1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi hầu (crassostrea belcheri sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa –vũng tàu

83 754 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Toàn thế giới có 32 nước nuôi hầu thương phẩm với tổng sản lượng khoảng 4 triệu tấn năm 2000, trong đó riêng các loài hầu biển - đối tượng được nuôi phổ biến đã đạt tới 3,9 triệu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI HẦU

(Crassostrea belcheri Sowerby, 1871) THƯƠNG PHẨM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm và quý thầy cô Khoa Nuôi trồng thuỷ sản và phòng đào tạo đại học và sau đại học – Trường đại học Nha Trang đã tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu và nâng cao trình độ trong thời gian qua

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Ngô Anh Tuấn đã định hướng, tận tình giúp đỡ và có nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu hải sản, Ban lãnh đạo Phân viện nghiên cứu hải sản, Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Uỷ ban nhân dân xã Long Sơn – Thành phố Vũng Tàu, Cục thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong thời gian làm luận văn Xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình các hộ nuôi hầu đã thu xếp thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này

Xin cảm ơn các anh chị lớp Cao học Nuôi trồng thuỷ sản 2009 đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Sau cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn này

Nha Trang, tháng 3 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu hầu trên thế giới 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.1.1 Hầu Châu Âu ( Tên tiếng Anh: European Flat Oyster) 3

1.1.1.2 Hầu Bồ Đào Nha (Tên tiếng Anh:Portuguese Oyster) 4

1.1.1.3 Hầu Mỹ (Tên tiếng Anh: American Oyster) 4

1.1.1.4 Hầu California (Tên tiếng Anh Olympia oyster) 5

1.1.1.5 Hầu ống (Tên tiếng Anh: Pacific oyster, Pacific cupped oyster) 5

1.1.1.6 Hầu kumamoto (Tên tiếng Anh: Kumos oyster) 6

1.1.1.7 Hầu Slipper cupped (Hiutre creuse Chausson) 7

1.1.1.8 Hầu Châu Á 7

1.1.2 Sản lượng hầu thế giới và tình hình xuất nhập khẩu hầu 7

1.1.2.1 Các loài hầu nuôi chính trên thế giới 7

1.1.2.2 Sản lượng hầu thế giới 8

1.1.3 Đặc điểm sinh học của hầu 10

1.1.3.1 Đặc điểm phân bố 10

1.1.3.2 Phương thức sống 12

1.1.3.3 Thức ăn và phương thức bắt mồi 12

1.1.3.4 Đặc điểm sinh trưởng 13

1.1.3.5 Đặc điểm sinh sản 13

1.1.3.6 Địch hại và khả năng tự bảo vệ 14

1.1.4 Kỹ thuật nuôi hầu 14

1.1.4.1 Chọn bãi nuôi 14

1.1.4.2 Nguồn giống 14

1.1.4.3 Lấy giống và nuôi lớn 16

1.1.5 Quản lý, chăm sóc 18

1.1.6 Thu hoạch 19

1.2 Tình hình nghiên cứu hầu trong nước 19

Trang 5

1.2.1 Định loại loài hầu phân bố ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 19

1.2.2 Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 19

1.2.2.1 Đặc điểm hình thái 19

1.2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 21

1.2.2.3 Đặc điểm sinh sản 22

1.2.3 Các hình thức nuôi hầu 23

1.2.4 Các công trình nghiên cứu về hầu 24

1.3 Một số khái niệm trong nghiên cứu 26

1.3.1 Hiệu quả kinh tế 26

1.3.2 Hiệu quả kỹ thuật 26

1.3.3 Hiệu quả xã hội 26

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1.Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 29

2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 29

2.2.3 Xử lý và phân tích số liệu 29

2.2.3.1 Xử lý số liệu 29

2.2.3.2 Phân tích số liệu 29

2.2.4 Chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế - xã hội 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Điều kiện tự nhiên ở Bà Rịa – Vũng Tàu có ảnh hưởng đến nghề nuôi hầu 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến nghề nuôi hầu 34

3.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội của hộ nuôi hầu thương phẩm 35

3.2.1 Thông tin về chủ hộ nuôi hầu 35

3.2.2 Thông tin về hộ nuôi hầu 37

3.2.3 Điều kiện xã hội của của xã Long Sơn 38

3.3 Hiện trạng kỹ thuật nuôi hầu thương phẩm 39

3.3.1 Hình thức nuôi 39

3.3.2 Đặc điểm thiết bị nuôi 40

3.3.2.1 Hình thức nuôi giàn 40

Trang 6

3.3.2.2 Hình thức nuôi bè 41

3.3.3 Đặc điểm vùng nuôi 43

3.3.4 Hầu giống 44

3.3.5 Thời vụ nuôi hầu thương phẩm 44

3.3.6 Thức ăn 44

3.3.7 Quản lý và chăm sóc 45

3.3.8 Các loại bệnh thường gặp và vấn đề phòng trị bệnh cho hầu 45

3.3.9 Thu hoạch 45

3.3.10 Thị trường 45

3.3.11 Sự hỗ trợ và khuyến khích của chính quyền địa phương với hộ nuôi hầu 46

3.4 Kiến nghị và phương hướng phát triển của các hộ nuôi hầu 47

3.4.1 Khó khăn của các hộ khi nuôi hầu 47

3.4.2 Phương hướng phát triển của các hộ nuôi hầu 47

3.4.3 Kiến nghị của các hộ nuôi hầu 48

3.5 Kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội 49

3.5.1 Sản lượng, năng suất, giá thành và giá bán hầu thương phẩm 49

3.5.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hình thức nuôi hầu thương phẩm ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 49

3.5.3 Hiệu quả về mặt xã hội 50

3.6 Giải pháp phát triển nghề nuôi hầu 51

3.6.1 Giải pháp kỹ thuật 51

3.6.2 Giải pháp khuyến ngư 51

3.6.3 Giải pháp về chính sách và quản lý 51

3.6.4 Giải pháp về thị trường và xúc tiến thương mại 52

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Đề xuất ý kiến 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 60

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các loài hầu nuôi chính và sản lượng 7

Bảng 1.2: Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương qua các năm 8

Bảng 1.3: Sản lượng hầu thu được ở các quốc gia từ 1978 – 1983 9

Bảng 1.4: Vùng phân bố của các loài hầu trên thế giới 11

Bảng 3.1: Độ tuổi của người nuôi hầu………35

Bảng 3.2: Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi hầu 36

Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của chủ hộ 36

Bảng 3.4: Trình độ chuyên ngành học của chủ hộ 37

Bảng 3.5: Phân bố lao động trong gia đình hộ nuôi hầu 37

Bảng 3.6: Diễn biến các hình thức nuôi hầu qua các năm 39

Bảng 3.7: Các loại giàn nuôi hầu 40

Bảng 3.8: Các loại bè nuôi hầu 41

Bảng 3.9: So sánh các ưu điểm và nhược điểm của các hình thức nuôi 43

Bảng 3.10: Diện tích nuôi hầu qua các năm (Đơn vị tính: m2) 43

Bảng 3.11: Thị trường tiêu thụ sản phẩm hầu thương phẩm 46

Bảng 3.12: Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương với nghề nuôi hầu thương phẩm 46

Bảng 3.13: Khó khăn gặp phải trong nuôi hầu hiện nay 47

Bảng 3.14: Phương hướng phát triển của hộ nuôi hầu 48

Bảng 3.15: Một số kiến nghị của hộ nuôi 48

Bảng 3 16: Sản lượng, năng suất, giá thánh và giá bán hầu thương phẩm 49

Bảng 3.17: Chi phí, thu nhập và lợi nhuận của 1ha nuôi hầu 50

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Bản đồ vị trí triển khai đề tài 28

Hình 2 2: Nội dung nghiên cứu của đề tài 28

Hình 3.1: Diễn biến các hình thức nuôi hầu qua các năm……… 39

Hình 3.2: Cấu trúc giàn nuôi hầu 40

Hình 3.3: Cấu trúc bè nuôi hầu 42

Hình 3.4: Cấu trúc lồng nuôi hầu 42

Trang 8

MỞ ĐẦU

Toàn thế giới có 32 nước nuôi hầu thương phẩm với tổng sản lượng khoảng 4 triệu tấn (năm 2000), trong đó riêng các loài hầu biển - đối tượng được nuôi phổ biến đã đạt tới 3,9 triệu tấn Ở hầu hết các nước phát triển, nghề nuôi hầu thương phẩm rất được coi trọng và đạt sản lượng cao: Nhật Bản 221.000 tấn; Hàn Quốc 209.000 tấn; Pháp 33.000 tấn/năm Hiện tại, Trung Quốc vẫn là nước đứng đầu thế giới về hầu nuôi thương phẩm với 3,3 triệu tấn (năm 2000)

Theo báo cáo của FAO, nghề nuôi hầu đầu tư thấp, kỹ thuật đơn giản, không phải cho ăn, quy mô đa dạng, sức sinh sản lớn là yếu tố quan trọng để sản xuất giống đại trà Ngoài ra hầu có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái thuỷ vực, nó có tác dụng làm sạch môi trường nước tốt

Hầu Crassostrea belcheri là đối tượng nuôi chính của ngư dân ở xã Long Sơn của

tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong nhiều năm qua Theo các nhà nghiên cứu, nguồn dinh dưỡng

có trong con hầu ở Long Sơn được đánh giá là cao nhất Việt Nam: thịt hầu có 57% protit, 7-11% lipid, 19-30% gluxit, ngoài ra còn chứa nhiều vitamin A, B1, B2, D và E và so với nhiều nước như Úc, Canada, Mỹ, Pháp… thì ở Việt Nam rất thuận lợi để phát triển nuôi hầu vì chu kỳ đời hầu ở các nước này khoảng 3 năm còn ở Việt Nam chỉ khoảng 10 – 12 tháng

Xã Long Sơn có điều kiện rất lớn để phát triển nghề nuôi hầu, nhưng sản lượng hầu thu hoạch trong năm qua chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Sản lượng hầu nuôi ở đây chưa đủ lớn để có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu sang các nước khác Thị trường tiêu thụ hầu chủ yếu vẫn là các nhà hàng và các chợ trong và ngoài tỉnh, giá bán còn khá rẻ so với các loại khác Nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển nghề nuôi hầu ở Long Sơn là do thiếu sự quản lý chặt chẽ, để có thể phát triển nuôi hầu bền vững Tình trạng phát triển tự phát đã làm ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường Người nuôi không đăng ký khu vực nuôi cũng như diện tích nuôi, nên dễ nảy sinh dịch bệnh

Bên cạnh đó người nuôi chưa hiểu rõ đặc điểm sinh học của hầu, trình độ kỹ thuật còn thấp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên khi môi trường thay đổi bất thường, dịch bệnh

Trang 9

xảy ra họ chưa có biện pháp khắc phục Do đó, việc thực hiện đề tài “Điều tra hiện trạng

kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi hầu (Crassostrea

belcheri Sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” là rất cần thiết

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu có thể đề xuất các cơ sở khoa học cho việc xây dựng một mô hình nuôi phù hợp với điều kiện ngư dân, nhằm góp phần nâng cao thu nhập và giảm thiểu rủi ro trong nghề nuôi hầu

- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các thông số kỹ thuật về nuôi hầu và các giải

pháp khắc phục khó khăn trong nuôi hầu hiện nay ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Đồng thời đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi hầu mang lại cho người nuôi

- Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài thực hiện nhằm bổ

sung, hoàn thiện phương pháp điều tra và xử lý các số liệu trong thống kê kinh tế, đồng thời đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội nghề nuôi hầu cho tỉnh

Cơ sở để xây dựng qui hoạch phát triển nuôi hầu, tránh tác động tiêu cực về môi trường sinh thái, bảo đảm tính ổn định lâu dài khi mở rộng diện tích nuôi hầu

- Nội dung nghiên cứu:

1) Điều tra hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi hầu thương phẩm ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu qua các chỉ tiêu: đặc điểm vùng nuôi, mùa vụ nuôi, hình thức nuôi, đặc điểm thiết bị nuôi, chăm sóc và quản lý, thu hoạch

2) Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của nghề nuôi hầu thông qua các chỉ tiêu: năng suất và sản lượng, tổng chi phí, tổng thu nhập, giá thành, lợi nhuận

3) Đề xuất một số giải pháp: giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp khuyến ngư

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu hầu trên thế giới

1.1.1.1 Hầu Châu Âu ( Tên tiếng Anh: European Flat Oyster)

Tên khoa học Ostrea edulis, có hình dạng thuôn oval hay dạng trái lê tương đối

đẹp Vỏ thô, bề mặt nhám, có dạng tròn trịa, kích thước tương đối đều hơn loài hầu Bồ Đào Nha Hai mảnh vỏ có hình dạng khác nhau, không đều : vỏ bên trái cong và bám vào vật bám, trong khi đó vỏ bên phải phẳng có viền nhám, được dùng như nắp đậy Mặt trong của cả hai vỏ đều mịn và óng ánh, màu trắng hay xanh nhạt pha xám Hai vỏ được giữ lại với nhau bằng một sợi gân co giãn được Bên ngoài vỏ có màu trắng đục, vàng nhạt hay kem vỏ trái có những rãnh hướng tâm màu nâu nhạt hay xanh nhạt Thịt có màu

từ kem đến xám nhạt, vị hơi mặn, khá chắc Hầu Châu Âu có thể lớn trên 20 cm và sống

đến 20 tuổi Ostrea edulis phân bố từ ven biển Na Uy xuống đến Maroc, qua Địa trung

hải vào đến Biển Đen

Tại Châu Âu có khá nhiều địa phương đã trở thành nổi tiếng do các loài hầu sinh sản tại chỗ như hầu 'natives' ở Anh và Belons de Bretagne ở Pháp

Tại Anh, vùng Colchester ở Essex, có đặc điểm địa chất của London với những lớp đất sét trải dài khắp vùng hạ lưu, cửa sông, là nơi sinh sản của loài hầu nổi tiếng Pyfleet Vùng duyên hải Pháp, Bỉ và Hà Lan dọc Đại tây dương là nơi cư ngụ của một số loài hầu nổi tiếng, và vùng biển phía Nam Ái Nhĩ Lan là một trong những vùng sản xuất hầu quan

Trang 11

trọng nhất Châu Âu Tại Pháp tuy Ostrea edulis chỉ chiếm 1/10 tổng sản lượng hầu nhưng

lại cung cấp các loại nổi tiếng như Belons de Bretagne (giá đến 80 USD mỗi dozen) Cũng tại Pháp, giống hầu phẳng của vùng Cancale (trong Vịnh Morbihan) đã hầu như

biến mất do dịch bệnh Bonamia

Trong khoảng thời gian 50 năm qua, sản lượng hầu Châu Âu đã sụt giảm rất nhiều,

từ con số 30 ngàn tấn (1961) xuống còn chừng 6-7 ngàn tấn (2003 - 2005), trong đó Tây Ban Nha chiếm 67% (4.500 tấn) và Pháp chiếm 24 % (1.600 tấn), số còn lại là Anh, Ireland Tại Hoa Kỳ, hầu Châu Âu được nuôi rất hạn chế, mỗi năm khoảng 300.000 con Hiện nay số lượng hầu Châu Âu được nuôi trên thế giới chỉ chiếm 0,2 % tổng số lượng các loại hầu [45]

1.1.1.2 Hầu Bồ Đào Nha (Tên tiếng Anh:Portuguese Oyster)

Tên khoa học Crassostrea angulata, nguồn gốc tại Bồ đào Nha, Tây Ban Nha và

Maroc (hiện nay được các nhà khoa học xếp chung với hầu Pacific) Tại Châu Âu, hầu có kích thước tối đa chừng 17 cm, vỏ ngoài màu trắng đục, hay nâu, một mảnh vỏ cong rất

rõ Hầu Bồ đào Nha phát triển nhanh, có khả năng chống bệnh cao, được đưa vào nuôi rất nhiều tại Anh và Pháp

Tại Pháp giống hầu này được gọi là Huitres creuses, chiếm gần như trọn thị trường

hầu Một số giống rất được ưa chuộng như fine de clair của vùng Marennes-Oleron, thịt ngon và ngọt do được nuôi trong điều kiện môi trường đặc biệt [45]

1.1.1.3 Hầu Mỹ (Tên tiếng Anh: American Oyster)

Tên khoa học Crassostrea virginica, lớn hơn hầu Châu Âu, nhưng chỉ lớn bằng

hầu Bồ Đào Nha Kích thước tối đa chừng 25 cm, trung bình từ 8 - 18 cm Vỏ ngoài thô - nhám, nặng, thường màu xám nhạt Hầu Mỹ phân bố dọc ven biển Đại Tây dương: từ New Brunswich (Canada) xuống đến Vịnh Mexico Loài hầu này sinh sản khá mạnh: một con hầu có thể đẻ đến 500.000 trứng Những người Châu Âu đến định cư tại vùng Bắc

Mỹ đã rất ngạc nhiên trước sự quá dồi dào của hầu, khai thác quá dễ, quá rẻ Nhưng từ đầu thế kỷ 19, số lượng hầu bắt đầu sụt giảm: năm 1895, sản lượng thu hoạch lên đến 170

Trang 12

triệu cân Anh (lbs), đến năm 1920 còn 100 triệu và rồi còn 50 triệu năm 1950 Tổng sản lượng đánh bắt theo FAO khoảng 120.000 tấn (năm 2006), và nuôi khoảng 60.000 tấn

Hầu Mỹ được bán trên thị trường dưới nhiều tên khác nhau, thường liên hệ đến địa phương đánh bắt hay nuôi Một số giống nổi tiếng như hầu Cape (từ vùng Cape Cod, đặc biệt là từ Wellfleet, Chatham, và Wareham); từ Long Island (như Blue Point, Gardiners Bay, Robbins Island) và từ vùng Vịnh Chesapeake (như Chiconteague) Nhiều khi hầu được di chuyển từ những vùng nuôi vô danh đến những vùng nổi tiếng và chỉ nuôi thêm vài tháng rồi đưa ra thị trường

Hầu Cape được đánh giá là rất ngon có lẽ vì được nuôi trong vùng nước khá lạnh của miền Bắc, hầu phải mất đến 5 năm để trưởng thành so với hầu nuôi tại Chesapeake chỉ mất 3 năm, nơi nước có độ mặn cao hơn Hầu Cape lớn chậm nên tạo thành chùm, đám nhỏ hơn 45

1.1.1.4 Hầu California (Tên tiếng Anh Olympia oyster)

Tên khoa học Ostrea lurida, là một loài hầu đặc trưng của địa phương, phân bố từ

Alaska xuống đến Baja, California nhưng tập trung nhiều nhất tại Oregon và Washington

Do khai thác quá mức và ngộ độc do môi sinh bị ô nhiễm nên loài này gần như bị tuyệt chủng vào năm 1950 Sau đó nhờ các chương trình tái tạo môi sinh nên số lượng hầu này

dần dần phát triển trở lại Ostrea lurida tương đối nhỏ: từ 4 - 5 cm, vỏ thuôn tròn màu

xám đậm Thịt ngọt nhưng hơi chát, hiện được nuôi tại vùng Netarts Bay (Oregon), sản lượng hàng năm khoảng 500.000 con [45]

1.1.1.5 Hầu ống (Tên tiếng Anh: Pacific oyster, Pacific cupped oyster)

Tên khoa học Crassostrea gigas Đây là loài hầu lớn nhất, dài tối đa chừng 30 cm

(tuy có những mẫu đặc biệt dài đến 40 cm), trung bình 8 - 15cm Trong thiên nhiên hầu Pacific có vò dạng thuôn dài, không đều, màu trắng nhạt có nhiều vệt và đốm tím Vỏ bên trong màu trắng Phân bố khá rộng từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Siberia, Úc, Mỹ và Canada… Giống từ Nhật Bản được du nhập đưa đến vùng ven biển Hoa Kỳ từ 1919, được nuôi từ Alaska xuống đến Baja California Tại Châu Âu: Hầu Pacific được đưa về nuôi trong vùng biển từ phía nam Bán đảo Anh đến Bồ Đào Nha Hầu Pacific thay đổi giới tính rất

Trang 13

bất thường và tuỳ mùa Sinh sản tuỳ nhiệt độ của nước biển: mỗi lần đẻ từ 50 đến 100 triệu trứng

Hầu Pacific là loài hầu được nuôi rất nhiều tại Hoa Kỳ và hầu nuôi có hình dạng thay đổi tuỳ theo địa phương sản xuất: hầu tại Samish Bay có vỏ to, hình quạt; tại Hood canal nhỏ hơn và thuôn hơn; tại Puget Sound hầu to nhất, thịt dầy và dai rất được ưa chuộng tại Hồng Kông và các thị trường Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc Hầu Pacific thịt đậm và ngọt, giống Puget Sound và Willapa có thêm vị của các loài rong biển mà chúng dùng lảm thực phẩm Đây là loài hầu được tiêu thụ nhiều nhất tại Hoa Kỳ Sản lượng đánh bắt lên đến 32.000 tấn (năm 2006): Hàn Quốc chiếm 11.000 tấn, Hoa Kỳ 600 tấn Sản lượng nuôi trên toàn thế giới khoảng 4.800 tấn

Tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, Pacific hầu được nuôi và sinh sản rất mạnh dọc bờ biển Tiểu bang Washington, nhất là trong vùng Vịnh Quilcene và Dabob Hai công ty nuôi hầu lớn nhất thế giới: Coast Seafoods và Taylor United đều có những trại nuôi trong vùng này Họ nuôi ấu trùng trong phòng thí nghiệm và sau đó chuyển sang các trại rộng hàng ngàn acres tại vùng thủy triều lên xuống, sản xuất mỗi năm hàng triệu con hầu Riêng Công ty Delia's Broadspit, chỉ nuôi đặc biệt một số hầu tại vài địa điểm trong vùng nước chọn lọc rất trong sạch, tạo một giống hầu thượng hạng, thịt rất ngon, thơm và ngọt khi ăn sống…[45]

1.1.1.6 Hầu kumamoto (Tên tiếng Anh: Kumos oyster)

Tên khoa học Crassostrea sikamea Loại hầu này được xem là ngon nhất trên thị

trường ẩm thực Hầu có nguồn gốc tại Vịnh Ariake (Kumamoto) trong vùng phía Nam của đảo Kyushu (Nhật) Loài này không mấy được ưa chuộng tại bản xứ vì tương đối nhỏ,

người Nhật thích loài C gigas to hơn

Hầu kumamoto từ năm 1989 được xem như bị tuyệt chủng tại nơi chúng xuất phát, hiện nay những chủng nguyên giống chỉ còn tìm thấy tại Hoa Kỳ trong các vùng Vịnh Tomales, Puget Sound Hầu Kumamoto có vị ngọt, thơm ngon hơn các loài hầu khác, thịt dai và chắc quanh năm, ăn tươi rất ngon, giá tương đối đắt (1 con khoảng 4 - 5 USD) Sản lượng năm 1997 khoảng 3 triệu con [45]

Trang 14

1.1.1.7 Hầu Slipper cupped (Hiutre creuse Chausson)

Tên khoa học Crassostrea iredalei Đây là loài hầu chỉ gặp tại quần đảo

Philippines và ven biển Malaysia Lớn chừng 15 cm, trung bình 8 cm, vỏ hình dạng thay đổi từ bầu dục đến thuôn hay gần như tam giác, màu xám nhạt hay trắng bẩn Thịt màu kem nhạt, vị ngọt Loài này có thể sống bám vào các vật cứng nơi cửa sông nước lợ Đây

là loài hầu thương mại quan trọng của Philippines, được nuôi tại nhiều nơi, sản lượng chừng 16.000 tấn (năm 2006) [45]

1.1.1.8 Hầu Châu Á

Tại Châu Á cũng có một số loài hầu đáng chú ý Riêng tại Việt Nam và Trung

Quốc loài thông dụng nhất là Ostrea rivularis (Hầu cửa sông tại Việt Nam; Mẫu hệ tại Trung Quốc) O rivularis có kích thước khoảng 15 - 25 cm, dạng thuôn dài hay tam giác

Mặt ngoài của vò màu vảng đậm, có nhiều lớp vân cong xếp như ngói lợp mái Mặt trong của vò màu trắng, vàng nhạt, óng ánh Thịt mềm, ngọt, màu trắng hồng Tại Việt Nam, Hầu sông phân bố tại các vùng duyên hải miền Bắc như Quảng Ninh, Thanh Hóa trong vùng nước lợ cửa sông, bám vào các rạng đá ngẩm, dải san hô 45

1.1.2 Sản lượng hầu thế giới và tình hình xuất nhập khẩu hầu

1.1.2.1 Các loài hầu nuôi chính trên thế giới

Có tới 12 loài hầu khác nhau được nuôi ở khắp các châu lục, nhưng chỉ có 4 -5 loài

có sản lượng cao [23]

Bảng 1.1: Các loài hầu nuôi chính và sản lượng

Hầu lớn Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) 3.600

Trang 15

Như vậy, có thể thấy ngay được rằng hầu nuôi hiện nay chỉ tập trung chủ yếu vào loài hầu lớn Thái Bình Dương, với sản lượng cao chiếm tỷ lệ 98% sản lượng hầu nói chung

Tuy có nguồn gốc ở vùng Tây – Bắc Thái Bình Dương nhưng đến nay hầu lớn Thái Bình Dương đã được nuôi nhân tạo ở khoảng 30 nước trên thế giới và cho sản lượng qua các năm như sau: [23]

Bảng 1.2: Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương qua các năm

Năm Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương

Tuy hầu lớn Thái Bình Dương có sản lượng lớn như vậy nhưng về giá trị lại không cao Giá trung bình của hầu lớn Thái Bình Dương chỉ có 0,95 đôla/kg (cả vỏ), trong khi

đó hầu Châu Âu (Ostaea edulis) có giá 4,5 đôla/kg và hầu Úc giá là 3,1 đôla/kg [23]

1.1.2.2 Sản lượng hầu thế giới

Hầu phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Mặc dù hầu có khả năng thích nghi với điều kiện nuôi nhưng nghề nuôi hầu chỉ phát triển ở vài quốc gia vùng nhiệt đới Sản lượng hầu thu được chủ yếu là khai thác từ tự nhiên Các loài hầu hiện nay

Trang 16

được nuôi và khai thác bao gồm ba giống chính: Ostrea, Crassostrea, Saccostrea Sản lượng hầu chủ yếu thu được từ nhóm Crassostrea

Bảng 1.3: Sản lượng hầu thu được ở các quốc gia từ 1978 – 1983

Mexico Ostrea sp

Crassostrea virginica

1.740 33.591

2.495 36.059

2.606 41.303

4.244 37.706

4.509 30.397

3.294 32.723

Sản phẩm hầu tăng nhanh từ 420.000 tấn năm 1950 lên 4.300.000 tấn năm 2000

Sự tăng lên này chủ yếu là do tăng sản lượng nuôi trồng với sự tăng trưởng từ 572.000 tấn năm 1970 lên 4 triệu tấn năm 2000 93,2% tổng sản lượng hầu là từ nuôi trồng Năm

2000, hầu Pacific (Crassostrea gigas) là đối tượng nuôi chính với sản lượng trên 3,9 triệu tấn, tiếp theo là hầu muỗng (Crassostrea spp.) 25.400 tấn, hầu Mỹ (Crassostrea

virginica) 15.000 tấn, (Crassostrea iredalei) 14.000 tấn, hầu Châu Âu (Ostrea edulis)

5.900 tấn và hầu Sydney (Saccostrea commercialis) 5.600 tấn Năm 2000, sản lượng hầu

Mỹ giảm mạnh từ 57.500 tấn năm 1999 còn 15.000 tấn [18]

Xuất khẩu hầu thế giới tăng từ 12.400 tấn, giá trị 32,6 triệu đôla năm 1976 lên 47.500 tấn, giá trị 196,8 triệu tấn năm 2000 64,4% tổng sản phẩm hầu xuất khẩu ở dạng tươi sống, ướp lạnh và 22,3% dạng đông lạnh, 11,5% dạng đồ hộp

Trang 17

Hàn Quốc là nước dẫn đầu về xuất khẩu hầu với 46,9% tổng sản lượng và 65,8% tổng giá trị xuất khẩu hầu năm 2000 44% hầu xuất khẩu ở dạng đông lạnh, 29,8% dạng tươi sống, ướp lạnh, 24,5% dạng đóng hộp và 3,2% dạng khô Các nước xuất khẩu chính năm 2000 là Pháp (5.300 tấn; 13,9 triệu đôla), Trung Quốc (6.500 tấn; 10,4 triệu đôla), Canada (2.300 tấn; 7,9 triệu đôla), Mỹ (1.500 tấn; 7,3 triệu đôla), New Zealand (1.000 tấn; 4,4 triệu đôla) và Hà Lan (2.700 tấn; 4,3 triệu đôla) Xuất khẩu hầu của Mỹ đạt gần 1.800 tấn; 8,3 triệu đôla

Nhật Bản là nước dẫn đầu về nhập khẩu hầu với sản lượng hầu nhập tăng từ 5.000 tấn; 23,1 triệu đôla năm 1988 đến 15.900 tấn; 94 triệu đôla năm 2000 Tiếp theo là Mỹ (9.400 tấn; 42,5 triệu đôla), Trung Quốc và Hồng Kông (3.600 tấn; 19,8 triệu đôla), Italy (4.300 tấn; 7,5 triệu đôla), Bỉ (1.700 tấn; 5,1 triệu đôla), Singapore (900 tấn; 5 triệu đôla)

và Pháp (2.400 tấn; 4,0 triệu đôla) Hàn Quốc là nước cung cấp hầu chính cho thị trường Nhật Bản với 13.900 tấn, tiếp theo là Trung Quốc (560 tấn), New Zealand (200 tấn), Chile (140 tấn), và Mỹ (98 tấn) Các nước cung cấp chính cho thị trường Mỹ gồm Hàn Quốc (65,2%, 5.450 tấn), Canada (1.600 tấn) và Trung Quốc (1.010 tấn) Theo truyền

thống, hầu Atlantic (Crassostrea virginica), hầu Pacific (Crassostrea gigas), hầu dẹt (Ostrea edulis) được ưa chuộng hơn các loài khác Ở Châu Âu, đặc biệt là Pháp hầu được

xem là sản phẩm cao cấp, sử dụng chỉ vào dịp Lễ Giáng Sinh và năm mới Ở Pháp, Bỉ,

Thuỵ Sĩ hầu chủ yếu tiêu thụ ở nhà hàng và thành phố lớn Hầu Pacific (Crassostrea

gigas) là sản phẩm chính ở Châu Âu và Pháp là nước cung cấp chủ yếu với số lượng

khoảng 5.800 tấn Tiếp theo là Hà lan và Ireland Các nước nhập khẩu chính là Italy và Bỉ [18]

1.1.3 Đặc điểm sinh học của hầu

1.1.3.1 Đặc điểm phân bố

Hầu phân bố rộng trên toàn thế giới, nhưng đa số tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Vùng phân bố của các loài được trình bày theo bảng 1.4 [32]

Trang 18

Bảng 1.4: Vùng phân bố của các loài hầu trên thế giới

nhiên

O stentina Bồ Đào Nha và Angola

O folium Úc đến Malaysia; Morroco đến Gabon x

O megadon Vịnh California đến miền Nam Peru x

O nomades Nam Thái Bình Dương; Bắc Úc

O trapezina Bắc Úc

Crassostrea virginica Bờ biển từ Mexico đến Venezuela x

C rhizophorae Quần đảo Antiles, Tây Indies; Từ

Venezuela đến Brazil

C corteziensis Vịnh California đến Panama x x

C madrasensis Đông nam Ấn Độ đến ven biển Nam

Trung Hoa

x

Saccostrea cucultata Vùng Ấn Độ Tây Thái Bình Dương x x

S commercialis Phía nam nước Úc đến Thái Lan x

Trang 19

S lugubris Nam Trung Hoa đến New Guinea x

S echinata Philippines, Indonesia, các đảo Tây

1.1.3.3 Thức ăn và phương thức bắt mồi

Thức ăn của ấu trùng bao gồm vi khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo Silic (Criptomonas,

Platymonas, Monas) hoặc trùng roi có kích thước 10 µm hoặc nhỏ hơn Ấu trùng cũng có

thể sử dụng vật chất hòa tan trong nước và những hạt vật chất hữu cơ Giai đoạn trưởng thành thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ Các loài tảo thường gặp là

tảo silic như: Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula…

Phương thức bắt mồi của hầu là thụ động theo hình thức lọc Hầu bắt mồi trong quá trình hô hấp nhờ vào cấu tạo đặc biệt của mang Khi hô hấp nước có thức ăn đi qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ dính vào các tiêm mao trên bờ mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao Hạt thức ăn kích thước nhỏ sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên sau đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài Mặc dù hầu bắt mồi thụ động nhưng với cách bắt mồi này chúng có thể chọn lọc theo kích thước của hạt thức ăn Quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: lần thứ nhất xảy ra trên bề mặt mang; lần thứ

Trang 20

hai xảy ra trên mương vận chuyển; lần thứ ba xảy ra trên xúc biện; lần thứ tư xảy ra tại manh nang chọn lọc thức ăn Thức ăn sau khi được chọn lọc bởi manh nang chọn lọc được đưa trở lại dạ dày để tiêu hóa Tại dạ dày thức ăn bị tiêu hóa một phần bởi các men Amylase, Bylyrase, Glycogenase và Rennet do mang tinh cá tiết ra Sau đó thức ăn được chuyển đến manh tiêu hóa, tại đây thức ăn tiếp tục được tiêu hóa bởi cá men Amylase, Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protase Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn [31]

1.1.3.4 Đặc điểm sinh trưởng

Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của hầu Ở vùng nhiệt đới có nhiệt độ ấm áp nên tốc độ sinh trưởng của hầu rất nhanh và quá trình sinh trưởng diễn ra quanh năm Ở vùng ôn đới hầu có sinh trưởng thì chỉ diễn ra trong mùa xuân - hè và mùa thu – đông hoặc gần như không sinh trưởng Sự sinh trưởng của hầu khác nhau tùy theo loài và vùng phân bố do điều kiện môi trường nước của từng vùng khác nhau và do đặc tính riêng của từng loài Một đặc điểm nổi bật của hầu vùng nhiệt đới

là sinh trưởng rất nhanh trong 6 – 12 tháng đầu tiên sau đó chậm dần [46]

1.1.3.5 Đặc điểm sinh sản

- Giới tính: có hiện tượng thay đổi giới tính ở hầu Trên cùng cơ thể có lúc mang tính đực, có lúc mang tính cái và cũng có khi lưỡng tính Tỷ lệ lưỡng tính trong quần thể thường thấp

- Phương thức sinh sản: tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau Nhóm Crassostrea và Saccostrea thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước, quá trình thụ tinh

và phát triển ấu trùng diễn ra trong nước Đối với nhóm Ostrea thì quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra bên trong xoang màng áo của cá thể mẹ đến giai đoạn diện bàn hoặc muộn hơn mới ra khỏi cơ thể mẹ

- Mùa vụ sinh sản: ở vùng nhiệt đới sau một năm đã thành thục và tham gia sinh sản Mùa vụ sinh sản xảy ra quanh năm nhưng tập trung từ tháng 4 – tháng 6 Mùa vụ sinh sản ở vùng nhiệt đới thường ít tập trung và kéo dài hơn so với vùng ôn đới Tác nhân

Trang 21

chính kích thích đến quá trình thành thục và sinh sản của hầu là nhiệt độ, nồng độ muối và thức ăn có trong môi trường

1.1.3.6 Địch hại và khả năng tự bảo vệ

Địch hại của hầu bao gồm cả yếu tố vô sinh (độ mặn, nhiễm bẩn, độc tố, lũ lụt…)

và yếu tố hữu sinh bao gồm các sinh vật cạnh tranh vật bám (Balanus, Anomia…), sinh vật ăn thịt (Rapana, Thais, sao biển…), sinh vật đục khoét (Teredo, Bankia…), sinh vật

ký sinh (Myticola, Polydora…) và các loài tảo gây nên hiện tượng triểu đỏ (Ceratium,

Peridium…)

Hầu có khả năng tự bảo vệ nhờ vào vỏ, khi gặp kẻ thù chúng khép vỏ lại Ngoài ra chúng còn có khả năng chống lại các dị vật (cát, sỏi), khi dị vật rơi vào cơ thể màng áo sẽ tiết ra chất xà cừ bao lấy dị vật [9]

1.1.4 Kỹ thuật nuôi hầu

1.1.4.1 Chọn bãi nuôi

Khi chọn bãi nuôi hầu cần chú ý đến một số vấn đề sau:

- Độ sâu và đặc điểm nền đáy

- Các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp cho hầu, đặc biệt là độ mặn,

độ trong… không bị nhiễm bẩn, không có nước ngọt đổ ra trực tiếp

- Dòng chảy và độ cao của thủy triều

- Nguồn nước có đầy đủ thức ăn

Trang 22

+ Xác định tỷ lệ thành thục: định kỳ theo dõi tỷ lệ thành thục của bố mẹ bằng cách quan sát tế bào sinh dục của hầu bố mẹ Khi thành thục sinh dục, trứng có hình bầu dục hay hình quả lê, các hạt trứng tách rời, tinh trùng bắt đầu cử động khi cho vào nước Xác định tỷ lệ thành thục chúng ta có thể dự đoán được mùa vụ sinh sản của bố mẹ Cách này không xác định chính xác thời gian lấy giống nên phải kết hợp với phương pháp theo dõi thành phần số lượng của ấu trùng phù du

+ Theo dõi thành phần và số lượng của ấu trùng phù du: trong mùa sinh sản của hầu, chúng ta phải thường xuyên theo dõi thành phần (tỷ lệ các giai đoạn phát triển) của

ấu trùng phù du trên bãi Khi biết được thành phần của ấu trùng ta sẽ biết được chính xác thời gian lấy giống Đồng thời với việc xác định thành phần chúng ta cần định lượng ấu trùng có trong môi trường để có thể xác định thời gian cần thiết để lấy giống

- Giống nhân tạo:

Sản xuất giống có thể xem là một giải pháp hoàn hảo để cung cấp giống một cách chủ động, nhưng đòi hỏi phải đầu tư rất lớn về phương tiện, nhân lực Ở Bắc Mỹ và Châu

Âu chỉ có vài trại kinh doanh sản xuất giống là có thể tồn tại (sản xuất có hiệu quả) trong

số rất nhiều trại Tất cả các trại giống đang hoạt động đều sản xuất giống các loài ôn đới Điều khiển quá trình sinh sản của các loài vùng nhiệt đới không dễ giàng như các loài vùng ôn đới Điều kiện cần thiết cho sinh sản là nhiệt độ, ở những thủy vực ôn đới mùa vụ sinh sản phụ thuộc sự gia tăng nhiệt độ vào mùa xuân, cực điểm của sự chín của tuyến sinh dục khi nhiệt độ nước đạt mức ngưỡng sinh sản Nhiệt độ thích hợp cũng cần cho sự phát triển của ấu trùng Riêng nhiệt độ ở vùng Đông Nam Á thì thường không phải là yếu

tố kích thích sinh sản, nhưng sự tăng của nhiệt độ (trong khoảng thích hợp) thì tuyến sinh dục sẽ chín Chính vì thế tăng nhiệt độ là một biện pháp kích thích sinh sản trong sản xuất giống nhân tạo

Sự kích thích sinh sản nhân tạo được thực hiện ở phòng thí nghiệm hoặc trại giống nơi có thể điều khiển chính xác các kích thích sinh sản như nhiệt độ hay hóa chất Kích thích nhiệt bằng cách nâng nhiệt độ lên từ 3 – 50C so với nhiệt độ nuôi Có thể kích thích sinh sản bằng những hóa chất khác nhau như Ammonium hydroxide (NH4OH), serotonin (5-HT)… hoặc những chất trích từ sản phẩm sinh dục Việc dùng serotonin trong các trại

Trang 23

giống gần đây cho thấy có hiệu quả cao hơn các hóa chất khác Những kích thích tố từ sản phẩm sinh dục không chỉ có tác dụng đối với một loài mà còn có tác dụng với nhiều loài thân mềm khác Chất tiết từ sản phẩm sinh dục sẽ kích thích động vật thân mềm sinh sản khi chúng hấp thu được trong quá trình bắt mồi Khi một vài cá thể sinh sản, sản phẩm sinh dục của chúng sẽ kích thích các cá thể khác trong quần thể sinh sản một cách đồng loạt Cách này đã được ứng dụng để kích thích sinh sản nhân tạo hầu trên một diện tích rộng lớn

Ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ là nhân tố tương đối ổn định, trong khi độ mặn biến động cao Sự biến động độ mặn được xem là nhân tố kích thích sinh sản của các loài thân mềm nhiệt đới Cho nên thay đổi độ mặn cũng kích thích một số loài động vật thân mềm nhiệt đới sinh sản

Sau khi bố mẹ sinh sản, vớt bố mẹ ra khỏi bể và chuyển trứng và tinh trùng sang bể thụ tinh (nếu cho cả thể đực và cái sinh sản riêng), hoặc chuyển trực tiếp sang bể ương ấu trùng Môi trường bể ương cần duy trì nhiệt độ từ 25 – 280C, độ mặn thì tùy theo loài mà chúng ta duy trì ở mức thích hợp và pH là 7,5 Khi ấu trùng phù du chữ D xuất hiện cần cung cấp tảo để làm thức ăn cho ấu trùng và thay nước hàng ngày Đến giai đoạn ấu trùng bám cần phải cung cấp giá thể cho ấu trùng Giá thể có thể là vỏ động vật thân mềm, lưới, khay…kích thước khoảng 2 – 4 mm Sau khi ấu trùng đã bám thì chuyển sang bể ương lớn hơn [11]

1.1.4.3 Lấy giống và nuôi lớn

Hầu là loài sống bám nên giá thể thì rất cần thiết trong suốt quá trình sống của chúng Trong tự nhiên ấu trùng bám vào các loại giá thể khác nhau như vỏ động vật thân mềm, đá, cọc… Tuy nhiên, khi không có giá thể cứng chúng cũng có thể bám vào rong biển Giá thể thích hợp là những giá thể có chứa calci như vỏ động vật thân mềm hoặc đá vôi

Vật liệu làm giá thể cho các loài sống bám như hầu thường là vỏ của động vật thân mềm, ngoài ra có thể dùng dây thừng, tre, ống nhựa, gỗ hoặc sọ dừa và các loại vật liệu khác Sự lựa chọn giá thể tùy theo hình thức và quy mô nuôi Giá thể dùng để nuôi treo

Trang 24

(bè, giàn) thì thường lớn và bền hơn giá thể dùng nuôi đáy Giá thể thích hợp thì phải đạt được một số tiêu chuẩn sau:

+ Giá rẻ và có thể cung cấp với số lượng lớn

+ Rắn, hơi nhám, bề mặt sạch (màu sắc không quan trọng)

+ Khối lượng riêng vừa phải đảm bảo không quá nặng khi treo nhưng cũng phải đủ nặng để không bị nổi

+ Dễ dàng vận chuyển

+ Diện tích bề mặt lớn nhất trên cùng một đơn vị thể tích

+ Dòng nước phải chảy qua toàn bộ bề mặt của giá thể và đường kính của cọc phải

đủ lớn cho sinh trưởng của ấu trùng đến khi đạt cỡ thu hoạch

+ Thích hợp cho cả nuôi treo hoặc nuôi đáy

+ Ít tích tụ bùn trên mặt giá thể

Lấy giống là một giai đoạn quan trọng nhưng nó chỉ là một giai đoạn ngắn trong quá trình nuôi Vì vậy tùy điều kiện cụ thể mà chọn giá thể sao cho thu được nhiều ấu trùng nhất nhưng chi phí thấp nhất

Có một số phương pháp lấy giống và nuôi lớn sau:

- Nuôi đáy: giá thể thường dùng trong phương pháp nuôi đáy là đá, sỏi, vỏ động vật thân mềm… Giá thể được rải xuống nền đáy ở vùng triều hoặc dưới triều Cách nuôi này được áp dụng ở những nơi có nền đáy cứng, ít phù sa hay xác mùn bã hữu cơ

- Phương pháp nuôi que, cọc: thường dùng các giá thể là cọc tre, gỗ hay bê tông… phương pháp này áp dụng ở những nơi có nền đáy mềm, có nhiều phù sa và xác bã hữu

Trang 25

1.1.5 Quản lý, chăm sóc

Quá trình quản lý, chăm sóc bao gồm san thưa và phòng trừ địch hại cho hầu Trong quá trình nuôi thì hầu lớn lên dần chúng ta phải san thưa bằng cách làm thưa các chuỗi giá thể để đảm bảo điều kiện thức ăn cho hầu Trong điều kiện môi trường bất lợi chùng ta phải có biện pháp đề phòng hay di dời hầu đến bãi khác Chú ý tiêu diệt các sinh vật địch hại của hầu Các sinh vật địch hại của hầu bao gồm:

- Sinh vật bám: sinh vật bám có thể làm chết hầu đặc biệt là giai đoạn giống, chúng cũng

làm giảm sinh trưởng và cạnh tranh giá thể với hầu làm giảm hiệu quả lấy giống Sinh vật bám thường ít gây hại đối với hệ thống nuôi ở vùng triều nhưng sẽ gây hại đối với hệ thống nuôi ở vùng dưới triều Sinh vật bám cũng ít gây hại ở vùng có nồng độ muối dao động lớn bởi vì chúng là những sinh vật hẹp muối Các sinh vật bám bao gồm: Hải miên

(Cliona), Ruột khoang, Thủy tức (Obelia), Giun ống (Polydora), Sun (Balanus), Vẹm (Mytilus, Perna), động vật có đuôi sống (Halocynthia), rong (Ulva, Enteromorpha,

Laminaria) và vi khuẩn Có thể khống chế các sinh vật bám bằng các biện pháp vật lý,

hóa học và sinh học Phương pháp vật lý hiệu quả nhất là phơi các sinh vật dưới ánh nắng mặt trời Biện pháp hóa học là sử dụng một số hóa chất như Sulphat đồng 1 - 2% trong 1 giờ, tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều công sức và đắt tiền Khi áp dụng biện pháp sinh học chúng ta cần hiểu rõ chu kỳ sống, đặc điểm sinh thái, đặc biệt là mùa sinh sản của các sinh vật bám Khi biết được các đặc điểm trên chúng ta có thể chủ động lấy giống trành những thời điễm xuất hiện nhiều sinh vật bám

- Ký sinh trùng: bao gồm các nguyên sinh động vật (Mastigophora, Sarcodina), bào tử

trùng (Telasporea, Nematopsis), nhóm bào tử đơn bội (Minchinia nelsoni, Minchinia costalis), nhóm tiểu bào tử (Chytridiopsis mytilovum), trùng tơ (Ancistrum), vi khuẩn Vibrio,Virus, nấm (Perkinsus), bọt biển (Cliona), giun dẹp (Stylochus, Pseudostylochus), sán lá (Busephalus, Gymnophallus), sán dây (Echeneibothrium, Tylocephalum), giun tròn (Echinocephalus), giun đốt (Polydora), động vật thân mềm (Odostomia), giáp xác (Mytilicola, Myicola, Ostrincola)

Trang 26

- Sinh vật ăn thịt: bao gồm ốc (Tritonidae, Naticidae), cua , sao biển Đối với nhóm này

các phòng trừ chủ yếu là nhặt bằng tay khi triều xuống hoặc dùng bẫy và áp dụng biện pháp nuôi giàn, bè để hạn chế địch hại từ đáy [12]

1.1.6 Thu hoạch

Sau một năm nuôi thì có thể thu hoạch Mùa vụ thu hoạch hầu có liên quan đến chất lượng sản phẩm Thường vào mùa sinh sản khi tuyến sinh dục của hầu phát thành thục thì chất lượng thịt cao nhất, lúc đó hàm lượng đạm cao và hàm lượng nước trong thịt thấp Do đó đối với hầu thì mùa vụ khai thác tốt nhất là vào mùa sinh sản Tuy nhiên, nếu thu hoạch vào mùa sinh sản cần chú ý đến vấn đề bảo vệ nguồn lợi Nên chọn giải pháp bảo vệ nguồn lợi thích hợp như: phân vùng khai thác, quy định kích cỡ khai thác phải lớn hơn kích cỡ các thể có khả năng tham gia sinh sản lần đầu hay hay giới hạn sản lượng thu hoạch sao cho trên bãi vẫn còn đủ số lượng hầu bố mẹ sinh sản nhằm phục hồi quần thể [12]

1.2 Tình hình nghiên cứu hầu trong nước

1.2.1 Định loại loài hầu phân bố ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Theo tài liệu phân loại của Hylleberg & Richard N Kilburn (2003) thì hầu phân bố

ở xã Long Sơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là loài Crassostrea belcheri Sowerby, 1871 [35]

Tên tiếng Việt: + Ở miền Bắc gọi là hầu

+ Ở miền Nam gọi là hào, hàu

Tên tiếng Anh: white-scar oyster

1.2.2 Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu

1.2.2.1 Đặc điểm hình thái

- Đặc điểm cấu tạo ngoài

Hầu Crassostrea belcheri Sowerby, 1871 là loại thân mềm hai mảnh vỏ có kích

thước lớn, vỏ dày, chắc chắn, cá thể lớn vỏ dài trên 30 cm Tỷ lệ của vỏ thường không ổn định vì kích thước của vỏ thay đổi rất lớn, vỏ thường có dạng hình tam giác Vỏ trái lõm sâu, vỏ phải nhỏ hơn và tương đối bằng phẳng Mặt ngoài của vỏ có các gờ sinh trưởng phát triển lồi lên thành dạng sóng, màu nâu tím Mặt trong của vỏ trái lõm sâu, màu trắng

Trang 27

sứ, mép vỏ màu tím xám, vết cơ khép vỏ rất lớn, phần lớn có hình trứng hoặc hình bầu dục, màu nâu vàng, nằm ở giữa vỏ, lệch về phía lưng [18]

- Màng áo: gồm một đôi ở hai bên phải và trái, đối xứng nhau, bao bọc toàn bộ khối nội tạng của hầu Màng áo được cấu tạo từ tế bào thượng bì bên ngoài, tế bào thượng bì bên trong và mô liên kết giữa [18]

+ Cơ khép vỏ: hầu ở giai đoạn ấu trùng có hai cơ khép vỏ trước và sau, nhưng từ giai đoạn sống bám trở đi cơ khép vỏ trước thoái hoá và tiêu biến dần, chỉ còn cơ khép vỏ sau phát triển [18]

- Đặc điểm cấu tạo trong

+ Mang: mang đảm nhận chức năng hô hấp và chức năng lọc, vận chuyển thức ăn Gồm 2 đôi mang phải và trái đối xứng nhau và được bao bọc bởi lớp màng áo Hai tấm mang ở phía ngoài bên phải và trái hơi hẹp gọi là tấm mang ngoài, hai tấm mang ở phía trong rộng hơn gọi là tấm mang trong Mỗi một tấm mang đều có một lớp trên và một lớp dưới Lớp mang trên và lớp mang dưới dính liền với nhau ở mép trước tạo nên mương làm nhiệm vụ vận chuyển thức ăn [18]

+ Xúc biện: nằm ở phía trước của mang, gồm 2 đôi, đối xứng hai bên phải và trái, phần gốc liền nhau Hai xúc biện nằm ở 2 phía phải và trái ở bên ngoài gọi là xúc biện ngoài, 2 xúc biện nằm ở trong gọi là xúc biện trong Một mặt của xúc biện có nhiều nếp gấp, mặt còn lại có các tiêm mao tương đối dài Phía lưng của các xúc biện tương đối nhẵn và có các tiêm mao nhỏ [18]

+ Miệng: miệng của hầu là một khe nằm ngang ở giữa các xúc biện

+ Thực quản: ở hầu thực quản ngắn và dẹp theo hướng lưng bụng, bên trong có các tiêm mao

+ Dạ dày: là một túi không có hình dạng nhất định Bao gồm các manh nang: manh nang chọn lọc thức ăn, 2 manh nang tiêu hóa và manh nang hạ vị bên trong có nang tinh cá Manh nang tiêu hoá và nang tinh cá tiết ra men tiêu hoá để tiêu hóa thức ăn Trong dạ dày còn có phiến vách dạ dày

Trang 28

+ Ruột: chính giữa ruột có một sống ruột lớn, giữa sống ruột lõm xuống tạo thành đường rãnh Ruột được cấu tạo từ các tế bào thượng bì có tiêm mao Ở giữa và xung quanh các tế bào thượng bì này có nhiều tế bào thực bào

+ Hậu môn: có kích thước rất nhỏ, nằm ở phía sau lưng của cơ khép vỏ

+ Tuyến sinh dục: trong mùa sinh sản, tuyến sinh dục của hầu phát triển mạnh, bao quanh nang nội tạng Ở con cái tuyến sinh dục có màu trắng sữa, ở con đực có màu trắng đục Tuyến sinh dục ở hai bên phải và trái tạo thành một đôi, ở vị trí gần cơ khép vỏ, tuyến sinh dục có xu thế nhập làm một, bề mặt ngoài của tuyến sinh dục có lớp mô liên kết dạng lưới Phía bên ngoài của dạ dày là vùng chủ yếu của tuyến sinh dục [18]

1.2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Ở giai đoạn ấu trùng hầu sống phù du Ấu trùng hầu có khả năng bơi lội nhờ hoạt động của vành tiêm mao hay đĩa bơi Ở giai đoạn trưởng thành hầu sống bám cố định trên các giá thể trong suốt đời sống của chúng [18]

Thức ăn của ấu trùng bao gồm các loại sau: vi khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo silic, trùng roi (10 µm hoặc nhỏ hơn) Ấu trùng có thể sử dụng vật chất hoà tan trong nước và những hạt vật chất hữu cơ [18]

Thức ăn của hầu trưởng thành bao gồm các loại sau: thực vật phù du, mùn bã hữu

cơ, tảo (Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula, Nitzschia,

Thalassiothrix, Thalassionema )

Hầu bắt mồi thụ động theo hình thức lọc trong quá trình hô hấp nhờ cấu tạo đoặc biệt của mang Khi hô hấp, nước có mang thức ăn đi qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ dính vào tiêm mao trên bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao Hạt thức ăn kích thước thích hợp (nhỏ) sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên sau đó chuyển dần về phía miệng Các hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn khỏi bề mặt mang, tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài [18]

Như vậy quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần: trên bề mặt mang, trên mương vận chuyển, trên xúc biện, trên mang nang chọc lọc thức ăn Sau đó thức ăn đựơc đưa vào

Trang 29

dạ dày để tiêu hoá nhờ các men Amylase, Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protease Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn

Cường độ bắt mồi phụ thuộc: thủy triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường: nhiệt độ, độ mặn Khi triều lên, cường độ bắt mồi tăng; triều xuống cường độ bắt mồi giảm Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp; ít thức ăn thì cường

độ bắt mồi cao Khi yếu tố môi trường: nhiệt độ, độ mặn trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao; khi không thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp [18]

1.2.2.3 Đặc điểm sinh sản

- Giới tính của hầu

Giới tính của hầu Crassostrea belcheri có 3 dạng:

Cá thể đực: Tuyến sinh dục chỉ chứa các tinh tử

Cá thể cái: Tuyến sinh dục chỉ chứa trứng

Cá thể lưỡng tính : Trong tuyến sinh dục có chứa cả tinh tử lẫn trứng

- Các giai đoạn của tuyến sinh dục

Quá trình phát triển tuyến sinh dục của hầu Crassostrea belcheri chia thành 5 giai

đoạn, được mô tả như sau:

+ Giai đoạn I: Tuyến sinh dục không màu sắc, chưa xuất hiện tế bào sinh sản

Tuyến sinh dục gồm có các mô liên kết, các chất cần thiết cho quá trình tạo trứng và tinh trùng Giai đoạn này chưa phân biệt được cá thể đực và cái

+ Giai đoạn II: Tuyến sinh dục có màu trắng nhạt, con cái bắt đầu xuất hiện tế bào

sinh trứng, con đực bắt đầu xuất hiện tế bào sinh tinh Buồng trứng hầu xuất hiện các túi chứa trứng và noãn nguyên bào Các tế bào sinh tinh trong tuyến sinh dục đực sắp xếp rời rạc Giai đoạn này vẫn còn rất khó để phân biệt đực cái bằng mắt thường

+ Giai đoạn III: Tuyến sinh dục cái xuất hiện màu trắng sữa rõ rệt Các tế bào

sinh trứng bắt đầu rời khỏi túi chứa trứng, song vẫn còn có hình đa diện méo mó, đang trong thời kỳ tích luỹ chất dinh dưỡng Một số tế bào trứng khác vẫn còn dính trên vách của túi trứng và tiếp tục phát triển

Trang 30

Tuyến sinh dục đực có màu trắng đục Tinh trùng tập trung thành đám dày đặc nhưng vẫn nằm trong túi tinh, chưa thoát ra ngoài

+ Giai đoạn IV: Tuyến sinh dục đực và cái căng phồng đạt kích thước cực đại

Dùng mũi dao chích nhẹ vào tuyến sinh dục trứng và tinh dịch sẽ thoát ra ngoài Túi tinh chứa các bó nang và tinh trùng hoạt động tự do Buồng trứng có nhiều bào nang và chứa nhiều trứng thành thục, hình bầu dục, quả lê, nhân to, đạt kích thước tối đa

+ Giai đoạn V: Đây là giai đoạn hầu vừa đẻ xong, tuyến sinh dục bắt đầu co lại,

teo tóp Màu sắc buồng trứng nhợt nhạt, loang lổ Quan sát kỹ buồng trứng và túi tinh ta thấy, vẫn còn sót lại những tế bào trứng và tinh trùng kích thước lớn bé không đều Điều

đó chứng tỏ hầu C belcheri sinh sản nhiều lần trong năm [18]

1.2.3 Các hình thức nuôi hầu

Nuôi hầu ở Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp nuôi đá, cọc tre, ngói mái là chính Ngày nay, phương pháp nuôi đã được cải tiến, từ công nghệ nuôi bãi, trở thành công nghệ nuôi giàn treo, nuôi bè, nuôi cọc xi măng là chính Sau đây là một số phương pháp nuôi hầu phổ biến tại Việt Nam [20]

- Nuôi hầu bằng đá vùng cửa sông: Phương pháp nuôi này phụ thuộc con giống

tự nhiên, chi phí xây dựng cơ bản thấp, chi phí sản xuất hạn chế, nhưng hiệu quả tương đối cao Có rất nhiều loại đá khác nhau để làm vật bám tùy thuộc vào từng địa phương như đá vôi làm vật bám rất tốt, đá cuội, đá san hô… Kích cỡ đá trung bình 2-4 kg/hòn và dao động từ 1-10 kg/hòn Đá được chuyên chở bằng thuyền hoặc ghe rải đều trên bãi có hầu giống xuất hiện Năng suất đạt 0,5-1,5 kg hầu nguyên con/hòn đá [8]

- Nuôi hầu bằng cọc: Nguyên vật liệu làm cọc chủ yếu đúc bằng xi măng, cọc gỗ,

cọc tràm, cọc tre… được cắm thành từng hàng vùng cửa sông hay trên vùng triều Cọc có chiều dài 2m (chiều dài hữu dụng khoảng 1 – 1,5m) Loại hình này nuôi chủ yếu ở vùng đầm phá thuộc khu vực miền Trung như đầm Lăng Cô - Thừa Thiên Huế, hay khu vực huyện Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh Năng suất nuôi khoảng 2-6 kg hầu nguyên con/cọc [8]

- Nuôi hầu bằng lốp cao su: Nguyên liệu làm vật bám cho hầu là các giá thể bằng

lốp ô tô, xe máy, xe đạp đã qua sử dụng, cho xuống các vùng ao đầm tự nhiên, khu vực đầm phá nơi có dòng nước thủy triều kém để thu giống tự nhiên và sử dụng nó làm giá thể

Trang 31

cho hầu nuôi lớn đến lúc đạt kích cỡ hầu thương phẩm Phương pháp nuôi này chủ yếu ở khu vực Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh, các đầm phá thuộc ven biển miền Trung [8]

- Nuôi hầu bằng giàn: Nguyên vật liệu làm giàn là các cọc hình trụ đúc xi măng

với chiều dài trung bình khoảng 1,2 - 1,8m, chiều rộng bề mặt khoảng 0,1m Trọng tâm của mỗi trụ có một thanh sắt và trên đầu mỗi trụ có lỗ để xâu dây treo vào giàn và các giàn treo được cấu tạo bởi các thanh gỗ cứng đóng thành giàn hình chữ nhật hay hình vuông với chiều dài mỗi giàn trung bình 6,5-7,5 m, giàn bé thường có kích cỡ 4-5 m và giàn lớn có chiều dài 9-10 m, chiều cao mỗi giàn khoảng 5-6 m được chôn sâu từ 1 -2 m (vì khu vực nuôi thường có nền đáy bùn) Mỗi giàn được đặt cách mặt nước 0,5 cm lúc triều xuống Do đó hầu nuôi luôn chìm sâu trong nước Lồng nhỏ treo từ 32 - 40 trụ xi măng, lồng lớn có thể treo khoảng 200 trụ Sản lượng nuôi khoảng 2 - 6 tấn hầu nguyên con/giàn Phương pháp nuôi này phổ biến ở đầm Lăng Cô – Tỉnh Thừa Thiên Huế [11]

- Nuôi hầu trong các lồng treo trên giàn: Cấu tạo giàn nuôi tương tự như giàn

nuôi trên các cọc đúc xi măng Hầu giống thu từ tự nhiên cho vào các lồng lưới có đường kính miệng lồng và đường kính đáy từ 0,4 – 0,5 m, chiều dài mỗi lồng khoảng 0,4m, kích

cỡ mắt lưới 2a = 2 cm Mỗi một lồng nuôi thả mật độ hầu giống trung bình khoảng 5 kg hầu, kích cỡ giống khoảng 3- 4 cm Sau thời gian nuôi khoảng 5 tháng đạt năng suất trung bình 15 kg hầu thương phẩm/lồng Như vậy là bằng phương pháp nuôi này chỉ sau 5 tháng nuôi hầu đạt sinh trưởng tăng gấp 3 lần Phương pháp nuôi này chủ yếu tập trung từ Thừa Thiên Huế trở vào đến TP Hồ Chí Minh, đặc biệt các vùng nuôi thuộc đầm Lăng Cô của Thừa Thiên Huế và Bà Rịa – Vũng Tàu [11]

1.2.4 Các công trình nghiên cứu về hầu

Có khoảng 21 loài hầu phân bố ở các vùng sông, ven biển, vùng đảo từ Bắc vào Nam Trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, kích thước

thương phẩm lớn như: C.rivularis, C.belcheri và C.gigas….[17]

Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, hầu cửa sông (C rivularis) là đối

tượng được nuôi đầu tiên ở Việt Nam dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Nhật Bản và Trung Quốc Chúng ta đã nghiên cứu nuôi thử nghiệm hầu cửa sông trên hệ thống sông Bạch Đằng - Quảng Ninh và đạt sản lượng 10 tấn/năm [3],[13]

Trang 32

Nguyễn Xuân Dục (1999) khi khảo sát sinh vật đáy ở vùng biển Cát Bà và Hạ Long đã xác định được 30 loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế, hầu hết các loài trên đều phân bố tập trung với mật độ cao, thuận lợi cho sự khai thác, trong đó hầu có 6 loài:

C rivularis Gould, O cucullata Born, O modax Gould, O denselamellosa Lischke, O glomerata Gould và O echinata Quay et Gaimard Chúng chủ yếu phân bố ở vùng triều,

chỉ có loài O denselamellosa là phân bố ở vùng trung triều và loài O echinata thì phân

bố ở cả hai vùng là vùng triều và vùng dưới triều [4]

Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản I đã tiến hành nghiên cứu sản xuất giống bằng phương pháp sinh sản nhân tạo và nuôi thử nghiệm hầu Thái Bình Dương ở một số khu vực thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng Kết quả đã sản suất thành công giống nhân tạo, đang triển khai nuôi thương phẩm [6]

Nghề nuôi hầu C lugubris thương phẩm ở đầm Lăng Cô-Thừa Thiên Huế đã phát triển

tự phát từ năm 1947 Đến năm 2001 số hộ tham gia nuôi là 103 hộ thuộc khu vực thôn Hói Mít, thôn Lập An, thôn Loan Lý, thôn An Cư Đông 2 và thôn An Cư Tây thuộc xã Hộc Hải, huyện Phú Lộc với diện tích và sản lượng tăng qua các năm:năm 1997, diện tích nuôi 100 m2, sản lượng 160 kg, đến năm 2001 diện tích nuôi 129.749 m2, sản lượng 171.285 kg [7]

Ở vùng Đầm Thị Nại, Trung Tâm Khuyến Ngư tỉnh Bình Định đã tiến hành nuôi nhằm khôi phục và phát triển nguồn lợi hầu muỗng bị cạn kiệt do khai thác quá mức Kết quả hầu nuôi sinh trưởng khá nhanh, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 11,4 g/tháng, tỷ lệ sống sau 4 tháng nuôi đạt 93% [15]

Tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, từ năm 1994-1995 ngư đân đã tiến hành nuôi hầu bằng dàn tre ở vùng cửa sông Rạng thuộc xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu Từ năm 1997 đã chuyển sang nuôi hầu bằng lồng khung sắt Đến năm 2000 Đã có nhiều hộ nuôi hầu, mỗi hộ thường nuôi từ 4 -10 lồng, cá biệt có hộ nuôi đến 20 lồng, kích thước lồng nuôi 2 x 4 x 0,8 m Trong lồng treo nhiều vật bám là những tấm Fibrocement, rộng 10-15 cm, dài 40 -50 cm, khoảng cách giữa hai dây vật bám là 20 cm, thời gian nuôi là 10-12 tháng, cỡ hầu thu hoạch khá lớn, đạt 4-6 con/kg, giá bán 8.000-10.000 đồng/kg, đã góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người nuôi Sản lượng nuôi ước đạtkhoảng 100-150 tấn/năm [20]

Trang 33

Ngày 17/05/2001, Hội đồng tư vấn nhiệm vụ khoa học công nghệ về lĩnh vực thuỷ sản thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước “Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phục vụ các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực” giai đoạn 2001-

2005 đã đặt vị trí trở lại cho nghề nuôi hầu và đề xuất nội dung nghiên cứu cụ thể là

“Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi hầu (hầu sông) thương phẩm“ [4]

Lê Minh Viễn (2004) đã tiến hành nghiên cứu và sản xuất thành công hầu giống bám

đơn (C belcheri) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo Hình thức này đã mang lại hiểu quả

kinh tế gấp nhiều lần so với hình thức nuôi hầu bằng phương pháp thu giống tự nhiên [24]

1.3 Một số khái niệm trong nghiên cứu

1.3.1 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là biểu hiện tính hiện hữu về mặt kinh tế của việc sử dụng các loại vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh Nó chia ra các quan hệ về lợi ích kinh tế thu được với các chi phí bằng tiền trong mỗi chu kỳ kinh doanh Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả kinh doanh ngày càng cao và ngược lại Hay nói cách khác, tiêu chí

về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị Có nghĩa là, khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi có hiệu quả và ngược lại sẽ không tăng hiệu quả [22]

1.3.2 Hiệu quả kỹ thuật

Với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây nhằm giúp cho nông hộ có cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật và học hỏi kỹ thuật nuôi từ các nhà khoa học, từ đó có thể áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, kết quả ứng dụng khoa học kỹ thuật này sẽ đạt được một số kết quả nhất định cho người nuôi cũng như toàn

bộ ngành thủy sản [22]

1.3.3 Hiệu quả xã hội

Trong những năm gần đây nghề nuôi trồng thủy sản phát triển cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người nuôi tham quan học hỏi kiến thức, cũng như được sự hỗ trợ của các ban ngành, các chương trình khuyến ngư, các phương tiện truyền thông (sách, báo, đài) tích cực đóng góp các công trình khoa học tạo điều kiện cho người nông dân nâng cao kiến thức, áp dụng khoa học tiên tiến vào thực tế góp phần phát triển kinh tế vùng nông

Trang 34

thôn, vùng sâu, vùng nước lợ Từ đó tạo điều kiện cho các Sở, ban ngành cải tạo và nâng cao các hệ thống kênh thủy lợi, đê bao và ngân hàng cũng góp phần cho vay vốn phục vụ sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả xã hội phục vụ cho sản xuất

Sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi hầu nói riêng không chỉ có nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhu cầu ngày càng tăng của con người mà còn cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng cho nền kinh tế, đồng thời góp phần cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống và tạo công ăn việc làm (tận dụng lao động gia đình, diện tích mặt nước có sẵn và lao động nhàn rỗi…), giảm sức ép về lực lượng lao động thất nghiệp, góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cải thiện mức sống cho nông hộ và góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tăng hiệu quả sử dụng các tiềm năng diện tích đất và nước [22]

Trang 35

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/04/2010 đến 31/12/2010

- Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đối tượng nghiên cứu: hầu Crassostrea belcheri Sowerby, 1871

Hình 2.1: Bản đồ vị trí triển khai đề tài 2.2 Phương pháp nghiên cứu

Hình 2 2: Nội dung nghiên cứu của đề tài

Hoạt động điều tra

Hiện trạng kỹ thuật

xã hội

Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi hầu

(Crassostrea belcheri Sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 36

2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu đã được công bố của chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phòng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn của T/P Vũng Tàu, phòng thống kê T/P Vũng Tàu và các sách báo xuất bản có liên quan

Thu thập các tài liệu thông qua việc khai thác mạng Internet, các đề tài, các báo cáo tham luận tại các hội nghị trong nước, quốc tế về hoạt động nuôi hầu

2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Thông tin được thu thập qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi hầu địa phương, dựa trên mẫu phiếu điều tra [phụ lục] để đánh giá hiện trạng nghề nuôi

hầu tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có duy nhất xã Long Sơn nuôi hàu Từ danh sách 202 hộ

nuôi hàu của xã Long Sơn năm 2010 chọn ra ngẫu nhiên 100 hộ nuôi để phỏng vấn và

điều tra, thỏa mãn yêu cầu số mẫu của cuộc điều tra thống kê

Số liệu phân tích trong đề tài được phỏng vấn trực tiếp từ các hộ nuôi hầu, vì vậy

số liệu sẽ có những sai sót nhất định Nguyên nhân của những sai sót chủ yếu là do những nguyên nhân khách quan: thông tin bị thiếu do chủ hộ không có nhiều thời gian để trả lời

Trang 37

đầy đủ theo bảng câu hỏi, thông tin không đúng do chủ hộ trả lời không trung thực về tình hình hiện tại của nông trại mình, các hộ nuôi không nhớ rõ những chi phí mà họ bỏ ra và lợi nhuận mà họ thu vào, các hộ nuôi hầu cũng không có thói quen ghi chép vào sổ sách

về những hoạt động nuôi hầu của mình

2.2.4 Chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế - xã hội

* Chỉ tiêu kinh tế xã hội: Dân số, trình độ văn hóa, lao động …

* Chỉ tiêu về nuôi trồng thủy sản: Diện tích mặt nước nuôi hầu, hình thức nuôi,

năng suất, sản lượng, doanh thu, chi phí sản xuất…

* Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất:

1

Trong đó: GO là giá trị sản xuất

Qi làkhối lượng sản phẩm thứ i

Pi là giá trị của sản phẩm i tương ứng

+Năng xuất diện tích mặt nước

Sản lượng hầu thu hoạch

- Năng suất =

Diện tích mặt nước nuôi hầu

* Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế

+Lợi nhuận (Pr): Pr  MI  CL

Trong đó: CL là tiền công lao động gia đình (trực tiếp và quản lý tính theo giá thuê lao động )

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên ở Bà Rịa – Vũng Tàu có ảnh hưởng đến nghề nuôi hầu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai, phía tây nằm cạnh với Thành phố Hồ Chí Minh, phía đông nối với tỉnh Bình Thuận, còn phía nam giáp Biển Đông Vị trí này cho phép tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, phát triển du lịch, khai thác và chế biến hải sản, phát triển nuôi trồng thủy sản

Vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu có vị trí 10o20’ vĩ độ Bắc và 104o04’ kinh độ Đông, thuộc vùng biển Đông Nam Bộ Đây là vùng bờ biển chia cắt mạnh, vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai thuộc kiểu cửa sông hình phễu có độ sâu 5-10 m Phần còn lại thuộc kiểu cửa sông châu thổ điển hình có đáy dốc trung bình 1cm/km Lục địa ven biển bị các sông chia cắt ngang với một hệ thống kênh rạch chằng chịt, rừng ngập mặn tươi tốt, bãi bùn rộng lớn

- Khí hậu

Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ cao và khá ổn định, trung bình khoảng 27oC, chênh lệch nhiệt

độ giữa các tháng trong năm không lớn Tháng 5 nóng nhất (30,2oC), tháng 1 lạnh nhất (25oC), chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 5,2oC Tổng bức xạ cao

và khá ổn định, bình quân 401 Cal/km2/ngày Tổng nhiệt khá cao: 9.519 - 9.912oC/năm,

số giờ nắng 2.609 - 2.710 giờ/năm, đặc biệt trong các tháng mùa khô có số giờ nắng khá dài: 231 -282 giờ/tháng

+ Mưa: Lượng mưa phân bố không đều trong năm nên tạo thành hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11

Trang 39

hàng năm Gần 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa, trong khi đó lượng mưa trong suốt mùa khô chỉ chiếm 10%

+ Gió bão: Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chịu ảnh hưởng của 3 loại gió, gió Đông Bắc và gió Bắc thường xuất hiện vào đầu mùa khô với tốc độ từ 1 - 5 m/s Gió Chướng xuất hiện vào mùa khô với tốc độ 4 - 5m/s Gió Chướng tạo nên sóng lớn làm cản trở nghề khai thác cá biển gây xói lở bờ và đê bao các vùng ngăn mặn và nuôi trồng thủy sản Gió Tây và gió Tây Nam xuất hiện từ tháng 5 - 11 (mùa mưa) với tốc độ gió 3 - 4 m/s

- Chế độ thủy văn

Vùng biển Bà Rịa -Vũng Tàu có chế độ bán nhật triều không đều Biên độ triều sông Thị Vải 4,29 m, sông Dinh 4,25 m, sông Ray là 4,07 m Ngoại trừ vùng cửa sông bị nhiễm mặn quanh năm Tháng 3 - 4 trong năm độ mặn đạt đến mức 17 - 20‰ Do chế độ xâm nhập của nước thủy triều nên việc phát triển nuôi trồng thủy sản (mặn lợ) chỉ có thể thực hiện ở vùng cửa sông (Trung tâm khuyến ngư Bà Rịa-Vũng Tàu)

- Môi trường vùng nước nuôi hầu

Long Sơn là một xã hải đảo nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Vũng Tàu, phía Bắc giáp huyện Tân Thành và được bao bọc bởi hệ thống sông Rạng, sông Mũi Gụi, sông

Ăn Thịt và hệ thống kênh rạch chằng chịt

Vùng nước xã Long Sơn có hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11 dương lịch, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau Nhiệt độ nước và không khí quanh năm ấm áp (21 - 36oC), độ mặn thích hợp (19 - 35‰), độ pH khá ổn định (7,5 - 8,5), dòng chảy hiền hoà (0,25 - 0,40 m/s), chế độ thuỷ triều là bán nhật triều không đều với biên độ trung bình (0,8 - 3,8 m), độ trong vừa phải (0,4 - 0,7 m), oxy hoà tan cao (6,0 - 7,8 mg/l)

Có thể nói đây là vùng nước mưa thuận gió hoà, mặc dù có tháng trong năm lượng mưa khá lớn nhưng gần biển nên không có hiện tượng ngập lụt hay bão to gió lớn như những vùng nước khác, do đó rất phù hợp cho nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển trong

đó có nghề nuôi hầu

Trang 40

- Nguồn lợi hầu ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Cả tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ duy nhất có xã Long Sơn là được thiên nhiên ban tặng có hầu phân bố và phát triển Long Sơn được bao bọc một mặt là biển, mặt chia cắt đất liền bằng con sông Rạng nối từ cửa Ông Bền, bọc sang tận Gò Găng lại đổ ra cửa biển Cả một khúc sông dài chừng 15km là khu vực sinh sống tuyệt vời của con hầu mà không địa phương nào khắp vùng ven biển phía Nam có thể sánh được Thế nhưng, con hầu trời cho ấy mãi đến cuối những năm 90 mới được người dân Long Sơn phát hiện một cách tình cờ Những người đóng cừ làm bè nuôi tôm thấy có hầu bám vào cừ tràm lâu năm, gỡ ra đem về chế biến thành những món ăn dân dã: hầu nướng, cháo hầu nên nảy sinh ý định đóng cừ thả cây xuống cho hầu bám vào để khai thác

Những năm 1990 ở Cần Giờ có vài người nuôi hầu, nhưng dường như không phát triển được do con nước và dòng chảy không phù hợp, hầu chậm lớn Dân Long Sơn bắt chước làm theo lại thành công nhờ con nước và nguồn hầu giống xuất hiện quanh năm ở khắp sông Rạng, chỉ cần thả bất kỳ vật gì xuống là sau một tháng sẽ thấy hầu giống bám vào Nghề nuôi hầu chính thức hình thành từ năm 1999, người được xem là đầu tiên ở Long Sơn bỏ nghề biển để nuôi hầu là Tám Khẩn

Sau khi cây cầu Long Sơn nối đất liền với đảo được khánh thành, dân xã đảo như gần hơn với bên ngoài Nghề nuôi hầu ban đầu mang tính nhỏ lẻ, vừa nuôi vừa thử nghiệm Lúc đầu thì đóng cừ cho hầu bám, dần dà đi kiếm tôn xi măng phế thải, đập miếng nhỏ treo dây thừng thả thêm mật độ dày, tiếp đến dân Long Sơn dùng vỏ xe cũ cắt nhỏ, treo dây thả sông Từng bước, nghề hầu hình thành và phát triển khắp xã đảo Người nuôi không tốn kém công, thức ăn như những động vật thân mềm hai vỏ khác Chỉ cần chọn khúc sông đóng cừ, thả tôn, vỏ xe, sau đó đợi hầu bám vào và nuôi cho đến ngày thu hoạch Con sông Rạng vốn là môi trường rất thuận lợi cho các loại phiêu sinh phát triển

Mà đây là nguồn thức ăn tự nhiên của hầu Nhờ vậy, hầu Long Sơn phát triển rất nhanh và hiện là một trong những nguồn lợi chính của toàn dân xã đảo

Nuôi con hầu, nguồn thuỷ sản tưởng như cạn kiệt nay lại dồi dào trở lại Các bè hầu thả sông trở thành nơi trú ẩn của các loại cá nâu, cá chẽm, cá mú, cá đối Các loài cá bám theo bè hầu để ăn phiêu sinh và ăn luôn những con hầu chết Nuôi con hầu, người

Ngày đăng: 16/08/2014, 00:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Hữu Phụng (2002) Nuôi thân mềm hai mảnh vỏ Bivalvia, trang 82 – 116. Tác giả: Trương Vân Phi, Tề Diệu Quốc, Lâm Tuyền Kỷ. NXB Nông nghiệp Thượng Hải (tài liệu dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi thân mềm hai mảnh vỏ Bivalvia
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Thượng Hải (tài liệu dịch)
11. Vũ Đức Quý(2005), Kỹ thuật nuôi hầu cửa sông(Crassostrea rivularis) tại Khánh Hoà. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (Hà Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi hầu cửa sông(Crassostrea rivularis) tại Khánh Hoà
Tác giả: Vũ Đức Quý
Năm: 2005
12. Phạm Thị Hoàng Tâm (2005), Sơ lược đặc điểm sinh học của hầu, vấn đề quy hoạch phát triển nguồn lợi hầu ở Quảng Nam. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (Hà Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược đặc điểm sinh học của hầu, vấn đề quy hoạch phát triển nguồn lợi hầu ở Quảng Nam
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Tâm
Năm: 2005
13. Hà Đức Thắng (2005) Một số kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất giống hầu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould) vùng Hải Phòng. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (Hà Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất giống hầu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould) vùng Hải Phòng
14. Hà Đức Thắng (2005), Kết quả nghiên cứu công nghệ nuôi thương phẩm hầu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould) tại Hà An – Quảng Ninh. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (Hà Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu công nghệ nuôi thương phẩm hầu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould) tại Hà An – Quảng Ninh
Tác giả: Hà Đức Thắng
Năm: 2005
15. Mai Kim Thi (2005), Nghiên cứu thử nghiệm nuôi thương phẩm hầu trong đầm Thị Nại tỉnh Bình Định. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (H à Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thử nghiệm nuôi thương phẩm hầu trong đầm Thị Nại tỉnh Bình Định
Tác giả: Mai Kim Thi
Năm: 2005
16. Chu Chí Thiết &Lê Văn Khôi (2005), Tiềm năng và hiện trạng nuôi nhuyễn thể tại các tỉnh phía bắc Việt Nam. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (H à Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và hiện trạng nuôi nhuyễn thể tại các tỉnh phía bắc Việt Nam
Tác giả: Chu Chí Thiết &Lê Văn Khôi
Năm: 2005
17. Nguyễn Thị Xuân Thu (2004), Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm. Giáo trình cao học Trường Đại Học Thủy Sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Thu
Năm: 2004
18. Nguyễn Thị Xuân Thu (2005), Sản lượng và tình hình xuất, nhập khẩu động vật thân mềm của một số loài chính.h ttp://longdinh.com/default.asp?act=chitiet&ID=1124&catID=1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản lượng và tình hình xuất, nhập khẩu động vật thân mềm của một số loài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Thu
Năm: 2005
19. Ngô Anh Tuấn, Châu Văn Thanh, Vũ Trọng Đại (2005), Một số đặc điểm sinh học sinh sản của hầu Crassostrea belcheri Sowerby, 1871 ở sông Chà Và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học sinh sản của hầu Crassostrea belcheri Sowerby, 1871 ở sông Chà Và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Tác giả: Ngô Anh Tuấn, Châu Văn Thanh, Vũ Trọng Đại
Năm: 2005
20. Ngô Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Nhân (2007), Điều tra hiện trạng và xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi hàu Crassostrea belcheri Sowerby, 1871 ở sông Chà Và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Báo cáo tổng kết đề tài, 112 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng và xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi hàu Crassostrea belcheri Sowerby, 1871 ở sông Chà Và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Tác giả: Ngô Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Nhân
Năm: 2007
21. Nguyễn Thanh Tùng (2005), Hiện trạng phát triển nguồn lợi hầu vùng cửa sông ven biển huyện Cần Giờ TP. Hồ Chí Minh. Hội thảo phát triển nguồn lợi hầu ở Việt Nam (Hà Nội, ngày 12-13 tháng 4 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hiện trạng phát triển nguồn lợi hầu vùng cửa sông ven biển huyện Cần Giờ TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng
Năm: 2005
23. Tạp chí thủy sản, (2001), Một số thông tin về nuôi và kinh doanh thủy sản thân mềm hai vỏ. 21 trang, tháng 3 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin về nuôi và kinh doanh thủy sản thân mềm hai vỏ
Tác giả: Tạp chí thủy sản
Năm: 2001
24. Lê Minh Viễn (2004), Nghiên cứu và sản xuất thử hầu giống bám đơn (Crassostrea belcheri) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo. Báo cáo khoa học, công ty Nuôi trồng Thủy sản và Thương mại Viễn Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và sản xuất thử hầu giống bám đơn (Crassostrea belcheri) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo
Tác giả: Lê Minh Viễn
Năm: 2004
25. Nguyễn Thị Vĩnh, Nguyễn Tài Lương, Đàm Việt Bình, Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Kim Độ (2001), Nghiên cứu thành phần sinh hoá một số loài nhuyễn thể vùng biển Nha Trang. Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần II. NXB Nông Nghiệp TPHCM, 2003.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần sinh hoá một số loài nhuyễn thể vùng biển Nha Trang." Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần II. NXB Nông Nghiệp TPHCM, 2003
Tác giả: Nguyễn Thị Vĩnh, Nguyễn Tài Lương, Đàm Việt Bình, Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Kim Độ
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp TPHCM
Năm: 2001
26. Angell, C.L.(1986) The biology and culture of tropical oyster ICLARM studies and Reviews 13-43 p. International Center for Living Aquatic Resources Management, Manila, Philippinens Sách, tạp chí
Tiêu đề: The biology and culture of tropical oyster ICLARM studies and Reviews
27. Australian Biological resources Study, Canberra (2000), Mollusca The Southern Synthesis Part A Fauna of Australia Volume 5. P. 275-279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mollusca The Southern Synthesis Part A Fauna of Australia
Tác giả: Australian Biological resources Study, Canberra
Năm: 2000
28. Cai Yingya, Li Haiyan (2002), Studies on the Bivalvia (Mollusca) of the Vietnam Coast. Journal of Zhanjiang Ocean University. P. 1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Studies on the Bivalvia (Mollusca) of the Vietnam Coast
Tác giả: Cai Yingya, Li Haiyan
Năm: 2002
29. Carlos C.Baylon (1996), Culture of Oyster & mussel: long line, raft, bottom & shallow water culture. Third Country Training Programme on Coastal Aquaculture:Mollusca. 31jul-27sep 1996.SEAPDEC Aquaculture Depatment Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture of Oyster & mussel: long line, raft, bottom & "shallow water culture
Tác giả: Carlos C.Baylon
Năm: 1996
30. Fao (2005) Fisheries Statistics. Aquaculture production on www.fao.org.com 31. M.H Gervis and N.A.Sims (1992) The biology and culture of Pearl oyster(Bivalvia: Pteriidae). ICLARM studies and Reviews 4-439p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquaculture production" on www.fao.org.com 31. M.H Gervis and N.A.Sims (1992) "The biology and culture of Pearl oyster "(Bivalvia: Pteriidae)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các loài hầu nuôi chính và sản lượng - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 1.1 Các loài hầu nuôi chính và sản lượng (Trang 14)
Bảng 1.2: Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương qua các năm - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 1.2 Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương qua các năm (Trang 15)
Bảng 1.3: Sản lượng hầu thu được ở các quốc gia từ 1978 – 1983 - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 1.3 Sản lượng hầu thu được ở các quốc gia từ 1978 – 1983 (Trang 16)
Bảng 1.4: Vùng phân bố của các loài hầu trên thế giới - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 1.4 Vùng phân bố của các loài hầu trên thế giới (Trang 18)
Hình 2.1: Bản đồ vị trí triển khai đề tài  2.2. Phương pháp nghiên cứu - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Hình 2.1 Bản đồ vị trí triển khai đề tài 2.2. Phương pháp nghiên cứu (Trang 35)
Hình 2. 2: Nội dung nghiên cứu của đề tài - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Hình 2. 2: Nội dung nghiên cứu của đề tài (Trang 35)
Bảng 3.1: Độ tuổi của người nuôi hầu  Nhóm tuổi  Số người  Tỷ lệ (%) - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 3.1 Độ tuổi của người nuôi hầu Nhóm tuổi Số người Tỷ lệ (%) (Trang 42)
Bảng 3.2: Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi hầu  Trình độ văn hóa  Số hộ  Tỷ lệ ( %) - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 3.2 Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi hầu Trình độ văn hóa Số hộ Tỷ lệ ( %) (Trang 43)
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của chủ hộ  Chỉ tiêu  Số hộ  Tỷ lệ % - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 3.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ % (Trang 43)
Bảng 3.4: Trình độ chuyên ngành học của chủ hộ  Chỉ tiêu  Số hộ  Tỷ lệ % - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 3.4 Trình độ chuyên ngành học của chủ hộ Chỉ tiêu Số hộ Tỷ lệ % (Trang 44)
Bảng 3.5: Phân bố lao động trong gia đình hộ nuôi hầu  Lao động trong - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 3.5 Phân bố lao động trong gia đình hộ nuôi hầu Lao động trong (Trang 44)
Bảng 3.6: Diễn biến các hình thức nuôi hầu qua các năm (Đơn vị tính: cái) Năm - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Bảng 3.6 Diễn biến các hình thức nuôi hầu qua các năm (Đơn vị tính: cái) Năm (Trang 46)
3.3.2.1. Hình thức nuôi giàn - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
3.3.2.1. Hình thức nuôi giàn (Trang 47)
Hình dạng giàn chủ yếu hình chữ nhật. Kích thước giàn tùy theo kinh phí, cách xây  dựng của người nuôi khác nhau - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
Hình d ạng giàn chủ yếu hình chữ nhật. Kích thước giàn tùy theo kinh phí, cách xây dựng của người nuôi khác nhau (Trang 47)
3.3.2.2. Hình thức nuôi bè - Điều tra hiện trạng  kỹ thuật và đánh  giá hiệu quả kinh tế    xã hội của nghề nuôi  hầu (crassostrea  belcheri  sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh bà rịa  –vũng tàu
3.3.2.2. Hình thức nuôi bè (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w