Thí nghiệm 1: Thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau ...30 3.1.1.. ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mekong cũng được thừa hưởng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ VĂN LỄNH
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ
ƯƠNG CÁ TRÈN BẦU (Ompok bimaculatus Bloch, 1797)
TỪ CÁ BỘT ĐẾN 60 NGÀY TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ VĂN LỄNH
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ
ƯƠNG CÁ TRÈN BẦU (Ompok bimaculatus Bloch, 1797)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Nuôi trồng thủy sản, phòng Đào tạo đại học và sau đại học trường Đại học Nha Trang đã tổ chức giảng dạy, quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Đồng thời tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên trường Đại học An Giang đã hỗ trợ cơ sở vật chất cũng như kinh phí và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phạm Quốc Hùng trực tiếp hướng dẫn một cách nhiệt tình, chu đáo trong suốt thời gian thực hiện đề tài và viết luận văn
Xin gửi lời cám ơn quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, kích lệ tôi trong toàn bộ khóa học
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, các kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và học viên đã trực tiếp tham gia thực hiện nghiên cứu
Người cam đoan
Lê Văn Lễnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ TRÈN BẦU 3
1.1.1 Phân loại 3
1.1.2 Phân bố 3
1.1.3 Môi trường sống 4
1.1.4 Hình thái 5
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.5.1 Đặc điểm hình thái giải phẫu cơ quan tiêu hóa cá trèn bầu 6
1.1.5.2 Tính ăn của cá trèn bầu 7
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 7
1.1.7 Đặc điểm sinh học sinh sản 9
1.1.7.1 Phân biệt giới tính 9
1.1.7.2 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Trèn bầu 10
1.1.7.3 Sự thành thục của tuyến sinh dục cá trèn bầu 11
1.1.7.4 Hệ số thành thục của cá trèn bầu 11
1.1.7.5 Sức sinh sản của cá trèn bầu 11
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ ƯƠNG NUÔI CÁ TRÈN BẦU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 13
1.2.1 Trên thế giới 13
1.2.2 Ở Việt Nam 13
1.3 CHẤT KÍCH THÍCH SINH SẢN 14
1.3.1 Não thùy 14
Trang 61.3.2 HCG 15
1.3.3 LHRH-a 15
1.3.4 Domperidon (DOM) 16
1.4 THỨC ĂN ƯƠNG CÁ TRÈN BẦU 16
1.4.1 Tép (Macrobrachium lanchesteri de Man, 1911) 16
1.4.2 Cá biển (cá bạc má_ Rastrelliger kanagurta Cuvier, 1817) 17
1.4.3 Trùn chỉ (Tubifex tubifex Mueller, 1774) 17
1.4.4 Thức ăn công nghiệp (UP T503) 18
1.4.5 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của họ cá trèn bầu 19
1.4.5.1 Protein 19
1.4.5.2 Lipid (năng lượng) 19
1.4.5.3 Carbohydrate (bột đường) 20
1.4.5.4 Vitamin 20
1.4.5.5 Chất khoáng (đa và vi lượng) 20
1.5 MẬT ĐỘ ƯƠNG TRONG HỌ CÁ TRÈN BẦU 21
1.5.1 Nghiên cứu ương cá Leo 21
1.5.2 Nghiên cứu ương cá Kết 21
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.2 Nguyên vật liệu nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Thí nghiệm 1: Thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau 23
2.3.1.1 Bố trí thí nghiệm 23
2.3.1.2 Cách cho cá sinh sản 25
2.3.1.3 Phương pháp ấp trứng 25
2.3.2 Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi bằng các loại thức ăn khác nhau 25
2.3.3 Thí nghiệm 3: Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi ở các mật độ khác nhau 26
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 27
2.4.1 Các chỉ tiêu về môi trường nước 27
Trang 72.4.2 Các chỉ tiêu sinh sản 27
2.4.3 Các chỉ tiêu trong ương cá 28
2.5 Phương pháp xử lý thống kê 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Thí nghiệm 1: Thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau 30
3.1.1 Nghiệm thức 1: Kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng LHRH-a + DOM 30
3.1.1.1 Chỉ tiêu môi trường 30
3.1.1.2 Thử nghiệm LHRH-a + DOM kích thích sinh sản cá trèn bầu ở các liều lượng khác nhau 30
3.1.2 Nghiệm thức 2: Kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng HCG 33
3.1.2.1 Chỉ tiêu môi trường 33
3.1.2.2 Thử nghiệm HCG kích thích sinh sản cá trèn bầu ở các liều lượng khác nhau 33
3.1.3 Nghiệm thức 3: Kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng Não thùy 34
3.1.3.1 Chỉ tiêu môi trường 34
3.1.3.2 Thử nghiệm Não thùy kích thích sinh sản cá trèn bầu ở các liều lượng khác nhau 34
3.1.4 Kích thước trứng cá trèn bầu 35
3.1.5 Quá trình phân cắt và phát triển phôi của cá trèn bầu 36
3.2 Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi bằng các loại thức ăn khác nhau 38
3.2.1 Các chỉ tiêu môi trường 38
3.2.2 Tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá 39
3.2.3 Sự phân đàn của cá trèn bầu 45
3.2.4 Hệ số thức ăn (FCR) 46
3.2.5 Tỷ lệ sống 47
3.3 Thí nghiệm 3: Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi ở các mật độ khác nhau 47
3.3.1 Các chỉ tiêu môi trường 47
3.3.2 Tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá 49
Trang 83.3.3 Sự phân đàn cá trèn bầu 53
3.3.4 Tỷ lệ sống 54
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
4.1 Kết luận 55
4.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Food and Agriculture Organization Tổ chức lương thực và
nông nghiệp liên hiệp quốc FSH Follicle Stimulating Hormone Hormon kích nang trứng
HCG Human Chorionic Gonadotropin Kích dục tố màng đệm
nhau thai người
LHRH-a Luteinizing Hormone Releasing Hormone
analogue
LHRH nhân tạo (LHRH là hormone giải phóng hormone kích dục)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của một số loài cá họ Siluridae 8
Bảng 3.1: Các yếu tố môi trường trong bể cá đẻ và bình ấp trứng 30
Bảng 3.2: Kết quả các chỉ tiêu sinh sản cá trèn bầu khi dùng LHRH-a + DOM 31
Bảng 3.3: Kết quả các chỉ tiêu sinh sản cá trèn bầu khi dùng HCG 33
Bảng 3.4: Kết quả các chỉ tiêu sinh sản cá trèn bầu khi dùng Não thùy 34
Bảng 3.5: Quá trình phân cắt và phát triển phôi của cá trèn bầu trong sinh sản 36
Bảng 3.6: Một số yếu tố môi trường trong bể ương 38
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng khối lượng cá trèn bầu 39
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng chiều dài cá trèn bầu 43
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá trèn bầu từ 1 – 60 ngày 44
Bảng 3.10: Ảnh hưởng thức ăn lên sự phân đàn của cá trèn bầu 45
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của thức ăn lên FCR cá trèn bầu sau 60 ngày ương 46
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống cá trèn bầu sau 60 ngày ương 47
Bảng 3.13: Một số yếu tố môi trường trong bể ương thí nghiệm 3 48
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của mật độ lên khối lượng cá trèn bầu theo thời gian 49
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của mật độ lên chiều dài cá trèn bầu theo thời gian 51
Bảng 3.16: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá trèn bầu ương từ 1 – 60 ngày tuổi 52
Bảng 3.17: Ảnh hưởng mật độ lên sự phân đàn của cá trèn bầu 53
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ sống cá trèn bầu sau 60 ngày ương 54
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1: Bảng đồ phân bố cá trèn bầu 4
Hình 1.2: Cá trèn bầu (Ompok bimaculatus) 5
Hình 1.3: Hình dạng miệng và răng cá trèn bầu 6
Hình 1.4: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá trèn bầu (n = 360) 8
Hình 1.5: Hình dáng bên ngoài của cá trèn bầu đực (trên) và cái (dưới) 9
Hình 1.6: Tương quan giữa khối lượng thân (W) với sức sinh sản tuyệt đối (F) của cá trèn bầu 12
Hình 1.7: Tép làm thức ăn ương cá trèn bầu 17
Hình 1.8: Cá bạc má băm nhuyễn cho cá trèn bầu ăn 17
Hình 1.9: Trùn chỉ cho cá trèn bầu ăn 18
Hình 1.10: Thức ăn công nghiệp UP T503 19
Hình 2.1: Cá trèn bầu bố mẹ 24
Hình 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 24
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 25
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 26
Hình 3.1: Cá trèn bầu đang đẻ 31
Hình 3.2: Trứng cá trèn bầu mới đẻ 32
Hình 3.3: Cá trèn bầu mới nở 32
Hình 3.4: Quá trình phân cắt và phát triển của phôi cá trèn bầu 36
Hình 3.5: Cá trèn bầu sau 15 ngày ương 40
Hình 3.6: Cá trèn bầu 30 ngày tuổi 41
Hình 3.7: Cá trèn bầu sau 45 ngày ương 41
Hình 3.8: Cá trèn bầu 60 ngày (kết thúc thí nghiệm) 42
Hình 3.9: Thức ăn cho cá trèn bầu ăn 46
Hình 3.10: Bể composite ương cá trèn bầu 48
Trang 12MỞ ĐẦU
Hệ thống sông Mekong là một trong những hệ thống sông lớn nhất và màu mỡ nhất trên thế giới Nó cung cấp thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu cư dân Sông Mekong chứa đựng một trong những khu hệ cá phong phú và đa dạng nhất trên thế giới Thống kê của MRC (2008) [41] cho biết có ít nhất 1200 loài cá đang sống ở đây đại diện cho nhiều họ, đa dạng về mặt hình thái và đời sống, ở hạ lưu sông Mekong sản lượng nghề cá nội địa ít nhất là hai triệu tấn.năm-1 và chắc chắn là gần ba triệu tấn.năm-1, làm cho nghề đánh cá ở đây thành nghề lớn trên thế giới [18]
ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mekong cũng được thừa hưởng trữ lượng dồi dào của tài nguyên thủy sản trên con sông này với các loài cá có giá trị kinh tế như cá Tra
(Pangasianodon hypophthalmus), cá Ba sa (Pangasius bocourti), cá Bông lau (Pangasius krempfi) và không thể không kể đến họ Siluridae mà tiêu biểu là cá Leo (Wallago attu), cá Kết (Micronema bleeleri), cá trèn bầu (Ompok bimaculatus) [18]
Cá trèn bầu có phạm vi phân bố rộng từ Afghanistan tới Trung Quốc, Thái Lan, Borneo (Indonesia), Ấn Độ, Myanmar, Lào, Campuchia và Việt Nam Cá sống ở các thủy vực tự nhiên như sông, suối, kênh rạch và những vùng ngập trong mùa lũ có nước chảy nhẹ, thích sống ở nơi nước nông [18]
Cá trèn bầu có kích thước thường gặp 25,4 – 31 cm ứng với khối lượng 90 –
180 g, kích cỡ tối đa đạt 50 cm [41], là loài cá có chất lượng thịt thơm ngon nên từ lâu
đã trở thành một trong những sự lựa chọn hàng đầu trong thực đơn của người nội trợ Lượng cá cung cấp cho thị trường là do đánh bắt ngoài tự nhiên Tuy nhiên, những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, sự phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường nước, khai thác thủy sản ngày càng gia tăng đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước và thủy sản làm cho nguồn lợi này đang giảm rõ rệt và cá trèn bầu không ngoại lệ, tuy chưa có những thống kê về sự suy giảm sản lượng của loài cá này trên sông nhưng việc hạn chế dần sự có mặt cùng với giá cả tăng cao trên thị trường của cá trèn bầu đã nói lên điều đó
Để góp phần ngăn chặn sự suy giảm nguồn lợi cá trèn bầu tự nhiên, cũng như
đa dạng sinh học các giống loài thủy sản và phát triển các loài cá bản địa, sản xuất giống cá là biện pháp quan trọng để bảo vệ và phục hồi nguồn lợi cá trèn bầu
Trang 13Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nha Trang, luận văn cao học: “Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương cá trèn
bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797) từ cá bột đến 60 ngày tuổi” đã được học viên
thực hiện tại trại thực nghiệm Thủy sản – khoa Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên trường Đại học An Giang
Mục tiêu của nghiên cứu: Xác định chất kích thích và liều lượng cho sinh sản
nhân tạo, loại thức ăn và mật độ nuôi ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống
cá trèn bầu từ giai đoạn cá bột đến 60 ngày tuổi
Nội dung nghiên cứu:
(1) Thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau
(2) Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi bằng các loại thức
ăn khác nhau
(3) Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi ở các mật độ ương khác nhau
Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn:
Xây dựng cơ sở khoa học để nghiên cứu quy trình sản xuất giống, nhầm tiến tới chủ động sản xuất con giống cung cấp cho người nuôi thương phẩm loài cá có chất lượng thịt thơm ngon từ đó hạn chế việc đánh bắt ngoài tự nhiên và bảo vệ được nguồn lợi thủy sản này
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ TRÈN BẦU
Loài: Ompok bimaculatus (Bloch, 1797)
Tên tiếng Anh: Butter catfish
Tên địa phương: Cá trèn bầu
Tên đồng danh: Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), Trương Thủ Khoa và ctv (1993) [10, 32] Ompok bimakulatus Theo MRC (2008) [41] Ompok krattensis
1.1.2 Phân bố
Họ Siluridae được ghi nhận phân bố phổ biến rộng rãi khắp châu Á, trong các con sông của Afghanistan tới Trung Quốc, Thái Lan và Borneo, từ nước lợ đến nước ngọt, sông sâu rộng, nông cạn, nhiều bùn đáy, đến suối kênh, rạch [38]
Riêng cá trèn bầu, được ghi nhận sự hiện diện của loài cá này từ Afghanistan đến Trung Quốc, Thái Lan, Borneo, từ Ấn Độ đến Indonesia, Java, Sumatra, Murma, Bangladesh, Sri Lanka Cá được tìm thấy ở sông, kênh, rạch, ruộng trong những khu vực này [30, 37, 38]
Trang 15Hình 1.1: Bảng đồ phân bố cá trèn bầu [36]
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) [10], cá trèn bầu phân
bố rất rộng từ Ấn Độ đến Thái Lan, Lào, Campuchia, Miến Điện, Indonesia, Malaysia, Việt Nam Ở Việt Nam, cá trèn bầu sống ở sông, kênh, rạch, ao đìa thuộc vùng ĐBSCL; cá phân bố nhiều ở trung và thượng lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai [32]
và các sông suối Tây Nguyên [5]
Theo Md Abul Bashar (2011) [40], cá trèn là loài cá nước ngọt, chúng phân bố rộng rãi ở sông, suối, kênh, mương, ruộng bị ngập nước (mùa lũ)
Theo Võ Thanh Tân (2012) [22], ở tỉnh An Giang họ Siluridae có 6 loài phân
bố là Micronema bleeleri (Gunther, 1864) (cá Kết), Ompok bimaculatus (Bloch, 1797) (cá trèn bầu), Kryptopterus moorei (Smith, 1945) (cá trèn mỡ), Belodontichthys
dinema (Bleeker, 1851) (cá trèn răng), Kryptopterus cryptopterus (Bleeker, 1851) (cá
trèn lá), Wallago attu (Schneider, 1801) (cá Leo)
cá trèn bầu
Trang 161.1.4 Hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) [10], hình thái cấu tạo của cá trèn bầu như sau: thân dài, dẹp bên, đầu ngắn, rộng, dẹp bằng, nhìn từ trên xuống mõm có hình vuông Miệng rộng, không co duỗi được, hướng lên trên, hàm dưới nhô ra phía trước Lỗ mang to, màng mang phát triển, có 9 – 13 lược mang trên cung mang thứ nhất Cá có 2 đôi râu, râu hàm trên kéo dài đến gốc vi ngực, có khi chạm đến khởi điểm vi hậu môn Râu cằm ngắn tương đương với đường kính mắt Mắt
cá nhỏ, ẩn dưới da và nằm trên trục giữa thân, gần chót mõm Đường kính mắt dao động 0,4 – 0,7 cm Phần trán giữa 2 mắt rộng, cong, lồi Vi lưng nhỏ, nằm lệch về phía đầu Cơ gốc vi ngực khá phát triển, gai vi ngực cứng, nhọn Vi hậu môn không dính liền với vi đuôi Vi bụng nhỏ, vi đuôi chẻ hai, rảnh chẻ sâu hơn 1/2 chiều dài vi đuôi Mặt lưng của thân và đầu màu đen nhạt và lợt dần xuống mặt bụng, mặt bụng màu trắng, trên thân và đầu ửng lên màu tím pha vàng Có nhiều vệt trắng ngoằn ngoèo hai bên thân Đặc biệt có một đốm tròn màu tím đen nằm sau nắp mang và phía trên vi ngực, gốc vi đuôi có một vệt màu tím nhạt cá trèn bầu ở chiều dài 16,0 cm đến 21,8
cm có chỉ tiêu hình thái: Vi lưng có 1 tia vi cứng và 3 tia vi mềm (D.I,3), vi ngực có 1 tia vi cứng và 11 - 12 tia vi mềm (P.I,11 - 12), vi hậu môn có 54 - 63 tia vi mềm (A.55
- 63) và vi bụng có 1 tia vi cứng và 6 tia vi mềm (V.I,6)
Mai Đình Yên và ctv (1992) [32], ghi nhận cá trèn bầu là loài thân cá có màu
nâu sáng, rải rác có các đám sắc tố màu đen, có một đốm đen tròn sau nắp mang, phía trên vi ngực; ở cá thể nhỏ có một đốm đen nhỏ ở cuống đuôi
Hình 1.2: Cá trèn bầu (Ompok bimaculatus)
Trang 171.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
1.1.5.1 Đặc điểm hình thái giải phẫu cơ quan tiêu hóa cá trèn bầu
Cá trèn bầu có răng hàm nhỏ, nhọn, kích thước không đều nhau, xếp thành nhiều hàng và răng nhọn hướng vào xoang miệng Răng vòm làm thành 2 đám và làm thành một đường ngang [10]
Kết quả quan sát hệ thống ống tiêu hóa cá trèn bầu cho thấy [22]:
- Miệng cá trèn bầu thuộc dạng miệng trên, không co duỗi được và rất rộng (rạch miệng xiên dài và vượt qua xa đường thẳng kẻ từ bờ sau của mắt, dài rạch miệng
> 50 % chiều dài đầu)
- Răng cá trèn bầu phân bố ở hai hàm, vòm miệng và hầu Răng hàm nhỏ, rất nhiều, rất bén nhọn và hầu hết có dạng răng chó mọc thành nhiều hàng ở cả hàm trên
và hàm dưới, ngọn răng hướng vào xoang miệng Những răng hàm ở hàng phía trong cao hơn những răng ở hàng ngoài; răng khẩu cái cũng có dạng răng chó mọc thành hai đám ở hai bên Răng hầu cũng to bén và mọc thành đám lớn cho thấy cá trèn bầu thuộc nhóm cá ăn động vật và là loài cá dữ
- Lược mang trên mỗi cung mang có hai hàng lược mang màu trắng Ở cung
mang thứ nhất có 9 - 13 lược mang Lược mang của cá trèn bầu mảnh, xếp thưa và biến thành những gai cứng nhọn hướng vào xoang miệng hầu Đây là dạng lược mang thường gặp ở những loài cá dữ
Hình 1.3: Hình dạng miệng và răng cá trèn bầu [22]
- Thực quản ngắn, có vách dày, mặt trong thực quản có nhiều nếp gấp nên co giãn rất tốt
Trang 18- Dạ dày có hình túi, rất to, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp nên có thể giãn nở và chứa được mồi có kích thước lớn
- Ruột cá trèn bầu thuộc dạng ruột thẳng, vách ruột dày và rất ngắn
1.1.5.2 Tính ăn của cá trèn bầu
Chiều dài ruột của cá dao động trong khoảng 6,0 – 18,0 cm với giá trị trung bình là 0,62 ± 0,09 cm tương ứng với chiều dài thân được khảo sát là 10,5 – 25,5 cm
Tỷ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG) của cá trèn bầu dao động trong khoảng 0,62 ± 0,09 (< 1) Những loài cá có giá trị RLG < 1 ăn động vật, cá
ăn tạp có RLG = 1 – 3 và ăn thực vật có RLG > 3 [12]
Từ những kết quả quan sát được Võ Thanh Tân (2012) [22] đã đưa ra kết luận
cá trèn bầu thuộc nhóm cá dữ, ăn động vật, bắt mồi chủ động Thức ăn ưa thích của cá trèn bầu là cá con
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Bùi Lai và ctv (1985) được trích dẫn bởi Võ Thanh Tân (2012) [22], sự
sinh trưởng của cá là sự gia tăng về kích thước và khối lượng cơ thể, là một trong những cơ chế quan trọng đảm bảo cho cá điều chỉnh sự thay đổi độ đảm bảo thức ăn
Sự sinh trưởng này kéo dài suốt đời sống của cá và chậm dần khi cá ở vào giai đoạn già, cá càng nhiều tuổi sẽ có kích thước và trọng lượng càng lớn Cá sinh trưởng chậm
có kích thước nhỏ, sinh trưởng nhanh thì có kích thước lớn Tuy nhiên trong suốt vòng đời của cá, tốc độ tăng trưởng không đồng đều mà có sự nhanh hay chậm tùy vào từng giai đoạn Cá sinh trưởng nhanh nhất trước khi thành thục, khi vào giai đoạn thành thục cá sinh trưởng chậm lại và khi cá sinh sản hầu như nó không sinh trưởng Quá trình sinh trưởng này đặc trưng cho loài cá và thể hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá Cũng như hầu hết cá loài cá khác, cá trèn bầu ở giai đoạn còn nhỏ (chiều dài từ 10,5 – 13,0 cm) chúng thường tăng nhanh về chiều dài hơn là tăng về thể trọng, càng về sau (> 13,0 cm) thì mức tăng về thể trọng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể
Tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá là một trong những tham số
để dự đoán mức sinh trưởng của cá Trong quá trình sinh trưởng, có sự liên hệ mật thiết giữa chiều dài (L) và khối lượng thân (W), thể hiện theo phương trình hồi quy:
W = a.Lb
Trang 19Trong đó, a và b là hệ số tỷ lệ, thay đổi theo đặc trưng sinh trưởng của cá Giá trị b trong khoảng 2,0 – 4,0; thường từ 2,5 – 3,5 Khi có sự sinh trưởng điều hòa (hình thái cơ thể không thay đổi - tỷ lệ giữa các bộ phận cơ thể không đổi) thì b dao dộng rất gần với 3 và người ta thường lấy giá trị b = 3 trong các phép tính tương đối về sinh trưởng [24]
Hiện nay, việc nghiên cứu mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân của các loài cá da Trơn đã được thực hiện trên nhiều đối tượng kinh tế thuộc các họ Bagridae (họ cá Chốt), Pangasiidae (họ cá Tra) và Plotosidae (họ cá Ngát) Riêng ở họ
Siluridae (họ cá Nheo), nghiên cứu đã được tiến hành trên các loài cá Kết
(Kryptopterus bleekeri), cá Leo (Wallago attu) và cá trèn bầu (Ompok bimaculatus)
Bảng 1.1: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng một số loài cá họ Siluridae [22]
Cá Kết W = 0,0083L2,9185 R2 = 0,9782 Nguyễn Văn Triều và ctv, 2006
Cá Leo W = 0,0021L3,2022 R2 = 0,9866 Phan Phương Loan, 2006
Cá trèn bầu W = 0,0064L3,0874 R2 = 0,9204 Võ Thanh Tân, 2008
Hình 1.4: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá trèn bầu (n = 360) [22]
Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), Nguyễn Văn Hảo (2005) [32, 5], cá trèn bầu
có kích thước trung bình 17 cm, cỡ lớn tối đa dài 46 – 50 cm Nếu so sánh kích thước tối đa của cá trèn bầu với các loài cá khác thuộc họ Siluridae thì đa số là có kích thước tối đa lớn hơn, nhưng bên cạnh đó cũng có nhỏ hơn so với một số loài còn lại, cụ thể:
Trang 20cá Kết (Kryptopterus bleekeri) có kích thước tối đa 60 cm, cá trèn răng (Wallago
dinema) có kích thước tối đa 70 cm và cá Leo (Wallago attu) có kích thước tối đa 200
cm [22]
Talwar, P K and A G Jhingran (1991) [48] cũng ghi nhận chiều dài tối đa của
cá trèn bầu là 45 cm
1.1.7 Đặc điểm sinh học sinh sản
1.1.7.1 Phân biệt giới tính
Sự thể hiện dấu hiệu sinh dục phụ của cá trèn bầu không thể hiện những đặc điểm sinh dục phụ nên việc xác định giới tính bằng các đặc điểm hình thái bên ngoài rất khó Tuy nhiên, trong mùa sinh sản những đặc điểm này lại thể hiện khá rõ, có thể nhận biết được Các đặc điểm hình thái bên ngoài của cá trèn bầu để phân biệt đực - cái được mô tả như sau [22]:
- Cá trèn bầu cái: có tuyến sinh dục phát triển, có bụng to hơn cá đực
- Cá trèn bầu đực: thường có kích cỡ nhỏ và thon dài hơn cá cái Cá trèn bầu đực thành thục có gai sinh dục dài và nhọn hơn cá trèn bầu cái, có thể đánh giá bằng cách vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục, nếu cá thành thục có tinh dịch màu trắng sữa chảy ra
Hình 1.5: Hình dáng bên ngoài của cá trèn bầu đực (trên) và cái (dưới) [22]
♂
♀
Trang 211.1.7.2 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Trèn bầu
Đặc điểm tuyến sinh dục cái [22]
Buồng trứng cá Trèn bầu có hình ống hơi bầu, màu hồng nhạt Vách trong buồng trứng có vách ngăn ngang (tấm trứng) Phía trong buồng trứng có nhiều mạch máu, đoạn cuối của buồng trứng kết hợp với nhau để tạo thành ống dẫn trứng đổ ra ngoài lỗ sinh dục
Có thể phân chia sự phát triển buồng trứng cá Trèn bầu làm 6 giai đoạn:
- Giai đoạn I: buồng trứng chỉ là sợi chỉ mảnh, nhỏ mô liên kết chưa phát triển, màu trắng xám do mạch máu chưa phát triển Kích thước rất nhỏ và rất khó phân biệt
- Giai đoạn II: buồng trứng có kích thước lớn hơn giai đoạn I, buồng trứng có màu hồng nhạt do có mạch máu và mô liên kết phát triển
- Giai đoạn III: thể tích buồng trứng tăng lên, bề mặt buồng trứng có màu hồng nhạt đến vàng nhạt Mắt thường đã phân biệt được đực cái Đã phân biệt được tế bào trứng Đường kính trứng dao động từ 0,70 – 1,10 mm (trung bình 1,04 ± 0,10 mm)
- Giai đoạn IV: buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng, có thể nhìn rõ các tế bào trứng, tế bào trứng màu vàng nhạt và tròn Đường kính tế bào trứng dao động trong khoảng 1,20 – 1,60 mm (trung bình 1,32 ± 0,12 mm)
- Giai đoạn V: trứng đã rụng trong xoang buồng trứng, buồng trứng rất mềm, vuốt nhẹ bụng cá, trứng có thể chảy ra thành dòng
- Giai đoạn VI: buồng trứng cá bắt đầu thoái hóa, đã teo lại và màng buồng trứng hơi dày
Đặc điểm tuyến sinh dục đực [22]
Buồng tinh là hai tuyến nhỏ nằm sát hai bên xương sống màu trắng đục, bên ngoài được bao phủ bởi lớp màng mỏng Đầu phía sau gần vào lỗ sinh dục, đầu hướng
về phía trước tự do và nằm giữa xoang nội quan
- Giai đoạn I: tế bào sinh dục chưa phát triển chỉ là hai sợi chỉ nhỏ nằm sát hai bên xương sống
- Giai đoạn II: buồng tinh có hai dãy mỏng màu hồng nhạt, có sự phân thùy chưa rõ ràng
- Giai đoạn III: buồng tinh màu hồng, có nhiều mạch máu phân bổ, đã phân biệt
rõ các thùy
Trang 22- Giai đoạn IV: buồng tinh đạt kích thước lớn nhất, dạng dãy phân thùy rõ ràng, màu trắng sữa
1.1.7.3 Sự thành thục của tuyến sinh dục cá trèn bầu
Theo Võ Thanh Tân (2012) [22], tỷ lệ bắt gặp cá trèn bầu cái có tuyến sinh dục
ở giai đoạn thành thục IV cao vào các tháng 6, 7 và 10, 11 với các giá trị tương ứng 61,33 %; 68,96 %; 32,5 %; 40 % chứng tỏ cá trèn bầu có khả năng sinh sản vào các tháng này Các tháng 12, 01 tỷ lệ cá thành thục sinh dục thấp nhưng tỷ lệ cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn I – II lại tăng lên, chứng tỏ cá bắt đầu chuyển sang giai đoạn tích lũy để chuẩn bị cho một chu kỳ kế tiếp Từ tháng 3 – 5, các giai đoạn I – II giảm dần xuống và các giai đoạn thành thục III, IV tăng dần lên để đến tháng 6 đạt giai đoạn thành thục cao trở lại, kết thúc chu kỳ
1.1.7.5 Sức sinh sản của cá trèn bầu
Sức sinh sản là số lượng trứng chín của một cá cái trước khi sinh sản (Bagenal
và Braum, 1968 trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) [12] Sức sinh sản của cá biến đổi từ loài này sang loài khác và phụ thuộc vào tuổi cá, kích thước
cơ thể và điều kiện môi trường [12]
Trang 23Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối
Sức sinh sản của cá trèn bầu là phụ thuộc vào hệ số thành thục, cá có hệ số thành thục càng cao thì sức sinh sản càng lớn Sức sinh sản tuyệt đối của cá trèn bầu biến động từ 1.007 – 9.514 trứng.cá thể-1 (trung bình 3.580 ± 2.120 trứng.cá cái-1), tương ứng với sức sinh sản tương đối từ 91 – 184 trứng.g cá cái-1 (trung bình 129 ± 23 trứng.g cá cái-1) [22] Và kết quả so sánh sức sinh sản của cá trèn bầu với cá Kết cho thấy sức sinh sản tương đối của cá trèn bầu cao hơn cá Kết [22] Nguyên nhân là do sự khác nhau về giống, loài [19]
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) [5], sức sinh sản của cá trèn bầu khá cao vì chúng là loài cá đẻ trứng dính trên các thực vật thủy sinh ven bờ ở sông, hồ, suối và kênh rạch cho nên cá trèn bầu không có tập tính bảo vệ trứng và cá con, cá cái cỡ dài
23 – 26 cm có sức sinh sản tuyệt đối từ 45000 – 335000 trứng với đường kính trứng từ 0,8 – 0,9 mm
Tương quan giữa khối lượng thân và sức sinh sản tuyệt đối
Sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng thân cá trèn bầu cái có mối tương quan chặt chẽ với nhau thông qua hệ số tương quan R2 = 0,9324 [22]
Phương trình tương quan giữa khối lượng thân và sức sinh sản tuyệt đối của cá trèn bầu như sau:
Hình 1.6: Tương quan giữa khối lượng thân (W) với sức sinh sản tuyệt đối (F) của cá
trèn bầu [22]
Trang 241.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ ƯƠNG NUÔI CÁ TRÈN BẦU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, nghiên cứu được thực hiện bởi S Sridhar, C Vijayakumar and
M A Haniffa (1998) [47], tiến hành cho sinh sản cá trèn bầu (Ompok bimaculatus)
bằng kích dục tố Ovaprim với liều 0,5 ml.kg-1 cá cái (liều tiêm cá đực bằng liều tiêm
cá cái), sau 5 – 6 giờ thì cá đẻ, 24 giờ sau khi đẻ thì cá nở Sức sinh sản trung bình
4012 ± 100 trứng.cá cái-1, tỉ lệ thụ tinh khoảng 75 %, tỉ lệ nở 55 – 60 % Cũng trong nghiên cứu này, đàn cá sinh ra được ương nuôi trong bể thủy tinh mật độ 100 cá thể.lít-
1
, cho ăn lòng đỏ trứng gà, ấu trùng Chironomus, đến 15 ngày tuổi chuyển sang bể xi
măng 1,5 m3 cho ăn gan, thịt bò cắt nhỏ, sau 60 ngày nuôi tiếp tục chuyển sang ao đất, cho ăn ruột gà cắt nhỏ với khẩu phần 15 % khối lượng thân Sau 6 tháng nuôi, cá cho chiều dài trung bình 14,5 ± 1,5 cm và khối lượng là 100 ± 10 g
Một báo cáo của Choltisak Chawpaknum (1999) [34], cho biết ương nuôi cá trèn bầu từ 3 – 15 ngày tuổi với ba loại thức ăn là: thức ăn chế biến, moina mới nở và lòng đỏ trứng pha loãng Kết quả cho thấy, thức ăn chế biến và Moina mới nở cho tỷ lệ sống và tăng trưởng tốt hơn lòng đỏ trứng pha loãng
Nghiên cứu khác về cá trèn bầu cũng được thực hiên bởi Choltisak Chawpaknum (2003) [35] đã sử dụng cá trèn bầu ở khối lượng trung bình là 0,5 g và chiều dài 3,9 cm để ương trong bể xi măng, mật độ 175 cá thể.m-3 Cho ăn thức ăn viên với các hàm lượng đạm khác nhau 21,70 %; 26,10 % ; 30,61 %; 35,79 % và 39,34
% trong 90 ngày Sau khi kết thúc thí nghiệm cho thấy tỷ lệ tăng trưởng cao hơn đáng
kể, tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, tiêu thụ thức ăn, tỷ lệ protein hiệu quả được
thể hiện ở hàm lượng đạm 35,79 % và 39,34 %
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chưa có tài liệu nào ghi nhận về những nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá trèn bầu Nhưng đã có nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo trên một số đối tượng thuộc họ Siluridae
Nghiên cứu của Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh (2008) [14], trong quá trình nuôi vỗ thành thục sinh dục cá Leo sử dụng kích dục tố HCG kích thích cá sinh sản với liều lượng từ 2.000 – 5.000 UI.kg-1; HCG + não thùy cá Chép với liều lượng 4.000 UI + 3 mg não.kg-1 cá và kích dục tố LHRH-a + DOM với liều lượng từ
Trang 2560 – 100 µg + 4 mg DOM tác động, cá Leo không rụng trứng Sử dụng não thùy cá Chép với liều lượng dao động từ 6 – 10 mg.kg-1 cá, cho cá rụng trứng và thụ tinh tốt, trong đó ở liều 10 mg.kg-1 cá, cá rụng trứng tốt với tỉ lệ thụ tinh 89 % và tỉ lệ nở là 94
% Sức sinh sản dao động từ 46.520 – 142.000 trứng.kg-1 cá cái
Nguyễn Văn Triều và ctv (2010) [27], đã hoàn thành nghiên cứu “Ảnh hưởng
của các loại Hormone với liều lượng khác nhau lên sinh sản cá Kết” Thí nghiệm được tiến hành gồm 3 nghiệm thức, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với các loại và nồng
độ kích thích tố khác nhau và được lặp lại 3 lần Kết quả cho thấy kích thích sinh sản nhân tạo cá Kết với liều lượng 70 µg LHRH-a + 3,5 mg Dom.kg-1 cá cái cho tỷ lệ cá rụng trứng và sức sinh sản tương đối đạt cao nhất, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao hơn có
ý nghĩa (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại; Kích thích sinh sản nhân tạo cá Kết bằng não thùy với liều lượng 3,5 mg.kg-1 cá cái có tỷ lệ cá rụng trứng, sức sinh sản tương đối, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao hơn có ý nghĩa (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại; Kích thích sinh sản nhân tạo cá kết bằng Ovaprime cho sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở khác nhau không có ý nghĩa (p > 0,05) giữa các nghiệm thức
1.3 CHẤT KÍCH THÍCH SINH SẢN
1.3.1 Não thùy
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) [24], bất kì một loài cá nào khi tuyến sinh dục thành thục thì hoạt tính của não thùy là cao nhất Bởi vì, 2 loại kích tố trong não thùy là FSH và LH được sản sinh ra nhiều nhất khi tuyến sinh dục thành thục, ngoài ra các thành phần kích tố khác cũng tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình đẻ trứng của cá
Não thùy cá Chép được coi là loại chế phẩm kích dục tố mạnh cho nhiều loài cá
kể cả các đối tượng khác họ và các loài cá biển [1] Sử dụng não thùy để kích thích sinh sản cá là một phương pháp phổ biến trong nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, phương pháp đơn giản này không phải lúc nào cũng thành công do một số nguyên nhân như thiếu tuyến yên, phương pháp bảo quản và liều lượng sử dụng Ngoài ra, phương pháp này còn phải đối mặt với những bất tiện như khó xác định hiệu năng của chất kích dục có trong tuyến yên để từ đó đề ra kỹ thuật chuẩn [1]
Trong sinh sản nhân tạo, người ta dùng não thùy thay một số yếu tố ngoại cảnh
để chuyển hóa, phá vỡ màng follycul và kích thích cá đẻ [20]
Trang 26xuất ra yếu tố gây chín (hormone Steroid C21) và yếu tố gây rụng trứng (làm vỡ nang
trứng, chẳng hạn hormone Prostaglandin và enzym Protease) cho noãn bào thoát ra ngoài Trứng cá chín và rụng bình thường theo ống dẫn trứng ra môi trường nước, gặp tinh trùng và được thụ tinh ở đó [9]
HCG đã được sử dụng có hiệu quả rõ rệt trong những thành công đầu tiên khi thử nghiệm kích thích cá Tra sinh sản trong điều kiện ở ĐBSCL, hiện nay HCG được dùng khá phổ biến để kích thích sinh sản cá Tra (có thể dùng cho cả cá Basa –
Pangasius bocourti và cá Hú – P conchophilus) [1]
Ngoài ra, HCG còn có ba ưu điểm so với não thùy cá (chiết xuất tuyến yên): rẻ hơn nhiều, không dễ phân huỷ nên có thể để lâu hơn và sẵn có ở dạng tinh chế [9]
Tuy nhiên, Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) [24], đã nhận định rằng trong sinh sản nhân tạo, liều lượng HCG sử dụng cho cá phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tinh khiết của chế phẩm cũng như sự thành thục của cá Thậm chí có loài dùng đơn độc HCG hiệu quả rất kém hoặc không có tác dụng
HCG là một hormone polypeptide có chức năng như LH và FSH HCG kích thích buồng trứng phát triển, sự rụng trứng và tiết ra hormone sinh dục [21]
1.3.3 LHRH-a
Leutinising Hormone Releasing Hormone (LHRH – hormone giải phóng hoóc môn kích dục) là tên của một loại hoóc môn của loài động vật có vú được sử dụng thành công để kích thích giải phóng các hoóc môn kích dục Trong vài năm gần đây, LHRH nhân tạo, gọi là LHRH-a, được phát triển hiệu quả hơn nhiều Vì chúng tinh khiết hơn và không được cá chuyển hóa nhanh, các chất này duy trì được tác dụng trong thời gian dài [9]
Trang 27Nhận định tương tự cũng được đưa ra bởi Nguyễn Tường Anh (1999) [1], LHRH-a hay mGnRH-a (là chất tương tự GnRH của động vật có vú) là một trong những GnRH-a (những chất tổng hợp tương tự hormone phóng thích kích dục tố từ tuyến yên nhưng hoạt tính cao hơn hàng chục đến hàng trăm lần các hợp chất tự nhiên) Đối với kích thích sinh sản cá, các GnRH-a có lợi thế là giá rẻ, hoạt tính ổn định nếu được bào chế, bảo quản tốt, không gây phản ứng miễn dịch Tuy nhiên, thời gian hiệu ứng có thể dài hơn so với việc dùng các kích tố khác hay hormone steroid Ở
cá bố mẹ, sau khi được tiêm GnRH và đã đẻ xong thì tuyến yên không còn kích dục tố
Vì thế trong trường hợp nuôi vỗ và cho cá đẻ nhiều lần trong năm thì thời gian tái thành thục có thể dài hơn so với cá được nuôi vỗ lại sau khi kích thích sinh sản bằng các kích dục tố hoặc hormone steroid Não thùy của cá bố mẹ sau khi đẻ nhờ được kích thích bằng GnRH không còn hoạt tính kích dục và không thể làm chế phẩm kích dục cho cá
Vì những lý do trên nên LHRH-a được xem như là một trong ba loại GnRH-a được sử dụng phổ biến trong sinh sản nhân tạo cá [9]
1.3.4 Domperidon (DOM)
DOM là một trong những Antidopamine (Dopamine antagonist, Dopamine blocker) là chất chống lại Dopamin – kháng Thường được sử dụng kèm theo các GnRH-a hay các chất tương tự GnRH trong sinh sản nhân tạo cá [1] Trong điều kiện
tự nhiên, cơ thể cá có một cơ chế phản ứng làm hạn chế việc giải phóng chất kích dục
Cơ chế này sử dụng một chất hóa học có tên là Dopamin, chất này kiềm chế hoạt động của LHRH Khi cá có Dopamin, thì cả LHRH-a cũng bị hạn chế Chất kháng Dopamin
là DOM thường được sử dụng để hạn chế tác dụng của Dopamin Khi sử dụng kết hợp LHRH-a và kháng Dopamin, sinh sản thành công tăng đột biến [1]
1.4 THỨC ĂN ƯƠNG CÁ TRÈN BẦU
1.4.1 Tép (Macrobrachium lanchesteri de Man, 1911)
Tép được sử dụng làm thức ăn ương cá trèn bầu là tép trấu hay tép gạo là một loài thuộc giống Macrobrachium, họ Palaemonidae
Nguyễn Hữu Yến Nhi và ctv (2010) [16], đã phân tích mẫu tép và xác định hàm
lượng dinh dưỡng của tép khô có 62,4 % protein, 6,21 % lipid, phần còn lại là các chất dinh dưỡng khác (Ca, P, .) Theo nghiên cứu của R Ponnuchamy et al, (1979) xác định trong tép có 56,36 % protein [44]
Trang 28Hình 1.7: Tép làm thức ăn ương cá trèn bầu
1.4.2 Cá biển (cá bạc má_ Rastrelliger kanagurta Cuvier, 1817)
Hình 1.8: Cá bạc má băm nhuyễn cho cá trèn bầu ăn
Cá bạc má có tên tiếng Anh: Indian mackerel; tên khoa học: Rastrelliger
kanagurta (Cuvier, 1817) Phân bố chủ yếu ở Vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung Bộ và
Đông Tây Nam Bộ [37]
Đã phân tích mẫu cá bạc má và xác định hàm lượng dinh dưỡng của cá bạc má khô có 39 % protein
1.4.3 Trùn chỉ (Tubifex tubifex Mueller, 1774)
Trùn chỉ thuộc họ Naididae hay còn gọi là giun đỏ là động vật đáy thuộc nhóm giun ít tơ (Oligochaeta), sống ở nơi có dòng chảy, nhiều chất hữu cơ dơ bẩn Thân có
Trang 29hình ống, màu đỏ, dài 1,5 – 3 cm, đường kính 0,1 – 0,3 mm, chúng sống bằng cách vùi một phần dưới đáy bùn và phần lớn cơ thể hướng thẳng lên và uốn lượn như gợn sóng Chỉ cần một dấu hiệu nguy hiểm nhỏ chúng sẽ rút vào đáy bùn, sau đó lại thò ra để lấy
ít oxy trong nước bẩn Trùn chỉ vẫn còn sống ngay cả khi nhiệt độ nước xuống 21,5
0C, nên nó là thức ăn lý tưởng cho cá vào mùa đông Để bảo quản trùn chỉ ta có thể giữ trong điều kiện nước chảy nhẹ liên tục hoặc cho vào một vật chứa bằng phẳng, không
để trùn dày quá 1 cm, cho một ít nước vào cho ngang với bề dày của trùn, để nơi mát, ngày thay nước 2 lần [37]
Phân tích của R Ponnuchamy et al, (1979) [44], cho kết quả là trong trùn chỉ sống có 83,76 % là nước, khi phân tích trùn ở trọng lượng khô thì thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ gồm có khoáng 4,26 %, lipid 33,67 %, protein 62,07 %
Hình 1.9: Trùn chỉ cho cá trèn bầu ăn
1.4.4 Thức ăn công nghiệp (UP T503)
Thức ăn được sử dụng trong nghiên cứu là thức ăn công nghiệp UP T503 có kích cỡ hạt nhỏ, màu xám nhạt Thành phần nguyên liệu: độ ẩm tối đa 10 %, protein tối thiểu 40 %, béo thô tối thiểu 4 %, tro tối đa 12 %, xơ thô tối đa 6 % [50]
Trang 30Hình 1.10: Thức ăn công nghiệp UP T503
1.4.5 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của họ cá trèn bầu
1.4.5.1 Protein
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thỏa mãn yêu cầu các amino acid để đạt tăng trưởng tối đa [6, 42]
Choltisak Chawpaknum (2003) [35] đã cho rằng nhu cầu dinh dưỡng protein tối
ưu của cá trèn bầu từ 1 – 4 tháng tuổi là 37,66 % Trong một nghiên cứu khác cũng của tác giả đã kết luận rằng mức năng lượng có trong thức ăn 40 % đạm tối ưu cho sự
tăng trưởng của Ompok bimaculatus là khoảng 466,40 và 489,50 kcal.100 g-1 thức ăn
40 % protein
Nghiên cứu ương cá Leo bằng thức ăn chế biến được thực hiện bởi Lam Mỹ Lan và Trần Bảo Trang (2010) [11] ở cá 27 ngày tuổi Thí nghiệm được bố trí trong bể composite (500 lít) ở mật độ 50 con/bể với 3 nghiệm thức (I) thức ăn chế biến 40 % đạm, (II) thức ăn chế biến 50 % đạm và (III) cá tạp Mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần và thí nghiệm trong 30 ngày Kết quả cho thấy với thức ăn chế biến 50 % đạm và cá tạp cho tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá cao hơn thức ăn chế biến 40 % đạm
1.4.5.2 Lipid (năng lượng)
Riêng về nhu cầu năng lượng cung cấp từ lipid của động vật thủy sản thì được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, yêu cầu về acid béo cần thiết, nhu cầu về phospholipid và cholesterol và đặc điểm sống và dự trữ lipid của loài Đối với cá, hàm lượng lipid thay đổi tùy theo loài, tuy nhiên mức đề nghị từ 6 – 10 % [6]
Trang 31Bổ sung lipid vào thức ăn sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng Hiệu quả sử dụng protein ở động vật thủy sản, nhờ tác dụng chia sẻ nhu cầu năng lượng của protein [6]
1.4.5.3 Carbohydrate (bột đường)
Lê Thanh Hùng (2008) [6] cho rằng, carbohydrate không phải là thành phần dinh dưỡng cần thiết trong thức ăn thủy sản và động vật thủy sản không có nhu cầu carbohydrate trong thức ăn như acid amin và các acid béo thiết yếu Tuy nhiên, carbohydrate là nguồn thức ăn, cung cấp năng lượng rẻ tiền Khi thiếu nguồn năng lượng này trong thức ăn các động vật thủy sản sẽ sử dụng protein và lipid làm nguồn năng lượng Một số loài cá, đặc biệt là cá ăn tạp dùng carbohydrate trong thức ăn sẽ giúp cá tăng trưởng tốt hơn và sử dụng protein hiệu quả hơn
1.4.5.4 Vitamin
Vitamin đóng vai trò quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của động vật thủy sản So với các thành phần dưỡng chất chính trong thức ăn như protein, lipid và carbohydrate, vitamin chiếm một lượng rất nhỏ từ 1 – 2 % trong thức ăn Tuy nhiên, vitamin có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất của cơ thể và chi phí có thể lên đến 15 % trong khẩu phần ăn Vì hầu hết các vitamin giữ vai trò đặc biệt như là một co-enzyme hay các tác nhân hỗ trợ các enzyme thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sinh vật Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, động vật thủy sản không có khả năng hay khả năng tổng hợp rất ít không đủ cho nhu cầu nên việc cung cấp vitamin vào thức ăn cho động vật thủy sản là rất cần thiết Động vật thủy sản ăn thức
ăn không được cung cấp đầy đủ vitamin sẽ sinh trưởng chậm, tỉ lệ sống thấp, khả năng chịu đựng với biến động môi trường kém và dễ bị bệnh Một điều cần lưu ý khi bổ sung vitamin vào thức ăn cho động vật thủy sản là ngoài việc căn cứ vào nhu cầu của đối tượng thủy sản còn phải xem xét đặc tính của loại vitamin [6]
1.4.5.5 Chất khoáng (đa và vi lượng)
Chất khoáng là những nguyên tố hóa học cần thiết để xây dựng nên cơ thể và tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể động vật Chất khoáng có vai trò như
là chất xúc tác đối với các enzyme, hormone và protein [7]
Nhu cầu chất khoáng cho động vật thủy sản là một trong những nhu cầu khó xác định nhất, bởi lẽ cá có thể hấp thu khoáng trực tiếp từ môi trường nước qua mang,
da Các khoáng vi lượng hiện diện với một tỷ lệ nhỏ trong thức ăn, nhưng giữ vai trò quan trọng: xúc tác các phản ứng hóa học xảy ra trong dinh dưỡng của cơ thể [6]
Trang 321.5 MẬT ĐỘ ƯƠNG TRONG HỌ CÁ TRÈN BẦU
Chưa có nhiều nghiên cứu về ương nuôi cá trèn bầu trong nước và trên thế giới được công bố ngoại trừ một số nghiên cứu đã được nêu ở phần trên Có thể tham khảo một số kết quả nghiên cứu có liên quan về việc ương cá với các mật độ khác nhau của một số loài cá thuộc họ Siluridae
1.5.1 Nghiên cứu ương cá Leo
Theo kết quả “Bước đầu về sinh sản nhân tạo cá Leo” của Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh (2008) [14]: cá Leo bột được ương trên bể ximăng 1 m2 với
thức ăn tự nhiên chủ yếu là luân trùng (Brachionus), trứng nước (Moina), trùn chỉ, ấu trùng Artemia và thức ăn tự chế biến có hàm lượng protein dao động từ 30 - 32 % ở
các mật độ ương khác nhau (100, 200 và 300 cá bột.m-2) Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Khẩu phần ăn dao động từ 10 - 120 % khối lượng thân và được điều chỉnh về số lượng theo sự phát triển khối lượng của cá ương Kết quả sau 30 ngày ương khối lượng trung bình là 17 g.con-1
1.5.2 Nghiên cứu ương cá Kết
Nghiên cứu được tiến hành bởi Nguyễn Văn Triều và ctv (2008) [26] sử dụng
các loại thức ăn khác nhau để ương cá Kết nhằm tìm ra loại thức ăn thích hợp để ương
cá Có thể sử dụng bể nhựa, ximăng có thể tích 1 m3 ương cá Nước phải được lắng, lọc cẩn thận; mức nước 50 – 60 cm; có sục khí liên tục Mật độ thả là 2,5 con.l-1 Sau khi nở được hai ngày thì cho cá vào bể ương chuẩn bị sẵn Trước khi thả, cá bột được ngâm vào bể ương khoảng 15 phút, sau đó thả từ từ Ba ngày đầu, cho cá ăn Artemia (4 lần.ngày-1), ngày thứ 3 – 10 cho ăn Monia (3 – 4 lần.ngày-1), ngày thứ 7 – 15 cho ăn trùn chỉ (3 lần.ngày-1), từ ngày thứ 15 trở đi, có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến có hàm lượng đạm cao (trên 40 %) Đến ngày thứ 45, cá đạt 5 – 7 cm Trong quá trình ương, hàng ngày làm vệ sinh (dọn phân cá và thức ăn thừa), thấy nước dơ thì thay 30
% mỗi ngày đến khi thấy sạch lại thì ngưng Quan sát biểu hiện của cá để có biện pháp
xử lý kịp thời
Nghiên cứu ương cá Kết từ cá bột lên cá giống ở các mật độ khác nhau Thí nghiệm 1, cá Kết được ương trong xô nhựa 35 lít với các mật độ lần lượt là 1,5 con.l-1, 3,5 con.l-1, 5,5 con.l-1 và 7,5 con.l-1; thức ăn là trùn chỉ Thí nghiêm 2, cá Kết được ương trong bể xi măng 1 m3 với các mật độ là 1500 con, 2000 con và 2500 con; thức
ăn viên Kết quả ở thí nghiệm 1, mật độ 7,5 con.l-1 cho tăng trưởng tuyệt đối, tăng
Trang 33trưởng tương đối và tỷ lệ sống thấp hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại Kết quả ở thí nghiệm 2, mật độ 1500 con có tăng trưởng tuyệt đối, tăng trưởng tương đối cao hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại nhưng tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức khác nhau không có ý nghĩa thống kê [28]
Trang 34CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: cá trèn bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797)
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2011 đến tháng 06/2012
- Địa điểm nghiên cứu: trại thực nghiệm Thủy sản, trường Đại học An Giang
2.2 Nguyên vật liệu nghiên cứu
- Cá trèn bầu, LHRH – a + DOM, HCG, não thùy, cân đồng hồ, kim tiêm, bể 0,5 m3, hệ thống sục khí, nhiệt kế, bộ test – sera: pH, NH3/NH4+, DO, bình Weys, kính hiển vi, cân điện tử, thước đo, giá thể, ống siphon, lòng đỏ trứng gà, bột đậu nành, trứng nước (moina), tép, cá biển, trùn chỉ, thức ăn công nghiệp (UP T503) và một số dụng cụ khác
- Nguồn nước: nước ngọt được bơm vào bể lắng 24 giờ rồi đưa qua bể chứa xử
lý Chlorin A liều lượng 30 ppm, sục khí và phơi nắng 3 ngày, lọc qua túi lọc và đưa vào bể nuôi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thí nghiệm 1: Thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá trèn bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau
2.3.1.1 Bố trí thí nghiệm
- Chọn cá bố mẹ cho sinh sản:
+ Cá cái: khỏe mạnh, không bị thương tật, bụng to, mềm, lỗ sinh dục màu hồng, dùng tay vuốt nhẹ từ gốc vây ngực kéo dài đến lỗ sinh dục thấy có trứng tròn, đều màu, lấy trứng xem dưới kính hiển vi thấy nhân lệch về cực động vật
+ Cá đực: khỏe mạnh, nguyên vẹn, gai sinh dục sưng to, màu hồng nhạt, tinh dịch màu trắng sữa
Trang 35- Chỉ tiêm một liều duy nhất cho tất cả các nghiệm thức
- Cá đực được tiêm cùng thời điểm cá cái, với liều lượng bằng 1/2 của cá cái
NT1:
LHRH-a +
DOM
Bố trí thí nghiệm
cá cái
2A
2000 UI/kg
cá cái
2B
2500 UI/kg
cá cái
2C
3000 UI/kg
cá cái
3C 15mg /kg cá cái
3B 10mg /kg cá cái
3A 5mg /kg cá cái
NT2:
HCG
NT3:
Não thùy
Trang 36- Vị trí tiêm: cơ lưng
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với bốn nghiệm thức
và ba lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức
- Cá từ 4 – 7 ngày tuổi: cho ăn 3 lần trong ngày là 7h, 13h và 18h; khẩu phần từ
20 – 30 % khối lượng thân.ngày-1; thức ăn là Moina
NT4: UP T503
40 % đạm
Bố trí thí nghiệm
Trang 37- Cá từ 8 – 60 ngày tuổi: cho ăn 2 lần trong ngày là 7h và 17h Khẩu phần cho
ăn từ 10 – 20 % khối lượng thân.ngày-1, cho ăn bằng sàng ăn, điều chỉnh lượng thức ăn theo nhu cầu của cá, sáng cho ăn 1/4 và chiều 3/4 khẩu phần, sau khi cho ăn một giờ thì lấy thức ăn thừa ra ngoài Tép, cá biển, trùn chỉ được bầm nhỏ trước khi cho ăn, thức ăn công nghiệp cho ăn trực tiếp
- Trong quá trình ương sau 3 ngày tiến hành vệ sinh và thay nước 70%
- Thức ăn: tép, cá biển, trùn chỉ được phân tích chỉ tiêu Protein bằng phương pháp Kjeldahl
- Mẫu cá được cân và đo 15 ngày.lần-1, một lần lấy ngẫu nhiên 30 cá thể cho mỗi nghiệm thức
- Tốc độ tăng trưởng được xác định bằng cách đo chiều dài tổng và cân khối lượng Đo chiều dài cá bằng giấy kẻ ôly, cân khối lượng cá bằng cân điện tử bốn số lẽ
2.3.3 Thí nghiệm 3: Thử nghiệm ương cá trèn bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi ở các mật độ khác nhau
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với bốn nghiệm thức
và ba lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức
- Cá từ 4 – 7 ngày tuổi: cho ăn 3 lần trong ngày là 7h, 13h và 18h; khẩu phần từ
20 – 30 % khối lượng thân.ngày-1; thức ăn là Moina
Bố trí thí nghiệm
Trang 38- Cá từ 8 – 60 ngày tuổi: cho ăn 2 lần trong ngày là 7h và 17h Khẩu phần cho
ăn từ 10 – 20 % khối lượng thân.ngày-1, cho ăn bằng sàng ăn, điều chỉnh lượng thức ăn theo nhu cầu của cá, sáng cho ăn 1/4 và chiều 3/4 khẩu phần, sau khi cho ăn một giờ thì lấy thức ăn thừa ra ngoài
- Thức ăn là trùn chỉ
- Trong quá trình ương sau 3 ngày tiến hành vệ sinh và thay nước 70%
- Mẫu cá được cân và đo 15 ngày.lần-1, một lần lấy ngẫu nhiên 30 cá thể cho mỗi nghiệm thức
- Tốc độ tăng trưởng được xác định bằng cách đo chiều dài tổng và cân khối lượng Đo chiều dài cá bằng giấy kẻ ôly, cân khối lượng cá bằng cân điện tử bốn số lẽ
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi
2.4.1 Các chỉ tiêu về môi trường nước
- Nhiệt độ: đo nhiệt độ của bể đẻ, bể ấp, bể ương bằng nhiệt kế thủy ngân
- pH, NH3/NH4+, DO: đo trong bể đẻ, bể ấp, bể ương bằng dụng cụ test Sera được sản xuất tại Đức
- Các yếu tố môi trường nước: nhiệt độ đo hàng ngày (7h và 14h); pH,
Trang 39- Sức sinh sản tương đối thực tế (trứng.g-1)
- Kích thước trứng mới đẻ: đo 30 trứng dưới kính hiển vi ngay sau khi cá đẻ
- Kích thước trứng sau khi trương nước (1giờ sau khi ấp): đo 30 trứng dưới kính hiển vi sau khi đẻ 1 giờ
- Theo dõi quá trình phát triển của phôi: theo dõi quá trình phân cắt và phát triển phôi được thực hiện dưới kính hiển vi ở vật kính 10 ngay sau khi trứng thụ tinh, nhằm xác định thời gian nở của trứng (thời gian giữa 2 lần quan sát từ 5 – 10 phút), đồng thời tham khảo mô tả của tác giả Lưu Thị Dung và Phạm Quốc Hùng (2005) về quá trình phát triển phôi của các loài cá xương [3]
- Thời gian trứng nở: từ khi trứng thụ tinh đến khi trứng nở
- Tỷ lệ sống cá bột sau ba ngày tuổi (%)
2.4.3 Các chỉ tiêu trong ương cá
- Xác định tốc độ tăng trưởng
+ Tăng trưởng khối lượng đặc trưng hay tương đối (SGRW: Specific Growth Rate of Weight, %.ngày-1)
+ Tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (DWG:Daily Weight Gain, g.ngày-1)
+ Tăng trưởng chiều dài đặc trưng hay tương đối (SGRL: Specific Growth Rate of Length, %.ngày-1)
Số trứng cá đẻ ra (trứng) Sức sinh sản tương đối thực tế (trứng.g-1) =
Khối lượng cá cái (g)
t2 - t1
Ln(L2) - Ln(L1)
t2 - t1
Trang 40+ Tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (DLG: Daily Length Gain, cm.ngày-1)
- Hệ số phân đàn (CV: Coefficient of Variation)
+ Hệ số phân đàn theo khối lượng (CVW, %)
+ Hệ số phân đàn theo chiều dài (CVL, %)
- Xác định hệ hóa thức ăn (FCR: Feed Conversion Ratio)
- Xác định tỷ lệ sống (%) vào cuối thời gian nghiên cứu
Trong đó:
W1, W2: khối lượng cá tương ứng ở thời điểm t1, t2
L1, L2: chiều dài cá tương ứng ở thời điểm t1, t2
SW, SL: độ lệch chuẩn về khối lượng và chiều dài
XtbW, XtbL: giá trị trung bình về khối lượng và chiều dài
2.5 Phương pháp xử lý thống kê
Tất cả các số liệu được thu thập, tính toán giá trị trung bình bằng chương trình Excel 2010 Các số liệu được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích ANOVA, tìm sự khác biệt giữa các trung bình nghiệm thức bằng phép thử DUNCAN
t2 - t1
Tổng số cá thu được
Tổng số cá thả