Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau” sẽ đánh giá được tính ưu việt và những tồn tại, hạn chế của qu
Trang 1i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
============
LƯU VĂN HUY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ TRỒNG LÚA SANG NUÔI TÔM
Ở TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NHA TRANG, THÁNG 05-2012
Trang 2ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
============
LƯU VĂN HUY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ TRỒNG LÚA SANG NUÔI TÔM
Trang 3iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn cố thầy giáo PGS.TS Lê Tiêu La và TS Đỗ Thị Thanh Vinh đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt các kiến thức chuyên môn tạo nền tảng về lý luận cho nghiên cứu của tôi Cảm ơn các cán
bộ Sở NN&PTNT Cà Mau đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu liên quan đến luận văn
Trang 4iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
LƯU VĂN HUY
Trang 5v
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG IX DANH MỤC CÁC HÌNH X DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT XI
MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI 4
I.1 Một số khái niệm 4
I.2 Các phương thức nuôi tôm 4
I.3 Bản chất vấn đề chuyển đổi 5
I.3.1 Các mô hình chuyển đổi trong nông nghiệp 5
I.3.2 Bản chất của vấn đề chuyển đổi trong nông nghiêp 6
I.4 Tình hình NTTS và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 7
I.4.1 Khái quát hiện trạng NTTS tại Việt Nam 7
I.4.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp 9
I.5 Thực trạng chuyển đổi khu vực ĐBSCL 10
I.5.1 Chuyển đổi diện tích 10
I.5.2 Chuyển đối theo các hệ sinh thái 10
I.6 Tình hình chuyển đổi từ ruộng lúa sang nuôi tôm tại Cà Mau 13
I.7 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 17
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20
II.1 Điều kiện tự nhiên và môi trường 20
II.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội tỉnh Cà Mau 23
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
Trang 6vi
III.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
III.2 Phương pháp thu thập thông tin 27
III.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp: 27
III.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 27
III.3 Phương pháp phân tích số liệu 28
III.3.1 Phương pháp phân tích thống kê mô tả 28
III.3.2 Phương pháp phân tích kinh tế 29
III.4 Một số chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế 29
III.4.1 Các chỉ tiêu thể hiện kết quả sản xuất 29
III.4.2 Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sản xuất 30
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
IV.1 Thông tin chung về các hộ được khảo sát 31
IV.1.1 Tuổi chủ hộ 31
IV.1.2 Trình độ học vấn 31
VI.1.3 Nghề chính 32
IV.1.4 Nhân khẩu và lao động của hộ 32
IV.1.5 Lao động thuê mướn 32
IV.1.6 Nguồn vốn đầu tư sản xuất 32
IV.1.7 Lý do chuyển sang nuôi tôm 33
IV.1.8 Tham gia tổ chức sản xuất, NTTS 34
IV.2 Thông tin kinh tế - kỹ thuật canh tác 34
IV.2.1 Mùa vụ nuôi tôm 34
IV.2.2 Kinh nghiệm nuôi tôm 34
IV.2.3 Mô tả về thiết kế và kỹ thuật 35
IV.2.3.1 Diện tích nuôi 35
IV.2.3.2 Mật độ thả giống 35
IV.2.3.3 Thiết kế và độ sâu ruộng nuôi, ao nuôi 35
IV.2.3.4 Nguồn nước cấp, cải tạo ao, xử lý nước cấp thoát, gây màu, sử dụng thuốc 36
Trang 7vii
IV.4.2.5 Thiết bị phục vụ nuôi tôm 36
IV.2.3.6 Tiếp cận kỹ thuật nuôi qua tài liệu, tập huấn 36
IV.2.4 Vùng quy hoạch 37
IV.2.5 Thị trường đầu vào, đầu ra, xuất khẩu 37
IV.3 Phân tích hiệu quả kinh tế 37
IV.3.1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nuôi tôm QCCT 38
IV.3.1.1 Chi phí đầu tư cố định 38
IV.3.1.2 Chi phí lưu động 38
IV.3.1.3 Doanh thu 39
IV.3.1.4 Thu nhập 40
IV.3.2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi tôm BTC 40
IV.3.2.1 Chi phí đầu tư cố định 40
IV.3.2.2 Chi phí lưu động 41
IV.3.2.3 Doanh thu 41
IV.3.2.4 Thu nhập 42
IV.3.3 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi tôm TC 43
IV.3.3.1 Chi phí đầu tư cố định 43
IV.3.3.2 Chi phí lưu động 43
IV.3.3.3 Doanh thu 43
IV.3.3.4 Thu nhập 44
IV.3.4 So sánh một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế các mô hình chuyển đổi 44
IV.4 Hiệu quả xã hội 47
IV.4.1 Tạo việc làm 47
IV.4.2 Tiếp cận dịch vụ xã hội: giáo dục, y tế 47
IV.4.3 Văn hóa, du lịch 48
IV.4.4 Tệ nạn xã hội 48
IV.4.5 Hiểu biết và ý thức tuân thủ chính sách pháp luật 48
IV.4.6 Mâu thuẫn 48
IV.4.7 Môi trường 49
Trang 8viii
CHƯƠNG V MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT 49
V.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 49
V.2 Các giải pháp đề xuất 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 63
Trang 9ix
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 1 Kết quả chuyển đổi diện tích đất sang NTTS từ năm 2000 - 2007 12
Bảng 2: GDP và cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau 24
Bảng 3: Khối lượng đầu tư thủy lợi tỉnh Cà Mau giai đoạn 2001-2009 25
Bảng 4: Độ tuổi trung bình của chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu 31
Bảng 5: Cơ cấu trình độ văn hoá của chủ hộ 31
Bảng 6: Nhân khẩu và lao động của hộ 32
Bảng 7: Cơ cấu sử dụng nguồn vốn đầu tư sản xuất của nông hộ 32
Bảng 8: Lý do chuyển đổi sang nuôi tôm 33
Bảng 9: Lịch thời vụ chung nuôi tôm 34
Bảng 10: Diện tích nuôi trung bình của hộ ở địa bàn nghiên cứu 35
Bảng 11: Tỷ lệ hộ được tập huấn NTTS 37
Bảng 12: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi tôm QCCT 38
Bảng 13: Tổng chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi tôm QCCT 38
Bảng 14: Cơ cấu chi phí đầu tư lưu động nuôi tôm QCCT 39
Bảng 15: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình tôm QCCT 39
Bảng 16: Doanh thu mô hình nuôi tôm QCCT 39
Bảng 17: Thu nhập mô hình tôm QCCT 40
Bảng 18: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi tôm BTC 40
Bảng 19: Chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi tôm BTC 41
Bảng 20: Cơ cấu chi phí đầu tư lưu động nuôi tôm BTC 41
Bảng 21: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình tôm BTC 41
Bảng 22: Doanh thu mô hình chuyển đổi tôm BTC 42
Bảng 23: Thu nhập mô hình nuôi tôm BTC 42
Bảng 24: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi tôm TC 43
Bảng 25: Chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi tôm TC 43
Bảng 26: Doanh thu mô hình nuôi tôm TC 43
Bảng 27: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình tôm TC 44
Bảng 28: Thu nhập mô hình tôm TC 44
Bảng 29: So sánh hiệu quả kinh tế một số mô hình nuôi tôm sau chuyển đổi ở Cà Mau 47
Trang 10x
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: So sánh hiệu quả kinh tế trước và sau chuyển đổi 45Hình 2 : So sánh hiệu quả kinh tế trước và sau chuyển đổi 45Hình 3: So sánh hiệu quả kinh tế trước và sau chuyển đổi 46
Trang 11PRA Participatory Rural Appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn
có) sự tham gia của người dân IPM Integrated Pest Management (Quản lý dịch hại tổng hợp) UNDP United Nations Development Programme (Chương trình
phát triển Liên hợp quốc) ESI Environmental Sustainability Index (Chỉ số bền vững về môi
trường) GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
Trang 121
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã phát triển mạnh mẽ trên khắp cả ba hệ sinh thái nước mặn, lợ và nước ngọt Diện tích NTTS tăng nhanh, đến năm 2010 đã đạt trên 1 triệu ha, sản lượng đạt 2,8 triệu tấn; giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,94 tỷ đồng, trong đó đóng góp của NTTS đạt trên 65% tổng giá trị Những thành tựu đã đạt được phải kể đến một phần đóng góp rất lớn từ chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang NTTS [1, 2, 3, 4 ,5]
Từ sau khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ
về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đất làm muối, đất vườn và đất hoang hoá khác (bãi bồi ven sông, bãi triều, đất cát) sang NTTS đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Việc chuyển đổi sang kết hợp NTTS phân theo hệ sinh thái vùng nước bao gồm hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái mặn lợ Theo báo cáo
“Đánh giá kết quả thực hiện chương trình phát triển NTTS giai đoạn 2000 - 2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010”: Tổng diện tích chuyển đổi sang NTTS của vùng ĐBSCL từ năm 1999 đến hết năm 2005 là 310.841 ha, chiếm 82,4% diện tích chuyển đổi của cả nước, trong đó từ đất trồng lúa là 297.187 ha, với các đối tượng nuôi chính là tôm Sú, nhuyễn thể cho hệ sinh thái nước lợ; cá Tra, cá Ba sa, tôm Càng xanh, cá truyền thống cho hệ sinh thái nước ngọt [5]
Cà Mau là tỉnh trong vùng ĐBSCL có tiềm năng rất lớn về nuôi thuỷ sản, hiện đang phát triển mạnh về nuôi thuỷ sản nước mặn lợ, đặc biệt là tôm sú Các mô hình chuyển đổi ở Cà Mau đã bắt đầu diễn ra mạnh từ những năm 2000 đến nay, diện tích chuyển đổi tính từ 2000 đến nay đạt trên 132.000 ha (chiếm trên 50% tổng diện tích NTTS của tỉnh), các mô hình chuyển đổi đã phát huy hiệu quả kinh tế
- xã hội, góp phần quan trọng trong việc tăng sản lượng năm 2010 (233.346 tấn) lên gấp 3,17 lần so với năm 2000 (73.615 tấn) Tại Cà Mau các mô hình chuyển đổi từ
2 hệ sinh thái sang NTTS, đó là: Chuyển từ đất trồng lúa và đất bãi bồi ven sông, ven biển sang nuôi tôm chuyên và tôm kết hợp với lúa; chuyển từ diện tích rừng sang nuôi tôm theo mô hình rừng tôm [6, 16, 17]
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các vùng đất kém hiệu quả sang NTTS thời gian qua của nước ta nói chung, ở Cà Mau nói riêng đã có tác động tích cực
Trang 132
đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, song bên cạnh đó vẫn có nhiều mô hình chưa hiệu quả, rủi ro cao và nảy sinh các tác động tiêu cực như phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn trong sử dụng đất, ô nhiễm môi trường
Từ trước tới nay, trong ngành thủy sản đã có một số đề tài nghiên cứu đánh giá hoạt động NTTS về các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, kỹ thuật công nghệ Các đề tài này đã đánh giá tại một số vùng, một số khía cạnh như việc ứng dụng mô hình lúa - tôm, rừng - tôm ở những nơi phù hợp, đa dạng hoá canh tác Tuy vậy, các đề tài này mới chú trọng đến những vấn đề mang tính khái quát, tổng thể hoặc mang nặng tính kỹ thuật mà chưa nghiên cứu sâu về yếu tố chuyển đổi, cả
về kinh tế, xã hội, môi trường
Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau” sẽ đánh giá được tính ưu
việt và những tồn tại, hạn chế của quá trình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau giai đoạn vừa qua một cách khách quan, khoa học và làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp phù hợp, hướng nghề nuôi tôm của tỉnh Cà Mau và vùng ĐBSCL phát triển ổn định, bền vững
Kết cấu của luận văn gồm 4 chương sau (không kể phần mở đầu và kết
luận)
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn để chuyển đổi
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương IV: Một số giải pháp và đề xuất
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Đánh giá được hiệu quả kinh tế - xã hội và tính ổn định của mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau làm cơ sở cho xây dựng các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển NTTS cũng như phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và vùng
Trang 141.3 Đối tượng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm; Những hộ gia đình nằm trong diện
đã chuyển đổi, sang nuôi tôm và hiện đang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau, các mô hình chuyển đổi sang nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau như (rừng ngập mặn sang nuôi tôm, đất nhiễm mặn sang nuôi tôm, đất trồng lúa ruộng trũng năng suất thấp sang nuôi tôm ) ở trên cả 3 loại hình nuôi tôm gồm (chuyển đổi sang nuôi tôm Quảng canh cải Tiến QCCT, chuyển đổi sang nuôi tôm Bán thâm canh BTC, chuyển đổi sang nuôi tôm Thâm canh TC)
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi ở một số huyện điển hình
cho phong trào chuyển đổi sang nuôi tôm tại Cà Mau như huyện: Năm Căn, Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời và Thới Bình tỉnh Cà Mau
- Về thời gian: Các thông tin phục vụ cho nghiên cứu này được điều tra được
làm 2 đợt, mỗi đợt điều tra trong 7 ngày Đợt 1 vào tháng 12/2010 và đợt 2 vào tháng 4/2011 (đợt 1 thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, điều tra hộ; đợt 2 thu thập các thông tin bổ sung còn thiếu đợt 1)
- Về nội dung nghiên cứu bao gồm:
Nội dung 1: Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả mô hình nuôi tôm được chuyển
đổi sang từ diện tích đất trồng lúa bao gồm:
+ Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế
+ Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả về mặt xã hội
+ Nghiên cứu, đánh giá tác động về mặt môi trường
Nội dung 2: Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển phát triển các mô hình
nuôi tôm bền vững phù hợp từng vùng sinh thái trong vùng chuyển đổi
+ Giải pháp về tổ chức sản xuất
+ Giải pháp về cơ chế chính sách
+ Giải pháp Nghiên cứu giải pháp về khoa học công nghệ và đào tạo
+ Nghiên cứu giải pháp về vốn đầu tư
Trang 154
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI
I.1 Một số khái niệm
- Chuyển đổi sử dụng đất
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp năng suất thấp là việc xóa bỏ hay chấm dứt hẳn việc trồng, hay nuôi một đối tượng chuyên canh nào đó sang nuôi hoặc trồng hoặc chuyên canh một đối tượng khác mang lại hiệu quả kinh
tế cao hơn [8]
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhằm khai thác tốt tiềm năng sẵn có ở địa phương, để tăng thêm hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của đại đa số nông dân đang mong muốn được đổi đời trên mảnh đất cả đời mình gắn bó Tuy nhiên, quá trình đó cần phải được chuẩn bị tốt các khâu và có lộ trình thực hiện một cách căn cơ thì việc chuyển dịch mới phát triển một cách ổn định, bền vững [8]
- Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế thể hiện tổng quát những kết quả khả quan về hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại, được thể hiện bằng tiền và được xác định bằng cách đem
so sánh các kết quả thu được so với chi phí phải bỏ ra để thực hiện nó [13]
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) còn được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực
và tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định [13]
I.2 Các phương thức nuôi tôm
Căn cứ vào kỹ thuật nuôi tôm có thể xác định các phương thức nuôi tôm như sau:
- Nuôi tôm quảng canh cải tiến: nuôi tôm dựa vào tự nhiên (thức ăn tự nhiên, giống, dòng chảy,…) nhưng có bổ sung thêm giống và thức ăn ở mức thấp [5]
- Nuôi tôm bán thâm canh: nuôi tôm dựa vào thức ăn bên ngoài (thức ăn tổng hợp), thả giống với mật độ cao, chủ động trong quản lý hệ thống nuôi (thay nước, sục khí,…) [5]
- Nuôi tôm thâm canh: Tương tự như nuôi bán thâm canh, nuôi tôm thâm canh cũng dựa vào thức ăn bên ngoài (thức ăn tổng hợp), thả giống với mật độ rất
Trang 165
cao, chủ động trong quản lý hệ thống nuôi (thay nước, sục khí,…) So với nuôi tôm bán thâm canh, nuôi tôm thâm canh thả mật độ giống cao hơn, bởi thế thức ăn và các điều kiện chăm sóc được đảm bảo rất cao Đây là hình thức nuôi công nghiệp [5]
I.3 Bản chất vấn đề chuyển đổi
I.3.1 Các mô hình chuyển đổi trong nông nghiệp
a Hệ sinh thái nước ngọt gồm 7 mô hình chuyển đổi:
- Phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt:
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa - cá
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi luân canh lúa - tôm càng xanh (lúa - TCX)
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức nuôi bán thâm canh (TCX BTC)
- Phân hệ sinh thái ao vườn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên cá tra
+ Mô hình từ đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền thống
- Phân hệ sinh thái bãi bồi
+ Mô hình chuyên cá tra vùng bãi bồi ven sông
b Hệ sinh thái nước mặn lợ gồm 7 mô hình chuyển đổi:
- Phân hệ sinh thái ruộng nhiễm mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi TC
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi BTC
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên canh tôm theo phương thức nuôi QCCT
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân canh lúa - tôm
- Phân hệ sinh thái bãi triều
Trang 17- Phân hệ sinh thái rừng ngập mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm
I.3.2 Bản chất của vấn đề chuyển đổi trong nông nghiêp
Các mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá, tôm đã phát triển nhiều năm ở một số nước châu Á, đặc biệt ở Thái Lan Ở Việt Nam, nhiều khu vực đã ứng dụng mô hình tôm - lúa trong sản xuất nông nghiệp, kể cả miền Bắc, Trung và Nam bộ, đặc biệt là ĐBSCL [18]
Trong nông nghiệp, kinh tế gia đình gắn liền với đất canh tác, sự độc canh cây lúa mang lại hiệu quả thấp, nền kinh tế gia đình bấp bênh và khó phát triển Sự kết hợp nuôi trồng thêm các đối tượng phù hợp phá vỡ thế độc canh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
Nuôi thuỷ sản kết hợp với trồng trọt là hệ thống canh tác tổng hợp cần tăng cường phát triển nhằm cải thiện các vấn đề môi trường [11]
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), đến năm 2007
cả nước có 65.600 ha ruộng lúa có kết hợp NTTS [3]
So với độc canh con tôm, luân canh tôm-lúa có tính bền vững sinh thái cao hơn Tuy nhiên, ảnh hưởng môi trường lớn nhất đang là vấn đề lắng đọng bùn gắn liền với hình thức nuôi tôm tự nhiên dựa vào trao đổi nước Mô hình nuôi thả tôm giống cho thấy tính bền vững về môi trường nhưng còn gặp rủi ro với dịch bệnh và nguồn giống Đây là những kết quả nghiên cứu mới được công bố của trường đại học Sydney, Australia
Việc trao đổi nước sông vào ruộng trong mùa khô để nuôi tôm dẫn đến lắng bùn, thu hẹp diện tích trồng lúa và nuôi tôm Nhiều nông dân đã tăng lượng nước trao đổi vào ruộng để thu được nhiều tôm tự nhiên, nhưng điều này cũng dẫn đến lượng bùn lắng đọng nhiều hơn, và làm giảm năng suất trong những năm sau Phương pháp thả tôm giống được đánh giá là bền vững hơn, do không cần phải trao
Trang 18Mang lại thu nhập cao nhưng mô hình tôm-lúa cũng chứa đựng những rủi ro tài chính không nhỏ Với chi phí để thả nuôi một hồ tôm ở Mỹ Xuyên vào năm
1997 là 3,6 triệu đồng, gấp 3 lần thu nhập từ vụ lúa, một đợt dịch bệnh có thể khiến người nông dân điêu đứng Phần lớn tôm giống đang phải vận chuyển nhiều giờ trên đường từ các tỉnh miền Trung, trong khi việc sản xuất giống phù hợp với độ mặn thấp trong các hồ nuôi còn gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật Tuy nhiên thu nhập từ trồng lúa và các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp đã giúp cho các gia đình đa dạng thu nhập, và giảm tác động của các rủi ro
Trước những tiềm năng hiệu quả cũng như rủi ro đối với mô hình chuyển đổi sang nuôi tôm như trên, nghiên cứu sẽ tập trung vào hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn và khảo sát đánh giá xem hiệu quả về kinh tế và xã hội của các mô hình chuyển đổi nuôi tôm và từ đó đưa ra được các giải phát khả thi giúp các mô hình chuyển đổi phát triển bền vững
I.4 Tình hình NTTS và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
I.4.1 Khái quát hiện trạng NTTS tại Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng lớn để NTTS với diện tích mặt nước hơn 1,7 triệu ha Quyết định số 224/1999/QĐ – TTg ngày 08 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 - 2010 với mục
tiêu “Phát triển NTTS nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu
chủ yếu cho xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010 NTTS đạt sản lượng trên 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 2,5 tỷ USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu lao động” Đến năm 2010, diện tích NTTS đã đạt trên 1 triệu ha, sản
lượng 2,8 triệu tấn Việc phát triển mạnh mẽ NTTS, tăng tỷ trọng sản lượng
Trang 19Theo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phát triển NTTS giai đoạn 2001 - 2010, về kinh tế, NTTS là nghề cho hiệu quả cao hơn một số ngành nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa mà còn phục
vụ xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước Nghiên cứu của Lê Tiêu La (2005) đánh giá tác động tích cực nhất của NTTS là cải thiện mức thu nhập, mức sống của hầu hết các hộ NTTS và cộng đồng ven biển nói chung [12, 18]
Về mặt xã hội, NTTS cũng có những tác động tích cực như: Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, hoàn thiện ở các vùng NTTS, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, nhất là các vùng sâu vùng xa, khu vực ven biển; có sự chuyển dịch lớn lực lượng khoa học kỹ thuật về các vùng nuôi, tạo công ăn việc làm cho thêm nhiều lao động, là một giải pháp để xóa đói giảm nghèo hữu hiệu và tạo cơ hội làm giàu cho nông dân tại địa bàn, đồng thời phát triển NTTS còn góp phần cân bằng phát triển vùng miền, nâng cao bình đẳng giới thông qua sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động NTTS
Tuy vậy, nhiều thách thức, khó khăn cũng đã xuất hiện trong NTTS: Dịch bệnh xuất hiện nhiều vùng nuôi trên diện rộng, tạo rủi ro lớn, nhất là trong NTTS nước mặn, lợ như nuôi tôm Sú, tác động tiêu cực làm suy thoái môi trường nuôi do
sử dụng quá mức thuốc, hóa chất, dẫn đến tình trạng thua lỗ của một bộ phận người nuôi Lê Tiêu La (2005) cho rằng người NTTS thu nhập tăng những vẫn bấp bênh, chưa thực sự bền vững; vẫn còn 14,2% số hộ chưa cải thiện được mức sống [12] Theo Bộ Thủy sản (2006), hiệu quả kinh tế nghề NTTS chưa cao và ngày càng giảm
do suy thoái về môi trường, thiên tai, dịch bệnh và thách thức đối với hiệu quả kinh
tế của các mô hình sản xuất là giá nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng, trong khi
Trang 209
giá bán lại có xu hướng giảm Số hộ tham gia NTTS bị thua lỗ thường chiếm từ 5 - 10% đối với cá, 10 - 15% đối với các đối tượng khác và 20 - 25% đối với tôm Những mô hình đạt hiệu quả cao thường do điều kiện môi trường tốt và có thị trường tiêu thụ ổn định Những mô hình lợi nhuận thấp thường có chi phí đầu tư lớn, nhạy cảm với biến động giá cả thị trường, ở những nơi có điều kiện tự nhiên không phù hợp và thường phải trả giá cho môi trường do việc khai thác quá mức thời gian trước [4]
I.4.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp
Để nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông hộ trên một đơn vị diện tích, phát triển ổn định bền vững NTTS nước ngọt, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, xác định rõ: Giữ ổn định khoảng 4 triệu ha đất có điều kiện tưới tiêu chủ động để sản xuất lúa Với các loại đất sản xuất lúa kém hiệu quả, đất trũng, đất hoang hoá ven biển thì chuyển sang NTTS [4]
Các tỉnh, thành phố đã thực hiện rà soát các diện tích mặt nước, quy hoạch
và triển khai tích cực chuyển đổi sang NTTS Từ năm 1999 - 2010, tổng diện tích chuyển đổi sang NTTS khoảng trên 400.000 ha, trong đó chủ yếu là chuyển đổi từ đất trồng lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm
Việc chuyển dịch cơ cấu sang NTTS diễn ra mạnh nhất ở ĐBSCL với diện tích chiếm 82,4% diện tích chuyển đổi cả nước Năm 2001, khu vực ĐBSCL có tốc
độ chuyển đổi mạnh nhất với 131.889 ha (42,43% cả thời kỳ 1999 - 2005) Đối tượng NTTS được lựa chọn là tôm Sú, cá Tra, Ba sa và các loại cá truyền thống, tôm Càng xanh
Quá trình chuyển đổi từ trồng lúa hiệu quả thấp sang kết hợp NTTS đã làm tăng diện tích NTTS, tăng sản lượng, giúp việc khai thác hiệu quả tiềm năng diện tích, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích Doanh thu bình quân sau chuyển đổi ở Hải Dương trung bình đạt 88 triệu đồng/ha, gấp 6,8 lần trồng lúa, ở Vĩnh Phúc đạt 85 triệu đồng/ha (gấp 5,7 lần trồng lúa), tại Cà Mau nuôi tôm quảng canh cải tiến lợi nhuận 25 - 30 triệu đồng/ha, nuôi cá Bống tượng lãi 450 -500 triệu đồng/ha Tại Thái Bình, hiệu quả chuyển đổi sang NTTS nước ngọt gấp 5-6 lần so với trồng lúa
Trang 2110
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng đã tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và tạo cơ hội vươn lên làm giàu cho nhiều hộ gia đình Đến năm 2005, quá trình chuyển đổi đã góp phần làm tăng số lao động NTTS lên 2,55 triệu người Đồng thời, góp phần chuyển đổi một phần nghề khai thác huỷ diệt ven bờ sang NTTS
Quá trình chuyển đổi sang NTTS cũng đã xuất hiện một số tồn tại: Tốc độ chuyển đổi diễn ra nhanh trong khi hạ tầng dịch vụ chưa theo kịp, nhất là thuỷ lợi phục vụ NTTS; trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn hạn chế nên khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật yếu; dân nghèo không có khả năng đầu tư và tiếp cận vốn vay để đầu tư để NTTS; lợi nhuận từ NTTS cao nên một số nơi đẩy nhanh tốc độ thâm canh hóa, trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp, dẫn đến môi trường nuôi ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng ở một số nơi, một số vùng, gây thiệt hại cho người nuôi [4]
Những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu đánh giá cụ thể, sâu rộng ở từng vùng và cả nước thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học để có cái nhìn khách quan, lựa chọn mô hình chuyển đổi phù hợp cả về hình thức, đối tượng, phương thức nuôi cho từng vùng
I.5 Thực trạng chuyển đổi khu vực ĐBSCL
I.5.1 Chuyển đổi diện tích
Trong những năm qua, khu vực ĐBSCL có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ đất hoang hóa, bãi bồi, trồng lúa hiệu quả, năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản Tỉnh có diện tích chuyển đổi sang NTTS nhiều nhất là Cà Mau: trên 167.000 ha, chiếm hơn 44% tổng diện tích chuyển đổi sang NTTS của vùng; tiếp theo là các tỉnh Bạc Liêu: 65.000 ha, Kiên Giang: 52.200 ha, Sóc Trăng: 26.390 ha, Bến Tre: 17.500, Cần Thơ: 12.420 ha, Trà Vinh: 8.500 ha, Long An: 7.530 ha, Tiền Giang: 7.300 ha, Hậu Giang: 5.000 ha, Vĩnh Long: 3.900 ha, Đồng Tháp: 1.170 ha, An Giang: 320 ha [5]
Các mô hình chuyển đổi phổ biến hiện nay của vùng theo hệ sinh thái gồm:
I.5.2 Chuyển đối theo các hệ sinh thái
a Hệ sinh thái nước ngọt gồm 7 mô hình chuyển đổi:
- Phân hệ sinh thái ruộng trũng nước ngọt:
Trang 2211
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa - cá
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi luân canh lúa - tôm càng xanh (lúa - TCX)
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức nuôi bán thâm canh (TCX BTC)
- Phân hệ sinh thái ao vườn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên cá tra
+ Mô hình từ đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền thống
- Phân hệ sinh thái bãi bồi
+ Mô hình chuyên cá tra vùng bãi bồi ven sông
Hệ sinh thái nước mặn lợ gồm 7 mô hình chuyển đổi:
- Phân hệ sinh thái ruộng nhiễm mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi TC
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi BTC
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên canh tôm theo phương thức nuôi QCCT
+ Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân canh lúa - tôm
- Phân hệ sinh thái bãi triều
MH12 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo ơng thức nuôi TC
phư-MH13 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo phương thức nuôi BTC
- Phân hệ sinh thái rừng ngập mặn
+ Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm
Kết quả diện tích chuyển đổi điều tra tại 13 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2000 đến năm 2007 như sau:
Trang 2312
Bảng 1 Kết quả chuyển đổi diện tích đất sang NTTS từ năm 2000 - 2007
Đơn vị: Ha
1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa - cá 14.240
2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá 20.590
3 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi luân canh lúa -
4 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi chuyên canh tôm
càng xanh theo phương thức nuôi bán thâm canh 5.500
5 Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên cá tra 2.750
6 Mô hình từ đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền thống 12.340
1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi thâm canh
2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi bán thâm canh
48.710
3 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang chuyên
4 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn sang nuôi luân
5 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo
6 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi chuyên tôm theo
7 Mô hình chuyển đổi từ đất rừng ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm 38.070
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các địa phương năm 2008
Trang 2413
So với diện tích NTTS của vùng năm 2007, diện tích chuyển đổi chiếm 54% Cho đến năm 2007, chưa có hiện tượng chuyển đổi lại sản xuất lúa hoặc muối từ
các diện tích đã chuyển đổi sang NTTS
I.6 Tình hình chuyển đổi từ ruộng lúa sang nuôi tôm tại Cà Mau
Nền sản xuất của Cà Mau thật sự bước sang trang mới vào những năm 2000 khi Cà Mau thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm với quy mô lớn Hầu như con tôm ngự trị trên đồng đất Cà Mau những năm đầu chuyển dịch Nhưng rồi, vị trí độc tôn của con tôm không còn nữa, sau nhiều năm nuôi tôm thất bát, nông dân lại nhận ra tính bấp bênh, kém hiệu quả của
mô hình sản xuất chuyên tôm
Phần lớn diện tích nuôi tôm ở Cà Mau ứng dụng mô hình nuôi quảng canh truyền thống, quy mô nuôi nhỏ lẻ Bình quân mỗi hộ chỉ nuôi trên dưới 2 ha, nên năng suất và hiệu quả tôm nuôi không cao
Từ kết quả khảo sát thực tế cho thấy hầu hết người nuôi tôm đều thả nuôi quanh năm và không có mùa vụ rõ ràng Chất lượng con giống kém cùng với sự ô nhiễm môi trường do quá trình cải tạo ao đầm đồng loạt trên diện rộng, cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu, kỹ thuật nuôi tôm của người dân chưa cao
Tính từ năm 2005 đến nay, Cà Mau chỉ tập huấn khuyến ngư cho 41.359/147.000 hộ nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh giống thủy sản, đạt 28% Chính những yếu tố đó tác động ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả tôm nuôi ở Cà Mau trong thời gian qua Tình trạng tôm nuôi bị nhiễm bệnh và chết trở thành chuỗi phản ứng dây chuyền chưa thể khắc phục được
Nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau tồn tại đa dạng các loại hình nuôi nước lợ, mặn, nước ngọt; với các phương thức nuôi thâm canh, bán thâm canh, nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh cải tiến năng suất cao, tôm - lúa, tôm - rừng, chuyên tôm Nhưng loại hình nuôi tôm quảng canh truyền thống vẫn là chủ yếu với hơn 185.252
ha Đây là loại hình nuôi lạc hậu, năng suất bấp bênh tồn tại nhiều năm qua Cà Mau chưa chuyển đổi được Từ đó, năng suất và hiệu quả tôm nuôi ở Cà Mau đạt thấp Trong năm 2008, năng suất tôm nuôi bình quân của Cà Mau chỉ đạt 356 kg/ha, thấp nhất so với các tỉnh trong khu vực
Trang 2514
Mô hình sản xuất lúa - tôm đã manh nha hình thành nhiều năm nay trên đồng đất Cà Mau Khi mới bắt tay vào thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất, năm 2001, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt quy hoạch bố trí sản xuất 90.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình sản xuất luân canh một vụ lúa - một vụ tôm Nhưng do sự hấp dẫn của con tôm quá mạnh, một số nơi nông dân ồ ạt phá đập đưa nước mặn vào ruộng lúa nuôi tôm làm phá vỡ quy hoạch [16]
Theo số liệu thống kê, diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh Cà Mau cuối năm 2000 là 77.000 ha, nhưng chỉ trong nửa đầu năm 2001 với bước chuyển dịch đồng loạt đã nâng diện tích nuôi tôm của tỉnh lên 202.000 ha Đến nay diện tích nuôi tôm trong tỉnh là 264.500 ha Do diện tích chuyển dịch tăng nhanh, trong khi
sự chuẩn bị về kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất chưa đáp ứng nổi; nhất là hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng tốt kịp thời phục vụ cho sản xuất luân canh lúa - tôm, nên hiệu quả sản xuất lúa - tôm trong những năm đầu mới chuyển dịch chưa cao [16]
Năm 2001, toàn tỉnh Cà Mau gieo cấy 26.573 ha diện tích lúa - tôm Đến cuối vụ thu hoạch được 26.000 ha, năng suất lúa đạt bình quân 2,9 tấn/ha Kết quả này tuy chưa đạt theo mong muốn, nhưng đây được xem là bước khởi đầu khá lý tưởng, mở ra mô hình sản xuất mới trên đồng đất Cà Mau lúc bấy giờ Tuy nhiên,
do đây là một mô hình sản xuất mới nên sự hiểu biết về kỹ thuật canh tác của người nông dân còn hạn chế Hơn nữa, cùng với sự cuốn hút từ con tôm nên người dân đầu tư cho nuôi tôm nhiều hơn; đa số người dân không tuân thủ điều kiện bố trí mùa
vụ luân canh lúa - tôm mà cứ thả tôm nuôi gối vụ liên tục trong năm, quay lưng lại với cây lúa [16]
Mặc dù sang năm 2002, toàn tỉnh gieo sạ hơn 26.000 ha lúa - tôm, nhưng do việc phân vùng bố trí sản xuất chưa khép kín đồng bộ, tình trạng xâm nhập mặn diễn ra nhiều nơi cùng với nhiều nguyên nhân khác nhau làm thiệt hại hoàn toàn diện tích lúa - tôm, từ đó nông dân không còn tha thiết với cây lúa Cùng với sự chỉ đạo thiếu kiên quyết của chính quyền địa phương, những năm sau đó, vùng chuyển dịch sản xuất ở Cà Mau hầu như người nông dân hoàn toàn bỏ sản xuất lúa mà chỉ quan tâm đầu tư cho nuôi tôm Với điều kiện sản xuất như thế, đã dần dần biến vùng chuyển dịch sản xuất ở Cà Mau thành vùng sản xuất chuyên tôm, không thể
Trang 26ở Cà Mau [16]
Trong năm 2008, mô hình sản xuất lúa - tôm thật sự là bước đột phá mới trên đồng đất Cà Mau, đạt cả 3 mặt về quy mô, diện tích, năng suất và sản lượng Tổng diện tích gieo cấy một vụ lúa trên đất nuôi tôm 43.415 ha, đạt 166,98% kế hoạch, tăng 11.685 ha so năm 2007 Những năm trước đây, nông dân Cà Mau mất hàng tỷ đồng mỗi năm do diện tích lúa trên đất nuôi tôm bị thiệt hại quá lớn, tuy nhiên đến năm 2004, Cà Mau sản xuất 43.000 ha lúa - tôm, nhưng do quy trình sản xuất của người dân còn hạn chế nên hiệu quả không cao Cuối vụ chỉ thu hoạch được khoảng 19.000 ha, thiệt hại trắng hơn 23.000 ha Sang năm 2005, diện tích lúa - tôm sụt giảm xuống còn hơn 30.000 ha, nhưng đến cuối vụ chỉ thu hoạch được khoảng 16.000 ha, thiệt hại gần 50% diện tích Sang năm 2008, hiệu quả sản xuất đạt khá cao, trong tổng số 43.415 ha lúa - tôm, thiệt hại chỉ có 1.144 ha, chiếm 2,63% Năng suất lúa - tôm bình quân đạt 3,5 tấn/ha, cao nhất từ trước đến nay, với tổng sản lượng đạt 148.137 tấn Kết quả đạt được đã phản ánh trình độ sản xuất của nông dân nâng lên một bước đáng kể Ngày càng có nhiều nông dân quan tâm hơn việc thực hiện mô hình sản xuất lúa - tôm trên đồng đất Cà Mau [16]
Từ thực tế sản xuất cho thấy, mô hình sản xuất lúa - tôm là lý tưởng nhất đối với vùng chuyển dịch của Cà Mau hiện nay Một số hộ dân có kinh nghiệm sản xuất lúa - tôm ở Cà Mau cho rằng hiệu quả mô hình sản xuất này cao gấp nhiều lần so với sản xuất độc canh con tôm Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Khuyến nông,
Trang 2716
Khuyến ngư Cà Mau, nhiều nơi nông dân áp dụng kỹ thuật canh tác lúa trên đất nuôi tôm khá độc đáo, có tính sáng tạo và đạt hiệu quả cao Điển hình như phương pháp bơm bùn, tận dụng lớp cặn bã dưới vuông tôm lên bờ bao, sân vườn, bờ liếp
để gieo mạ, sau đó nhổ mạ cấy xuống mặt ruộng vuông tôm; hay phương pháp nuôi tôm cắt vụ, xổ nước khô mặt ruộng, phơi đất nứt chân chim, tận dụng những đám mưa đầu mùa rửa phèn mặn mặt ruộng, bắt đầu gieo sạ lúa đạt hiệu quả rất cao Đây được xem là một kinh nghiệm hay cần được nhân rộng Xét về hiệu quả kinh tế, mô hình sản xuất lúa trên đất nuôi tôm chi phí sản xuất thấp nhất so với sản xuất lúa hè thu, hay lúa mùa, nhưng lợi nhuận cao hơn; tổng thu nhập bình quân sản xuất lúa trên đất nuôi tôm năm 2008 là 3.500 kg lúa/ha Với giá lúa 3.500 đồng/kg, nông dân thu được 12 triệu 250 ngàn đồng, sau khi trừ chi phí các khoản cho sản xuất là 4 triệu 195 ngàn đồng/ha, thì vẫn còn lãi hơn 8 triệu đồng/ha [16]
Nhìn về khía cạnh khoa học, mô hình sản xuất lúa - tôm sẽ mang tính bền vững hơn Tính độc đáo của mô hình sản xuất này ở vùng Bán đảo Cà Mau là nông dân tận dụng được nguồn nước ngọt trong những tháng mùa mưa để trồng lúa, còn lại mùa nước mặn thì dùng để nuôi tôm Khai thác một cách hiệu quả cả nguồn nước trong 2 mùa mặn, ngọt để sản xuất, tạo ra giá trị hàng hóa cao hơn trên cùng diện tích sản xuất, theo đó sẽ tăng thêm hiệu quả kinh tế Theo GS-TS Võ Tòng Xuân, việc trồng lúa trên đất nuôi tôm là biện pháp tốt nhất để cải tạo môi trường ruộng nuôi; cân bằng hệ sinh thái trong đầm nuôi do có sự phân bố hài hòa giữa hệ động và thực vật Việc áp dụng hình thức sản xuất luân canh lúa - tôm sẽ góp phần cách ly, hạn chế sự lây lan mầm bệnh từ vụ nuôi tôm này sang vụ nuôi khác Sau khi thu hoạch lúa, gốc rạ để lại trong ruộng nuôi là nguồn dinh dưỡng tốt sẽ giúp cho hệ phiêu sinh vật phát triển, tạo thức ăn tự nhiên cho tôm, làm tăng độ phì nhiêu của đất, chống suy thoái hệ sinh thái đồng ruộng Tuy nhiên, nông dân Cà Mau nên
áp dụng phương pháp canh tác một vụ lúa, một vụ tôm trong năm là tốt nhất để bảo đảm tính bền vững lâu dài hơn [16]
Tập quán canh tác của người nông dân Cà Mau còn nhỏ lẻ, tự phát, thiếu tính cộng đồng, nuôi tôm không theo mùa vụ đã tác động xấu đến quá trình sản xuất Trong điều kiện hiện nay, để áp dụng nhân rộng mô hình sản xuất lúa - tôm, vấn đề trước nhất tỉnh phải quy hoạch, bố trí lại sản xuất có tính hệ thống hơn Để nâng cao
Trang 2817
năng suất tôm, lúa trên địa bàn tỉnh Cà Mau, mới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng Đề án nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất tôm, lúa giai đoạn 2009-2011 Mục tiêu của đề án là tạo bước chuyển biến rõ rệt về năng suất tôm, lúa ở tỉnh Cà Mau Đến năm 2011, năng suất tôm, lúa sẽ tăng từ 20-25% so với năm 2008 Tổng nguồn vốn đầu tư thực hiện đề án này hơn 41 tỷ đồng Theo đó, tỉnh đề ra nhiều giải pháp thực hiện về nâng cao chất lượng giống, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về khuyến nông, khuyến ngư; đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình sản xuất và phong trào thi đua sản xuất trong nhân dân [16]
I.7 Các nghiên cứu trong và ngoài nước
I.7.1 Nghiên cứu trong nước
Cho đến nay đã có một số đề trong nước đánh giá về kinh tế xã hội liên quan đến các mô hình chuyển đổi :
(1) Đề tài “Đánh giá tác động của ngành thuỷ sản tới nền kinh tế quốc dân” của tác giả Hà Xuân Thông (2003) đã đưa ra được hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và thực hiện đánh giá tác động của toàn ngành Thuỷ sản tới nền kinh tế quốc dân bao gồm: Kinh tế, xã hội, môi trường…, các chỉ tiêu này sẽ được tác giả kế thùa trong nghiên cứu này
(2) Đề tài “Xây dựng hồ sơ các mô hình NTTS ở Việt Nam” của Phạm Đình Trọng (2005) đưa ra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của 20 mô hình NTTS trên phạm vi toàn quốc, các mô hình này không mang đặc điểm chuyển đổi Nhưng về phương pháp điều tra, đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội cũng là một tài liệu được tác giả tham khảo trong nghiên cứu này
(3) Lê Tiêu La (2006) có nghiên cứu “Đánh giá tác động tiêu cực về mặt xã hội của NTTS mặn lợ và các giải pháp” đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá tác động của NTTS mặn lợ về mặt xã hội như: Văn hoá, giáo dục, việc làm, công bằng
xã hội, thu nhập Đây là đề tài có phương pháp nghiên cứu đánh giá về mặt xã hội của mô hình NTTS rất tốt mà cần phải kế thừa đưa vào nghiên cứu này
(4) Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Lý (2004) “Đánh giá môi trường trong NTTS ven biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý” đưa ra được hệ thống các tiêu chí đánh giá môi trường trong NTTS ven biển Việt Nam đồng thời đã đưa
ra phương pháp lượng giá các chi phí môi trường của việc NTTS ven biển Việt
Trang 2918
Nam bằng cách tính chi phí lợi ích mở rộng của các mô hình NTTS Đây cũng là một tài liệu rất tốt có ý nghĩa quan trọng để tác giá kế thừa các phương pháp đánh giá về mặt môi trường để đưa vào nghiên cứu này [7]
(5) Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường phục vụ sản xuất thuỷ sản bền vững” với chuyên đề “Đánh giá môi trường trong hoạt động NTTS ven biển ĐBSCL và đề xuất các giải pháp quản lý” đã sử dụng tổng hợp các bộ công cụ (chỉ số ASI, chi phí lợi ích mở rộng, hiệu quả kinh tế, ) để đánh giá môi trường trong hoạt động NTTS ven biển ĐBSCL và trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các giải pháp về quản lý Đây cũng là một tài liệu rất tốt có ý nghĩa quan trọng để tác giá kế thừa các phương pháp đánh giá về mặt môi trường để đưa vào nghiên cứu này
(6) Các đề tài đã được trích dẫn trong phần tổng quan cũng đã đánh giá về các yếu tố kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường Các đề tài này đã đánh giá ở một
số vùng, một số góc độ như việc ứng dụng mô hình lúa - cá, lúa - tôm ở những nơi phù hợp Tuy vậy nhìn chung các đề tài này mới đưa ra các phạm trù chung về tổng thể hoặc mang nặng tính kỹ thuật mà chưa nghiên cứu sâu về yếu tố chuyển đổi, cả
về kinh tế, xã hội, môi trường
Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế - xã hội các mô hình chuyển đổi từ
trồng lúa sang NTTS tại Cà Mau sẽ kế thừa các đề tài liên quan, tập trung đánh giá
sâu về góc độ chuyển đổi, về hiệu quả kinh tế - xã hội các mô hình chuyển đổi sang
kết hợp NTTS, đánh giá lựa chọn mô hình hiệu quả nhất, làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo cũng như việc hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch, góp phần phát triển bền vững và nhân rộng các mô hình chuyển đổi ở vùng ĐBSCL
I.7.2 Nghiên cứu ở nước ngoài
Phát triển bền vững, trong đó có phát triển NTTS bền vững, đang là mục tiêu của toàn cầu Ở một số nuớc có ngành NTTS phát triển như: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tác động của NTTS về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường để nhằm mục tiêu phát triển bền vững nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi sang NTTS
Những cố gắng sử dụng tiêu chí, chỉ tiêu để đánh giá độ bền vững của nuôi
Trang 30- Thời tiết/khí hậu
Đây mới chỉ là những tiêu chí được đề xuất có tính hướng dẫn, chưa được áp dụng trên thực tế
Năm 2002, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã công bố trên mạng Internet tài liệu Bách khoa thư về các chỉ thị môi trường đô thị, gồm 97 chỉ thị đơn Trong bộ chỉ thị này, các vấn đề về chất lượng sinh thái đô thị, về đặc trưng xã hội - nhân văn đô thị cũng đã được tính đến Cùng thời gian này, hai trường đại học của
Mỹ (Đại học Yale và Đại học Columbia) đã phối hợp xây dựng lần đầu tiên chỉ số bền vững về môi trường (Environmental Sustainability Index = ESI) sử dụng trong Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2002 Chỉ số ESI được tính toán từ 20 chỉ thị phức hợp, mỗi chỉ thị phức hợp được tổ hợp từ 2 đến 8 chỉ tiêu Báo cáo này cũng tính ESI cho 142 nước trên thế giới trong đó có Việt Nam
Để đánh giá hiệu quả của chuyển đổi sang NTTS cũng sẽ kế thừa, chọn lọc
sử dụng các tiêu chí, chỉ tiêu đã có của quốc tế trong đánh giá sự bền vững hay hiệu quả và tác động của NTTS khi phù hợp với khả năng, điều kiện của Việt Nam
Trang 3120
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
II.1 Điều kiện tự nhiên và môi trường
- Vị trí địa lý
Nằm ở tận cùng phía Nam của Tổ Quốc, được tách ra từ tỉnh Minh Hải tháng 11 năm 1996 Hình dạng tỉnh Cà Mau giống chữ V, có 3 mặt tiếp giáp với biển Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang (63 km), phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu (75 km), phía Đông
và Đông Nam giáp với Biển Đông, phía Tây giáp với vịnh Thái Lan; bờ biển Đông và Tây của tỉnh dài 254 km
Vị trí lãnh thổ: điểm cực Nam 8030' vĩ độ Bắc (thuộc xã Viên An huyện Ngọc Hiển), điểm cực Bắc 90 33' vĩ Bắc (thuộc xã Biển Bạch An huyện Thới Bình), điểm cực Đông 1050 24' kinh Đông (thuộc xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi), điểm cực Tây 104043' kinh Đông (thuộc xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển)
Biển Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên có nhiều thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế bằng đường biển (giao lưu và phát triển kinh tế về khai thác, đánh bắt hải sản, buôn bán sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai thác dầu khí) với các địa phương trong nước, các nước khu vực Đông Nam Á và thị trường thế giới
- Nhiệt độ
Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với nền nhiệt độ cao (trung bình 26,5oC), thuộc loại trung bình trong vùng ĐBSCL Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng IV, khoảng 27,6oC và thấp nhất vào tháng I, khoảng 25oC Biên độ nhiệt độ trung bình trong năm là 2,7oC
có 74 ngày mưa đạt 1.209,8 mm; Bạc Liêu 114 ngày mưa đạt 1.663 mm; Vĩnh Long
120 ngày mưa đạt 1.414 mm; Rạch Giá 132 ngày mưa đạt 2.050 mm Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa cao nhất trong năm thường từ tháng 8 đến tháng 10
- Lượng bốc hơi, độ ẩm
Trang 3221
Lượng bốc hơi trung bình khoảng 1.022 mm/năm; Mùa khô có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm Ẩm độ trung bình năm là 85,6% mùa khô ẩm độ thấp hơn mùa mưa; thấp nhất vào khoảng tháng 3 hàng năm (khoảng 80,0%)
Gió mùa khô: thịnh hành từ tháng XII đến tháng III (năm sau) hàng năm, hướng gió chủ yếu là Đông Bắc và Đông Vận tốc gió bình quân trong mùa này dao động từ 1,6-2,8m/s Vận tốc gió lớn nhất ghi nhận được là 48m/s ở hướng Đông Bắc
- Bão: Tỉnh Cà Mau nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung ít bị ảnh hưởng
trực tiếp của bão Vào các tháng 10, 11, 12 bờ biển phía Đông bị ảnh hưởng của các cơn bão cuối mùa đổ bộ vào miền Nam Trung bộ, sức gió yếu và thiệt hại do bão gây ra không lớn
- Sóng biển: Hướng và cường độ sóng biển phụ thuộc vào gió mùa trong năm
(gió Nam và gió Bắc) Cường độ sóng cấp 1-2 chiếm đa phần thời gian trong năm, ít khi xuất hiện sóng biển cấp 4-5 Cường độ và độ cao của sóng trong mùa khô thường mạnh và cao hơn trong mùa mưa
Nơi trú gió của tàu biển: Cà Mau có nhiều cửa sông lớn và một số đảo nhỏ ven biển,
do đó tương đối thuận lợi cho việc trú tránh gió bão của tàu thuyền khai thác thủy sản Ngoài ra, với đặc điểm tự nhiên này việc thu mua, hình thành các cụm dịch vụ hậu cần nghề cá cũng khá tập trung và thuận lợi trong hoạt động Ở vùng biển phía Tây các tàu có thể trú gió ở cửa sông Ông Đốc, cửa sông Bảy Háp, cửa Lớn, Hòn Chuối, Hòn Buông và quần đảo Nam Du Ở vùng biển phía Đông có các tàu có thể trú gió ở cửa sông Gành Hào, cửa Bồ Đề, Hòn Khoai, Hòn Sao và Côn đảo
- Chế độ thủy triều: Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ bán nhật triều
không đều biển Đông và chế độ nhật triều không đều biển Tây Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, khoảng 3,0-3,5m vào các ngày triều cường và từ 1,8-2,2cm vào các ngày triều kém Triều biển Tây có biên độ thấp hơn biển Đông, biên độ triều lớn
Trang 3322
nhất chỉ khoảng 1,0 m Tại cửa Sông Đốc, mực nước cao nhất + 0,85m đến + 0,95m, xuất hiện vào tháng 10 và tháng 11; mực nước thấp nhất (- 0,4) đến + 0,5m, xuất hiện vào tháng 4 và tháng 5 hàng năm
+ Độ mặn
Vùng biển phía Tây Cà Mau cũng như vũng biển phía Tây Nam bộ trong
mùa khô độ mặn dao động từ 29,8-32,2%o ở tầng mặt và 31-32,2%o ở tầng đáy Độ
mặn thấp vào tháng 1 và cao nhất vào tháng 4 Từ tháng 12 năm trước đến tháng 1
năm sau khu vực phía Nam (vùng Tây Nam bộ) độ mặn dưới 31%o Vùng ven bờ từ sông Ông Đốc đến vịnh Ông Trang, đặc biệt là khu vực mũi Cà Mau độ mặn giảm
thấp, dao động từ 24-25%o
Khu vực phía Bắc độ mặn trên 30%o và cao nhất là khu vực giữa Hòn Anh
Đông và Nam Du đạt đến trên 33%o Sang tháng 2 độ mặn có xu thế giảm từ 34%o xuống 32%o ở phía Bắc và từ 32%o xuống 30%o ở phía Nam Sau tháng 3-4 độ mặn trung bình của nước cao trên 31%o Xu thế độ mặn tăng từ bờ dưới 30%o, ra khơi 33 -34 %o
+ Chế độ thủy triều
Khu vực tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông và chế độ nhật triều không đều biển Tây Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, khoảng 3,0-3,5m vào các ngày triều cường và từ 1,8-2,2cm vào các ngày triều kém Triều biển Tây yếu hơn biển Đông, biên độ triều lớn nhất chỉ khoảng 1,0m Tại cửa Sông Đốc, mực nước cao nhất (+0,85)m đến (+0,95)m, xuất hiện vào tháng 10, tháng 11; mực nước thấp nhất (-0,4) đến 0,5m, xuất hiện vào tháng 4, tháng 5 hàng năm
Chế độ bán nhật triều không đều biển Đông kéo dài đến tận cửa sông Bảy Háp Khu vực này thông thường có 2 lần triều lên (2 đỉnh triều) và 2 lần triều xuống (2 chân triều) trong ngày Thời gian triều lên ngắn, chỉ xấp xỉ 5 giờ, thời gian triều xuống từ 6-7giờ Riêng vào những ngày triều cường, thời gian triều lên kéo dài hơn, lớn nhất có thể đến 10giờ, ngược lại thời gian triều xuống lại ngắn đi, chu kỳ 1 con triều trung bình khoảng 1 đến 2 giờ 30 phút
Chế độ nhật triều không đều vịnh Thái Lan ảnh hưởng tới cửa sông Đồng Cùng trở lên Khu vực này thời gian triều lên và xuống xấp xỉ nhau, kéo dài từ 11 giờ 30 phút đến 12 giờ, vào những ngày triều cường thời gian triều lên kéo dài thêm 1-1 giờ 30 phút
Trang 3423
Trong 1 tháng có 2 kỳ triều cường và 2 kỳ triều kém, mỗi kỳ kéo dài từ 3-4
ngày Triều cường thường xuất hiện vào “ngày sóc” (mùng 1 âm lịch) và ngày
“ngày vọng” (15 âm lịch) Các ngày triều kéo thường xuất hiện sau các ngày
“thượng huyền” (ngày mùng 6 dương lịch) và “hạ huyền” (ngày 13 âm lịch) 2-3
ngày Mỗi chu kỳ triều trung bình kéo dài từ 14 đến 15 ngày (đôi khi 13 ngày) Trong kỳ triều kém sinh ra một con nước “sinh” kéo dài 2-3 ngày với biên độ mức nước nhỏ nhất
II.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội tỉnh Cà Mau
II.2.1 Diện tích, dân số và lao động
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.329,6 km2 (2010), bằng 13,1% diện tích vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và bằng 1,58% diện tích cả nước Ngoài phần đất liền, Cà Mau có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Bương và Hòn
Đá Bạc, diện tích các đảo xấp xỉ 5km2 Tỉnh Cà Mau có 8 huyện và một thành phố trực thuộc tỉnh Thành phố Cà Mau là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh Vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia
Dân số trung bình năm 2010 của tỉnh là 1.118.830 người Có 20 dân tộc khác nhau sinh sống trên địa bàn, trong đó người Kinh chiếm 97,16%, người Khơ Me chiếm 1,86%, còn lại là người Hoa và các dân tộc ít người khác
Mật độ dân số trung bình của tỉnh Cà Mau là 232 người/km2, thấp hơn mật
độ dân số trung bình cả nước và các tỉnh trong khu vực Tốc độ tăng dân số trung bình 1,52%/năm; tỷ lệ nữ giới chiếm 50,58% dân số Thành phố Cà Mau có mật độ dân cư cao nhất, với 826 người/km2, kế đến là huyện Cái Nước 367 người/km2 và Trần Văn Thời 278 người/km2; mật độ dân cư thấp là huyện U Minh 119 người/km2
và Ngọc Hiển 112 người/km2 Dân số đô thị toàn tỉnh hiện nay là 20%; trong đó thành phố Cà Mau có tỷ lệ dân đô thị 60,27%
Số người trong độ tuổi lao động là 733.541người, chiếm 60,15% dân số; trong đó lực lượng lao động hoạt động trong nền kinh tế có 614.005 người, chiếm 50,35% dân số và chiếm 83,7% lao động trong độ tuổi
Chất lượng lao động của tỉnh xét theo học vấn và chuyên môn kỹ thuật còn thấp Số lao động được đào tạo và lao động có tay nghề, kỹ thuật khoảng 110.000 người, chiếm 15% so với lực lượng lao động; trong đó sơ cấp, học nghề 30.000 người;
Trang 3524
trung học chuyên nghiệp 15.000 người; cao đẳng, đại học, trên đại học 6.500 người, còn lại là lao động có kỹ thuật, tay nghề
II.2.2 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm (GDP) giai đoạn 2001-2009 có tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt bình quân 12,81%/năm, trong đó Khu vực I (Nông - Lâm - Ngư nghiệp) tăng bình quân 7,21%/năm, Khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng) tăng nhanh, đạt bình quân 20,1%/năm và Khu vực III (Thương mại và Dịch vụ) tăng 14,71%/năm
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, tốc độ chuyển dịch giữa 3 khu vực diễn biến cụ thể như sau: Cơ cấu GDP năm 2001: Khu vực I là 59,27%; Khu
vực II là 20,48% và Khu vực III là 20,25%, đến năm 2009 cơ cấu trên tương ứng là:
35,79%; 37,04%; 27,15% Như vậy, sau 9 năm, Khu vực I giảm 23,48% còn Khu vực II tăng mạnh lên 16,56% và Khu vực III tăng 6,9% Đặc biệt, thủy sản luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng GDP
Bình quân GDP đầu người tăng, năm 2009 đạt 955 USD/người so với năm
2005 đạt 582 USD/người, tăng gấp 1,64 lần Tuy nhiên, bình quân GDP năm 2009 của tỉnh vẫn thấp hơn trung bình cả nước (1.000 USD/người/năm)
Bảng 2: GDP và cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau
Đvt: Tỷ đồng
1 GDP (giá 1994) 4.965.861 7.673.663 10.328.852 13.021.382 12,81
- Nông - lâm - ngư nghiệp 2.671.560 3.563.480 4.225.026 4.661.635 7,21
- Công nghiệp - xây dựng 1.114.446 1.992.079 3.245.846 4.823.427 20,10
- Thương mại - dịch vụ 1.179.855 2.118.104 2.857.980 3.536.320 14,71
2 GDP (giá hiện hành) 6.604.699 11.213.891 16.073.706 20.494.091
- Nông – lâm - ngư nghiệp 3.825.000 5.882.274 7.324.557 8.505.817
- Công nghiệp - xây dựng 1.400.529 2.715.224 5.042.146 7.043.201
- Thương mại - dịch vụ 1.379.170 2.616.393 3.707.003 4.945.073
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2005, 2009)
II.2.2 Tác động của công nghiệp – TTCN đến ngư, nông, lâm nghiệp
Đến năm 2009, toàn tỉnh Cà Mau có 214 cơ sở chế biến nông, lâm sản và thủy sản, trong đó gồm: 27 doanh nghiệp CBTS (có 35 xí nghiệp trực thuộc); 184
Trang 3625
cơ sở chế biến nông sản; 1 nhà máy đường; 1 doanh nghiệp chế biến gỗ; 1 doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và hàng trăm cơ sở chế biến nhỏ lẻ khác Tuy nhiên, ngoại trừ công nghiệp chế biến hàng thủy sản đã đáp ứng được yêu cầu thúc đẩy phát triển sản xuất ngư nghiệp ở địa phương, còn công nghiệp và TTCN chế biến hàng nông, lâm sản với cả vai trò đầu vào hay đầu ra của sản xuất nông, lâm nghiệp trong tỉnh chưa thể hiện được vai trò thúc đẩy nông, lâm nghiệp phát triển Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng cần phải sớm tháo gỡ để quan hệ giữa công nghiệp – TTCN với nông, lâm nghiệp gắn bó hỗ trợ nhau cùng phát triển, đặc biệt là trong lâm nghiệp vấn đề công nghiệp chế biến lâm sản đặt ra là rất bức xúc
II.2.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp tỉnh Cà Mau
a Hệ thống thủy lợi
Từ khi thực hiện Nghị quyết số 09/2000/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 1116/QĐ-CTUB của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch ngư, nông, lâm nghiệp tỉnh Cà Mau giai đoạn 2001-2010, quy hoạch thủy lợi có những thay đổi căn bản từ nhiệm vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là lúa sang đa mục tiêu như nuôi trồng thủy sản, nông, ngư kết hợp, nông nghiệp, lâm nghiệp và nông, lâm, ngư nghiệp ở cả 2 vùng sinh thái mặn
Tổng vốn (triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyển đổi SX nông- lâm - ngư nghiệp - Chi cục Thủy lợi)
Nhìn chung, thủy lợi phục vụ ngư, nông, lâm nghiệp của tỉnh còn là một bài toán khó cả về bố trí hệ thống công trình, quản lý, khai thác vận hành công trình và vốn đầu tư Đây chính là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất ngư, nông, lâm
Trang 3726
nghiệp, thậm chí là quyết định đến phương thức canh tác, cơ cấu mùa vụ cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật trồng và chăm sóc cũng như hiệu quả của tiến bộ kỹ thuật, mức năng suất và chất lượng cây trồng đối với tỉnh Cà Mau Trong khi đất mặn, phèn, than bùn lại sử dụng nước mưa theo mùa luôn diễn biến phức tạp, công trình thủy lợi lại chưa đồng bộ, quản lý, vận hành bất cập nên khó có thể tạo nên nền nông nghiệp phát triển ổn định, bền vững theo hướng thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng và đạt giá trị sản lượng cao
b Hệ thống giao thông
Giao thông đường bộ tỉnh Cà Mau thời gian qua đã có bước phát triển khá tốt, hỗ trợ cho giao thông thủy vốn là lợi thế của tỉnh Thực tế giao thông thủy, bộ, hàng không đã tác động tích cực đến sản xuất ngư, nông, lâm nghiệp hàng hóa Song do điều kiện đặc thù sông rạch, kênh mương chằng chịt, mùa mưa tập trung với cường độ lớn, tốc độ truyền triều khá mạnh, biên độ triều cao ảnh hưởng đến hoạt động của các phương tiện vận tải thủy, khó khăn cho sản xuất nông nghiệp (điển hình như việc phòng chống dịch cúm A H5N1, H1N1 rất khó đảm bảo tiến độ
do giao thông cách trở) Đặc biệt chi phí dịch vụ vận tải bằng cả đường bộ và đường thủy ở Cà Mau có giá rất cao, tăng chi phí khi vận chuyển vật tư, sản phẩm làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Giao thông thủy là chủ yếu nên rất khó kiểm soát thú y, kiểm dịch động vật nhập vào tỉnh, tạo ra cơ hội dễ lây lan dịch bệnh
c Hệ thống điện
Lưới điện ở tỉnh Cà Mau phát triển nhanh, giai đoạn 1997-2008 ngành điện
đã đầu tư xây dựng mới 3.320 km đường dây trung thế, 4.722 km đường dây hạ thế
và 80.498 KVA công suất trạm biến áp Đến năm 2009, tổng số hộ dùng điện là 241.900 hộ chiếm 91,5% tổng số hộ trong tỉnh Sử dụng điện mới chủ yếu dùng cho sinh hoạt, công nghiệp, điện lượng phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ
Đặc biệt trong tháng 5/2007 tại cụm Khí điện đạm Cà Mau đã đưa vào vận hành 2 tổ máy phát điện tuốc bin khí sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu điện với điện áp
ổn định cho tỉnh Cà Mau
Trang 3827
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
III.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Việc điều tra thu mẫu được thực hiện tại các huyện điển hình cho phong trào chuyển đổi sang nuôi tôm tại Cà Mau: Năm Căn, Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời và Thới Bình tỉnh Cà Mau Việc điều tra được tiến hành thành 2 đợt, mỗi đợt điều tra trong 7 ngày Đợt 1 vào tháng 12/2010 và đợt 2 vào tháng 4/2011 (đợt 1 thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, điều tra hộ; đợt 2 thu thập các thông tin bổ sung còn thiếu đợt 1)
III.2 Phương pháp thu thập thông tin
III.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp:
Luận văn đã sử dụng phương pháp thống kê số liệu từ các tài liệu thứ cấp thu thập được như: Niên giám thống kê; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau đến năm 2020; Quy hoạch phát triển NTTS ven biển tỉnh Cà Mau đến năm 2020; các báo cáo tổng kết của các sở, ban ngành trên địa bàn tỉnh; các báo cáo tại hội nghị hội thảo; các đề tài nghiên cứu khoa học, sách báo,… Thu thập trực tiếp tại thư viện Trung tâm Tin học và Thống kê (Bộ NN&PTNT), Viện Nghiên cứu NTTS
I, Viện Nghiên cứu NTTS II, Trường Đại học Nha Trang, Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, các báo cáo tổng kết hàng năm của Sở NN&PTNT, Chi cục nuôi trồng thuỷ sản Cà Mau, trên Internet
Các số liêu thu thập bao gồm :
Các số liệu về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, nguồn nước, đặc điểm địa hình
Số liệu về kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu: Dân số, lao động, các hoạt động sản xuất của người dân trong vùng
Số liệu về định hướng phát triển NTTS, cơ chế chính sách xã hội
Số liệu về hiện trạng NTTS: Diện tích nuôi, năng suất, sản lượng, loại hình nuôi, đối tượng nuôi, thị trường
Số liệu về các mô hình chuyển đổi lúa - tôm
III.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
a) Phương pháp thu thập thông tin mang tính định tính:
Trang 3928
Tác giả đã sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung có sự tham gia của người dân (PRA) dùng bảng hướng dẫn thảo luận nhóm về các nội dung: Thực trạng (Lịch sử chuyển đổi, các bên liên quan); các tác động kinh tế xã hội; vấn đề, nguyên nhân, giải pháp
b) Phương pháp thu thập thông tin mang tính định lượng:
Tác giả sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua phỏng vấn trực tiếp theo bảng hỏi cấu trúc Phương pháp này nhằm đo lường thực trạng về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và xã hội của hoạt động chuyển đổi sang kết hợp NTTS: Cơ sở hạ tầng và thiết bị công nghệ, vốn đầu tư, nhân lực và tổ chức quản lý, hiệu quả kinh tế (doanh thu/ha, thu nhập/ha) So sánh các chỉ tiêu về đầu tư, doanh thu, thu nhập của
3 hình thức nuôi (Quảng canh cải tiến, ban thâm canh và thâm canh) với nhau để xác định mô hình hiệu quả
Đánh giá các tác động về xã hội: Giải quyết lao động việc làm, tiếp cận dịch
vụ y tế giáo dục văn hoá, sử dụng đất, tệ nạn xã hội, ý thức pháp luật, mâu thuẫn
- Phương pháp chọn mẫu: Mẫu điều tra được thực hiện tại 4 huyện có
phong trào chuyển đổi phổ biến tại Cà Mau: Năm Căn, Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời và Thới Bình Căn cứ vào cơ cấu thực tế của các hộ tham gia chuyển đổi tại các xã thuộc các huyện trên, tác giả đã chọn mẫu 30% hộ sản xuất quy mô lớn;
40% hộ sản xuất quy mô vừa và 30% hộ sản xuất quy mô nhỏ (quy mô lớn > 5ha;
quy mô trung bình: từ 1-5ha; quy mô nhỏ < 1 ha), tác giả xác định được 80 hộ để
điều tra, trong đó: Nuôi QCCT 40 hộ, BTC 30 hộ, TC 10 hộ
- Thiết kế điều tra thu mẫu:
+ Tiến hành điều tra ở mỗi xã 2 đợt, mỗi đợt tiến hành điều tra trong 7 ngày Đợt 1 vào tháng 12/2010 và đợt 2 vào tháng 4/2011 Đi đến từng hộ để phỏng vấn trực tiếp
+ Tổng số mẫu điều tra là: 80 phiếu
III.3 Phương pháp phân tích số liệu
III.3.1 Phương pháp phân tích thống kê mô tả
Sử dụng các chỉ tiêu tương đối, tuyệt đối, số bình quân để tính toán, so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình chuyển đổi sang NTTS ở tỉnh Cà Mau Việc phân