành phần loài ít [39]
1.1.2.3 Các hồ lớn trên thế giới
Hồ Baikal, hồ Ohrid, hồ Tanganyika và hồ Sulawesi có họ Viviparidae, Pachychilidae, Paludomidae, Thiaridae, Hydrobiidae, Planorbidae, Acroloxidae, Ancylidae và họ Valvatidae phân bố Họ Planorbidae phân bố nhiều ở các hồ vùng ôn
Trang 13đới hơn các hồ vùng nhiệt đới Các loài ốc hóa thạch ở hồ Miocene Lake Steinheim, Pleistocene Lake Turkana ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành loài và tiến hóa của loài ốc nước ngọt [39]
1.1.2.4 Những vùng đất ngập nước
Có nhiều quần thể ốc sinh sống ở những vùng đất ngập nước, ví dụ: nhiều vùng
ở Châu Á và miền Bắc Australia có họ Viviparidae, Thiaridae, Bithyniidae, Lymnaeidae và Planorbidae sinh sống Những báo cáo gần đây cho thấy, ở những
vùng đất ngập nước của Vịnh Carpentaria ở miền Bắc nước Úc có 56 loài ốc trong đó
có 13 loài đặc hữu [39]
1.1.3 Ốc nước ngọt với sức khỏe con người
Nhiều loài ốc là ký chủ trung gian của một số loài giun sán gây bệnh cho động vật, đáng chú ý nhất là truyền bệnh sán lá cho con người Ít nhất 40 triệu người nhiễm
bệnh sán lá gan (Opisthorchis) và sán lá phổi (Paragonimus) và hơn 200 triệu người bị
bệnh sán máng chủ yếu ở các khu vực Châu Phi, Đông Nam Á, Nam Mỹ, nơi có nền kinh tế lạc hậu Họ Pomatiopsidae và họ Planorbidae là ký chủ trung gian của sán
máng (Schistosomiasis), họ Pachychilidae, Pleuroceridae, Thiaridae, Bithyniidae và
Lymnaeidae là ký chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan và sán lá phổi [60, 26,73]
Con người cũng có thể bị giun tròn (Angiostrongyliases) ký sinh thông qua ký chủ trung gian Ampullariidae Họ Ampullariidae và Pachychilidae thường được dùng làm thực phẩm ở khu vực Đông Nam Á càng thúc đẩy sự lây lan của Angiostrongyliasis và Paragonimiasis (sán lá phổi) [58]
1.1.4 Tình hình nghiên cứu thành phần loài ốc nước ngọt
Strong (2008) cho biết, có khoảng 4.000 loài ốc nước ngọt trên thế giới, tối
thiểu có 33 - 38 họ thuộc các bộ Neritimorpha, Caenogastropoda và Heterobranchia
Hồ Baikal, Ohrid, Tanganyika… là những nơi có mật độ lớp chân bụng (Gastropoda) cao Một số nơi có mật độ thấp hơn, ví dụ các lưu vực sông Congo, Mekong, và Mobile Bay Hiện nay, ốc nước ngọt thế giới phải đối mặt với sự đe dọa từ sự suy thoái môi trường, cá và các loài địch hại khác Sử dụng không bền vững đất, nước, thay đổi cảnh quan, gây hại tài nguyên đã và đang phá hủy nhiều sông, suối, và đe dọa
sự đa dạng các loài ốc đặc hữu ở khu vực sông suối, nước ngầm Tình hình ngày càng trầm trọng hơn do thiếu sự quan tâm và quản lý của con người [39]
Trang 14Ở Bắc Mỹ, có khoảng 650 loài ốc nước ngọt khác nhau, có thể nói, thành phần loài ở khu vực này là đại diện cho thành phần loài ốc của thế giới; tuy nhiên vào những năm đầu của thể kỷ XX thành phần loài ốc nước ngọt tại Bắc Mỹ đã bị giảm, khoảng
60 loài bị tuyệt chủng, 20 loài có nguy cơ tuyệt chủng, 290 loài khác đang được quan tâm để bảo tồn Nói cách khác ốc nước ngọt Bắc Mỹ có 9% bị tuyệt chủng và 48% được bảo tồn Sự suy thoái này là do xây đập, đê, kênh, ô nhiễm công nông nghiệp và
những suy thoái môi trường [50]
Ndifon và ctv (1989), nghiên cứu môi trường sống của ốc nước ngọt ở Tây
Nam Nigeria cho thấy, có 14 loài sống ở khu vực này bao gồm: Biomphalaria pfeifferi, Bulinus globosus, Bulinus rohlfsi, Lymnaea natalensis, Physa ( Aplexa) waterloti, Bulinus forskali, Gyraulus costulatus, Ferrissia sp., Segmentorbis sp., Lanistes libycus, Lanistes ovum, Pila wernei, Potadoma moerchi và Melanoides tuberculata
B globosus và B pfeieri phân bố rộng và xuất hiện thường xuyên và cũng là vật chủ trung gian của sán Schistosoma, còn B rohlfsi rất ít xuất hiện ở khu vực nghiên cứu [70]
Mattison (1995), khảo sát quần thể ốc nước ngọt vào mùa mưa và mùa khô ở
Aligarh, Bắc Ấn Độ, kết quả có 7 loài ốc phân bố gồm: Bithynia tentaculata, Gyraulus convexiusculus, Helicorbis coenosus, Indoplanorbis exustus, Lymnaea acuminata, L luteola và Vivipara bengalensis Số lượng và kích thước ốc nước ngọt cũng thay đổi theo mùa Kiểm tra cercaria trên các loài ốc thu được thì B tentaculata và V bengalensis bị nhiễm metacercarial và cysticercoid Còn G convexiusculus, I exustus
và L luteola bị lây nhiễm bởi ấu trùng Paramphistomes [63]
Ofoezie (1999), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của ốc tại hồ
Oyan Reservoir ở Tây Nam nước Nigeria Có 7 loài ốc được tìm thấy ở hồ gồm: Bulinus globosus, B forskalii, B truncatus, Lymnaea natalensis, Indoplanorbis exustus, Potadoma freethi và Potadoma moerchi Tỷ lệ các loài này 17.6% (B globosus), 16.1% (B forskalii), 0.2% (B truncatus), 12.9% (L natalensis), 23.4% (I exustus) và 29.8% (Potadoma spp.) Mực nước và lượng mưa thay đổi theo mùa nên mật độ ốc cũng thay
đổi theo, nhiều nhất vào tháng 8 (mùa mưa), ít vào các tháng 11 và tháng 12 (mùa khô) [73]
Krailas (2003), báo cáo ốc nước ngọt ở Rừng Toa Dum, Saiyok National Park, tỉnh Kanchanaburi, Thái Lan Nghiên cứu được thực hiện từ đầu con suối đến cuối con suối Thu mẫu ốc bằng tay hoặc bằng vợt Kết quả chỉ tìm thấy một loài ốc thuộc họ
Pleuroceridae thuộc giống Paludomus Ốc có vỏ hình bầu dục, chiều cao 7,3mm và
Trang 15chiều rộng 5,7mm Kiểm tra ký sinh trùng ở 317 mẫu ốc cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán là 2,52% [35]
Diego và ctv (2006), nghiên cứu thành phần loài của lớp chân bụng nước ngọt tại các con sông ở khu vực Đông Bắc của Argentina Tác giả cho biết có 66 loài thuộc
9 họ phù hợp với tài liệu đã công bố trước đây Có 33 loài thuộc họ Ampullariidae, Ancylidae, Lymnaeidae, Physidae, và Planorbidae và 33 loài thuộc họ Lithoglyphidae, Cochliopidae, Thiaridae, và Chilinidae; ngoài ra, tác giả còn tìm thấy thêm 2 loài thuộc họ Ancylidae Vì vậy, hiện nay có 68 loài ốc sống ở khu vực Đông Bắc của Argentina và họ Planorbidae có số lượng nhiều nhất Không tìm thấy loài nào thuộc họ
Thiaridae [34]
Haruay (2008), nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sự phân bố và mật độ họ
Viviparidae ở tỉnh Khon Kaen, Thái Lan Ba loài gồm Filopaludina (Siamopaludina) martensi martensi, F (Filopaludina) sumatrensis speciosa và Idiopoma umbilicata được tìm thấy Thức ăn của ốc thuộc họ Viviparidae là sinh vật phù du và tảo Kiểm tra cercaria trên các loài ốc này, chỉ có nhóm Xiphidiocercariae ký sinh trên F (S.) martensi martensi Độ mặn ảnh hưởng đáng kể đến mật độ và sự phân bố của họ
Viviparidae, những nơi có độ mặn cao thì mật độ ít và ngược lại [87]
Lombardo (2010), nghiên cứu hoạt động sống của các loài ốc nước ngọt ở các
hồ lớn của Italia Bithynia (=Codiella) leachii, Physa (=Physella) acuta và Planorbis planorbis hoạt động mạnh nhất vào ban ngày Valvata piscinalis cũng biểu hiện hoạt
động vào ban ngày nhưng có giai đoạn co rút vào bên trong vỏ, các loài còn lại gồm
Galba (=Lymnaea) truncatula và Radix (=Lymnaea) auricularia) cũng hoạt động vào ban ngày nhưng rất ít P acuta và P planorbis chỉ hoạt động nhiều vào ban đêm [59]
1.2 Tổng quan về ấu trùng cercaria
1.2.1 Chu kỳ phát triển chung của sán lá song chủ (Trematoda)
Sán lá song chủ đẻ trứng, giao phối trên cùng một cơ thể Trứng nhỏ nhưng số lượng nhiều Trứng của sán lá song chủ nở ra ấu trùng; sau đó, ấu trùng phải qua nhiều giai đoạn để phát triển thành cơ thể trưởng thành
Giai đoạn ấu trùng miracidium: Trứng sau khi rơi vào nước, nở ra ấu trùng
miracidium có lông tơ và điểm mắt Phần lớn cơ thể có tuyến đầu, đoạn sau cơ thể có
một đám tế bào mầm, ống tiêu hóa đơn giản Hệ thần kinh và bài tiết không phát triển Miracidium không ăn, nhờ glucogen dự trữ trong cơ thể nên sống tự do trong nước
Trang 16một thời gian rồi nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớp biểu mô chui vào tổ chức gan của cơ thể ốc Trong cơ thể ký chủ trung gian, ấu trùng miracidium mất lông tơ, mất điểm mắt và ruột biến thành bào nang sporocyste
Giai đoạn ấu trùng bào nang sporocyst: Bào nang hình tròn hay hình túi, bề
mặt có khả năng thẩm thấu dinh dưỡng Bào nang sporocyst có thể xoang lớn, nó sinh sản đơn tính (vô tính) tạo ra nhiều ấu trùng redia
Giai đoạn ấu trùng redia: Redia hình túi, có thể di động, cấu tạo cơ thể có hầu
và ruột dạng hình túi ngắn Ấu trùng redia lớn lên, phá màng của bào nang để ra khỏi
tổ chức gan rồi vào cơ quan tiêu hóa của ốc Cơ thể ấu trùng redia dài ra, hầu và ruột phát triển, có hai ống bài tiết Phía sau cơ thể có một đám tế bào mầm tiến hành sinh sản đơn tính cho nhiều ấu trùng cercariae Có những loài sán song chủ không qua giai đoạn ấu trùng redia mà phát triển trực tiếp thành cercaria
Giai đoạn ấu trùng cercaria: Cơ thể cercaria chia làm hai phần: thân và đuôi,
bề ngoài cơ thể có móc, có một hoặc hai giác hút Cơ quan tiêu hóa gồm có miệng, hầu, thực quản và ruột Cercaria có hệ thống bài tiết và đốt thần kinh ở phía trước cơ thể, có tuyến tiết ra men phá hoại tổ chức để xâm nhập vào cơ thể ký chủ, đồng thời biểu mô ở dưới lớp nguyên sinh chất có tuyến phân tiết tạo ra vách của bào nang Cercaria sống tạm thời trong cơ thể ốc, sau đó ra môi trường nước, hoạt động trong một thời gian ngắn, mất đuôi biến thành ấu trùng có vỏ bọc metacercaria Cũng có giống loài sán lá song chủ, ấu trùng cercaria của chúng có thể trực tiếp xâm nhập vào
da của ký chủ, rồi đến mạch máu sau đó qua thời kỳ ấu trùng bào nang metacercaria và phát triển thành trùng trưởng thành Ngược lại cũng có một số loài khi cercaria ra môi trường nước mất đuôi rồi hình thành bào nang (kén) bám trên các thực vật thủy sinh thượng đẳng hay vỏ ốc, nếu gặp ký chủ ăn vào sẽ phát triển thành trùng trưởng thành
Một số giống loài ấu trùng cercaria sau khi tách khỏi cơ thể redia hình thành bào nang (metacercaria) ngay trong cơ thể ốc hoặc chui ra nhưng lại tiếp tục xâm nhập vào cơ thể ốc đó; ốc có ấu trùng, ký chủ tiếp theo ăn vào ruột sẽ phát triển thành trùng trưởng thành
Giai đoạn ấu trùng metacercaria: do có vỏ bọc lại, cơ thể nằm trong bào nang
nên không di chuyển được Cấu tạo cơ thể phát triển gần với trùng trưởng thành Bề mặt cơ thể có móc, giác miệng, giác bụng, lỗ miệng và lỗ bài tiết
Trang 17Cấu tạo trong có cơ quan tiêu hóa, cơ quan bài tiết, thần kinh và cơ quan sinh dục Hệ thống sinh dục một số loài phát triển nhưng đơn giản, một số loài có cơ quan sinh dục cái đã hoàn chỉnh, thậm chí đã có lúc trong cơ quan sinh dục cái có trứng xuất hiện
Metacercaria ký sinh trong cơ thể ký chủ trung gian thứ II bị ký chủ sau cùng ăn vào
trong ống tiêu hóa, do tác dụng của dịch tiêu hóa vỏ bọc vỡ ra ấu trùng thoát ra ngoài
di chuyển đến cơ quan thích hợp của ký chủ và phát triển thành trùng trưởng thành
Quá trình phát triển của sán lá song chủ bắt buộc phải có ký chủ trung gian nhất định, ký chủ trung gian thứ nhất là ốc, ký chủ trung gian thứ II hoặc ký chủ cuối cùng thường là động vật thân mềm, giáp xác, côn trùng, cá, lưỡng thê, bò sát, chim và động vật có vú Có những loài phát triển qua 3-4 ký chủ trung gian
Nhìn chung chu kỳ phát triển của sán lá song chủ chia làm hai dạng:
Có một ký chủ trung gian:
- Ấu trùng cercariae đi trực tiếp vào ký chủ cuối cùng, ví dụ: sán máu (Schitosoma sp.)
- Ấu trùng cercariae ra ngoài môi trường hình thành bào nang metacercaria bám trên các thực vật thủy sinh thượng đẳng, ký chủ ăn vào phát triển thành trùng trưởng thành
Có hai ký chủ trung gian:
- Cả hai ký chủ trung gian là động vật thân mềm, ví dụ Echinostoma cinetorchis ký
chủ trung gian thứ nhất là ốc nước ngọt, ký chủ trung gian thứ hai là hai mảnh vỏ
- Ký chủ trung gian thứ hai là giáp xác hay côn trùng lưỡng thê hoặc cá
Tác hại của sán lá song chủ: Khả năng gây hại của sán lá ký sinh đối với ký chủ phụ
thuộc vào chủng loài hoặc vị trí ký sinh của chúng Thường sán lá ký sinh trong mắt, trong hệ thống tuần hoàn, hệ tiêu hóa và một số cơ quan quan trọng; một số giống loài sán lá ký sinh làm chết ký chủ Ngoài ra, giai đoạn ấu trùng của một số ít loài ký sinh trên cá có khi không gây tác hại lớn nhưng giai đoạn trưởng thành lại ký sinh ở người
và gia súc; do đó nếu có tập quán ăn thịt cá sống như ăn gỏi cá có thể lây bệnh cho người Vì vậy, công tác phòng bệnh và trị bệnh sán lá song chủ ở động vật thủy sản có
ý nghĩa góp phần bảo vệ sức khỏe cho con người và cả gia súc [8]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ấu trùng cercaria trên ốc nước ngọt
Rất nhiều loài ốc nước ngọt là ký chủ trung gian của ký sinh trùng (sán lá, sán dây, giun đũa, giun kim) gây bệnh ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Sự lây nhiễm bệnh đã lan rộng mặc dù mức độ tử vong ở người không cao Ký sinh trùng có thể truyền bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp từ ốc sang người Hầu hết các loài ký sinh trùng
Trang 18gây bệnh cho người đều là giun sán, chủ yếu là sán ký sinh ở gan hay ruột Trong số
những loài sán thì sán lá gan có tỷ lệ nhiễm cao nhất gồm: Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini Các loài sán lá ruột cũng rất phổ biến ở Đông Nam Á, chúng
bao gồm nhiều nhóm ký sinh trùng chủ yếu thuộc họ Heterophyidae và Echinostomatidae Việc loại bỏ những loài ký sinh này từ nguồn cung cấp thực phẩm, đặc biệt là cá là một công việc đầy khó khăn và thách thức [80]
Đặng Tất Thế (2005), khảo sát khu hệ ốc nước ngọt và tỷ lệ nhiễm sán lá của ốc nước ngọt ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Tiền Giang Kết quả thu được 14 loài ốc
gồm: Stenomelania reevei, Antimelania sp., Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana, Filopaludina sumatrensis, Pomacea sp., Gyraulus convexiusculus, Indoplanorbis exustus và Lymnaea viridis, Thiara scabra, Antimelania siamensis, Assiminea sp., Dostia violacea và Clithon sp
Stenomelania reevei, M tuberculata và B fuchsiana bị nhiễm ấu trùng cercaria của các nhóm Echinostome, Xiphidiocercaria và Pleurophocercaria, nhiều nhất là nhóm ấu trùng Pleurolophocercaria Ở An Giang, M tuberculata bị nhiễm Xiphidiocercaria và Pleurolophocercaria; nhưng ở Cần Thơ và Tiền Giang, chúng lại
bị nhiễm 4 nhóm cercaria khác Bithynia fuchsiana bị nhiễm 5 nhóm cercaria nhưng không bị nhiễm Pleurolophocercaria [90]
Bùi Thị Dung (2006), thực hiện “khảo sát khu hệ ốc và ấu trùng cercariae ký
sinh trên ốc tại An Giang” Đợt khảo sát tìm thấy 9 loài ốc nước ngọt ở An Giang bao
gồm: Pomacea sp., F sumatrensis, B fuchsiana, M tuberculatus, Stenomelania sp., Antimelania sp., L viridis, G convexiusculus và Paraplanorbis Trong đó, B fuchsiana và M tuberculatus là 2 ký chủ bị nhiễm cả 7 nhóm ấu trùng cercaria Các nhóm cercaria được tìm thấy trong ốc gồm: Echinostomata, Amphistomata, Xiphidiocercaria, Fucocercaria, Cysticerca, Monostomata, Pleurolophocercaria Sự xuất hiện ấu trùng Pleurolophocercaria cho biết ký sinh trùng sán gây bệnh đã tồn tại
ở An Giang từ lâu, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm rất thấp [2]
Jakob và ctv (2009), nghiên cứu “vòng đời sán lá ruột nhỏ trên cá nước ngọt ở
miền Bắc Việt Nam bằng kỹ thuật phân tử” Kết quả cho thấy 3 loài H pumilio, H taichui và Procerovum sp gây bệnh sán lá ruột ở người, giai đoạn cercaria ký sinh trên Melanoides tuberculata và giai đoạn metacercaria ký sinh ở ruột và mô cá nuôi (mè
trắng, trôi Ấn Độ và rô đồng) Kết quả nghiên cứu cho biết, rất khó để xác định mối
Trang 19quan hệ phát triển từ cercaria lên metacercaria của cùng một loài, nếu chỉ dựa vào các đặc điểm hình thái Sử dụng kỹ thuật PCR và giải mã trình tự gen đối với cercaria và
metacercaria đã làm rõ được quan hệ giữa cercaria và metacercaria của H pumilio
Các loài ký sinh trùng đã phát hiện tại các ao cá không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe cá nuôi mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho con người khi ăn cá chưa chín [83]
Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (2009), nghiên cứu “mật độ nhiễm ấu trùng sán lá
ruột nhỏ ở cá trong các ao ương giống ở Miền Bắc Việt Nam” Kết quả cho thấy cá bột
không bị nhiễm sán lá Không có quan hệ rõ ràng giữa tỷ lệ nhiễm cercaria trên ốc và
tỷ lệ nhiễm ấu trùng metacercariae ở cá của sán lá ruột nhỏ Không tìm thấy ốc bị nhiễm ấu trùng cercaria của sán lá ruột Vì vậy cần có những nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn để kiểm tra ấu trùng có trong ốc tại những ao này [4]
Bùi Thị Dung và ctv (2010), khảo sát khu hệ ốc nước ngọt và tình hình nhiễm
ấu trùng sán lá ở 2 xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Tỷ lệ nhiễm chung là 4,12% Số lượng và thành phần loài ốc tìm thấy ở ao cá giống cao hơn ao cá thịt Một phát hiện khác ở ao cá thịt có thả cá trắm đen
(Mylopharyngodon piceus) cho thấy số lượng ốc thu thập được thấp hơn so với ao
không thả cá trắm đen Trong số 16 loài ốc thu được và định loại tại địa điểm nghiên
cứu có 4 loài ốc phân bố rộng là: Angulyagra polyzonata, Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana và Pomacea bridgesi Những loài ốc phổ biến ở ao cá là những loài
ốc thuộc họ Thiaridae, Viviparidae; còn những loài ốc thuộc họ Bithyniidae, Stenothyridae và Planorbidae thì phần lớn phổ biến ở kênh mương và ruộng lúa Có 8 loài ốc được xác định đóng vai trò vật chủ trung gian của ấu trùng sán lá lây bệnh cho
cá, bao gồm: Melanoides tuberculata, Sermyla tornatella, Thiara scabra, Tarebia granifera, Bithynia fuchsiana, Stenothyra messageri, Gyraulus convexiusculus, Lymnaea swinhoei Trong đó loài Melanoides tuberculata có tỷ lệ nhiễm cercaria cao
nhất 13,28% và là vật chủ nhiễm nhiều nhóm cercaria Không phát hiện cercaria ở các
loài ốc A polyzonata, Idiopoma umblicata, P bridgesi, P canaliculata, Pila polita, Neritina violacea, và Lymnaea viridis Cercaria của 5 nhóm được xác định sau khi phân tích 10.878 mẫu ốc là: Parapleurolophocercaria, Xiphidiocercaria, Monostomecercaria, Echinostomecercaria và Gymnocephalous Nhóm
Parapleurolophocercaria là nhóm ấu trùng được tìm thấy phổ biến ở địa điểm nghiên cứu, chiếm 40,53% tổng số ốc nhiễm, thấp hơn là nhóm Echinostome cercaria 24,56%,
Trang 20Xiphidiocercaria 17,73% Hai loài ốc Sermyla tornatella và M tuberculata đóng vai trò vật chủ chính chứa nhóm Parapleurolophocercaria; Thiara scabra chứa nhóm Echinostome; Bithynia fuschiana chứa nhóm Xiphidiocercaria [36]
Kanev và ctv (1995), nghiên cứu vòng đời Echinostoma jurini cho thấy: (1) ký
chủ trung gian đầu tiên là ốc thuộc họ Viviparidae, (2) ký chủ trung gian thứ hai là
ếch, rùa, (3) ký chủ cuối cùng là động vật có vú, (4) E jurini thường xuất hiện ở các nước thuộc Châu Âu và có thể ở Châu Á, nơi mà Viviparidae phân bố [51]
Wadsan (2005), nghiên cứu ấu trùng cercaria của sán song chủ Echinostoma
sp trên ốc Indoplanorbis exustus ở suối nước ngọt thuộc Al-Hasa ở Saudi Arabia Kiểm tra 50 mẫu ốc Indoplanorbis exustus cho thấy có sự xuất hiện của ấu trùng cercaria của Echinostoma sp với tỷ lệ nhiễm 20% [96]
Ukong và ctv (2007), nghiên cứu hình thái cercaria tìm thấy trên ốc nước ngọt ở thác Erawan Waterfall, công viên Erawan, Thái Lan Tác giả sử dụng phương pháp để các ấu trùng cercaria ký sinh trên ốc tự thoát ra ngoài môi trường nước và định loại
được 6 loài thuộc 3 nhóm Nhóm Pleurolophocercous cercariae gồm: Haplorchis pumilio (C1) và Stictodora tridactyla (C3) Nhóm Furcocercous cercariae gồm: Mesostephanus appendicalatus (C2), Transversotrema laruei (C6) và Cardicola alseae (C4) Nhóm Xiphidiocercariae chỉ có Loxogenoides bicolor (C5) Tổng số mẫu
ốc là 1.163 mẫu chỉ có 62 mẫu bị nhiễm cercaria, tỉ lệ nhiễm là 5,33% Trong 687 mẫu
ốc Melanoides jugicostis, có 45 mẫu (6.5%) bị nhiễm, 91 mẫu ốc Tarebia granifera có
6 mẫu (6.6%) bị nhiễm, 296 mẫu ốc Thiara scabra có 1 mẫu (0.3%) bị nhiễm và 89 mẫu ốc Melanoides tuberculata có 10 mẫu (11.2%) bị nhiễm [93]
Wivitchuta và ctv (2007), nghiên cứu ấu trùng cercaria của sán lá trên ốc nước ngọt thuộc họ Thiaridae ở sông Khek, Thái Lan Kết quả thu được 9.568 mẫu ốc, gồm
14 loài: Tarebia granifera, Melanoides tuberculata, Thiara scabra, Paracrostoma pseudosulcospira pseudosulcospira, P paludiformis paludiformis, P paludiformis dubiosa, P morrisoni, Brotia (Brotia) binodosa binodosa, B (Brotia) microsculpta, B (Senckenbergia) wykoffi, B (Brotia) pagodula, B (Brotia) binodosa spiralis, B (Brotia) insolita và B (Brotia) manningi Các loài ốc bị nhiễm ấu trùng cercaria gồm
T granifera, M tuberculata, T scabra, P paludiformis paludiformis và B (Senckenbergia) wykoffi Cercaria của 2 nhóm Parapleurolophocercous và Xiphidiocercariae được tìm thấy và mô tả hình thái dưới kính hiển vi Nhóm
Trang 21Parapleurolophocercous gồm các loài Haplorchis pumilio, Centrocestus formosanus Nhóm Xiphidiocercariae gồm các loài Acanthatrium hitaense, Loxogenoides bicolor
và Haematoloechus similis [33]
Moema và ctv (2008), nghiên cứu sự phát triển của ấu trùng cercaria trên ốc
Lymnaea natalensis thu tại những vùng Pretoria, tỉnh Gauteng, Nam Phi Nghiên cứu tìm thấy 3 loài cercaria ký sinh trên ốc Lymnaea natalensis gồm: Trichobilharzia sp thuộc họ Schistosomatidae, Echinostomatid thuộc họ Echinostomatidae và Xiphidiocercaria thuộc họ Plagiorchiidae Hình thái cercaria được quan sát và mô tả
dưới kính hiển vi [65]
Yousif và ctv (2010), nghiên cứu hình thái học của 11 loài cercaria trên ốc
Melanoides tuberculata ở Ai Cập Các loài cercaria thuộc 4 nhóm: Xiphidiocercariae (2 loài), Furcocercous cercariae (2 loài), Pleurolophocercous (4 loài) và Gymnocephalous cercariae (3 loài) Có 13.840 mẫu ốc thu được trong các mùa khác
nhau ở sông Nile và các hệ thống thủy lợi tại các địa phương khác ở Ai Cập Cercaria được cố định lại, chụp hình và mô tả chi tiết [41]
Uthpala (2010), nghiên cứu ấu trùng cercaria của sán song chủ ký sinh trên ốc nước ngọt tại các thủy vực sông, suối của Sri Lanka Tác giả đã thu được 4 loài ốc
Thiara scabra, Thiara tuberculata, Paludomous sphearica và Gyraulus saigonens Trong đó, loài ốc thuộc giống Thiara là ký chủ trung gian có tỉ lệ nhiễm cercaria cao nhất Cercaria của 8 nhóm được tìm thấy gồm: Oculopleurolophocercous, Distome, Gymnocephalous, Echinostomous, Gymnophallus, Xiphidiocercariae, Macrocercous
và Furcocercous; thuộc 6 họ Heterophyidae, Schistosomatidae, Psilostomidae,
Echinostomidae, Gymnophallidae, Lecithodendriidae Tổng số mẫu ốc thu được có 16% số mẫu bị nhiễm một hoặc nhiều loài cercaria Sự đa dạng thành phần loài và tỷ
lệ nhiễm cercaria khác nhau ở các thủy vực Đa dạng thành phần loài ở các nhóm cercaria trong mùa mưa cao nhưng tỷ lệ nhiễm thấp 10,1%, vào mùa khô tỷ lệ nhiễm là 77,4% và giao điểm giữa mùa khô và mùa mưa là 33,9% [94]
Yousif và ctv (2011), nghiên cứu sán lá ký sinh trên ốc nước ngọt Gabbiella senaariensis (Bithyniidae) ở Ấn Độ, có 3 nhóm cercaria được tìm thấy: Xiphidiocercaria, Furcocercous cercaria và Monostome cercaria Tác giả còn xác định chu kỳ sống của Monostome cercaria bằng cách sử dụng chuột bạch Rattus norvegicus
làm ký chủ cuối cùng để làm thí nghiệm và đã thu được sán trưởng thành Ký sinh trùng
Trang 22sán lá được xác định là Catatropis indicus (Notocotylidae) Sán trưởng thành có nhiều
tuyến bụng chồng lên nhau Trứng có một hoặc hai sợi rất dài ở mỗi cực Redia màu nâu hoặc màu vàng nhạt thường chứa 2 cercaria Cercaria có 3 điểm mắt màu đen Metacercaria có màu nâu sẫm thường có 3 lớp, hai lớp bên trong và 1 lớp bên ngoài không thường xuyên xuất hiện [40]
Devi (2011), nghiên cứu cercaria ký sinh trên ốc Thiara (Melanoides) tuberculata tại 5 khu vực khác nhau ở thung lũng Doom của Ấn Độ Nghiên cứu tìm thấy 2 nhóm cercaria là Xiphidiocercariae và Furcocercous ký sinh trên ốc Thiara (Melanoides) tuberculata Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở khu vực Dudhlee (22,85%), tiếp
theo là Lacchiwala (22,23%), Gularghati (22,00%), Sahaspur (16,66%) và Asan Barrage (13,42%) Tại hầu hết các khu vực, tỷ lệ ốc nhiễm cercaria cao nhất trong tháng 11 và tháng 12, ngoại trừ khu vực Gularghati có tỷ lệ nhiễm cao vào tháng 9 và tháng 10 [77]
Chandore và ctv (2011), nghiên cứu ấu trùng sán gây nhiễm trên ốc nước ngọt ở Đầm Girana và nguồn nước ở Nandgaon Tehsil ở huyện Nashik, (M.S.) India Ốc được thu tại ao, suối, sông và các thủy vực mà trâu, bò, dê, cừu thường xuyên uống
nước Tác giả cho biết các loài ốc Melania scabra, Lymnia trancunatula, Viviperous bengalysis, Gyrulus anisus, Limnia auricularia và Limnia accuminata bị nhiễm ấu
trùng cercarie, redia và cả metacercarie [22]
1.2.3 Khóa định loại các nhóm cercaria của sán lá ở Việt Nam
Trang 2313 (14) Đuôi chẻ đôi 7 Fucocercaria
14 (13) Đuôi không chẻ đôi
16 (15) Không có viền cổ, và móc
17 (18) Cơ thể có nhiều tế bào nang, không có tế bào thẩm thấu 9 Gymnocephala
18 (17) Cơ thể không có tế bào nang, nhưng có tế bào bào thẩm thấu
19 (20) Không có điểm mắt, luôn có gai nhỏ (stylet) 10 Xiphidocercaria
20 (19) Có 2 mắt, đôi khi có gai nhỏ (stylet)
21 (22) Đuôi có chùm lông dài 11 Triichocerca
22 (21) Đuôi không có lông hay lông không mọc thành chùm 12 Pleurolophocercaria [46]
Trang 241 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
- Địa điểm: Kênh, rạch, đầm lầy, đồng ruộng thuộc 2 xã An Mỹ và An Hòa, huyện
Tuy An, tỉnh Phú Yên Thu mẫu ngẫu nhiên và không giới hạn số lượng
- Địa điểm phân tích mẫu: Mẫu ốc được chuyển từ Phú Yên về và được phân tích tại
phòng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Nha Trang, Khánh Hòa
- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 06/2011 đến tháng 12/2011
Đối tượng nghiên cứu: các loài ốc nước ngọt và các loại ấu trùng cercaria ký sinh
trên chúng
Hình 2.1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu: xã Mỹ An, An Hòa huyện Tuy An
Xã An Hòa và
xã An
Mỹ
Trang 252.2 Phương pháp nghiên cứu
Sơ đồ nghiên cứu:
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.2.1 Phương pháp thu mẫu ốc: mẫu ốc được thu trong diện tích 1m2 tại 3 địa điểm khác nhau ở mỗi thủy vực Ốc được thu bằng tay hoặc bằng vợt ở các thủy vực khác nhau Ốc ở các thủy vực khác nhau được giữ trong các lọ khác nhau, tất cả các lọ được đặt vào một thùng xốp không có nước và vận chuyển bằng xe ô tô đến phòng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III
Mẫu ốc được bảo quản trong dung dịch ethanol 70% và giữ lại như một mẫu vật
để tham khảo trong trường hợp nghi ngờ về kết quả phân loại
Phân loại ốc: Ốc được xác định dựa trên tài liệu Brandt (1974) [15], Đặng Ngọc
Thanh (1980) [9]
2.2.2 Phương pháp kiểm tra cercaria: Sử dụng phương pháp để cercaria tự thoát ra
ngoài của Frandsen và Christensen (1984) [42], mỗi cá thể ốc được giữ riêng biệt trong cốc trong suốt chứa 5ml nước sạch trong vòng 24 giờ
Mẫu ốc nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần AT cercaria ký sinh trên ốc
Mức độ nhiễm
AT cercaria
Mức độ nhiễm AT metacercaria trên cá
Trang 26Định loại Cercaria: Cercaria được định loại theo khóa phân loại của
Ginetsinskaya (1988) [43] và Dung và ctv (2010) [36] Cercariae được vẽ, chụp ảnh và đo kích thước từ kính hiển vi ở độ phóng đại 40x và 100x
Mẫu của tất cả các loài cercariae được bảo quản trong formalin 4% Ngoài
ra, mẫu phải được bảo quản trong dung dịch ethanol 70% và giữ lại có thể xác định sử dụng kỹ thuật phân tử khi cần thiết
2.2.3 Phương pháp cảm nhiễm ấu trùng cercaria trên cá chép
Thí nghiệm gây cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên
cá chép : được tiến hành vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép
- Cá chép có khối lượng trung bình 3,5g, chiều dài từ 27- 40 mm và chiều cao 5 - 9
mm, được bố trí trong can nhựa có thể tích 3 lít, sụt khí 24/24 giờ Mật độ 15con/can
- Cho cercaria Pleurolophocercaria thoát ra từ ốc vào nghiệm thức 2
- Cho cercaria Xiphidiocercaria thoát ra từ ốc vào nghiệm thức 3
- Mật độ bố trí cercaria: cho tất cả cercaria thoát ra từ ốc vào can chứa cá chép cảm nhiễm
- Cá chép được cho ăn thức ăn công nghiệp và thay nước từ ngày thứ hai trở đi
- Cá chép được nuôi trong 10 ngày, sau đó đem kiểm tra metacercaria
Thí nghiệm gây cảm nhiễm Echinostome trên cá chép: được tiến hành vào
tháng 11 và tháng 12
Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức:
Bố trí thí nghiệm
Trang 27
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí cảm nhiễm Echinostome trên cá chép
Tiến hành cho cercaria Echinostome vào nghiệm thức 2, mật độ cercaria cho tất cả cercaria thoát ra từ ốc vào can chứa cá chép cảm nhiễm Các bước thí nghiệm còn lại làm tương tự như thí nghiệm cảm nhiễm Pleurolophocercaria và Xiphidiocercaria trên cá chép
Cercaria thuộc 2 nhóm Monostome và Gymnocephalus có tìm thấy trên ốc nhưng mật độ rất ít không đủ để bố trí thí nghiệm cảm nhiễm trên cá chép
2.2.4 Phương pháp kiểm tra metacercaria
Phương pháp tiêu cơ: Áp dụng phương pháp nghiên cứu metacercaria của Darwin (2005) [27] Các bước tiến hành như sau:
- Đo chiều dài của cá chép bằng thước đo và cân khối lượng cá bằng điện tử
- Nghiền từng mẫu cá chép bằng cối sứ hoặc máy xay thịt
- Chuyển mẫu nghiền vào cốc thủy tinh 100 ml có chứa 50 ml dung dịch tiêu cơ (8 ml HCl + 6g pepsin trong 1.000 ml nước cất), dung dịch tiêu cơ ngập 1/3 thể tích mẫu
- Trộn đều mẫu và dung dịch tiêu cơ, đặt mẫu trong tử ấm 370C từ 2-3 giờ, thỉnh thoảng khuấy đều mẫu
- Thêm 50 ml nước cất, lắc rồi để lắng, lọc sản phẩm tiêu cơ qua lưới lọc 1x1 mm
và rửa qua nước muối sinh lý, để dung dịch lắng cho đến khi phần lắng cặn dễ quan sát
- Loại bỏ phần nổi một cách nhẹ nhàng và giữ lại phần lắng cặn
- Lặp lại 7 đến 8 lần cho đến khi chất lắng trở nên trong
- Chuyển chất lắng mỗi lần một lượng nhỏ vào trong đĩa petri chứa nước muối sinh lý Xoay nhẹ đĩa petri bằng tay sao cho các chất lắng tập trung vào giữa đĩa Dùng pipette loại bỏ phần nhẹ nổi trên bề mặt
- Quan sát phần lắng cặn trên kính sôi nổi, kiểm tra metacercaria
Trang 28Số ốc bị nhiễm KST
Tổng số ốc kiểm tra X 100%
TLCN =
- Tách riêng từng loại và đếm số lượng metacercaria của mỗi loài sán
- Định loại metacercaria: Metacercaria được xác đinh theo khóa định loại của
Tính tỷ lệ cảm nhiễm (TLCN) Metacercaria trên cá
Cường độ cảm nhiễm (CĐCN) Metacercaria trên cá
Trang 292 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả thu mẫu ốc tại hai xã An Mỹ và An Hòa
Đã thu được 4.224 mẫu ốc ngoài tự nhiên tại các thủy vực ở hai xã An Mỹ và An Hòa Số lượng và kích thước mẫu ốc nghiên cứu thể hiện ở Bảng 3.1
Bảng 3.1: Thành phần loài, số lượng, kích thước mẫu ốc nghiên cứu
Kích thước (nhỏ nhất-lớn nhất) Loài ốc
Số lượng mẫu Chiều cao (mm) Chiều rộng (mm)
hơn so với kết quả nghiên cứu khu hệ ốc ở 2 xã Nghĩa Lạc và Nghĩa Phú, Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định của Bùi Thị Dung (2010), công trình này đã thu được 16
loài ốc gồm: Neritina violacea, Thiara scabra, Tarebia granifera, Melanoides tuberculata, Sermyla riquetii, Pila polita, Pomacea canaliculata, Pomacea insularum, Idiopoma umbilicata, Angulyagra polyzonata, Bithynia fuchsiana, Stenothyra messageri, Polypylis hemisphaerula, Gyraulus convexiusculus, Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis Trong đó, có 4 loài ốc phân bố rộng là: Angulyagra polyzonata, Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana và Pomacea bridgesi [36] Khu hệ ốc ở ba
Trang 30tỉnh An Giang, Cần Thơ và Tiền Giang, gồm 14 loài ốc Các loài được tìm thấy gồm:
Stenomelania reevei, Antimelania sp., Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana, Filopaludina sumatrensis, Pomacea sp., Gyraulus convexiusculus, Indoplanorbis exustus, Lymnaea viridis, Thiara scabra, Antimelania siamensis, Assiminea sp., Dostia violacea và Clithon sp [90] Sự khác biệt này do tại mỗi khu vực địa lý khác nhau thì
thành phần và số lượng loài ốc sẽ khác nhau [30, 88, 76]
Trang 31Bảng 3.2: Vị trí phân loại các giống loài ốc được sử dụng trong nghiên cứu
Melanoides Melanoides tuberculata
Thiaridae
Filopaludina Filopaludina sumatrensis
Viviparidae
Sinotaia Sinotaia lithophaga
Mesogastropoda
Bulinidae Indoplanrbis Indoplanrbis exustus
Neogastropoda
Mollusca Gastropoda
Trang 32Hình 3.1: Melanoides tuberculata
3.2 Một số đặc điểm phân loại các loài ốc thu được tại các thủy vực của hai xã An
Mỹ, An Hòa huyện Tuy An tỉnh Phú Yên
3.2.1 Melanoides tuberculata Muller, 1774
Tên đồng nghĩa: Melania tuberculata Bort, 1874
Mô tả hình thái : Ốc có dạng hình tháp, vỏ
thon dài màu vàng hoặc màu nâu, có 12 - 16 vòng
xoắn Trên các vòng xoắn có gờ nổi dọc, gờ này có
thể rõ ở cá thể nhỏ và mờ ở cá thể lớn, rãnh xoắn ốc
nông hẹp cuộn quanh cơ thể Lỗ miệng hình bầu
dục vành miệng sắc
Phân bố: Ở kênh, rạch, ao, hồ, sông, suối,
khe suối trên núi Loài ốc này phân bố nhiều nơi
trên thế giới từ Châu Âu, Châu Á đến quần đảo Tây
Thái Bình Dương và Châu Úc [15] Ở nước ta, có
thể bắt gặp ở các thủy vực đồng bằng, miền núi và
vùng trung du [10]
Ký chủ trung gian truyền bệnh: Melanoides tuberculata là ký chủ trung gian của ấu trùng cercaria ở Đông Bắc đảo Leyte, Philippines [49] M tuberculata là ký chủ trung gian đầu tiên của Echinochasmus japonicus với tỉ lệ nhiễm là 1,1% [23] Người ta tìm thấy M tuberculata bị nhiễm ấu trùng Philophthalmus sp ở Israel và Jordan Loài ốc này là ký chủ trung gian của ấu trùng Schistosome lây bệnh cho chim,
và gây viêm da ở con người [11] Ở nước ta, M tuberculata được tìm thấy ở các thủy vực nước ngọt của tỉnh Ninh Bình, và chúng bị nhiễm ấu trùng cercaria của Clonorchis
scinensis (sán lá gan nhỏ) với tỷ lệ nhiễm là 13,3% [54]
3.2.2 Sermyla tornatella Lea, 1850
Tên đồng nghĩa: Melania tornatella Bort, 1874
Mô tả hình thái: Ốc cỡ nhỏ, đỉnh tầy, có nhiều gờ nổi dọc Có 6 - 8 vòng xoắn, các vòng xoắn dẹp, đều và đẹp, rãnh xoắn nông rõ Vòng xoắn cuối chiếm hơn nửa chiều cao vỏ, hơi phình to ở khoảng giữa Mặt vỏ màu trắng ngà, phần dưới vòng xoắn cuối, ngang miệng vỏ có các đường vòng đều đặn Phần trên vòng xoắn cuối và mặt trên các vòng xoắn đầu có nhiều gờ nổi dọc xoắn về phía trái, các gờ này nhỏ dần về
Trang 33Hình3.2: Sermy latornatella
Hình 3.3: Tarebia granifera
phía đỉnh vỏ Miệng vỏ hình bầu dục, mép ngoài miệng vỏ sắc, phía dưới tạo thành mũi nhọn, nhỏ phía trên thành góc nhọn
Phân bố: sống trong môi trường nước ngọt,
nước lợ và vùng cửa sông Trên thế giới phân bố:
Philipin, Trung Quốc [15], Bờ biển Ấn Độ và phía
Tây Thái Bình Dương [10] Tại Thái Lan loài này
được tìm ở các cửa sông của những con sông lớn
nhỏ [15] Ở Deep Bay - Hong Kong loài Sermyla
tornatella phân bố với mật độ rất cao, mật độ
trung bình 816 con/m2 [17] Ở nước ta, loài này
phân bố tại thủy vực nước ngọt ở vùng đồng bằng,
trung du, vùng nước lợ và cửa sông [10]
Ký chủ trung gian gây bệnh: chỉ tìm thấy ấu
trùng cercaria của sán dạ cỏ (Paramphistomatidosis
) gây bệnh trên trâu bò ký sinh trên loài ốc này, không tìm thấy ấu trùng sán gây bệnh trên con người [6]
3.2.3 Tarebia granifera Lamarck, 1822
Tên đồng nghĩa: Melania granifera Bort, 1874
Tarebia obliquigranosa Tchang Si, 1964
Mô tả hình thái: Ốc cỡ trung bình, đỉnh tầy
có 9 - 10 vòng xoắn thường bị gặm mòn Các vòng
xoắn đầu dẹp, ở con non vuốt nhọn, ở con trưởng
thành tà hơn Vòng xoắn cuối lớn, phình to ở giữa,
chiếm khoảng ½ chiều cao vỏ Mặt vỏ có nhiều nốt
sần ngang, màu vàng đất hay đen Miệng vỏ hình
bầu dục dẹp góc nhọn, vành miệng dài và sắc, phía
dưới tạo thành rãnh rộng, phía trên thành ngoài
miệng cong lên Lớp sứ bờ trục dày, màu trắng vôi
Phân bố: tập trung chủ yếu trong các ao, hồ, sông, kênh, rạch, chúng sống trong
môi trường nước ngọt không chịu đựng được độ mặn cao như loài S riqueti [15] Bắt
gặp ở nhiều nơi trên thế giới như: Ấn Độ, Indonesia, Philipines, Trung Quốc và phía tây quần đảo Thái Bình Dương Tại Thái Lan loài này được tìm thấy hầu như tất cả các
Trang 34Hình 3.4: Thiara scabra
tỉnh Ở nước ta, loài ốc này được tìm thấy ở các thủy vực ở vùng núi, vùng trung du Đông Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ [9]
Ký chủ trung gian truyền bệnh: Tarebia granifera là vật chủ trung gian truyền
bệnh sán lá tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á [11] Ấu trùng cercaria ký sinh
trên Tarebia granifera gồm: sán lá ruột Centrocestus formosanus lây nhiễm trên cá [64] và sán mắt Philophthalmus gralli [67]
3.2.4 Thiara scabra Muller, 1774
Tên đồng nghĩa: Plotia scabra Muller, 1774
Helix scabra Chemnitz, 1786
Melania scabra Bort, 1877
Mô tả hình thái: Ốc cỡ nhỏ, hình tháp có 9
vòng xoắn, đỉnh vuốt nhọn Các vòng xoắn đầu đều
đặn, tạo thành góc ở khoảng giữa vòng xoắn, rãnh
xoắn sâu Vòng xoắn cuối chiếm hơn nửa chiều cao
vỏ, phình to, tạo thành gốc ở phía trên Trên các vòng
xoắn có các đường vòng thô và các gờ nổi dọc hơi xiên về phía trái Khoảng giữa các
gờ nổi dọc có hàng nốt sần, có khi kéo dài thành gai mảnh dài Ở vòng xoắn cuối các
gờ dọc chỉ dài ngang gốc miệng vỏ Miệng vỏ hình bầu dục, chiếm gần nửa chiều cao
vỏ, phía dưới tạo thành rãnh rộng Mép ngoài miệng vỏ sắc
Phân bố: ao, hồ, sông, suối, kênh, rạch, khe núi và được tìm thấy từ thượng nguồn xuống đến cửa sông Trên thế giới, loài này phân bố ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, Philippin, Sri Lanka, các đảo ở Thái Bình Dương và Tây
Ấn Độ Dương [15] Ở nước ta, chúng thường sống ở sông, suối, hồ, vùng núi trung du
và miền đồng bằng [10]
Ký chủ trung gian: Là ký chủ trung gian đầu tiên của ấu trùng sán lá ruột
Paragonimus westermani [15] và Transversotrema patialensis tại huyện Mae Taeng tỉnh Chiang Mai của Thái Lan [19] Tại tỉnh Nam Định, Việt Nam ốc Thiara scabra là
ký chủ trung gian chứa cercaria của sán lá Echinostome lây bệnh qua cá [36]
Trang 35Hình3.5: Filopaludina sumatrensis
3.2.5 Filopaludina sumatrensis Dunker, 1852
Tên đồng nghĩa: Paludina sumatrensis Conch, 1869
Mô tả hình thái: Ốc cỡ trung bình, mặt vỏ
bóng màu nâu vàng, trên mỗi vòng xoắn có 5
đường chỉ màu nâu đen chạy song song với rãnh
xoắn Có 6 vòng xoắn, vòng xoắn cuối phình to,
gờ dưới nổi rõ Các vòng xoắn đầu hơi lồi, rãnh
xoắn nông cạn Miệng vỏ hình tim, mặt trong
miệng vỏ màu trắng sữa Lỗ trục không rõ
Phân bố: sống ở các thủy vực ao, hồ, sông và suối Bắt gặp ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt phân bố rất nhiều ở Châu Á (bao gồm cả Việt Nam) [15]
Ký chủ trung gian: Filopaludina sp là ký chủ trung gian thứ nhất hoặc thứ hai của sán lá ruột Echinostomes ở Thái Lan [89]
3.2.6 Sinotaia lithophaga Heude, 1889
Tên đồng nghĩa: Bellamya lithopaga Yen, 1943
Mô tả hình thái: ốc cỡ trung bình, có 6
vòng xoắn, chiều cao tháp ốc gần bằng miệng
vỏ, ốc có dạng thấp ngắn và mập Các vòng
xoắn lớn đều, vòng xoắn cuối không phình rộng
so với các vòng xoắn đầu Rãnh xoắn sâu, đỉnh
tầy Vỏ mỏng, mặt vỏ có nhiều khía dọc màu
xanh vàng, ở vòng xoắn cuối có hai đường chỉ
nâu song song Miệng vỏ hình bán nguyệt Lỗ
trục rõ
Lưỡi gai: gai rìa ngoài tròn, đầu mút có 9 răng Gai trung gian có trụ giữa hình vòng lớn, mỗi bên có 4 răng nhọn Gai bên có trụ giữa phẳng, mỗi bên có 4 răng Gai giữa có trụ giữa gồ cao, bên trái có 5 răng, bên phải có 4 răng tròn đầu [10]
Phân bố: ở các thủy vực nước ngọt Phân bố ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở Châu Á Ở Việt Nam: phân bố nhiều ở các tỉnh phía Bắc [9]
Hình3.6: Sinotaia lithophaga
Trang 36Hình 3.7: Pomacea sp
Hình 3.8: Gyraulus sp.
3.2.7 Pomacea sp
Mô tả hình thái: Vỏ không bóng,
hình cầu có nhiều màu: màu vàng,
màu đen, màu nâu và màu xanh lá
cây, có 5 - 6 vòng xoắn Miệng vỏ loe
rộng, mép miệng vỏ sắc, lỗ trục sâu
và rộng Nắp vỏ dày Các vòng xoắn
đầu nhỏ hơn rất nhiều so với vòng
xoắn cuối Ốc còn nhỏ có màu vàng nhạt, trưởng thành có màu vàng, màu nâu hoặc màu xanh lá cây
Phân bố: Các loài ốc thuộc giống Pomacea là loài lưỡng cư sống cả ở trên cạn và
dưới nước Trên thế giới: loài ốc này phân bố khắp Châu Á [10], và một số nước thuộc châu Mỹ như: Brazil, Uruguay, Paraguay, Boliva và Argentina [101] Tại Việt Nam, chúng sống ở ao, hồ, sông, đồng bằng và trung du [10]
Các loài ốc thuộc giống Pomacea có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được di nhập vào Châu Á vào năm 1980 gồm 4 loài: P canaliculata, P diffusa, P insularum và Pomacea scalaris [41]
Các loài ốc thuộc giống Pomacea có thể làm thực phẩm cho con người, bên cạnh
đó nó cũng trở thành loài gây hại nghiêm trọng đối với mùa màng [69] và là mối đe
dọa với hệ sinh thái tự nhiên [16] Hiện nay, P canaliculata là loài gây hại mùa màng
nhiều nhất ở các nước Châu Á và là ký chủ trung gian của
E malayanum giai đoạn metacercaria ở Thái Lan [97]
3.2.8 Gyraulus sp
Mô tả hình thái: loài này thuộc loài ốc nhỏ có đường
kính 5mm trở lại, chiều cao không quá 2mm, vỏ dẹp, hình
vành khăn, có 4 vòng xoắn, cả hai bên đều lõm hoặc phẳng,
vòng xoắn cuối có dạng hình tròn, lỗ rốn mặt trên và dưới
đều nông Vỏ có màu vàng nhạt hoặc màu trắng nhạt
Phân bố: Trên thế giới, bắt gặp ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ [15] Ở Việt Nam, bắt gặp ở ao, ruộng, vùng đồng bằng, trung du và miền Bắc [10]
Trang 37Hình 3.9: Indoplanrbis exustus
Hình 3.10: Bithynia sp
Ký chủ trung gian: Gyraulus sp là ký chủ trung gian đầu tiên của sán Schinostornatidae [15] và Echinostomes gây bệnh trên người và chim [28] Ở Việt Nam, loài Gyraulus convexiusculus là ký chủ trung gian của sán lá phổi Fasciolopsis buski [55]
3.2.9 Indoplanrbis exustus Deshayea, 1834
Tên đồng nghĩa: Planorbis exustus Deshayea, 1834
Mô tả hình thái: Ốc có dạng hình đĩa, mặt
trên hơi lõm vào, màu nâu hoặc màu vàng, vỏ
ốc dày có dạng hình tròn gồm 4 vòng xoắn ốc
Mặt trên và mặt dưới lõm vào Vòng xoắn cuối
tròn đều Lỗ trục mặt trên và dưới cạn Miệng
vỏ rộng không có nắp vỏ
Phân bố: Trên thế giới phân bố rộng ở các nước Châu Á và Hawaii; ở Thái Lan chủ yếu tìm thấy ở những vùng đất thấp [15] Ở Việt Nam, chủ yếu bắt gặp ở các tỉnh phía Nam [90]
Ký chủ trung gian: loài này chứa nhiều ký sinh trùng sán lá khác nhau gây bệnh
cho người và động vật, trong đó Sthistosorna spindale, S indicum và S nasale ở giai đoạn ấu trùng gây bệnh viêm da ở con người [79] Indoplanorbis exustus đã được báo cáo là ký chủ trung gian của Paraphistome [38], Schistosome [32] và Echinostome [86]
3.2.10 Bithynia sp
Mô tả hình thái: Ốc cỡ nhỏ có 4 - 5 vòng xoắn,
các vòng xoắn đầu chiếm gần nửa chiều cao vỏ, vòng
xoắn cuối phình to Vỏ màu nâu đen hoặc màu vàng
nhạt Rãnh xoắn sâu, lỗ miệng vỏ hình bán nguyệt, lỗ
rốn hẹp
Phân bố: Trên thế giới bắt gặp ở tất cả các châu lục
ngoại trừ đảo Indopacific của Mỹ [15] Ở nước ta,
thường bắt gặp ở ruộng lúa ở đồng bằng và trung du [10]
Ký chủ trung gian: nhiều loài thuộc giống Bithynia là ký chủ trung gian của sán
lá gan Opisthorchis viverrini gây bệnh trên con người [20] Bithynia funiculata là ký chủ trung gian của Opisthorchis tenuicollis ở Chieng Mai và Lampun, Thái Lan [15] Ở Việt Nam tại tỉnh Nam Định thì Bithynia fuschiana chứa Xiphidiocercaria [33] Ở các