Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các cách khái niệm khác nhau về chiến lược, mỗi tác giả trình bầy trên quan điểm riêng của mình, có thể điểm qua một số khái niệm như sau: - Năm 196
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHẠM HOÀNG GIAO
HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY
SẢN XUẤT GỐM XÂY DỰNG CAO CẤP NGỌC SÁNG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN TRỌNG PHÚC
Nha Trang - 2011
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn chụi sự cạnh tranh gay gắt
với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cùng loại và các sản phẩm thay thế Để tồn tại
và phát triển các doanh nghiệp phải xây dựng được chiến lược kinh doanh đủ mạnh,
bền vững và có hiệu quả
Chiến lược kinh doanh không nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể chi tiết như
một kế hoạch mà nó được xây dựng trên cơ sở phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của
doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể về doanh nghiệp mình Bên cạnh
đó phân tích những cơ hội, thách thức đối với doanh nghiệp về môi trường kinh doanh
bên ngoài Từ đó hình thành nên các mục tiêu chiến lược, các chính sách, giải pháp lớn
thực hiện thành công mục tiêu đó
Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta còn xa lạ với mô hình quản lý
chiến lược nên chưa xây dựng chiến lược hoàn chỉnh, hữu hiệu nhằm phát triển các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Nhà máy sản xuất gốm xây
dựng cao cấp Ngọc Sáng cũng là một trong số đó
Nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng được thành lập vào năm
2004 tại xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Lĩnh vực hoạt động của nhà máy
là sản xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng như gạch lỗ, gạch lát nền, gạch bậc thềm,
gạch ốp tường trang trí, gạch lá dừa, ngói hài, ngói bò
Sản phẩm của nhà máy luôn bị cạnh tranh gay gắt bởi những sản phẩm cùng loại
của các nhà sản xuất trong và ngoài nước, dưới sức ép của các sản phẩm thay thế, sức
ép của khách hàng về những thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng Nhà máy cần phải
có các biện pháp nhằm sử dụng sử dụng hợp lý các nguồn lực bên trong như: Quản lý
công nghệ, con người, tiền vốn Khai thác các yếu tố bên ngoài như tìm kiếm thị
trường tiêu thụ sản phẩm nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh cho nhà
máy Trước tình hình đó đòi hỏi nhà máy cần phải xây dựng và thực hiện chiến lược
kinh doanh toàn diện để vượt lên trong cạnh tranh, đưa nhà máy ngày càng phát triển
lớn mạnh
Có thể nói chiến lược thực sự là sự định vị những lợi thế cạnh tranh trong tương
lai, là bánh lái để doanh nghiệp có thể ra khơi thành công, là vấn đề sống còn của
Trang 4
doanh nghiệp Với những lý do đó, học viên đã chọn đề tài : " Hoạch định chiến lược
phát triển của Nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng" để nghiên cứu
và viết đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục đích của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận của hoạch định chiến lược
- Phân tích thực trạng sản xuất gốm xây dựng và môi trường hoạt động của nhà
máy, qua đó tìm các cơ hội, thách thức cũng như điểm mạnh, điểm yếu của nhà máy
sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng
- Trên cơ sở phân tích thực trạng đó hoạch định chiến lược phát triển của nhà
máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng đến năm 2020
3 Phương pháp nghiên cứu:
Dựa vào các số liệu đã thu thập được qua các báo cáo, tài liệu, kết hợp các lý
thuyết kinh tế và các phương pháp kỹ thuật khác để phânh tích, đánh giá tình hình, qua
đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nhà máy sản xuất gốm
xây dựng cao cấp Ngọc Sáng Phát hiện các quy luật làm cơ sở cho các quyết định
hiện tại, những dự báo và hoạch định chính sách trong tương lai cho các mặt hoạt động
của nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng
Do tính thực tiễn của đề tài nên trong quá trình phân tích có sử dụng các thông
tin thu thập bằng các phương pháp sau:
- Thu thập thông tin thứ cấp từ
+ Nguồn tài liệu nội bộ của nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng: Tài
liệu thống kê, hồ sơ lưu trữ, các báo cáo hàng tháng, quý, năm
+ Nguồn tài liệu bên ngoài như: internet, báo, đài, tạp chí, chuyên ngành sản xuất gốm
xây dựng, các tài liệu của các công ty cùng ngành
- Thu thập thông tin sơ cấp từ:
+ Ý kiến khách hàng
+ Ý kiến của các chuyên gia trong ngành ban lãnh đạo công ty
Ngoài ra, các dữ liệu còn được thu thập trên cơ sở báo cáo của UBND tỉnh Bắc
Ninh, UBND huyện Quế Võ, cục thống kê, Sở kế hoạch và đầu tư, niêm giám thống kê
tỉnh Bắc Ninh, các báo cáo chuyên ngành
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là: Phân tích, thống
kê kinh tế, mô phỏng và so sánh tổng hợp
Trang 5
Phương pháp xử lý thông tin:
- Phân tích môi trường để xác định điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội, nguy cơ
của nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng
- Vận dụng ma trận SWOT kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu cơ hội nguy cơ
nhằm đề ra các kế hoạch phát triển nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc
Sáng
4 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn này tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến hoạch
định chiến lược phát triển của nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng
Các nội dung nghiên cứu, phân tích được đề cập trong phạm vi nhà máy sản xuất gốm
xây dựng cao cấp Ngọc Sáng tại xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Qua
quá trình nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp để phát triển nhà máy Ngọc Sáng
đến năm 2020
5 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, các phụ lục, tài liệu tham khảo thì luận văn
được trình bày gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược và quản lý chiến lược
- Chương 2: Phân tích thực trạng nhà máy sản xuất gốm xây dựng cao cấp Ngọc Sáng
- Chương 3: Hoạch định chiến lược phát triển của nhà máy sản xuất gốm xây dựng
cao cấp Ngọc Sáng đến năm 2020
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS., TS Trần Trọng Phúc đã
tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Trang 6Thuật ngữ "chiến lược" có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự Trong quân sự
cũng có rất nhiều quan niệm về chiến lược Clausewitz cho rằng: “Chiến lược là nghệ
thuật chỉ chiến đấu ở vị trí ưu thế ” Trong một xuất bản của từ điển Larouse coi:
Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng
Học giả Đào Duy Anh trong từ điển tiếng Việt đã viết: chiến lược là các kế
hoạch để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận Có thể nói, trong lĩnh vực quân
sự, thuật ngữ chiến lược đã được coi như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi
của một cuộc chiến tranh
Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh
doanh và thuật ngữ "chiến lược kinh doanh" ra đời Quan niệm về chiến lược kinh
doanh phát triển dần theo thời gian và nười ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các cách khái niệm khác nhau về chiến
lược, mỗi tác giả trình bầy trên quan điểm riêng của mình, có thể điểm qua một số khái
niệm như sau:
- Năm 1962, Alfred Chandler định nghĩa chiến lược như sau: "Chiến lược là sự
xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, và việc áp
dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết
để thực hiện mục tiêu chiến lược này"
- Đến những năm 1980 Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “
Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính
sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”
- Theo quan điểm của Johnson và Scholes thì “chiến lược là định hướng và phạm
vi của một số tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức
thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để
đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan”
Trang 7
Ngoài cách tiếp cận truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận
chiến lược theo cách mới: chiến lược kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng
nguồn lực, tài sản và tài chính nhằm mục đích nâng cao và đảm bảo những quyền lợi
thiết yếu của mình Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này
trong cuốn sách kinh điển " The Cencept of Corporate Strategy" Theo ông, chiến lược
là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và điểm yếu của
mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe doạ
- Theo William J.Guech: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính
toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của
một ngành sẽ được thực hiện”
- Theo Alain Charles Martinet, tác giả cuốn sách "Chiến lược", người đã được
nhận giải thưởng lớn của Havard Expansion năm 1983 lại quan niệm: " chiến
lược là một nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh và giành
thắng lợi" Như vậy chiến lược nhằm phác hoạ những quỹ đạo tiến triển vững
chắc lâu dài, xung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt những quyết định và những
hành động chính xác của doanh nghiệp
- Brace Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tư vấn
Boston đã nối kết khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh
tranh là việc đặt một công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị kinh tế
cho khách hàng "Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng trong một kế hoạch
hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức Những điều
khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ hội cho lợi thế của bạn" Ông tin
rằng không thể cùng tồn tại hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh của họ
giống hệt nhau Cần phải tạo ra sự khác biệt mới có thể tồn tại Michael Porter
cũng tán đồng nhận định trên của Henderson: "Chiến lược cạnh tranh liên quan
đến sự khác biệt Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt
để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo"
Qua một số ý tưởng và quan niệm đã được trình bầy, ta thấy “Chiến lược” là một
khái niệm khá trìu tượng, các quan niệm nêu trên không hoàn toàn giống nhau, không
đồng nhất Thực ra khái niệm “chiến lược” là những phát minh, sáng tạo của những
nhà chiến lược về cách thức hành động của doanh nghiệp trong tương lai sao cho có
thể dành được lợi thế trên thị trường, đạt được những mục tiêu cơ bản và quan trọng
nhất tạo đà phát triển cho sự bền vững chắc, không ngừng của doanh nghiệp trong
tương lai
Trang 8
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra những định nghĩa về chiến lược hay chiến
lựơc kinh doanh của một doanh nghiệp như sau:
Chiến lược kinh doanh cho một doanh nghiệp là sự lựa chọn tối ưu việc phối hợp
giữa các biện pháp (sử dụng sức mạnh của doanh nghiệp) với thời gian (thời cơ, thách
thức), với không gian (lĩnh vực và địa bàn hoạt động) theo sự phân tích môi trường
kinh doanh và khả năng nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được những mục tiêu cơ
bản lâu dài phù hợp với khuynh hướng của doanh nghiệp
Để dễ hình dung hơn định nghĩa và các quan niệm trên, có thể cụ thể hóa như sau:
Chiến lược là một kế hoạch, trong đó phải bao gồm:
a Những mục tiêu cơ bản, dài hạn (3 năm, 5 năm, 10 năm, ), chỉ rõ những định
hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai
b Những chính sách lớn, quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực, phân bổ và sử
dụng tối ưu các nguồn lực đó
c Các quyết định về những phương hướng và biện pháp chủ yếu phải thực hiện
để đạt được những mục tiêu đó
Tất cả những nội dung trên phải được xây dựng trong khuôn khổ môi trường sôi
động và những biến cố bên ngoài đã được dự đoán trước
Tính định hướng của chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên
tục, vững chắc trong môi trường xung quanh thường xuyên biến động
Các quyết định chiến lược nhất thiết phải được đưa ra từ cấp lãnh đạo cao nhất
của doanh nghiệp mới có thể đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn (về
sản phẩm, thị trường, đầu tư, đào tạo ) với sự bí mật về thông tin và mang tính cạnh
tranh trên thị trường
Chiến lược luôn có tư tưởng tấn công để giành ưu thế trên thị trường Chiến lược
phải được hoạch định và thực thi trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cơ hội kinh doanh
và nhận thức được lợi thế so sánh của doanh nghiệp so với các đối thủ mới có thể thu
được thành công lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy,
doanh nghiệp muốn thành công trong kinh doanh điều kiện tiên quyết phải có chiến
lược kinh doanh hay tổ chức thực hiện chiến lược tốt Quản trị doanh nghiệp mang tầm
chiến lược Đây chính là quan điểm tiếp cận đến quản trị chiến lược phổ biến hiện nay
Trang 9
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của chiến lược
Tuy còn có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến
lược xong các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh được quan niệm tương
đối thống nhất
Các đặc trưng cơ bản đó là:
- Chiến lược xác định rõ những mục tiêu cơ bản phương hướng kkinh doanh cần
đạt tới trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động quản
trị của doanh nghiệp Tính định hướng của chiến lược nhằm bảo đảm cho doanh
nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên
biến động
- Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh
nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Nó chỉ mang
tính định hướng còn trong thực tiễn hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải kết hợp mục
tiêu chiến lược với mục tiêu kinh tế, xem xét tính hợp lý và điều chỉnh cho phù hợp
với môi trường và điều kiện kinh doanh để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và khắc phục
sự sai lệch do tính định hướng của chiến lược gây ra
- Chiến lược kinh doanh xây dựng dựa trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các
nguồn lực (nhân lực, tài sản lực cả hữu hình và vô hình), năng lực cốt lõi của doanh
nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để
giành ưu thế trong cạnh tranh
- Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây
dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược
- Chiến lược kinh doanh luôn mang tư tưởng tiến công giành thắng lợi trong cạnh
tranh Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận
dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả
kinh doanh cao
- Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng và tổ chức thực
hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược đều được tập trung vào nhóm quản trị viên cấp
cao Để đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn, sự bí mật thông tin trong
cạnh tranh
Trang 10
1.1.3 Phân loại chiến lược kinh doanh
1.1.3.1 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược: Chia làm 2 loại
- Chiến lược tổng quát : Liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh
nghiệp để đáp ứng những kỳ vọng của người góp vốn Đây là một cấp độ quan trọng
do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và đồng thời nó cũng
hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến lược trong toàn bộ doanh nghiệp
- Chiến lược bộ phận: Liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh nghiệp sẽ
được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ công
ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp Bởi vậy, chiến lược tác nghiệp tập trung vào
các vấn đề và nguồn lực, quá trình xử lý và con người (chiến lược sản xuất, chiến
lược marketing, chiến lược tài chính, chiến lược nguồn nhân lực )
1.1.3.2 Căn cứ vào nội dung của chiến lược: gồm 4 loại:
- Chiến lược tập trung: hoạch định chiến lược tập trung các nguồn lực vào
những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chiến lược dựa trên xu thế tương đối: Từ các phân tích, so sánh sản phẩm hay
dịch vụ của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường để tìm ra những
điểm mạnh, điểm yếu của mình để làm cơ sở cho chiến lược
- Chiến lược sáng tạo tấn công: Xây dựng chiến lược dựa trên những sáng tạo,
những khám phá mới mà trước đó chưa ai nghĩ đến, bỏ qua những lối mòn cũ, tạo
đường đi cho riêng mình
- Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng: Xây dựng chiến lược ở đây
không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng tiềm tàng các nhân tố
thuận lợi, đặc biệt là tiềm tàng sử dụng nguồn lực dư thừa, nguồn lực hỗ trợ của các
lĩnh vực trọng yếu
1.1.3.3.Dựa vào căn cứ xây dựng chiến lược có thể chia ra ba loại chiến lược:
- Chiến lược dựa vào khách hàng
- Chiến lược dựa vào đối thủ cạnh tranh
- Chiến lược dựa vào thế mạnh của công ty
1.1.3.4 Căn cứ vào các hoạt động tiếp thị có hệ thống: Chia làm 4 loại
- Chiến lược sản phẩm
- Chiến lược giá
Trang 11
- Chiến lược phân phối
- Chiến lược giao tiếp khuyếch trương
Như vậy, bốn chính sách Marketing cũng là những chiến lược bộ phận theo
cách phân loại Marketing - Mix
1.1.4 Một số yêu cầu của chiến lược, căn cứ xây dựng chiến lược
Một số yêu cầu của chiến lược
- Một là, chiến lược phải xác định rõ những mục tiêu và những điều kiện cơ bản
để thực hiện mục tiêu cần phải đạt được trong từng thời kỳ
- Hai là, chiến lược phải kết hợp một cách tối ưu khai thác và sử dụng các nguồn
lực sẵn có của doanh nghiệp nhằm phát huy các lợi thế để tăng thế lực cho
doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh
- Ba là, chiến lược phải được phổ biến và quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt
động của doanh nghiệp
- Bốn là, chiến lược xây dựng trong một khoảng thời gian tương đối dài, thường
là 5 năm hay 10 năm, chiến lược không phải là giải pháp tình thế giúp doanh
nghiệp tháo gỡ khó khăn trong hiện tại Mà chiến lược được xây dựng nhằm
giúp doanh nghiệp chủ động tạo ra các thay đổi nhằm giành lợi thế cạnh tranh
và cải thiện vị trí của mình trong tương lai
- Năm là, phải có chiến lược dự phòng Sở dĩ phải như vậy là vì chiến lược được
xây dựng để đạt được các mục tiêu dài hạn trong tương lai là điều chưa biết và
khó đoán trước Do đó khi xây dựng chiến lược cần phải tính đến khả năng xấu
nhất mà doanh nghiệp có thể gặp phải
Mục đích của chiến lược là nhằm tìm kiếm những cơ hội, hay nói cách khác là
nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh
Một chiến lược đạt được mục tiêu sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều thành
quả rất có ý nghĩa:
- Cải thiện hình ảnh của công ty đối với khách hàng và môi trường kinh doanh
- Tăng thế lực của doanh nghiệp và giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường
- Tăng năng suất, hiệu quả và lợi nhuận của doanh nghiệp
- Cải thiện các chỉ tiêu kinh tế và lợi ích khác như nâng cao được thu nhập của
người lao động, cải thiện điều kiện làm việc và mức sống của họ
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp
Trang 12
Căn cứ xây dựng chiến lược:
Khi xây dựng chiến lược phải căn cứ vào:
- Những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng và cả nước
- Chế độ, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Kết quả điều tra, nghiên cứu dự báo nhu cầu xã hội
- Kết quả phân tích, tính toán, dự báo về nguồn lực có thể khai thác
Chiến lược luôn được hoàn thiện và sửa đổi khi có biến động lớn về chủ trương
và sự thay đổi lớn của tình hình thị trường
Ngoài ra, trước khi hoạch định chiến lược kinh doanh, nhà quản trị phải tiến
hành một loạt các phân tích giúp cho chiến lược hình thành có căn cứ khoa học Các
vấn đề cần phải phân tích để làm căn cứ cho chiến lược gồm: Phân tích môi trường vĩ
mô, phân tích môi trường ngành và phân tích nội bộ doanh nghiệp
1.1.5 Vai trò của chiến lược kinh doanh
Với những đặc trưng đó, có thể nói rằng trong cơ chế thị trường việc xây dựng,
thực hiện chiến lược kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp
Lịch sử kinh doanh trên thế giới đã từng chứng kiến không ít người gia nhập
thương trường kinh doanh từ một số vốn ít ỏi, nhưng họ đã nhanh chóng thành đạt và
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác nhờ có được chiến lược kinh doanh đúng Chiến
lược kinh doanh được ví như bánh lái của con tàu để nó vượt được trùng khơi về trúng
đích khi mới khởi sự doanh nghiệp Nó còn được ví như cơn gió giúp cho diều bay lên
cao mãi Thực tế, những bài học thành công về thất bại trong kinh doanh đã chỉ ra có
những tỷ phú xuất thân từ hai bàn tay trắng với số vốn ít ỏi nhờ có được chiến lược
kinh doanh tối ưu và ngược lại cũng có những nhà tỉ phú, do sai lầm trong đường lối
kinh doanh của mình đã phải trao lại cơ ngơi cho địch thủ của mình trong thời gian
ngắn Sự đóng cửa của những công ty làm ăn thua lỗ và sự phát triển của những doanh
nghiêp có hiệu quả sản xuất kinh doanh cao thực sự phụ thuộc vào một phần đáng kể
vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đó, đặc biệt trong kinh tế thị trường
Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp được thể hiện trên các
khía cạnh sau:
(1) Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích hướng đi
của mình trong tương lai làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp
Trang 13
Chiến lược kinh doanh đóng vai trò định hướng hoạt động trong dài hạn của
doanh nghiệp Sự thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược thiết lập không rõ ràng, không
có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phương hướng, có
nhiều vấn đề nảy sinh chỉ thấy trước mắt mà không gắn được với dài hạn hoặc chỉ thấy
cục bộ mà không thấy được vai trò của cục bộ trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
(2) Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ
hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối
đe doạ trên thương trường kinh doanh
(3) Chiến lược kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực,
tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và
bền vững
(4) Chiến lược kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp đề ra
cách quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường Nó tạo ra cơ sở vững chắc
cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển đào tạo bồi dưỡng nhân
sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm Trong thực tế phần lớn các
sai lầm trong đầu tư, công nghệ, thị trường đều xuất phát từ chỗ xây dựng chiến lược
hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lược
Cội nguồn của thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những yếu tố
quan trọng là doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh như thế nào
1.2 Quản trị chiến lược
1.2.1 Định nghĩa về quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược là một vấn đề được rất nhiều nhà kinh tế cũng như các quản
trị gia quan tâm Do nội dung của quản trị chiến lược rất rộng về phạm vi nghiên cứu
và phong phú trong thực tế vận dụng nên ở mỗi góc nhìn người ta lại đưa ra quan
điểm, định nghĩa khác nhau về quản trị chiến lược Tuy mỗi cách nhìn đó chưa hoàn
toàn đầy đủ, toàn diện nhưng trên tổng thể, những cách nhìn đó đã góp phần to lớn vào
việc nhận thức và thực hiện công tác quản trị trong các doanh nghiệp Dưới đây là một
số định nghĩa về quản trị chiến lược
- Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản trị quyết định
thành công lâu dài của doanh nghiệp
- Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến
việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 14
- Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như
tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra thực hiện và kiểm tra việc thực
hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu trong môi trường hiện tại cũng như
tương lai
Cuối cùng xin giới thiệu một định nghĩa về quản trị chiến lược được sử dụng
rộng rãi trong các khoá đào tạo chuyện sâu về quản trị kinh doanh tại Anh, Mỹ và
được nhiều nhà kinh tế chấp nhận
- Quản trị chiến lược là nghệ thuật và khoa học của việc xây dựng, thực hiện và
đánh giá các quyết định tổng hợp giúp cho mỗi tổ chức có thể đạt được mục tiêu của nó
Theo các định nghĩa này, quản trị chiến lược chú trọng vào việc phối kết hợp
các mặt quản trị, marketing, tài chính/ kế toán, sản phẩm/ tác nghiệp, nghiên cứu &
phát triển và hệ thống thông tin để đạt tới sự thành công cho doanh nghiệp
1.2.2 Ý nghĩa của quản trị chiến lược
Trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh hiện nay, hơn bao giờ
hết, chỉ có một điều mà các công ty có thể biết chắc chắn, đó là sự thay đổi Quá trình
quản trị chiến lược như là một hướng đi, một hướng đi giúp các tổ chức này vượt qua
sóng gió trong thương trường, vươn tới một tương lai, bằng chính nỗ lực và khả năng
của chúng Đây là kết quả của sự nghiên cứu khoa học trên cơ sở thực tiễn kinh doanh
của rất nhiều công ty Nó thực sự là một sản phẩm của khoa học quản trị, bởi lẽ nếu
các tổ chức xây dựng được một quá trình quản trị tốt, họ sẽ có một chỗ dựa tốt để tiến
lên phía trước Tuy vậy, mức độ thành công còn phụ thuộc vào năng lực triển khai, sẽ
được đề cập trong phần áp dụng chiến lược, chính nó thể hiện một nghệ thuật trong
quản trị
Quá trình quản trị chiến lược dựa vào quan điểm là các công ty theo dõi một
cách liên tục các sự kiện xảy ra cả trong và ngoài công ty cũng như các xu hướng để
có thể đề ra các thay đổi kịp thời Cả số lượng và mức độ của những thay đổi tác động
mạnh đến các công ty đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian vừa qua Để có thể tồn
tại, tất cả các tổ chức bắt buộc phải có khả năng thay đổi và thích ứng với những biến
động Quá trình quản trị chiến lược được xây dựng nhằm mục tiêu giúp công ty tập
trung thích ứng một cách tốt nhất đối với những thay đổi trong dài hạn
Có một sự tăng lên đáng kể về con số các công ty và tổ chức áp dụng quản trị
chiến lược để tạo ra các quyết định hiệu quả Tuần báo kế hoạch (Planning review)
Trang 15
thống kê có trên 75% các công ty ngày nay sử dụng các kỹ thuật quản trị chiến lược,
tương ứng với con số 25% năm 1979 Tuy vậy, có quản trị chiến lược không có nghĩa
sẽ chắc chắn có được sự thành công Nó có thể đem lại sự rối loạn các bộ phận chức
năng nếu tổ chức lộn xộn Đối với tập đoàn Rockwell, tập đoàn cung ứng Gas
Columbia, công ty Ogen, quản trị chiến lược đã đem lại cho họ những thành công to
lớn Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ, ông Waterman, sau một thời gian dài nghiên
cứu về nguyên nhân dẫn tới sự thành công và thất bại của các công ty trong và ngoài
nước Mỹ, đã đi tới một phát hiện mới về lợi ích do quản trị chiến lược đem lại cho
công ty IBM như sau: "Tôi đã bị cuốn đi khi nói chuyện với ngày Tổng giám đốc John
Akers của công ty IBM Sau khi nghiên cứu kỹ hệ thống quản trị chiến lược hết sức
tinh vi và hiệu quả của công ty, tôi hiểu rằng, tại IBM, họ cho quản trị chiến lược
không chỉ là một kế hoạch, nó còn là cách thức họ giao tiếp với nhau Và quản trị
chiến lược trở nên quan trọng bởi lẽ nó sản sinh ra thông tin và nó giúp cho bạn giao
tiếp" Chính là nhờ sự phát triển của hệ thống quản trị chiến lược trong công ty họ đã
có những hiểu biết như vậy, và nhờ đó IBM đã vượt trội lên, trở thành người khổng lồ
trong cung cấp máy điện toán cá nhân, máy chủ và các thiết bị thông tin trên thế giới
Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị động
trong việc vạch rõ tương lai của mình; nó cho phép một tổ chức có thể tiên phong và
gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động (thay vì chỉ phản ứng lại một cách yếu
ớt), và vì vậy, vận dụng hết khả năng của nó để kiểm soát môi trường, vượt khỏi
những gì thiên kiến Vì lẽ đó, chính những người điều hành doanh nghiệp, từ chủ tịch
hôi đồng quản trị, tổng giám đốc tới những ban giám đốc của rất nhiều tổ chức kinh
doanh hoặc hoạt động phi lợi nhuận đều phát hiện ra và nhận thức được quản trị chiến
lược Về lịch sử, ý nghĩa cơ bản của quản trị chiến lược là giúp đỡ cho các tổ chức tạo
ra được các chiến lược tốt hơn thông qua việc vận dụng một cách bài bản hơn, hợp lý
hơn và tiếp cận tốt hơn đối với những sự lựa chọn chiến lược Tuy nhiên, những
nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng đóng góp của quản trị chiến lược vào quá trình thực
hiện quan trọng hơn nhiều so với sự đóng góp trong việc ra các quyết định hay các văn
bản đơn lẻ
Quản trị chiến lược tạo cho mỗi người những nhận thức hết sức quan trọng
Mục tiêu chủ yếu của quá trình này chính là đạt được sự thấu hiểu và cam kết thực
hiện cả trong ban giám đốc cũng như trong đội ngũ người lao động Vì lẽ đó, lợi ích
Trang 16
quan trọng nhất mà quản trị chiến lược đem lại chính là sự hiểu thấu đáo, và kế đó là
sự cam kết thực hiện Họ sẽ tự cam kết ủng hộ nó Người lao động và ban giám đốc sẽ
trở nên năng động lạ thường và họ hiểu, ủng hộ những việc, sứ mệnh, các mục tiêu và
chiến lược của doanh nghiệp giúp cho mọi người tăng thêm sức lục và nhờ đó họ phát
huy hết những phẩm chất và năng lực cá nhân của mình, đóng góp cho sự phát triển
doanh nghiệp
Ngày càng nhiều tổ chức tập trung vào quá trình quản trị chiến lược và nhận ra
được sự cần thiết phải có sự tham gia của các cấp quản trị bên dưới cũng như của
những người làm công Kế hoạch nhân sự được lập ra từ bên trên đang được thay thế
bằng những kế hoạch nhân sự của các giám đốc bộ phận Hoạt động này không chỉ còn
gói gọn trong suy nghĩ của các đơn vị trong ban giám đốc hay trên giấy tờ mà giờ đây
nó đã trở thành suy nghĩ của mỗi nhà quản trị Thông qua những đóng góp trong quá
trình này, các nhà quản trị từ mọi cấp trở thành những người chủ thực sự của chiến
lược Sự đồng sở hữu chiến lược chính là chìa khoá cho sự thành công của các doanh
nghiệp hiện nay
Lợi ích do quá trình quản trị chiến lược đem lại mà chúng ta có thể nhận
thấy ở đây có thể chia ra làm hai loại: lợi ích tính thành tiền và lợi ích không tính
được thành tiền
Lợi ích thành tiền
Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những công ty sử dụng những nguyên
tắc về chiến lược thành công hơn nhiều so với những tổ chức không áp dụng nó Một
cuộc điều tra kéo dài hơn 3 năm tại trên 101 công ty bản lẻ, dịch vụ và sản xuất đã cho
ra một kết luận là những công ty áp dụng quản trị chiến lược đã có được một sự tăng
lên đáng kể về doanh số, lợi nhuận và năng suất so với những doanh nghiệp không có
những hệ thống công tác kế hoạch, không áp dụng quản trị chiến lược Một nghiên cứu
khác lại cho thấy 80% những thành công đạt được của các công ty là nhờ những điều
chỉnh trong định hướng quản trị chiến lược của công ty Trong nghiên cứu của mình,
ông Cook và ông Ferris đã ghi lại hoạt động thực tế, hiệu quả tại các công ty phản ánh
sự linh hoạt trong chiến lược và sự tập trung vào các mục tiêu dài hạn
Chính việc vận dụng quản trị chiến lược đã đem lại cho các công ty thành công
hơn, có tầm nhìn xa hơn trong tương lai, đó là việc đoán trước được những xu hướng
chứ không chỉ đơn thuần là những sự việc xảy ra trong ngắn hạn; nó cũng giúp cho các
Trang 17
công ty này thực hiện tốt hơn những mục tiêu trong ngắn hạn Và thành quả thu được
dễ nhận thấy chính là những con số về doanh thu và lợi nhuận, thị phần và mức độ gia
tăng về giá trị cổ phiếu công ty trên thị trường chứng khoán
Lợi ích không thành tiền
Những con số, những thành tựu thu được về mặt tài chính không phải là tất cả
những gì thu được từ việc áp dụng quản trị chiến lược một cách hiệu quả Những lợi
ích thu được còn là những lợi ích vô hình, không đo được bằng tiền, nhưng vô cùng
quan trọng và nó mang tính chất sống còn với công ty như sự nhạy cảm đối với những
thay đổi của môi trường, sự am hiểu hơn về chiến lược của các đối thủ cạnh tranh,
nâng cao được năng suất người lao động, làm giảm bớt những e ngại đối với thay đổi,
việc hiểu rõ hơn về thực hiện đãi ngộ Quản trị chiến lược làm tăng thêm khả năng
ngăn chặn những nguy cơ của doanh nghiệp bởi lẽ nó khuyến khích sự trao đổi giữa
các nhà quản lý tại mọi bộ phận, các cấp chức năng Sự trao đổi giúp cho mọi người ý
thức được những mục tiêu của công ty, cùng chia sẻ những mục tiêu cần đạt tới của tổ
chức, trao quyền cho mỗi người trong việc phát triển sản phẩm và dịch vụ, đồng thời
ghi nhận những đóng góp của họ Sự thức tỉnh của người lao động trong công việc sẽ
đem lại thành quả không ngờ, năng suất lao động tăng tới 200%, theo những số liệu
điều tra của Tom Peter
Quản trị chiến lược giúp cho doanh nghiệp, những người quản lý cũng như
nhân viên có cách nhìn dài hạn và hướng thiện hơn, nó cũng có thể làm sống lại niềm
tin vào chiến lược đang được áp dụng hoặc chỉ ra sự cần thiết phải có sự sửa đổi Quá
trình quản trị chiến lược còn cung cấp cơ sở cho việc vạch ra và lý giải về nhu cầu cần
có sự thay đổi cho ban giám đốc và mọi người trong công ty Nó giúp cho họ nhìn
nhận những thay đổi như là cơ hội mới chứ không phải là mối đe doạ
Quản trị chiến lược đem lại cho chúng ta những lợi ích sau:
1 Giúp nhận dạng, sắp xếp ưu tiên và tận dụng các cơ hội
2 Đưa ra cách nhìn thực tế về các khó khăn của công tác quản trị
3 Đưa ra một đề cương cho việc phát triển đồng bộ các hoạt động và điều khiển
4 Làm tối thiểu hoá các rủi ro
5 Giúp cho các quyết định chủ chốt phục vụ tốt hơn cho việc đề ra các mục tiêu
6 Giúp cho sự phân bổ tốt hơn thời gian và nguồn lực cho cơ hội đã được xác định
Trang 18
7 Cho phép giảm thời gian và nguồn lực cần thiết để sửa đổi những lỗi lầm và
các quyết định thời điểm
8 Tạo ra khung sườn cho mối liên hệ giữa các cá nhân trong nội bộ công ty
9 Giúp kết hợp những hành vi đơn lẻ thành một nỗ lực chung
10 Cung cấp cơ sở cho việc làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân
11 Đem lại sự khuyến khích cho những suy nghĩ tiến bộ
12 Mang lại cách thức hợp tác, gắn bó, và hăng say trong việc xử lý các vấn đề
cũng như các cơ hội
13 Khuyến khích thái độ tích cự đối với sự thay đổi
14 Đem lại một mức độ kỷ luật và sự chính thức đối với công tác quản trị trong
công ty
1.2.3 Mô hình quản trị chiến lược của Fred R.David
Mô hình quản trị chiến lược của F David được chấp nhận rộng rãi nhất được
trình bày dưới đây Mô hình này không đảm bảo cho sự thành công nhưng nó cung cấp
một cách rõ ràng và cơ bản phương pháp tiếp cận trong việc thiết lập, thực thi và đánh
giá chiến lược
Trang 19
Hình 1: Mô hình quản trị chiến lược toàn diện của Fred R.David
( Trong mô hình trên quản trị chiến lược ở trên, phạm vi của luận văn chỉ đề cập
và giải quyết phần hoạch định chiến lược )
Vạch ra những nhiệm vụ, những mục tiêu, và những chiến lược của một công ty
là một bước khởi đầu hết sức logic và cần thiết trong quản trị chiến lược, bởi lẽ vị trí
hiện tại và tình trạng của công ty có thể ngăn không thể áp dụng một số chiến lược, mà
thậm chí có thể là ngăn cản một loạt những công việc
Quá trình chiến lược là một quá trình phức tạp và liên tục Chỉ cần một thay đổi
nhỏ tại một trong số những bước công việc chính trong mô hình cũng cần tới những
thay đổi trong một vài hoặc tất cả các bước công việc khác Chẳng hạn như sự chuyển
biến của nền kinh tế có thể làm xuất hiện một cơ hội mới và đòi hỏi phải có sự thay
đổi trong các mục tiêu dài hạn cũng như trong chiến lược; hoặc giả sử thất bại trong
việc đạt tới mục tiêu thường niên cũng đòi hỏi sự thay đổi chính sách; hay việc một
Thực hiện đánh giá bên ngoài, chỉ ra các cơ hội và thách thức
Đặt ra mục tiêu dài hạn
Thiết lập các mục tiêu ngắn hạn
Xem xét lại nhiệm
vụ của công ty
Lựa chọn chiến lược
để theo đuổi
Chính sách bộ phận
Phân
bổ các nguồn lực
Đo đường đánh giá kết quả
Hoạch định chiến lược Triển khai chiến lược Đánh giá chiến lược
Trang 20
đối thủ chính công bố thay đổi trong chiến lược cũng sẽ đòi hỏi sự thay đổi trong bản
cáo bạch các nhiệm vụ cần thực hiện của công ty Vì những lý do đó, hoạch định chiến
lược, thực thi chiến lược và các hoạt động đánh giá đòi hỏi cần phải được thực hiện
một cách liên tục, thường xuyên, không chỉ là thời điểm cuối mỗi năm Quá trình quản
trị chiến lược dường nhu không bao giờ có điểm dừng
Quá trình quản trị chiến lược trong thực tế không thể phân tách một cách rõ
ràng và thực hiện một cách chặt chẽ như mô hình đề ra Các nhà chiến lược không
thực hiện được các yêu cầu một cách uyển chuyển, mà họ buộc phải lựa chọn lần lượt
theo các thứ tự ưu tiên thực hiện Rất nhiều công ty tổ chức hàng năm hai lần gặp mặt
để bàn về nhiệm vụ, những cơ hội và chính sách, mức độ thực hiện; thực hiện những
thay đỏi nếu cần thiết cho cập nhật với tình hình thực tế Những cuộc gặp gỡ như vậy
giúp cho việc trao đổi thông tin giữa những thành viên tham gia, khuyến khích sự năng
động hơn nữa và sự thành thật trong số những người tham gia
Mô hình trên cũng đã chỉ ra sự tồn tại của rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới quản
trị chiến lược trong doanh nghiệp, như quy mô của doanh nghiệp Đối với những
doanh nghiệp nhỏ, quản trị chiến lược kém bài bản trong quy trình thực hiện các bước
công việc quản trị Một số nhân tố khác cũng có ảnh hưởng đến như phong cách quản
trị, mức độ phức tạp của môi trường, mức độ phức tạp của sản phẩm, bản chất của
những vấn đề và mục đích của hệ thống lập kế hoạch trong doanh nghiệp
1.2.4 Hoạch định chiến lược
Hoạch định chiến lược là quá trình liên kết tất cả mọi nỗ lực của công ty vào
việc thoả mãn khách hàng, hoàn thiện chất lượng và đạt các mục tiêu kinh doanh
Khi triển khai các kế hoạch chiến lược, các nhà quản trị và các thành viên áp
dụng phương pháp tiếp cận trên toàn bộ tổ chức Nhiệm vụ chung của hoạch định
chiến lược và quản trị là hướng toàn bộ mọi nỗ lực của công ty về khách hàng, nhằm
thoả mãn tối đa mọi nhu cầu của họ, qua đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của công
ty Các yếu tố thành phần chủ yếu của quá trình hoạch định chiến lược là lựa chọn sứ
mệnh, mục tiêu, các chiến lược và sự phân bổ các nguồn lực của tổ chức
1.2.4.1 Vai trò của hoạch định chiến lược:
Hoạch định chiến lược giúp cho các tổ chức:
- Nhận biết rõ những mục tiêu và hướng đi trong tương lai:
Trang 21
- Phát huy tối đa sức mạnh và tiềm lực của tổ chức và khai thác được những lợi
thế cạnh tranh
- Tạo được thế chủ động để ứng phó những thay đổi của môi trường;
- Giảm thiểu mức thấp nhất những rủi ro và tranh thử khai thác tối đa những
cơ hội
1.2.4.2 Chức năng của hoạch định chiến lược
- Định hướng chiến lược cho hoạt động của tổ chức;
- Đảm bảo thế chủ động chiến lược khi tiến công cũng như phòng thủ trong
kinh doanh;
- Huy động, khai thác và tập trung sử dụng những thế mạnh chiến lược trong
tổ chức
- Đảm bảo tính thích nghi chiến lược với mọi điều kiện và thay đổi của thị
trường nói riêng và môi trường nói chung trong tương lai dài hạn
- Phòng ngừa chiến lược mọi rủi ro và nguy cơ nếu có khả năng xuất hiện và tận
dụng mọi cơ hội, thời vận trong tương lai
- Xây dựng và phát triển thế lực và mọi nguồn tài nguyên trong tổ chức
1.2.4.3 Ý nghĩa của việc hoạch định chiến lược
Hoạch định chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp nhất
là trong tình hình kinh tế luôn biến động, nhiều thay đổi cạnh tranh gay gắt như ngày
nay Việc hoạch định đem lại cho tổ chức nhiều lợi ích quan trọng, cụ thể là:
- Tư duy có hệ thống để tiên liệu các tình huống quản lý
- Nhận diện được các cơ hội và nguy cơ trong tương lai
- Phối hợp mọi nguồn lực của tổ chức hữu hiệu hơn
- Tập trung vào các mục tiêu và chính sách của tổ chức
- Sẵn sàng ứng phó đối với những thay đổi của môi trường bên ngoài
- Triển khai kịp thời các chương trình hành động
1.2.4.4 Tiến trình hoạch định chiến lược:
Hoạch định chiến lược kinh doanh là quá trình sử dụng các phương pháp và
công cụ kỹ thuật nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh và từng bộ phận của doanh
nghiệp trong thời kỳ xác định Để công tác hoạch định thực hiện có hiệu quả cao đòi
hỏi phải có những bước đi hợp lý Nhằm đảm bảo sự hợp lý này, công tác hoạch định
cần thực hiện quy trình gồm thứ tự các bước sau:
Trang 22
Hình 2: Tiến trình hoạch định chiến lược
Bước 1: Xác định sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp
Đây là điểm bắt đầu của lập luận chiến lược Mục đích của bước này nhằm xác
định rõ mục đích hoạt động và tồn tại của doanh nghiệp hay nhằm trả lời câu hỏi
doanh nghiệp là ai? Nó cung cấp những sản phẩm gì và cho thị trường nào, những giá
trị mà nó cam kết với các bên hữu quan, nó khác với doanh nghiệp khác ở chỗ nào, nó
mong muốn trở thành cái gì và hiện tại nó đang ở đâu
Bước 2: Phân tích môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài của doanh nghiệp là hoàn cảnh trong đó doanh nghiệp hoạt
động và tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh Trong môi trường này doanh nghiệp chịu
sự tác động từ các yếu tố bên ngoài đến các hoạt động kinh doanh của mình Phần lớn
tác động của các yếu tố đó mang tính khách quan, doanh nghiệp khó kiểm soát được
mà chỉ có thể thích nghi Môi trường bên ngoài có thể phân tích thành cấp độ: Môi
Bước 3: Phân tích môi trường nội bộ để xác định điểm mạnh,
điểm yếu của doanh nghiệp
Bước 5: Xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lược
Bước 6: Đánh giá hiệu quả và tính khả thi của chiến lược
Bước 4: Xây dựng chiến lược để lựa chọn
Bước 1: Xác định sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp
Bước 2: Phân tích môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và
nguy cơ của doanh nghiệp
Trang 23
trường vi mô và môi trường vĩ mô Sự phân chia này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc
nhận rõ sự quan trọng của các yếu tố có mức tác động khác nhau đến hoạt động của
doanh nghiệp
Hình 3: Môi trường bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp
1 Môi trường vĩ mô:
Môi trường vĩ mô là các yếu tố tổng quát có ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh
doanh và tất cả các doanh nghiệp Những thay đổi trong môi trường vĩ mô có thể tác
động đến bất kỳ lực lượng nào trong ngành, do đó nó làm biến đổi sức mạnh tương đối
đến các thế lực khác với chính nó, cuối cùng là làm thay đổi tính hấp dẫn của một
ngành Các yếu tố môi trường vĩ mô thường được phân tích bao gồm:
- Môi trường kinh tế: Có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các đơn vị kinh doanh Các
ảnh hưởng của nền kinh tế đến một Công ty có thể làm thay đổi khả năng tạo giá trị và
thu nhập của nó Các nhân tố quan trọng trong môi trường kinh tế vĩ mô là: Tỷ lệ tăng
Đối thủ cạnh tranh
NỘI BỘ DOANH NGHIỆP
- Nguồn nhân lực
- Nghiên cứu và phát triển
Yếu tố công nghệ
Yếu tố chính
phủ và chính
trị
Yếu tố luật pháp
và chính sách
MÔI TRƯỜNG NGÀNH
Sản phẩm thay thế
Nhà cung cấp
Đối thủ tiềm
ẩn
Khách hàng
Trang 24
trưởng kinh tế, lãi suất cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ, chu kỳ kinh
tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ suất hối đoái, tỷ lệ lạm phát Mỗi yếu tố trên có thể là cơ hội
cho doanh nghiệp đồng thời cũng có thể trở thành nguy cơ, mối đe doạ cho sự phát
triển của doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường
kinh tế để nhận ra các thay đổi mới trong tương lai
- Môi trường chính trị - pháp luật: Những diễn biến chính trị và pháp luật có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp
cần phải phân tích cẩn thận các chính sách có liên quan nhà nước như: Chính sách xuất
nhập khẩu, chính sách thuế, chính sách giá cả, chính sách thương mại, lao động tiền
lương Các chính sách này có thể tăng hay giảm tác động đến hoạt động khả năng
sinh lợi của ngành hay doanh nghiệp là tuỳ vào nhất quán cởi mở của chúng Những
chính sách nay được thể chế hoá thành các đạo luật và chúng có hiệu quả pháp lý đối
với các hoạt động kinh doanh Những đạo luật này có thể tạo ra các cơ hội hay nguy cơ
của doanh nghiệp, thậm chí có thể quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức
- Môi trường văn hoá xã hội: Các giá trị văn hoá thái độ xã hội tạo nên nền tảng
của xã hội, nên nó thường dẫn dắt các thay đổi và các điều kiện công nghệ, chính trị -
pháp luật, kinh tế và nhân khẩu Các doanh nghiệp cần phải phân tích một dải rộng các
yếu tố xã hội để ấn định những cơ hội đe doạ tiềm tàng Thay đổi một trong nhiều yếu
tố có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đến doanh số, khuôn mẫu tiêu biểu, khuôn mẫu
hành vi xã hội, ảnh hưởng phẩm chất đời sống, cộng đồng kinh doanh Những yếu tố
xã hội này thường thay đổi hoặc tiến triển chậm chạp làm cho chúng đôi khi khó nhận
ra Vì vậy, có rất ít doanh nghiệp có thể nhận ra những động thái thay đổi ấy, tiên đoán
những động tác của chúng và vạch ra các chiến lược thích hợp
- Môi trường tự nhiên: Những doanh nghiệp kinh doanh từ lâu đã nhận ra những
tác động của thiên nhiên vào quyết định kinh doanh của họ Các yếu tố tự nhiên này
bao gồm: Năng lượng, vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết, tài nguyên thiên nhiên như:
Khoáng sản, dầu mỏ, than đá, kim loại, tài nguyên rừng, nguồn nước Những nguồn
tài nguyên này ngày càng trở nên khan hiếm và cạn kiệt trong khi nhu cầu về chúng thì
ngày càng tăng Vì thế, nhận thức các vấn đề liên quan đến môi trường tự nhiên giúp
các nhà quản trị kiểm soát tốt hơn các chiến lược kinh doanh của mình, đưa ra các
quyết định hợp lý và góp phần bảo vệ môi trường
Trang 25
- Môi trường nhân khẩu học: Là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì con người là lực lượng tạo lên thị
trường Nó có thể là cơ hội nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những nguy cơ đối các
doanh nghiệp và vấn đề để nguồn lao động và thị trường tiêu thụ Trong môi trường
này các yếu tố doanh nghiệp quan tâm sâu sắc là: Quy mô và tỷ lệ tăng dân số ở các
thành phố, các khu vực, quốc gia sự phân bố dân cư, cơ cấu tuổi trình độ học vấn, mẫu
gia đình Sự bùng nổ dân số là một mối lo của các chính phủ và các tổ chức khác
nhau trên khắp thế giới Bởi nguồn tài nguyên của trái đất thì có hạn, không thể đảm
bảo cuộc sống cho số lượng người đông như vậy, đặc biệt là với mức sống mọi người
khao khát hiếm có Các chuyên gia cho rằng đến năm 2050, dân số thế giới sẽ đạt 8 tỷ
người Dự kiến về dân số cho thấy những thách thức toàn cầu về dân số của thế kỷ 21
và cơ hội cho các nhà kinh doanh
- Môi trường công nghệ: Một lực lượng quan trọng, định hình cuộc sống của con
người là công nghệ Với một không gian lan toả và đa dạng, các thay đổi công nghệ
tác động lên nhiều bộ phận của xã hội Các tác động này chủ yếu thông qua các sản
phẩm, quá trình công nghệ và vật liệu mới Một trong những tác động quan trọng nhất
của thay đổi công nghệ là nó có thể tác động lên chiều cao và rào cản nhập cuộc và
định hình lại cấu trúc ngành tại gốc rễ Các kiến thức công nghệ là đặc biệt quan trọng
Nắm bắt và biết vận dụng kịp thời các kiến thức công nghệ mới này sẽ giúp doanh
nghiệp chiếm được ưu thế trên thị trường Đồng thời các doanh nghiệp cũng phải
thường xuyên đánh lại trình độ công nghệ của chính mình, đầu tư cho lĩnh vực nghiên
cứu và phát triển sản phẩm mới để tránh nguy cơ các sản phẩm của mình bị lạc hậu
trực tiếp hoặc gián tiếp
- Môi trường toàn cầu: Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế trên thế giới đã có
nhiều thay đổi Một nền kinh tế mang tính toàn cầu đang được hình thành rõ nét và có
ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của các quốc gia Trên bình diện phát triển kinh tế,
đây là một thách thức to lớn, song cũng là các cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam vươn
lên mạnh mẽ nếu biết tận dụng thời cơ Quá trình toàn cầu hóa luốn có hai mặt tích cực
và tiêu cực Nó đem lại cho doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường, gia
tăng dòng luân chuyển vốn và đầu tư, tiếp cận nhanh chóng công nghệ, kỹ thuật tiên
tiến hiện đại và cơ hội tiếp cận, học tập những kinh nghiệm, kỹ năng quản lý tiên tiến
của thế giới Đồng thời, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt không ít thách thức
khi hội nhập kinh tế quốc tế mà đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt từ bên ngoài Thực tế
cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam đã bộc lộ nhiều điểm yếu kém khi bước vào
những hội nhập mà điểm yếu nhất là doanh nghiệp chưa tạo được một khả năng chơi
trên một sân chơi hiện đại, văn minh Thể hiện:
Trang 26
Một là doanh nghiệp Việt Nam vẫn chú trọng đầu tư ngắn hạn nhiều hơn là có
tầm nhìn dài hạn
Thứ hai, đã là kinh tế thị trường, kinh tế cạnh tranh, toàn cầu hiện nay là cả một
mạng sản xuất, cả một chuỗi giá trị khổng lồ, bên cạnh biết cạnh tranh, các doanh
nghiệp phải biết liên kết, mà điều này mới chỉ có một số ít doanh nghiệp làm được
Bên cạnh đó còn tồn tại sự bất cập về kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực, đặc biệt là
nguồn nhân lực có trình độ, có thể chế còn yếu và cơ chế pháp lý cũng chưa được hoàn
thiện, các chế tài thực hiện pháp lý cũng còn nhiều vấn đề cần xem xét Trong các
điều kiện như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải xây dựng được một chiến
lược vừa tranh thủ đựơc nguồn lực bên ngoài vừa phát huy đựơc nguồn lực bên trong,
tạo ra thế cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới, ngăn chặn được tác động
được các tác động tiêu cực bên ngoài thì doanh nghiệp mới định vị được trên thị
trường trong và ngoài nước
2 Môi trường vi mô:
Hình 4: Môi trường vi mô
Cạnh tranh nội bộ ngành
(Giữa các
DN hiện đang
có mặt)
Đối thủ tiềm năng
Khách hàng và nhà phân phối Người cung cấp
Tiêu chuẩn thuế, bảo hộ, quan hệ ngoại giao
Quyền lực đàm phán với người cung cấp
Quyền lực đàm phán khách hàng
Sản phẩm thay thế
Đe doạ từ đối thủ tiềm
Nhà nước
Đe doạ từ các sản phẩm thay thế
Trang 27
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và các yếu tố ngoại cảnh đối
với doanh nghiệp, quyết độ tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh
doanh đó Có 5 yếu tố cơ bản là: Đối thủ cạnh tranh, người mua, nhà cung cấp, các đối
thủ tiềm ẩn và sản phẩm thay thế
a) Đối thủ cạnh: Là những doanh nghiệp hoạt động trên cùng thị trường, cung cấp các
sản phẩm và dịch vụ tương tự như của doanh nghiệp đang tìm cách tăng doanh thu bán
hàng, tăng lợi nhuận, tăng thị phần bằng các chính sách và các biện pháp tạo ra bất lợi
cho doanh nghiệp Thu thập và đánh giá thông tin về đối thủ cạnh tranh là điều rất
quan trọng có thể soạn thảo chiến lược thành công Nhận diện các đối thủ cạnh tranh
chủ yếu không phải lúc nào cũng dễ dàng vì nhiều công ty có các bộ phận đang cạnh
tranh trong những ngành khác nhau Bên cạnh đó hầu hết các công ty không cung cấp
các thông tin về tài chính, doanh số và lợi nhuận vì lý do cạnh tranh Các yếu tố ảnh
hưởng đến sự cạnh tranh trong ngành là: Số lượng doanh nghiệp trong ngành, thương
hiệu, tỉ suất lợi nhuận của ngành
b) Khách hàng (người mua): Là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp, là
nguồn thu và là yếu tố sống còn của doanh nghiệp Sự trung thành của khách hàng là
một lợi thế lớn của công ty, được tạo dựng bởi lợi thế của khách hàng và mong muốn
làm tốt hơn Tuy nhiên khách hàng cũng có thể làm giảm doanh thu và lợi nhuận của
ngành bằng cách trả giá ép giá xuống, đòi hỏi chất lượng cao hơn, nhiều dịch vụ hơn
c) Nhà cung cấp (người bán): Các doanh nghiệp bao giờ cũng phải liên kết với các nhà
cung cấp để có được các nguồn tài nguyên khách nhau như: Nguyên vật liệu, nguyên
liệu, máy móc, thiết bị, vốn, nhân lực Các nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh
trong hoạt động của một doanh nghiệp Trong điều kiện số lượng nhà cung cấp ít,
không có mặt hàng thay thế khác thì doanh nghiệp phải “phụ thuộc” vào họ, nếu
ngược lại thì họ “phụ thuộc” vào doanh nghiệp Vì thế, các doanh nghiệp cần phải xem
xét và lựa chọn thật kỹ nhà cung cấp cho công ty mình, tạo thế cạnh tranh trong quá
trình cung cấp đồng thời rằng buộc bởi các hợp đồng, điều kiện bán hàng để nhằm
giảm sức ép và rủi ro khi mua hàng
d) Đối thủ tiềm ẩn: Lực lượng này bao gồm các công ty hiện không cạnh tranh trong
ngành nhưng họ có khả năng làm điều đó nếu họ muốn Nhận diện các đối thủ mới có
thể thâm nhập vào ngành là một điều quan trọng, bởi họ có thể đe doạ đến thị phần các
công ty hiện có trong ngành, ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các công ty đang
Trang 28
hoạt động Một trong những nguyên nhân có thể coi các đối thủ muốn nhập ngành như
một đe doạ, là bởi vì họ sẽ đem vào cho ngành những năng lực sản xuất mới, với mong
muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Các công ty hiện có trong ngành
cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm tàng không cho gia nhập ngành bằng việc duy trì
các rào cản nhập cuộc bao gồm: Sự trung thành nhãn hiệu, lợi thế do sản xuất trên quy
mô lớn, đa dạng hoá sản phẩm, nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao,
khả năng hạn chế trong việc xâm nhập các kênh tiêu thụ vững vàng và ưu thế về giá
mà đối thủ không tạo ra được
e) Sản phẩm thay thế: Là những sản phẩm của ngành mà phục vụ những nhu cầu
khách hàng tương tự như đối với ngành đang phân tích Sức ép do có sản phẩm thay
thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Vì vậy các doanh
nghiệp cần không ngừng nghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn Phần
lớn các sản phẩm thay thế mới là kết quả của việc bùng nổ công nghệ, muốn đạt được
thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực để phát triển hoặc vận
dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình
Tóm lại, với việc nghiên cứu và phân tích môi trường bên ngoài, doanh nghiệp
có thể phát triển một sự hiểu biết sâu sắc cần thiết để xác định tính hấp dẫn của ngành,
xác định được các cơ hội và đe doạ đối với doanh nghiệp để từ có những quyết định
quản trị kịp thời và phù hợp
Bước 3: Phân tích môi trường nội bộ và xác định điểm mạnh - yếu của doanh nghiệp
Tất cả các tổ chức đều có những điểm mạnh và yếu trong lĩnh vực kinh doanh
Những điểm mạnh và yếu bên trong cùng với những cơ hội và nguy cơ bên ngoài là
những điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược xây dựng
nhằm lợi dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên trong - những yếu
tố mà nhà quản trị có thể khắc phục được Các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm: nguồn
nhân lực, nguồn lực vật chất (TSCĐ, vật chất, máy móc thiết bị ), nguồn lực vô hình
(thương hiệu tư tưởng trong triết lý kinhh doanh, uy tín )
* Nguồn nhân lực: Nhân lực là yếu tố quan trọng đầu tiên trong các nguồn lực mà nhà
quản trị cần phải phân tích, bao gồm 2 yếu tố: Nhà quản trị và nhà thừa hành
+ Nhà quản trị các cấp: Là nguồn nhân lực quan trọng, có vai trò lãnh đạo trong
doanh nghiệp Thường có 3 cấp quản trị cơ bản trong doanh nghiệp: Cấp cao, cấp
trung và cấp cơ sở Mục đích của việc phân tích nhà quản trị các cấp là xác định khả
Trang 29
năng hiện tại và tiềm năng của từng nhà quản trị, nhằm xem xét đánh giá các kỹ năng
chuyên môn, kỹ năng nhân sự, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tư duy và đạo đức nghề
nghiệp cùng với những giá trị, lợi ích mà nhà quản trị đã mang lại cho doanh nghiệp
+ Người thừa hành: Việc phân tích nhân viên thừa hành căn cứ vào các kỹ năng
chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và kết quả đạt được trong từng thời kỳ liên quan
đến nghề nghiệp và các nhiệm vụ mục tiêu cụ thể trong các kế hoạch tác nghiệp nhằm
đánh giá tay nghề, trình độ chuyên môn để có cơ sở cho việc chuẩn bị các chiến lược
nhân sự, triển khai các chương trình hành động, kế hoach đào tạo, tái đào tạo để
thích nghi và đạt chất lượng cao hơn trong công việc
Phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp các doanh nghiệp đánh
giá kịp thời điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ chức, nhằm có kế
hoạch bố trí, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực hiện có Đánh giá khách khách quan
nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện việc đào tạo, tái đào tạo cả tài
lẫn đức cho các thành viên trong doanh nghiệp, từ nhà quản trị cho đến người thừa
hành, đảm bảo thực hiện chiến lược thành công lâu dài và luôn thích nghi với những
yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong nền kinh tế tri thức
* Nguồn lực vật chất: Bao gồm các yếu tố như: Vốn sản xuất, nhà xưởng máy
móc, thiết bị, nguyên vật liệu dự trữ, thông tin về môi trường kinh doanh Phân tích
và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị
doanh nghiệp hiểu được các nguồn lực vật chất tiền tàng, những hạn chế để có các
quyết định quản trị thích nghi với thực tế
* Nguồn lực vô hình: Những nguồn lực vô hình là kết quả lao động chung của
các thành viên trong tổ chức hoặc của một cá nhân cụ thể ảnh hưởng đến quá trình
hoạt động Các nguồn lực chủ yếu là:
+ Tư tưởng chỉ đạo trong triết lý kinh doanh
+ Chiến lược và chính sách kinh doanh thích nghi với môi trường
+ Cơ cấu tổ chức hữu hiệu
+ Uy tín trong lãnh đạo của nhà quản trị các cấp
+ Uy tín doanh nghiệp trong quá trình phát triển
+ Uy tín và thị phần nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường
+ Sự tín nhiệm và trung thành của khách hàng
+ Ý tưởng sáng tạo của các nhân viên
Trang 30
+ Văn hoá tổ chức bền vững
Tuỳ theo tiềm lực sẵn có, quy mô và giá trị của những nguồn lực này của mỗi
doanh nghiệp mà có sự khác nhau và thay đổi theo thời gian Đánh giá không đúng
mức các nguồn lực vô hình, nhà quản trị doanh nghiệp để đánh mất các lợi thế sẵn có
của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh
Tóm lại, mục đích chính để phân tích môi trường bên trong là nhận diện các
nguồn lực tiềm tàng cũng như đang hiện hữu tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho
doanh nghiệp Đồng thời, việc phân tích này cũng giúp doanh nghiệp xác định được
các điểm mạnh, điểm yếu của mình để đưa ra các quyết định quản trị hợp lý
Bước 4 : Xây dựng các chiến lược để lựa chọn
Sau khi phân tích và đánh giá môi trường bên trong, bên ngoài của doanh
nghiệp, các nhà chiến lược sẽ đưa ra các chiến lược dự thảo để chọn lựa chiến lược
thích hợp nhất đối với tổ chức
a Chiến lược cấp Công ty
Trong mỗi giai đoạn kinh doanh, các công ty luôn phải có chiến lược riêng phù
hợp nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra:
* Chiến lược tăng trưởng: Là những giải pháp định hướng có khả năng giúp
các doanh nghiệp gia tăng doanh số và lợi nhuận của các đơn vị kinh doanh cao hơn
hoặc bằng với tỷ lệ ngành
Chiến lược này gắn liền với mục tiêu tăng trưởng nhanh hoặc tăng trưởng ổn
định Tuỳ theo môi trường của từng ngành kinh doanh, sự tăng trưởng có thể đạt được
bằng nhiều chiến lược khác nhau Một số chiến lược tăng trưởng có thể chọn là:
- Chiến lược tăng trưởng tập trung: Là chiến lược chỉ chú trọng phát triển một
lĩnh vực kinh doanh để khai thác những cơ hội sẵn có về những sản phẩm đang sản
xuất ở môi trường hiện tại
Ba nhóm chiến lược tập trung là: Chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược
phát triển thị trường và chiến lược phát triển sản phẩm
- Chiến lược tăng trưởng phối hợp: Là việc công ty tự đảm nhiệm luôn cả khâu
cung cấp nguyên vật liệu hoặc khâu phân phối sản phẩm
- Chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá: Là một chiến lược phát triển công ty
trong đó, một tổ chức mở rộng hoạt động của mình bằng cách bước vào ngành công
nghiệp khác Các dạng chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá bao gồm: Đa dạng hoá
đồng tâm, đa dạng hoá hàng ngang, đa dạng hoá kết hợp
Trang 31
* Chiến lược phát triển hội nhập: Là nhóm chiến lược thích hợp cho những
doanh nghiệp tăng trưởng cao, nằm trong các ngành sản xuất mạnh mà e ngại không
thể khởi phát một trong những chiến lược tăng trưởng tập trung vì những thị trường đã
bão hoà Nhóm chiến lược này bao gồm:
- Chiến lược hội nhập về phía sau: Liên quan đến việc tìm sự tăng trưởng bằng
cách đạt được sự sở hữu hay nguồn kiểm soát gia tăng những nguồn cung cấp Chiến
lược này hấp dẫn khi nhà cung cấp đang trong thời kỳ phát triển nhanh có tiềm năng
lợi nhuận lớn, nó cũng hấp dẫn khi doanh nghiệp gặp khó khăn tìm, lựa chọn nhà cung
cấp cho các yếu tố đầu vào của mình
- Chiến lược hội nhập phía trước: Là tìm kiếm sự tăng trưởng bằng cách đạt
quyền sở hữu hay sự gia tăng những chức năng mạnh hay gần gũi hơn thị trường cuối
cùng (như là doanh số và hệ thống phân phối)
* Chiến lược tăng trưởng đa dạng: Thích hợp cho những doanh nghiệp không
thể hoàn thành những mục tiêu tăng trưởng của họ trong ngành sản xuất hiện nay với
những sản phẩm và thị trường hiện tại, do thị trường sản phẩm ở giai đoạn tiến tới bão
hoà, suy thoái; Doanh nghiệp dư thừa vốn kinh doanh, tăng khả năng thâm nhập thị
trường quốc tế; tìm kiếm nhanh công nghệ mới
Chiến lược tăng trưởng đa dạng có các phương án cơ bản sau: Đa dạng hoá
đồng tâm; đa dạng hoá hàng ngang; đa dạng hoá kết hợp
* Chiến lược suy giảm: Là giải pháp làm giảm doanh số và lợi nhuận của những
đơn vị không còn lợi thế cạnh tranh và sức hấp dẫn trên thị trường kém Những chiến
lược suy giảm mà doanh nghiệp có thể lựa chọn theo các mức độ suy giảm từ ít đến
nhiều bao gồm: Chỉnh đốn, thu hồi vốn đầu tư hay loại bỏ, thu hoạch, giải thể
* Chiến lược điều chỉnh:
- Điều chỉnh các giải pháp tác nghiệp: Chiến lược này được thực hiện khi các
mục tiêu và các chiến lược hiện tại phù hợp và thích nghi với môi trường như các
chính sách và chương trình hoạt động không mang lại hiệu quả như mong muốn Điều
chỉnh được tiến hành nhằm tăng năng suất lao động, phát huy sáng kiến cá nhân, tăng
doanh số, lợi nhuận và thị phần của doanh nghiệp
- Điều chỉnh cơ cấu tổ chức: Khi nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược của doanh
nghiệp thay đổi, cơ cấu tổ chức cần được điều chỉnh một hợp lý để luôn hỗ trợ việc
hoàn thành các chiến lược của doanh nghiệp
Trang 32
- Điều chỉnh mục tiêu và chiến lược hiện tại: Trong nhiều trường hợp, môi
trường thay đổi liên tục làm cho các mục tiêu và chiến lược hiện tại không còn phù
hợp nữa Vì vậy, các nhà quản trị cấp cao cần quyết định điều chỉnh các mục tiêu và
chiến lược hiện tại của doanh nghiệp để phù hợp với diễn biến của thị trường
b Chiến lược cấp kinh doanh
- Chiến lược khác hoá biệt sản phẩm, dịch vụ: Doanh nghiệp nhắm tới việc đầu
tư vào các sản phẩm, dịch vụ độc đáo và chiếm ưu thế hơn các đối thủ cạnh tranh trong
ngành nhằm thu hút khách hàng và tạo dấu ấn riêng cho thương hiệu của mình
- Chiến lược trọng tâm hoá: Nhằm đưa các sản phẩm, dịch vụ hoặc một vài loại
dịch vụ sản phẩm đáp ứng nhu cầu của một nhóm khách hàng chuyên biệt hoặc một thị
trường nhất định có quy mô phù hợp, tiềm năng phát triển tốt và không có tính quyết
định đối với sự thành công của các đối thủ khác
Lựa chọn chiến lược
Sau khi xây dựng, phân tích, đánh giá các phương án chiến lược, nhà quản trị sẽ
đề ra các chiến lược để thay thế và chọn lựa chiến lược để theo đuổi Việc chọn lựa
chiến lược đúng đắn cho doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng và cũng là bài
toán khó cho các nhà quản trị Tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà mỗi công ty có
thể chọn một hoặc phối hợp nhiều chiến lược để đạt hiệu quả trong quá trình kinh
doanh Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, việc nghiên
cứu và vận dụng chiến lược hợp lý sẽ là bàn đạp để công ty phát triển vững chắc và đạt
được những mục tiêu quan trọng trong tương lai
Bước 5 : Xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lược
Khi doanh nghiệp quyết định theo đuổi một hay nhiều chiến lược thì quá trình
hoạch định chiến lược đến đây là kết thúc Phải có sự chuyển dịch ý nghĩa chiến lược
thành hoạt động chiến lược Do đó ngay sau khi chọn lựa chiến lược tổ chức của mình,
doanh nghiệp cần bắt tay ngay vào việc xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lược
đó: Thiết lập các mục tiêu ngắn hạn, đề ra các chính sách và phân phối nguồn lực Các
biện pháp thực hiện này phải rõ ràng và chi tiết, từ phương án thời gian tiến độ thực
hiện, đến việc dự kiến công nghệ hay máy móc thiết bị, nguồn tài chính, nguồn nhân
lực, chính sách phân phối, cơ cấu tổ chức và kỹ năng quản trị sẽ được áp dụng
Trang 33
Bước 6: Đánh giá hiệu quả và tính khả thi của chiến lược
Do môi trường kinh doanh luôn luôn thay đổi và biến động, các nhà quản trị
phải thường xuyên xem xét, kiểm tra đánh giá hiệu quả và tính khả thi của chiến lược
Các hoạt động này cần phải tiến hành song song với quá trình hoạch định chiến lược
nhằm đảm bảo tiến độ và đảm bảo các mục tiêu đã đề ra mang lại kết quả Khi các kế
hoạch, giải pháp thực hiện chiến lược không mang lại được hiệu quả như mong muốn,
thì nhà chiến lược cần phải kiểm tra, xác định nguyên nhân sai lệch và thông qua các
biện pháp chấn chỉnh
1.2.4.5 Các công cụ hỗ trợ cho việc xác định, lựa chọn chiến lược
Để thực hiện hoạch định chiến lược, có thể áp dụng nhiều phương pháp và công
cụ hoạch định chiến lược khác nhau Sau đây là một số các công cụ hỗ trợ cho việc xác
định và lựa chọn chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp:
1.2.4.5.1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài - EFE
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài là công cụ cho phép đánh giá các mức độ
tác động chủ yếu của môi trường bên ngoài đến doanh nghiệp Ma trận đánh giá các
yếu tố bên ngoài được triển khai theo năm bước:
- Lập danh mục các yếu tố bên ngoài chủ yếu;
- Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 ( ít quan trọng nhất ) đến 1,0 ( quan trọng
nhất) cho mỗi yếu tố Sự phân loại này cho thấy tầm quan trọng tương ứng của các yếu
tố đối với sự thành công trong ngành kinh doanh của doanh nghiệp;
- Phân loại từ 1 ( phản ứng ít ) đến 4 ( phản ứng tốt ) cho mỗi yếu tố quyết định
sự thành công để cho thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của doanh nghiệp phản
ứng với các yếu tố này;
- Nhân mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với điểm phân loại tương ứng của nó
để xác định số điểm trọng;
- Cộng số điểm quan trọng của các yếu tố đối với ngành Tổng số điểm quan
trọng là 2,5 cho thấy khả năng phản ứng đối với môi trường là trung bình, nếu tổng số
điểm quan trọng nhỏ hơn 2,5 cho thấy khả năng phản ứng đối với môi trường là yếu,
nếu tổng số điểm quan trọng lớn hơn 2,5 cho thấy khả năng phản ứng đối với môi
trường là tốt, tích cực
Ưu điểm: Hình thành bức tranh tổng quát về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng
đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 34
Hạn chế: Việc cho điểm từng yếu tố cũng như xác định mức độ quan trọng của
các yếu tố còn mang tính chủ quan
1.2.4.5.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong - IFE
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong là công cụ cho phép đánh giá mặt mạnh,
mặt yếu và quan trọng của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp Ma trận đánh
giá các yếu tố bên trong cũng được triển khai theo năm bước đánh giá như ma trận các
yếu tố bên ngoài
Ưu điểm: Hình thành bức tranh tổng thể về nội bộ doanh nghiệp với các điểm
mạnh, điểm yếu đặc thù mà các yếu tố này có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp
Hạn chế: Việc cho điểm từng yếu tố cũng như xác định mức độ quan trọng của
các yếu tố còn mang tính chủ quan
1.2.4.5.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Ma trận hình ảnh cạnh tranh nhận diện những nhà cạnh tranh chủ yếu cùng với
những ưu thế và khuyết tật đặc biệt của họ Tổng số điểm được đánh giá của các đối
thủ cạnh tranh được so với công ty mẫu Ma trận có các bước thực hiện như sau:
- Bước 1: Xếp hạng các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành ( quan
trọng hạng cao, ít quan trọng hạng thấp ), tổng cộng các yếu tố bằng 1,0
- Bước 2: Cho điểm từng yếu tố, điểm này thể hiện phản ứng của doanh nghiệp
Trong đó: điểm 4- phản ứng tốt nhất, điểm 3- phản ứng trên mức trung bình, điểm 2-
phản ứng ở mức trung bình, điểm 1-kém phản ứng
- Bước 3: Lấy điểm quan trọng của các yếu của từng doanh nghiệp nhân với
hạng của ngành có được kết quả về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Bước 4: Đánh giá kết quả Doanh nghiệp nào có tổng số điểm cao nhất là có
năng lực cạnh tranh cao nhất so với các doanh nghiệp khác trong ngành
Ưu điểm: Hình thành bức tranh tổng thể sức cạnh tranh của doanh nghiệp so
với các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Hạn chế: Việc cho điểm từng yếu tố cũng như xác định mức độ quan trọng của
các yếu tố còn mang tính chủ quan
Trang 35Harmful
To achieving the objectivi
Strength Weakness
Opportun threats
1.2.4.5.4 Ma trận SWOT
Đề tài sẽ áp dụng
mô hình SWOT làm công
cụ phân tích chiến lược
Đây là một mô hình ma
trận nổi tiếng mà bất kỳ
một nhà quản lý chiến lược
nào cũng biết đến và vận
dụng trong quá trình phân
tích chiến lược SWOT
được đánh giá là một công
cụ hữu hiệu, khá toàn diện
và đóng vai trò quan trọng
trong việc hoạch định chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp
Thực chất của mô hình này là phân tích:
- S - Strengths: Những điểm mạnh
- W -Weaknesses: Những điểm yếu
- O -Opportunities: Các cơ hội
- T -Theart: Các nguy cơ
Đây là ma trận phân tích cả môi trường bên trong và môi trường bên ngoài công ty
Ma trận SWOT sẽ giúp ta xác định những yếu tố bên trong (SW) trước rồi mới đề cập
đến những yếu tố bên ngoài (OT) Ma trận SWOT có một trục mô tả các điểm mạnh
và điểm yếu, trục kia mô tả các cơ hội nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh của công
ty trong thời kỳ chiến lược xác định
Để lập ma trận SWOT cần thực hiện qua 8 bước sau:
1 Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài doanh nghiệp
2 Liệt kê các mối đe doạ chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp
3 Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong doanh nghiệp
4 Liệt kê các điểm yếu chủ yếu bên trong doanh nghiệp
5 Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất phương án chiến
lược SO thích hợp Chiến lược này phát huy điểm mạnh tận dụng những cơ hội
Trang 36
6 Kết hợp các điểm yếu bên trong với những cơ hội bên ngoài và đề xuất phương
án chiến lược WO thích hợp Chiến lược này khắc phục những điểm yếu để tận
dụng những cơ hội
7 Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe doạ bên ngoài và đề xuất phương án
chiến lược ST thích hợp Chiến lược này sử dụng những thế mạnh của doanh
nghiệp để đối phó với nguy cơ đe doạ từ bên ngoài
8 Kết hợp các điểm yếu bên trong với mối đe doạ bên ngoài và đề xuất phương án
chiến lược WT Chiến lược này nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của điểm yếu và
phòng thủ các đe doạ từ bên ngoài
SWOT có thể đưa ra sự liên kết từng cặp một cách ăn ý hoặc là sự liên kết giữa
bốn yếu tố Qua đây giúp cho doanh nghiệp hình thành các chiến lược của mình một
cách có hiệu quả nhằm khai thác tốt nhất cơ hội có được từ bên ngoài, giảm bớt hoặc
né tránh các đe doạ, trên cơ sở phát huy những mặt mạnh và khắc phục những yếu
kém Mối liên hệ giữa SWOT được thể hiện theo sơ đồ sau:
MA TRẬN
SWOT
Cơ hội (O)
O1 O2 Liệt kê những O3 cơ hội
Đe doạ (T)
T1 T2 Liệt kê những T3 nguy cơ
Phối hợp ( W/T)
Chiến lược giảm thiểu những điểm yếu và né tránh các đe doạ
Hình 5: Ma trận SWOT
Trang 37
Ma trận SWOT thường đưa ra 4 chiến lược cơ bản sau:
(1) SO (Strengths - Opportunities): Các chiến lược phát huy điểm mạnh để tận
dụng các cơ hội
(2) WO (Weaks - Opportunities): Các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua
các điểm yếu để tận dụng cơ hội
(3) ST (Strengths - Threats): Các chiến lược lợi dụng điểm mạnh để ngăn ngừa
đe doạ, cạm bẫy từ bên ngoài
(4) WT (Weaks - Threats): Các chiến lược giảm thiểu mặt yếu và tránh đe doạ
từ bên ngoài
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp
theo định dạng SWOT dưới một trận tự Lôgic đễ hiểu, dễ trình bầy, dễ thảo luận và
đưa ra quyết định, có thể sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định Các mẫu SWOT
cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo
bản năng Lưu ý rằng cần xác định rõ ràng chủ đề phân tích bởi SWOT đánh giá triển
vọng của một vấn đè hay một chủ thể nào đó, chẳng hạn: Một công ty, sản phẩm hay
nhãn hiệu, ý tưởng kinh doanh, lựa chọn chiến lược (thâm nhập thị trường mới hay
đưa ra một sản phẩm mới ), cơ hội sát nhập hay mua lại, đối tác tiềm năng
Chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin
thu thập được Thông tin cần tránh nhìn cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm
thông tin từ mọi phía: Ban giám đốc, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, đối tác chiến
lược tư vấn
Nhận xét về ma trận SWOT
Ưu điểm:
- Ma trận SWOT phân tích tương đối hoàn chỉnh sự kết hợp các yếu tố bên
trong và bên ngoài của công ty để hình thành các chiến lược
- Có thể giúp công ty đề xuất những giải pháp chiến lược trên cơ sở phân tích
môi trường kinh doanh
Nhược điểm:
- Yêu cầu một lượng thông tin đầy đủ, chính xác về việc phân tích các yếu tố
bên trong và bên ngoài công ty
- Giúp công ty đề xuất các giải pháp có thể lựa chon chứ không giúp họ lựa
chọn được chiến lược kinh doanh tốt nhất
Trang 38
1.2.4.5.3 Ma trận Boston (BCG)
Nhóm tư vấn Boston đã đi từ việc quan sát các doanh nghiệp đa dạng hoá và đã
khẳng định rằng cần phải có một cái nhìn tổng thể về các sản phẩm của nó để có thể
chuyển giao và phân phối các nguồn lực Ma trận BCG sử dụng 2 chỉ tiêu là: Tốc độ
tăng trưởng của thị trường và thị phần tương đối
Trong ma trận BCG, thị phần tương đối của một số lĩnh vực hoạt động chiến
lược hay đơn vị kinh doanh (SBU) đươck thể hiện trên trục hoành và cho phép định vị
được từng lĩnh vực hoạt động chiến lược theo thị phần của nó so với đối thủ cạnh tranh
lớn nhất Đó là tỷ số giữa doanh số của công ty so với doanh số của đối thủ cạnh tranh
nguy hiểm nhất ( thường là công ty dẫn đầu thị trường ) Trục tung phản ánh tốc độ
tăng trưởng hàng năm của thị trường Mỗi vòng tròn biểu thị vị trí tăng trưởng / thị
phần của đơn vị đó Kích thước mỗi vòng tròn tỷ lệ thuận với doanh thu bán hàng
Hình 6: Ma trận BCG
Dựa vào sơ đồ ma trận BCG tương ứng với từng vị trí ta có các chiến lược sau:
- Nhóm " ngôi sao": Đơn vị kinh doanh chiến lược có mức tăng và thị phần
cao, có khả năng tạo đủ nguồn thu để tự duy trì
- Nhóm "bò sữa": Các đơn vị kinh doanh chiến lược có mức tăng trưởng thấp,
thị phần cao tạo ra số dư tiền có thể hỗ trợ cho đơn vị khác và cho các nỗ lực nghiên
Trang 39
cứu phát triển Giải pháp của doanh nghiệp là củng cố thường xuyên các nỗ lực đầu tư
nhằm duy trì vị thế đứng đầu
- Nhóm " dấu hỏi": Các đơn vị có mức tăng trưởng cao, thị phần thấp, thường
đòi hỏi phải có nhiều tiền để giữ vũng và tăng thị phần, giải pháp của doanh nghiệp là
đầu tư để biến các đơn vị này thành nhóm các "ngôi sao" hoặc là loại bỏ chúng
- Nhóm "chó": Các đơn vị có mức tăng trưởng thấp, thị phần thấp Giải pháp là
doanh nghiệp nhanh chóng rút lui bằng cách không tập trung nguồn lực quý hiếm hay
bán lại cho doanh nghiệp có lợi thế hơn
Nhận xét về ma trận BCG:
Ưu điểm:
- Giúp các nhà hoạch định chiến lược biết cách nhận ra những yêu cầu về dòng
tiền của các đơn vị kinh doanh trên danh mục vốn đầu tư
- Đưa ra vị trí cụ thể giúp công ty nhận định vị thế của mình và có những chiến
lược cụ thể phù hợp với nguồn lực sẵn có của công ty
- Cho phép công ty nhìn nhận một cách tổng thể về hoạt động kinh doanh
của mình
- Ma trận này đơn giản dễ sử dụng
Nhược điểm:
- Chỉ sử dụng hai chỉ tiêu đơn để mô tả hai chiều của ma trận mà không xem xét
đến ảnh hưởng của các yếu tố khác Do đó việc sử dụng phân tích hai yếu tố này
không đúng đối với một số công ty
- Thị phần tương đối và mức tăng trưởng có thể không tương xứng với mức độ
quan trọng của nó thể hiện trên ma trận
1.2.4.6 Phương pháp lựa chọn chiến lược - ma trận hoạch định chiến lược có thể
định lượng (QSPM)
Các doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược bằng sử dụng ma trận hoạch định
chiến lược có thể định lượng (QSPM)
Ma trận QSPM sử dụng các dữ liệu đầu vào từ những phân tích ở phần trên để
giúp các chiến lược gia quyết định khách quan chiến lược nào trong số các chiến các
chiến lược có khả năng thay thế là chiến lược hấp dẫn nhất và sứng đáng để doanh
Trang 40
nghiệp theo đuổi nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của mình Tiến trình phát
triển ma trận QSPM gồm 6 bước:
- Liệt kê các cơ hội/ mối đe doạ lớn bên ngoài và các điểm mạnh/yếu quan
trọng bên trong vào cột (1) của ma trận Các yếu tố này được lấy trực tiếp từ ma trận
EFE và IFE
- Trong cột (2) của ma trận điền các con số tương ứng với từng yếu tố trong cột
phân loại của các ma trận EFE và IFE
- Nghiên cứu các ma trận SWOT, BCG, Mc.Kinsey và xác định các chiến lược
có thể thay thế mà tổ chức nên xem xét thực hiện, ghi lại các chiến lược này vào hàng
trên cùng của ma trận QSPM
- Xác định số điểm hấp dẫn (cột A): Không hấp dẫn=1, ít hấp dẫn=2, hấp dẫn
=3, rất hấp dẫn=4 Các trị số này biểu thị tính hấp dẫn tương đối của mỗi chiến lược so
với các chiến lược khác trong cùng nhóm chiến lược có thể thay thế
- Tính tổng số điểm hấp dẫn của mỗi chiến lược xét riêng đối với từng yếu tố
thành công quan trọng ghi ở cột (1) bằng cách nhân số phân loại với số điểm hấp dẫn
trong mỗi hàng (cho vào cột B)
- Cộng dồn các số điểm hấp dẫn cho ta tổng số điểm thấp dẫn của mỗi chiến
lược (xét tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài phù hợp có thể ảnh hưởng tới các
quyết định chiến lược) Tổng số điểm này càng cao thì chiến lược càng phù hợp càng
xứng đáng lựa trọn để thực hiện
Các chiến lược lựa chọn
Các yếu tố
Phân loại Chiến
lược 1
Chiến lược 2
Chiến lược 3
Số điểm hấp dẫn
(1) (2) A B A B A B Các yếu tố bên trong
Các yếu tố bên ngoài
Hình 7: Ma trận QSPM
Về nguyên tắc, một ma trận QSPM có thể bao gồm bất cứ một số lượng nhóm
các chiến lược thay thế nào và trong một nhóm nhất định có thể bao gồm bất cứ số