1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi nhỏ

73 687 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh Ninh Thuận khai thác một số loài cá nổi nhỏ
Tác giả Nguyễn Như Sơn
Người hướng dẫn TS Nguyễn Đức Sĩ
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Khai thác Thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 4,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, tập tính của cá trong vùng chiếu sáng phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài môi trường: tác động lôi cuốn của ánh sáng và hiệu quả khai thác sẽ giảm đi nhiều khi độ trong của nước

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN NHƯ SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ÁNH SÁNG CHO NGHỀ

LƯỚI VÂY TỈNH NINH THUẬN KHAI THÁC

MỘT SỐ LOÀI CÁ NỔI NHỎ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang - 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN NHƯ SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ÁNH SÁNG CHO NGHỀ

LƯỚI VÂY TỈNH NINH THUẬN KHAI THÁC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu sử dụng trong luận văn được kết hợp từ nguồn số liệu

điều tra thực tế trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận và số liệu từ đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu

sử dụng ánh sáng đèn ngầm trong nước và ánh sáng màu cho nghề lưới vây xa bờ biển miền Trung và niềm Nam” Số liệu hoàn toàn trung thực và có giá trị khoa học cao

Số liệu của đề tài cấp Bộ sử dụng trong luận văn đã được Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản và chủ nhiệm đề tài cho phép Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào trước đây

Vũng Tàu, ngày 28 tháng 06 năm 2011

Nguyễn Như Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Đức Sĩ và ThS Đoàn Văn Phụ đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đến khi hoàn thiện luận

văn theo đúng tiến độ của khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Đặng Văn Thi đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn Cảm ơn ThS Bùi Văn Tùng, KS.Cao Văn Hùng và các đồng nghiệp đã tận

tình góp ý, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản và Ban Chủ

nhiệm đề tài “Nghiên cứu sử dụng ánh sáng đèn ngầm trong nước và ánh sáng màu cho nghề lưới vây xa bờ biển miền Trung và niềm Nam” đã cho phép và tạo mọi điều

kiện để tôi sử dụng số liệu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Ban giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Khai thác Thuỷ sản, Phòng Đào tạo sau Đại học, các Thầy giáo Trường Đại học Nha Trang và

các bạn đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này

Vũng Tàu, ngày 28 tháng 06 năm 2011

Nguyễn Như Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2

1.1.1 Tập tính cá trong vùng chiếu sáng 2

1.1.2 Ứng dụng ánh sáng nhân tạo trong nghề cá thế giới 3

1.1.2.1 Về công suất nguồn sáng 3

1.1.2.2 Về cách bố trí nguồn sáng 4

1.1.2.3 Về chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng 5

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2.1 Tập tính cá trong vùng chiếu sáng 6

1.2.2 Ứng dụng ánh sáng nhân tạo trong nghề cá nước ta 8

1.2.2.1 Về công suất nguồn sáng 8

1.2.2 2 Cách bố trí nguồn sáng 10

1.2.2.3 Về chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng 10

1 2.2.4 Vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu nguồn sáng nhân tạo 11

1.2.3 Đặc điểm nguồn lợi hải sản ở vùng biển Ninh Thuận 12

1.2.3.1 Nguồn lợi hải sản 12

1.2.3 2 Một số đối tượng khai thác chính 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 16

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 16

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 16

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.2.1 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng 16

2.2.2 Bố trí thí nghiệm 18

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.2.3.1 Thu thập số liệu nghề cá trên bờ 19

2.2.3.2 Thu thập số liệu thực nghiệm 19

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 19

Trang 6

2.2.4.1 Xác định yếu tố vật chất [5] 19

2.2.4.2 Xác định các thông số ánh sáng 21

2.2.4.2 Tính hiệu suất khai thác của nghề lưới vây 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Hiện trạng khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận 24

3.1.1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận 24

3.1.1.1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản phân theo nhóm công suất 24

3.1.1.2 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản theo địa phương 25

3.1.2 Năng lực nghề lưới vây ánh sáng ở Ninh Thuận 26

3.1.2.1 Tàu thuyền, ngư cụ và thiết bị phục vụ khai thác 26

3.1.2.2 Khả năng hoạt động khai thác của đội tàu lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận 30

3.1.2.3 Trang bị nguồn sáng trên tàu lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận 32

3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn sáng của tàu lưới vây tỉnh Ninh Thuận 35

3.2.1 Hiệu quả khai thác của đội tài lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận 35

3.2.2 Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây ánh sáng theo các thông số nguồn sáng 36

3.2.2.1 Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây theo tổng công suất nguồn sáng 37

3.2.2.2 Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây ánh sáng theo độ cao treo nguồn sáng 39

3.2.2.3 Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây ánh sáng theo góc treo nguồn sáng 40

3.2.2.4 Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây theo tỷ lệ công suất bóng FL 42

3.2.2.5 Đánh giá hiệu quả của tàu lưới vây theo màu sắc ánh sáng 43

3.3 Đề xuất các giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn sáng trên tàu lưới vây tỉnh Ninh Thuận 45

3.3.1 Các giải pháp về trang bị nguồn sáng 45

3.3.1.1 Cách trang bị hệ thống phát điện 45

3.3.1.2 Cách trang bị hệ thống phân phối điện 46

3.3.1.3 Cách trang bị hệ thống nguồn sáng 47

3.3.2 Các giải pháp về sử dụng nguồn sáng 48

3.3.2.1 Qui trình sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây 48

3.2.2.2 Cách bảo dưỡng nguồn sáng 50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

KẾT LUẬN 51

KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 55

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản theo nhóm công suất 24

Bảng 3.2: Cơ cấu tàu thuyền khai thác chia theo địa phương 25

Bảng 3.3: Kích thước và tải trọng trung bình chia theo nhóm công suất 26

Bảng 3.5: Kích thước trung bình vàng lưới vây chia theo nhóm công suất 28

Bảng 3.5: Thiết bị phục vụ khai thác chia theo nhóm công suất 29

Bảng 3.6: Tổng hợp chỉ số hoạt động khai thác theo nhóm công suất 30

Bảng 3.7: Trang bị máy phụ chia theo nhóm công suất 32

Bảng 3.8: Trang bị máy phát điện theo nhóm công suất 32

Bảng 3.9: Trang bị chủng loại bóng đèn theo nhóm công suất 33

Bảng 3.10: Bố trí nguồn sáng trên tàu lưới vây theo nhóm công suất 34

Bảng 3.11: Trang bị nguồn sáng bè đèn theo nhóm công suất 35

Bảng 3.12: Hiệu quả khai thác của tàu lưới vây theo nhóm công suất nguồn sáng 38

Bảng 3.13: Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây theo nhóm độ cao treo nguồn sáng 40

Bảng 3 14: Hiệu quả khai thác của tàu lưới vây theo nhóm góc treo nguồn sáng 41

Bảng 3.15: Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây theo nhóm tỷ lệ công suất bóng FL 43

Bảng 3.16: Trang bị máy phát điện theo nhóm công suất tàu 45

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ hành chính của tỉnh Ninh Thuận 16

Hình 2.2: Độ cao và góc treo nguồn sáng trên tàu lưới vây ánh sáng 18

Hình 3.1: Tuổi và hao mòn hữu hình của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương 27

Hình 3.2: Khả năng đầu tư của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương 27

Hình 3.3: Trang bị động lưc của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương 27

Hình 3.4: Mức tiêu hao nhiên liệu của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương 27

Hình 3.6: Khối nước tác dụng của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương 28

Hình 3.7: Mức độ trang bị thiết bị phục vụ khai thác 29

Hình 3.8: Mức độ sử dụng thiết bị của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương 31

Hình 3.9: Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây địa phương 36

Hình 3.10: Năng suất khai thác trung bình theo nhóm công suất nguồn sáng 37

Hình 3.11: Năng suất khai thác trung bình theo nhóm độ cao treo nguồn sáng 39

Hình 3.12: Năng suất khai thác trung bình theo nhóm góc treo nguồn sáng 41

Hình 3.13: Năng suất khai thác trung bình theo tỷ lệ công suất bóng FL 42

Hình 3.14: Năng suất khai thác trung bình theo loại ánh sáng màu 44

Hình 3.15: Một số đối tượng khai thác chính theo loại ánh sáng màu 44

Hình 3 16: Sơ đồ liên kết trực tiếp giữa động cơ sơ cấp và máy phát điện 46

Hình 3.17: Sơ đồ hệ thống phân phối điện năng theo hình tia đơn giản 47

Hình 3.18: Sơ đồ qui trình sử dụng ánh sáng trong nghề lưới vây 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Diễn giải chữ viết tắt

ANOVA Phân tích phương sai (Analysis of Variance)

AVR Thiết bị tự động điều chỉnh điện áp (Automatic Voltage

Regula-tion)

BPPĐ Bảng phân phối điện (dùng để lắp đặt các thiết bị điều khiển hệ

thống điện trên tàu) BPTB Bình phương trung bình (Mean of Squares)

CB Thiết bị đóng, mở mạch điện hay còn gọi là aptomat (Circuit

breakers)

CPUE Sản lượng tính trên một đơn vị cường lực (Catch Per Unit of

Ef-fort)

FL Đèn huỳnh quang (Fluorescent Lamp)

20FL Đèn huỳnh quang loại công suất 20 W

40FL Đèn huỳnh quang loại công suất 40 W

HPM Đèn cao áp thủy ngân (High Pressure Mercury Lamps)

250HPM Đèn cao áp thủy ngân loại công suất 250 W

400HPM Đèn cao áp thủy ngân loại công suất 400 W

500HPM Đèn cao áp thủy ngân loại công suất 500 W

HPS Đèn cao áp Natri (High Pressure Sodium Lamps)

MH Đèn cao áp Halogen kim loại (High Pressure Metal Halide

Lamps) 200MH Đèn cao áp halogen kim loại công suất 200 W

400MH Đèn cao áp halogen kim loại công suất 400 W

1.000MH Đèn cao áp halogen kim loại công suất 1.000 W

SL Đèn tiết kiệm điện Superlighter (Energy saving Superlighter

Lamps ) 150SL Đèn tiết kiệm điện Superlighter loại công suất 150 W

200SL Đèn tiết kiệm điện Superlighter loại công suất 200 W

Trang 10

MỞ ĐẦU

Nghề cá phát triển làm tăng áp lực tác khai thác, suy giảm nguồn lợi hải sản ở ngư trường truyền thống Áp lực này do nhiều nguyên nhân như: sử dụng kích thước mắt lưới nhỏ, nguồn điện và ánh sáng nhân tạo,.v.v gây ra; trong đó, ánh sáng nhân tạo của một số nghề pha xúc, chụp mực và lưới vây ánh sáng có tác động rất lớn đến nguồn lợi ven bờ

Hiện nay, nghiên cứu sử dụng ánh sáng nhân tạo trong và ngoài nước cho nghề cá đã

có nhiều thành công, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh tế nghề cá Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau và đồng thời vẫn chưa giải quyết được những mâu thuẫn giữa người sản xuất sử dụng ánh sáng với nguồn lợi thủy hải sản hiện có

Mặt khác, hiệu quả ứng dụng ánh sáng nhân tạo trong khai thác cá phụ thuộc nhiều vào nhiều yếu tố Trong đó, nguồn sáng nhân tạo dùng để tập trung cá là quan trọng và quyết định phần lớn năng suất khai thác cá Tuy nhiên, nghề cá Việt Nam là nghề cá của nhân dân, sự trang bị nguồn sáng trên tàu mang tính tự phát và theo kinh nghiệm là chủ yếu Đặc biệt nghề lưới vây ánh sáng hiện nay thường có xu hướng cạnh tranh nhau về công suất nguồn sáng, điều này dẫn đến việc trang bị nguồn sáng không hợp lý và ảnh hưởng đến nguồn lợi hải sản ven bờ

Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho nghề lưới vây ánh sáng nói riêng và nghề cá sử dụng ánh sáng nhân tạo nói chung là

rất cần thiết Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đề xuất đề tài: “Đánh giá hiệu quả

sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh Ninh Thuận khai thác một số loài cá nổi nhỏ” Với mục tiêu, đánh giá được hiệu quả sử dụng nguồn sáng và đưa ra các giải

pháp sử dụng nguồn sáng hợp lý nhằm nâng cao năng suất khai thác, tăng hiệu quả kinh tế và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả của nghề lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận nói riêng và các tỉnh ven biển trong cả nước nói chung

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nghề cá trong việc hoạch định chiến lược phát triển nghề đánh cá sử dụng ánh sáng một cách đa dạng

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Tập tính cá trong vùng chiếu sáng

Nhiều công trình nghiên cứu về tập tính cá trong vùng sáng nhân tạo đều có kết luận chung rằng tập tính của cá và năng suất khai thác của ngư cụ phụ thuộc vào trạng thái sinh học của đối tượng như độ no dạ dày, độ chín muồi tuyến sinh dục và các yếu

tố môi trường bên ngoài như thức ăn, nhiệt độ, sóng, gió,.v.v

Theo Zucser (1958) cho rằng, ánh sáng nhân tạo có tác dụng như một tín hiệu mồi,

cá đói dễ bị hấp dẫn hơn cá no Dragezund (1957, 1958) cho rằng một số loài cá có thể bị choáng, nhảy vọt lên và lao đến nguồn sáng chiếu đột ngột, nhưng sau đó nó tản đi hoặc tập trung ở vùng sáng có cường độ ánh sáng thích hợp Nghiên cứu của Hsiao năm 1952 cho thấy, cá ngừ tập trung trong vùng nước có ánh sáng trắng, độ rọi từ 700 ÷ 4.500 lux Tiếp đến, Uthed (1955) đã phát hiện hoạt tính của cá trích phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng, chúng có hoạt tính mạnh ở độ rọi sáng từ 20 ÷ 4.000 lux Hoạt tính của chúng giảm dần khi tăng độ rọi sáng đến 65.000 lux và độ rọi sáng thích hợp nhất của chúng khoảng

100 lux Uda (1959) cho thấy cá con của hầu hết các loài thí nghiệm có phản ứng mạnh

và nhạy cảm hơn cá trưởng thành Trong mùa sinh sản các đàn cá thường có tính hướng quang giảm hoặc không có phản ứng với ánh sáng nhân tạo [3]

Một số nghiên cứu khác cho rằng, tập tính của cá dưới nguồn sáng là không bình thường và phụ thuộc vào mật độ tập trung của nó trong vùng chiếu sáng, nguồn sáng di động hay cố định

Năm 1959, tàu Vichia nghiên cứu ở Thái Bình Dương khai thác đối tượng cá Tidđitops Tập tính của đối tượng cá này được mô tả trong tạp chí “Thiên nhiên” số 03 năm 1960 như sau: “Khi bị lôi cuốn bởi đèn chiếu sáng dưới nước, cá đi thẳng tới vùng được chiếu sáng – mạn tàu Cá bơi nhanh theo đường thẳng nằm ngang từ 5 ÷ 10 m, rồi bỗng nhiên đi ngược lên theo chiều thẳng đứng đến 2 ÷ 3 m, sau đó lại tụt xuống theo chiều ngược lại và đứng im không nhúc nhích, quay đầu lên trên Đứng như vậy sau vài phút, cá lại bắt đầu tiếp tục chuyển động như trước” [3]

Khi quan sát bằng mắt thường, máy quay phim và kết quả khai thác từng mẻ lưới trong nghề khai thác cá trích bằng máy bơm và lưới nâng hình chóp cho thấy, tập tính của đối tượng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc tính chuyển động của nguồn sáng, cường độ chiếu sáng,.v.v

Trang 12

Ngoài ra, tập tính của cá trong vùng chiếu sáng phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài môi trường: tác động lôi cuốn của ánh sáng và hiệu quả khai thác sẽ giảm đi nhiều khi độ trong của nước giảm, khi độ trong của nước tăng thì sản lượng thu được cao hơn; sự trôi dạt của tàu ảnh hưởng đến tập tính của cá quanh nguồn sáng, nghiên cứu cho thấy với tốc độ lớn hớn 0,3 m/s thì cá trích Caxpien khó tập trung bên nguồn sáng; dòng chảy mạnh trên mặt nước hoặc ở chỗ thả lưới làm giảm mức độ tập trung cá trong vùng chiếu sáng; đối với cá trích Caxpien, tốc độ dòng chảy bằng vận tốc của cá (0,35 m/s) thì cá không thể đến được nguồn sáng Mặt khác, mức độ lôi cuốn cá của ánh sáng còn phụ thuộc vào các yếu tố như: nhiệt độ, tuần trăng, v.v

Qua 28 chuyến khảo sát trong Chương trình giám sát hoạt động thương mại của nghề cá sử dụng ánh sáng từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2004 của Tổng cục thủy sản ở thành phố miền Đông Nam Ghana, có những kết luận như sau: sản lượng khai thác của nghề đánh cá sử dụng ánh sáng nhân tạo thay đổi theo từng thời kỳ, đặc biệt tập trung vào tháng 3 ÷ 4 âm lịch; kích thước các loài cá khai thác được thay đổi theo từng tháng, tỷ lệ cá con đánh bắt được khi sử dụng ánh sáng nhân tạo tập trung vào tháng 1

÷ 2; ngoài ra đề án còn khuyến nghị; thử nghiệm đánh bắt cá kết hợp ánh sáng nên được mở rộng nghiên cứu toàn bộ các chế độ thủy văn, tức là mùa khan hiếm thức ăn (từ tháng 4 ÷ 6) và mùa nước trồi (từ tháng 7 ÷ 9); cần đưa ra giới hạn các tháng cho phép khai thác trong năm của nghề cá kết hợp ánh sáng [19]

1.1.2 Ứng dụng ánh sáng nhân tạo trong nghề cá thế giới

1.1.2.1 Về công suất nguồn sáng

Công suất nguồn sáng sử dụng trên tàu hay cường độ chiếu sáng của tàu đó, tỷ

lệ thuận với phạm vi chiếu sáng (4 I), do đó cường độ chiếu sáng càng lớn, thì phạm vi chiếu sáng được mở rộng và số lượng cá tập trung quanh đèn nhiều Tuy nhiên, cường độ chiếu sáng không hoàn toàn tỷ lệ thuận với sản lượng khai thác và ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản

Ở Nhật Bản đã xây dựng mức trang bị nguồn sáng cho nghề khai thác cá thu đao trong mức giới hạn < 30 kW, các tàu được phép trang bị nguồn sáng có công suất

10 kW Theo kinh nghiệm của ngư dân Nhật Bản, công suất phát sáng trang bị trên tàu vượt quá 2.500 W/tấn trọng tải của tàu sẽ có tác dụng tiêu cực đối với sinh vật biển Theo luật nghề cá Nauy quy định phạm vi công suất nguồn sáng dùng cho đánh cá trích không quá 15 kW cho mỗi tàu

Trang 13

Giáo sư Gunzo Kawamura (1983) cho rằng, đánh cá kết hợp ánh sáng đều dựa theo kinh nghiệm Việc xác định các tiêu chuẩn nguồn sáng hợp lý cho từng nghề, đối tượng hay từng khu vực đánh bắt gặp phải không ít khó khăn, xu hướng hoàn thiện nguồn sáng chỉ được áp dụng cho từng nước, không thể xây dựng tiêu chuẩn nguồn sáng trong đánh bắt cá chung cho toàn thế giới [18]

1.1.2.2 Về cách bố trí nguồn sáng

Nghề cá sử dụng ánh sáng nhân tạo của Nhật Bản phát triển mạnh, số lượng tàu đánh cá sử dụng ánh sáng lên tới 20.000 chiếc (1952) Nguồn sáng này được trang bị bằng hai hình thức, trên mặt nước và dưới mặt nước để khai thác các loài cá như: cá thu,

cá trích, cá sòng, mực,.v.v Sản lượng khai thác của các nghề có sử dụng ánh sáng chiếm khoảng 26% tổng sản lượng khai thác hàng năm [16]

Năm 1957, Nhật Bản nghiên cứu sử dụng nguồn sáng cho nghề lưới đăng bằng hai hình thức [3]:

- Sử dụng xuồng đèn măng xông (thường 10 xuồng), trong đó một xuồng bố trí

cố định ở chuồng lưới và các xuồng khác tập trung cá và dắt cá vào lưới; tuy nhiên, phương pháp này cồng kềnh và khó khăn khi thời tiết xấu

- Sử dụng nguồn sáng điện với nhiều đèn được lắp đặt theo tuyến sáng ở độ sâu 1,5 m Các đèn chiếu sáng ở chuồng lưới luôn phải giữ cố định, các đèn chiếu sáng ở ven bờ thì tắt dần theo chu kỳ Cách tắt dần nguồn sáng phụ thuộc vào kinh nghiệm, đối tượng đánh bắt và khoảng cách giữa các đèn chiếu sáng Kết quả phương pháp này giúp cho sản lượng đánh bắt của lưới đăng tăng gấp đôi

Năm 1963, nghiên cứu của I.V Nhicônôrop đã đưa ra các phương pháp bố trí nguồn sáng như sau [17]:

- Nguồn sáng độc lập hoặc một cụm sáng gồm một vài nguồn sáng nằm gần nhau và có thể chuyển dịch được;

- Sử dụng tuyến sáng cố định gồm nhiều nguồn sáng nằm theo hướng cố định

và có thể đặt trên mặt nước hoặc dưới nước, khoảng cách giữa hai nguồn sáng từ 100

÷ 150 m, cá sẽ được tập trung từ nguồn sáng này sang nguồn sáng kia;

- Sử dụng nguồn sáng di động có quang thông thay đổi

Năm 1983, đề tài: “Bước đầu đánh giá hiệu quả cường độ chiếu sáng cho nghề lưới vây ở Thái Lan” của Shigeo Hayase, Chuichi Miyata và ctv đã kết luận [20]:

- Tăng công suất nguồn sáng có thể làm tăng hiệu quả tập trung đàn cá trên

Trang 14

diện rộng, nhưng không có hiệu quả để giữ đàn cá gần nguồn sáng;

- Khi sử dụng đèn chiếu sáng trên mặt nước, thay vì tăng công suất nguồn sáng thì nên nâng độ cao treo đèn sẽ có lợi hơn;

- Một đèn chiếu sáng trong nước có lợi hơn trong việc tăng độ sáng theo chiều thẳng đứng, khi đặt một đèn có công suất 3kW hoặc 5kW ở độ sâu lớn hơn 5m ở ngư trường xa

bờ sẽ bảo vệ ấu trùng của nguồn lợi Thủy sản (ấu trùng này thường gặp ở vùng gần bờ)

Từ năm 1995 đến 2001, nghiên cứu của Chikara Shimane, Kensuo Tanaka và ctv tiến hành điều tra hoạt động của các loại tàu lưới vây khơi ở vùng biển phía Tây Nhật Bản đã đưa ra mô hình khai thác của nghề lưới vây ở vùng biển này gồm một tàu lưới có trọng tải 135 tấn kết hợp với hai tàu dò tìm cá và một tàu sử dụng ánh sáng có trọng tải 60 tấn; số lượng tàu lưới vây ánh sáng chiếm 72,3% và sản lượng khai thác trung bình đạt 28 tấn/mẻ [17]

1.1.2.3 Về chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng

Hiệu quả sử dụng các loại nguồn sáng không những phụ thuộc vào các đặc tính

kỹ thuật, mà còn phụ thuộc vào số lượng và kích thước bóng đèn Theo nghiên cứu đánh bắt cá Trích ở vùng biển Caxpi, đối với lưới nâng hình chóp và bơm hút cá sử dụng số lượng và kích thước bóng đèn khác nhau cho thấy [8]:

- Đối với lưới nâng hình chóp sử dụng hai hệ thống nguồn sáng có cùng công suất, thì nguồn sáng sử dụng kích thước bóng lớn cho sản lượng khai thác cao hơn 45% so với bóng có kích thước bé

- Đối với bơm hút cá sử dụng hai hệ thống nguồn sáng có cùng công suất, thì bóng có công suất nhỏ nhưng với số lượng lớn cho sản lượng khai thác cao hơn 6% so với bóng có công suất lớn và số lượng nhỏ

Ở Philipin, các nghiên cứu (1957) cho thấy, số lượng tàu đánh bắt hải sản có sử dụng nguồn sáng của nước này là 670 chiếc và hoạt động chủ yếu bằng nghề lưới vó nhỏ hình chữ nhật Thực tế trang bị nguồn sáng trên các tàu này từ 6 ÷ 14 bóng với công suất 1.000 W/bóng và sản lượng đánh bắt được chiếm 30% tổng sản lượng khai thác [3]

Mặt khác, hiệu quả sử dụng các loại nguồn sáng còn phụ thuộc vào thành phần quang phổ có trong bóng đèn hay màu sắc các loại nguồn sáng Vấn đề này được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhưng có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau [3]

B.I.Prikhotcơ (1952 ÷ 1953), đã nghiên cứu sử dụng đèn chiếu sáng dưới nước

có màu sắc khác nhau trong nghề lưới rê để khai thác cá trích Kết quả sản lượng thu

Trang 15

được không cao và đèn có ánh sáng thường cho sản lượng khai thác cao nhất

Nghiên cứu của Cavamôtô (Nhật Bản) đã tiến hành thí nghiệm trong bể đối với các đối tượng cá thu, cá trích, cá măng và một số loài cá khác, cho rằng bước sóng ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung của cá, đa số các loài cá bị thu hút mạnh bởi ánh sáng xanh lá cây và xanh nước biển, ánh sáng màu đỏ ít lôi cuốn hơn

Trong khi đó, Ôzaki cho rằng: khi đi thành từng đàn, thì cá thích màu xanh lá cây và xanh da trời, nhưng khi đi riêng lẻ cá lại không thích các màu đó Ngoài ra, một số đối tượng lại không có phản ứng với màu sắc ánh sáng; một số nghiên cứu khác lại kết luận các ánh sáng màu xanh lá cây, xanh nước biển và ánh sáng đỏ cũng

có tác dụng thu hút tốt

Khi nghiên cứu loài cá trích (cá trích Caxpi) thì Bôrixốp kết luận: ánh sáng màu vàng và màu xanh lá cây quyến rũ rất tốt loài cá này Điều này cũng được Nhicônôrốp khẳng định qua thí nghiệm lưới nâng hình chóp và bơm hút khi đánh bắt cá trích Caxpi kết quả cho thấy: ánh sáng màu vàng sản lượng khai thác cao hơn màu trắng 20%, ánh sáng màu xanh lá cây có sản lượng khai thác thấp hơn màu trắng 22%,.v.v

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Tập tính cá trong vùng chiếu sáng

Cho đến nay, nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu tập tính cá trong vùng chiều sáng, các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiện trạng sử dụng nguồn sáng hay tác động của cường độ ánh sáng mạnh đến một số loài hải sản, được thể hiện ở các công trình nghiên cứu sau:

Năm 1991, tác giả Nguyễn Đình Dũng và Nguyễn Văn Lục, đã tiến hành xác định ảnh hưởng của ánh sáng đèn cao áp thủy ngân đến một số loài tôm, cá, nhằm giải quyết những bức xúc về dư luận ánh sáng của nghề pha xúc làm chết cá, nổ mắt cá,… Tuy nhiên, kết quả của đề tài vẫn chưa xác định được mức cường độ ánh sáng có hại đến

sự sống của một số loài cá, tôm

Mặt khác, nghiên cứu tác động của sử dụng cường độ ánh sáng mạnh đối với một số loài cá nổi nhỏ và mực trong khai thác hải sản của Vũ Duyên Hải (2001), đã đưa ra một số nhận định về tập tính một số loài hải sản đối với nguồn sáng như sau [4]:

- Cá cơm thường (Stolephous commersonii) là loài cá thường tập trung thành

đàn lớn, phân bố dọc bờ biển nước ta, rất thích ánh sáng Chúng thường tập trung ở vùng có độ rọi sáng khoảng 228 - 2705 lux

Trang 16

- Cá trích xương (Sardinella gibbola) là loài cá thường tập trung thành đàn lớn,

rất thích ánh sáng, thường tập trung ở vùng có độ rọi sáng khoảng 88,4 - 4561 lux

- Cá nục sồ (Decapterus maruadsi) thường xuất hiện rời rạc ở vùng có độ rọi

sáng lớn, sau khoảng 30 - 40 phút chúng thường tập trung thành đàn dày hơn và ở vùng có độ rọi sáng khoảng 316,8 - 805 lux

Ngoài những nhận định về tập tính các gần nguồn sáng, tác giả còn có những kết luận về cường độ ánh sáng mạnh ảnh hưởng đến các loài hải sản như sau:

- Quan hệ giữa công suất nguồn sáng và hiệu suất khai thác không rõ ràng Tăng cường độ chiếu sáng làm thay đổi vị trí sắp xếp và hình thái võng mạc gây ra sự giảm thị lực của mắt cá, mực

- Độ rọi sáng 198.400 lux (tại điểm cách mặt đèn pha công suất 2000 W 1,04 m; đèn 3000 w 1,25 m; đèn 5000 w 1,53 m) gấp 1,42 lần ánh sáng mặt trời tại trái đất)

làm võng mạc mắt mực ống (Loligo chinensis) bị phá huỷ và làm chết mực;

- Độ rọi sáng 659.850 lux (tại điểm cách mặt đèn pha công suất 5.000 W 0,94 m) lớn hơn độ rọi của mặt trời 4,7 lần làm thay đổi lâu dài sự phân bố tế bào thị giác

cá cơm thường (Stolephorus commesonii);

- Độ rọi sáng 672.300 lux (tại điểm cách mặt đèn pha công suất 5000 W; 0,93 m) gấp 4,8 lần ánh sáng mặt trời làm thay đổi lâu dài sự phân bố tế bào thị giác cá

trích xương (Sardinella gibbosa);

- Độ rọi sáng 688.730 lux tại điểm cách mặt đèn pha 0,91 m làm thay đổi tức

thời hình thái cấu tạo võng mạc các loài cá nục (Decapterus maruadsi, Decapterus macrosoma) và cá tráo mắt to (Selar crumenophthalmus) khi bị chiếu sáng trong 30

phút Sau khi chiếu sáng mắt cá trở lại bình thường và không làm chết cá

- Trang bị công suất nguồn sáng trên các tàu cá như hiện nay không làm chết hay nổ mắt cá, mực và không ảnh hưởng lâu dài đến thị lực mắt các loài cá thí nghiệm

Theo kết nghiên cứu về tập tính cá nổi nhỏ gần nguồn sáng của Đoàn Văn Phụ (2010) cho thấy [9]: các loài cá nổi nhỏ có tập tính khác nhau đối với từng loại nguồn sáng, khi mới tới nguồn sáng các loài cá nổi nhỏ thường phân bố rời rạc ở vùng có độ rọi sáng khoảng 40 - 100 lux, khoảng 1 giờ sau chúng tập trung thành đàn dày hơn và

di chuyển ở vùng có độ rọi sáng từ 30 - 950 lux (cách nguồn sáng khoảng 20 - 40 m theo hướng trên nước) Tập tính của cá nổi nhỏ đối với từng loại ánh sáng như sau:

- Ánh sáng đỏ hấp dẫn đối với các loài cá tráo (Selar spp.), cá bạc má (Restralliger

Trang 17

kanagurta), cá trác ngắn (Priacanthus macracanthus) Khi phạm vi vùng sáng và cường

độ rọi sáng lớn cá thường phân bố rời rạc xung quanh tàu ở vùng có độ rọi sáng từ 30 -

850 lux; khi giảm phạm vi vùng sáng và cường độ rọi sáng, cá tập trung thành đàn lớn nhưng mật độ không dày và tập trung dưới nguồn sáng ở độ sâu khoảng 20 - 40 m Tuy

nhiên, ánh sáng đỏ thu hút không hiệu quả các loài cá nục (Decapterus spp.)

- Ánh sáng vàng hấn dẫn đối các loài cá nục thuôn (Decapterus macrosoma), cá nục sồ (Decapterus maruadsi), cá ngân (Atule mate) Khi mới đến nguồn sáng cá

thường phân bố rời rạc ở vùng có cường độ rọi sáng từ 54 - 710 lux; khi giảm phạm vi vùng sáng và cường độ rọi sáng, cá có xu hướng hình thành đàn lớn với mật độ dày và tập trung ngay nguồn sáng ở lớp nước tầng mặt Tuy nhiên, ánh sáng vàng thu hút kém

hiệu quả hơn ánh sáng đỏ đối với cá tráo (Selar spp.), cá bạc má (Restralliger gurta), cá trác ngắn (Priacanthus macracanthus)

kana Ánh sáng xanh chỉ hấp dẫn đối với loài cá nục sồ (Decapterus maruadsi), khi

đến nguồn sáng, cá nục sồ thường tập trung ở vùng có độ rọi sáng từ 23 - 320 lux Ánh sáng xanh thu hút kém hiệu quả đối với các loài cá nổi nhỏ khác

- Ánh sáng trắng thích hợp cho các loài cá cá cạc má (Restralliger kanagurta),

cá trác ngắn (Priacanthus macracanthus), cá tgừ (Thunnus spp.), cá sòng gió laspis cordyla),… ở vùng có độ rọi sáng khoảng 17 - 840 lux Đây là loại ánh sáng có

(Mega-hiệu quả sử dụng loại ánh sáng này cao nhất trong các chuyến thí nghiệm

- Ánh sáng trắng ngầm hấp dẫn đối với cá nục thuôn (Decapterus macrosoma),

cá nục sồ (Decapterus maruadsi) Khi mới đến nguồn sáng cá thường phân bố rời rạc

ở vùng có cường độ rọi sáng khoảng 41 - 850 lux; khi giảm phạm vi vùng sáng và cường độ rọi sáng, cá hình thành đàn lớn với mật độ dày và phân bố xung quanh nguồn sáng Đối với những loài cá còn lại, hiệu suất thu hút của ánh sáng trắng ngầm không bằng ánh sáng trắng và ánh sáng đỏ

1.2.2 Ứng dụng ánh sáng nhân tạo trong nghề cá nước ta

1.2.2.1 Về công suất nguồn sáng

Từ thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, nghề đánh bắt cá kết hợp ánh sáng được du nhập vào nước ta từ các nước có nghề cá phát triển như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Triều Tiên,.v.v và đã đạt được nhiều thành công đáng kể

Năm 1962 ÷ 1963, nghiên cứu giữa Việt Nam với Liên Xô (cũ), tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lưới nâng hình chóp kết hợp ánh sáng điện trên tàu với công

Trang 18

suất nguồn sáng là 13,6 kW Kết quả triển khai được 75 mẻ lưới đạt được 430 kg cá và đối tượng khai thác là: cá nục, cá cơm, cá trích, mực,.v.v

Từ những năm đầu của thập kỹ 1990, nghề chụp mực đã được du nhập vào Việt Nam và dần dần trở thành nghề khai thác hải sản quan trọng của các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ Cùng với sự phát triển về qui mô nghề nghiệp, công suất nguồn sáng trang bị cũng được tăng lên tới 30 kW [8]

Nguyễn Long (2001), đã tiến hành nghiên cứu công nghệ khai thác mực ống (Loligo spp.) và mực đại dương (Sthenoteuthis oualaniensis) bằng lưới chụp mực, lưới rê,… trong

đó, lưới chụp mực trang bị thắp sáng tập trung mực với tổng công suất nguồn sáng là 14,5

kW Trong quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng tổng công suất nguồn sáng từ 2,0 ÷ 12,0

kW và kết luận rằng, lưới chụp mực có thể mang lại hiệu quả kinh tế khả quan [7]

Nghiên cứu của Đặng Văn Thi và ctv (2006) cho thấy: năng suất khai thác ở các mức công suất 1,6 kW; 3,2 kW; 4,6 kW và 6,4 kW biến động rất lớn và không phụ thuộc vào cường độ ánh sáng; năng suất khai thác của nghề lưới vây ánh sáng phụ thuộc nhiều yếu tố như: nguồn lợi tại chỗ, tình trạng dòng nước, điều kiện sóng gió,.v.v.; cường độ ánh sáng chưa ảnh hưởng cụ thể đến thành phần sản lượng khai thác của nghề lưới vây ánh sáng [11]

Trong nghiên cứu tác động của cường độ ánh sáng cho đối tượng các nổi nhỏ tác giả Vũ Duyên Hải (2001) cho rằng: đối với tàu lưới vây, tùy theo ngư trường khai thác mà công suất nguồn sáng trang bị trong khoảng từ 3 ÷ 10 kW; đối với tàu pha xúc hạn chế ở mức 10 kW, cấm sử dụng bóng đèn sợi đốt có công suất lớn hơn 2.000 W/bóng, vị trí lắp đặt đèn pha lớn hơn 1,2 m [4]

Năm 2009, nghiên cứu hiên trạng tàu lưới vây kết hợp ánh sáng ở Đông Nam Bộ, của Bùi Văn Tùng đã xác định được mức công suất nguồn sáng, công suất máy phát điện và các chủng loại bóng đèn sử dụng phù hợp cho từng đội tàu như sau[12]:

- Đội tàu công suất < 250 cv: tổng công suất nguồn sáng trên tàu 5,0 ÷ < 10,0 kW; công suất máy phát điện 8,0 ÷ 16,0 kVA; sử dụng bóng 40FL kết hợp bóng 1.000MH hoặc bóng 200SL

- Đội tàu công suất ≥ 250 cv: tổng công suất nguồn sáng trên tàu 20,0 ÷ < 30,0 kW; công suất máy phát điện 31,0 ÷ 48,0 kVA; sử dụng bóng 200SL kết hợp với bóng 1.000MH

Nghiên cứu của Đoàn Văn Phụ (2010), cho rằng: phạm vi chiếu sáng không tỷ lệ với công suất nguồn sáng; thực tế khi tăng nguồn sáng lên 5 lần thì phạm vi chiếu sáng theo

Trang 19

phương ngang tăng lên 1,5 lần và phương thẳng đứng tăng lên 1,3 lần; công suất nguồn sáng thích hợp cho đội tàu lưới vây xa bờ ở vùng biển Đông Nam Bộ khoảng 16 kW [9]

1.2.2 2 Cách bố trí nguồn sáng

Sử dụng nguồn sáng trong đánh bắt cá ở nước ta có nhiều phương pháp và cách

bố trí nguồn sáng khác nhau, tùy thuộc vào từng nghề, từng đối tượng khai thác [3]:

- Nghề lưới vây ánh sáng, trang bị nguồn sáng sử dụng tập trung cá là trên mặt nước và theo dạng cụm đèn Tùy thuộc vào từng địa phương mà nghề này sử dụng một tàu hoặc hai tàu, tuy nhiên hai tàu có ưu điểm hơn hẳn

- Đối với lưới chụp mực, người ta sử dụng công suất máy phát lớn hơn từ 20 ÷ 25% tổng công suất nguồn sáng trang bị trên tàu Cách bố trí hệ thống nguồn sáng trên tàu như sau: độ cao hệ thống đèn tập trung mực lớn hơn cabin tàu khoảng 85 cm và nghiêng theo phương ngang khoảng 80 cm; độ cao đèn gom mực cao hơn mặt boong tàu khoảng 95 cm và nghiêng theo phương ngang khoảng 25 cm

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Sĩ, cho thấy [10]: tàu lưới vây ánh sáng nước ta trang bị nguồn sáng không phù hợp; các yếu tố công suất nguồn sáng, độ cao treo đèn và góc treo đèn ảnh hưởng mạnh đến sản lượng khai thác cá Nục sồ trên tàu lưới vây ánh sáng xa bờ

1.2.2.3 Về chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng

Từ những năm 60 thế kỷ XX, Việt Nam đã hợp tác nghiên cứu với các nước Liên

Xô (cũ), Triều Tiên trong vấn đề đánh bắt cá có sử dụng nguồn sáng cho các nghề lưới nâng hình chóp, lưới vó mạn tàu và lưới vây, bằng các loại đèn măng xông, đèn huỳnh quang chiếu sáng trên và dưới nước, đèn cao áp,.v.v đạt được nhiều kết quả khả quan

Thực tế sản xuất nhận thấy trang bị số lượng bóng đèn, chủng loại bóng đèn giữa các nghề, giữa các vùng biển có nghề đánh bắt cá sử dụng nguồn sáng rất khác nhau:

- Đối với nghề chụp mực: trang bị cho hệ thống phát hiện và tập trung cá với dàn đèn khoảng từ 20 ÷ 30 bóng HPM, công suất mỗi bóng từ 500 ÷ 1.000 W; đèn gom mực trang bị một bóng có công suất 1.000 ÷ 1.500 W, kết hợp với bộ điều chỉnh độ chiếu sáng của đèn [3]

- Trong khi đó, nghề lưới vây ánh sáng: vùng Bắc Trung Bộ trang bị kết hợp 4

 6 bóng cao áp, có công suất mỗi bóng từ 300  1000 W và bóng 40FL; vùng Nam Trung Bộ sử dụng chủ yếu bóng FL, bóng cao áp và siêu cao áp Hệ thống chiếu sáng tập trung cá gồm 40 ÷ 80 bóng 40FL và 4 ÷ 6 bóng đèn cao áp, công suất mỗi bóng từ

250 1.000 W; vùng Tây Nam Bộ sử dụng chủ yếu bóng huỳnh quang và bóng cao áp

Trang 20

Hệ thống chiếu sáng tập trung cá gồm 30 ÷ 180 bóng 40FL và 2 ÷ 34 bóng cao áp, công suất mỗi bóng cao áp phổ biến loại 400W [12]

Đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật đánh cá bằng lưới vây ban ngày và ban đêm kết hợp ánh sáng điện khai thác ở vùng lộng và vùng khơi trên các tàu có công suất từ 16 ÷ 45 cv”, đã sử dụng ánh sáng bóng FL trên tàu lưới vây và sản lượng khai thác cao hơn khoảng 20% [1]

Năm 2001, đề tài: “Nghiên cứu tác động của sử dụng cường độ ánh sáng mạnh đối với một số loài cá nổi nhỏ và mực trong khai thác hải sản” của tác giả Vũ Duyên Hải đã đưa ra một số kết luận sau: Chủng loại bóng đèn trang bị trên tàu cá rất đa dạng, công suất sử các bóng đèn điện từ 20 ÷ 500 W; trang bị công suất nguồn sáng trên các tàu cá như hiện nay không làm chết hay nổ mắt cá, mực và không ảnh hưởng lâu dài đến thị lực mắt các loài cá thí nghiệm; quan hệ giữa công suất nguồn sáng và hiệu suất khai thác không rõ ràng, tăng cường độ chiếu sáng làm thay đổi vị trí sắp xếp

và hình thái võng mạc gây ra sự giảm thị lực của mắt cá, mực; ngoài ra, đề tài đã khuyến nghị loại bóng đèn có công suất bóng nhỏ hơn 1.000 W/bóng sẽ mang lại hiệu suất cao Nếu trang bị nguồn sáng bằng bóng 40FL thì nên kết hợp với một số bóng HPM có công suất 250 ÷ 1.000 W/bóng [4]

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Sĩ (2006), ngoài đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác, còn thống kê được các chủng loại bóng đèn thường sử dụng trong nghề lưới vây là bóng FL, bóng cao áp, bóng HPM và giới hạn công suất mỗi bóng từ 40 ÷ 1.000 W/bóng

Trong khi nghiên cứu của Bùi Văn Tùng (2009) đã kết luận được rằng: năng suất khai thác của bóng đèn huỳnh quang và bóng metan đạt giá trị cao nhất; ngoài ra tác giả còn khuyến nghị nên sử dụng bóng đèn 200SL và HPS hoặc 1.000MH; đèn nên lắp ở

độ cao 3,5 ÷ 4,5 m và góc treo đèn từ 400 ÷ 500 [12]

Năm 2010, nghiên cứu của Đoàn Văn Phụ, chỉ ra rằng: cá thường tập trung trong vùng chiếu sáng có độ rọi 30 ÷ 950 lux; năng suất khai thác trung bình của mẻ lưới ánh sáng trắng cao hơn các loại ánh sáng màu khác; đối tượng cá nục thuôn, cá nục sồ,

cá tráo vàng, cá tráo xanh và cá ngân không ảnh hưởng bởi loại ánh sáng.[9]

1 2.2.4 Vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu nguồn sáng nhân tạo

Nghiên cứu của các nước trên thế giới trong đánh bắt cá sử dụng ánh sáng nhân tạo được đánh giá tương đối hoàn thiện về phương pháp, cách thức trang bị và chủng

Trang 21

loại bóng đèn Tuy nhiên, đi sâu giải quyết màu sắc ánh sáng của bóng đèn trong hiệu quả tập trung cá vẫn còn nhiều ý kiến chưa được đồng nhất

Nghiên cứu trong nước, tuy đạt được nhiều thành công nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng nguồn sáng nhân tạo đánh bắt cá hiệu quả :

- Trang bị công suất nguồn sáng: đã đánh giá được ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng, tổng công suất nguồn sáng và tiêu chuẩn trang bị nguồn sáng cho nghề lưới vây ánh sáng Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiện trạng và nghiên cứu thực nghiệm nguồn sáng cho nghề lưới vây ánh sáng, chưa đi sâu đánh giá ảnh hưởng của công suất nguồn sáng cho các nghề pha xúc, chụp mực và cho từng đối tượng khai thác cụ thể

- Phương pháp bố trí nguồn sáng: đã đưa ra được qui trình, mô hình khai thác

và cách bố trí cho các nghề chụp mực và nghề lưới vây ánh sáng Nhưng kết quả chỉ ở mức thống kê toán học, rất ít các nghiên cứu bố trí nguồn sáng bằng thực nghiệm và ứng dụng khoa học chưa cao

- Chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng: đã đi sâu đánh giá được ảnh hưởng của chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng đến sản lượng khai thác, đối tượng đánh bắt của nghề lưới vây ánh sáng Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đề này rất ít và mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu nhỏ, chưa có sự đánh giá tổng thể cho nghề đánh bắt cá

sử dụng nguồn sáng ở Việt Nam

Mặt khác, nghề khai thác cá biển của Việt nam là nghề cá nhân dân, cho nên ngư dân các địa phương, trang bị cho các nghề đánh bắt cá một cách tự phát và theo kinh nghiệm là chủ yếu Đặc biệt nghề lưới vây ánh sáng, hiện nay đang có xu hướng cạnh tranh nhau về công suất nguồn sáng, dẫn đến sự trang bị chưa hợp lý và ảnh hưởng đến nguồn lợi hải sản

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và từ thực tiễn sản xuất của ngư dân làm nghề lưới vây ánh sáng Chúng tôi nhận thấy, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn sáng cho nghề lưới vây là một việc làm cần thiết

1.2.3 Đặc điểm nguồn lợi hải sản ở vùng biển Ninh Thuận

1.2.3.1 Nguồn lợi hải sản

Vùng biển Ninh Thuận là nơi hội tụ của 2 dòng hải lưu nóng (từ phía Bắc xuống ) và lạnh (từ phía Nam lên) Hai dòng hải lưu này tạo nên vùng nước trồi làm cho chủng loại sinh vật phù du ở tầng nổi và tầng đáy vô cùng phong phú Trong thời

Trang 22

kỳ nước trồi hoạt động, khối lượng động vật phù du đạt từ 2,5 ÷ 5.106 tế bào/m3 và đạt giá trị cao nhất 75 ÷ 100mg/m3 Các dòng hải lưu này đã kéo theo nhiều loài cá di chuyển làm tăng nguồn lợi hải sản [6]

Hiện nay, theo thống kê của cơ quan quản lý thủy sản Ninh Thuận, năm 2003 thì: ở vùng biển có độ sâu từ 200 m nước trở vào có khoảng 100 loài hải sản có giá trị kinh tế, thuộc 4 nhóm động vật chủ yếu là giáp xác, nhuyễn thể, da gai và cá

Theo nghiên cứu thống kê trữ lượng, khả năng khai thác phân bố theo độ sâu ngư trường vùng biển Ninh Thuận – Bình Thuận của nước ngoài và Viện Hải dương học Nha Trang, đã xác định:

Cá nổi: Xuất hiện chủ yếu từ tháng 7 ÷ 11 và năng suất khai thác chủ yếu vào từ

tháng 8 ÷ 9 Trữ lượng cá nổi khoảng 32.000 tấn, phân bố dày ở độ sâu 50 m, diện tích bãi cá khoảng 1.700 km2 Sản lượng cá nổi khai thác được chiếm 80% tổng sản lượng khai thác hải sản của toàn tỉnh, trong đó cá cơm chiếm 60%

Cá đáy: Gồm 22 loài, phân bố ở 3 khu vực Ngoài khơi (mũi Dinh – Cà Ná kéo

dài đến Cù Lao Thu), diện tích bãi cá khoảng 2.100 km2, trữ lượng 10.000 tấn; Khơi (vịnh Phan Rang kéo dài đến Mũi Nhỏ - Phan Rí), diện tích bãi cá khoảng 1.300km2, trữ lượng khoảng 25.000 tấn; Khu vực có độ sâu trên 120 m (ngoài khơi vịnh Phan Rang), khả năng khai thác được xác định là 4.000 tấn/năm

Mực: Có khoảng 20 loài mực, trong đó có 6 loài mực nang, 4 loài mực ống và 2

loài mực lá, chiếm tỷ trọng cao trong sản lượng khai thác Sản lượng khai thác cao tập trung từ tháng 6 ÷ 10

Tôm: Có 3 loài tôm; tôm hùm, tôm he và tôm mũ ni Tôm hùm phân bố ở các

ran San hô và các hốc đá, sản lượng khai thác hàng năm dao động trong khoảng 30 ÷

50 tấn; Tôm mũ ni, sống tập trung ở vùng nước có độ sâu 50 m, sản lượng khai thác khoảng 100 ÷ 200 tấn/năm

Tóm lại: Nguồn lợi vùng biển Ninh Thuận – Bình Thuận với trữ lượng phong

phú là điểm mạnh cho ngành khai thác cá phát triển, đặc biệt trữ lượng cá nổi sẽ làm cho nghề lưới vây và lưới rê là thế mạnh cho ngành nếu được sự quan tâm đúng mức của cơ quan quản lý và ngư dân ven biển

1.2.3 2 Một số đối tượng khai thác chính

Đối tượng đánh bắt chủ yếu của lưới vây ánh sáng là các đàn cá nổi nhỏ di cư theo mùa như cá nục, cá bạc má, cá ngừ ồ, cá cơm,.v.v

Trang 23

* Cá bạc má (Rastrelliger spp.)

Hình dạng: Bạc má là loại cá có thân hình bầu dục Chiều dài thân gấp 3 ÷ 4 lần

chiều cao thân Loại cá này có vây nhỏ, dễ rụng, miệng nhỏ và vây đuôi dài, thân có màu xanh chấm sọc, bụng màu trắng

Đặc điểm sinh học: Cá bạc má sống ở tầng mặt ở độ sâu từ 20 m nước trở ra,

nhiệt độ thích hợp 19 ÷ 250C, nồng độ muối 30 ÷ 350/00 và chất đáy là bùn cát hay cát pha nhuyễn thể Thức ăn chủ yếu là các loại cá nhỏ và động vật không xương sống Cá nhạy đối với tiếng động và thích nghi với ánh sáng trắng Tốc độ di chuyển 1,2 ÷ 1,3 m/s Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7 ở ven bờ Kích thước khai thác thường từ 150 ÷ 200 mm, trọng lượng 50 ÷ 100 gram Mùa vụ khai thác chính từ tháng

5 đến tháng 9 dương lịch

* Cá nục (Decapterus spp.)

Đặc điểm sinh học: Ngoài tính di cư ngang, chúng có tính di cư thẳng đứng theo

độ sâu và theo chu kỳ ngày đêm, vào ban ngày chúng lặn xuống sâu, tập trung thành đàn ở tầng đáy, ban đêm di chuyển lên tầng mặt Cá nục có tính hướng quang Cá nục thường tập trung ở độ sâu 20 ÷ 80 m, chất đáy chủ yếu là bùn lẫn vỏ sò Độ mặn thích hợp là 32 ÷ 340/00, nhiệt độ nước 15 ÷ 240C, thích bóng râm và nước trong

Vào mùa gió Tây Nam cá nục thường tập trung thành đàn lớn ở vùng biển miền Trung, Đông Nam Bộ để kiếm mồi và sinh sản Vào mùa gió Đông Bắc, cá nục di cư

xa bờ và xuống biển Đông Nam Bộ

* Cá trích (Sardinella spp.)

Hình dạng: thân bầu dục dài hai bên hẹp, chiều dài thân gấp 2 ÷ 3 lần chiều

rộng thân, miệng nhỏ, hàm dưới dài hơn hàm trên, ở bụng có vẩy răng cưa, lưng màu xanh thẫm, bụng màu trắng hai bên lườn có một dải hẹp màu vàng nhạt Toàn thân có những vẩy tròn, mỏng rất dễ rụng

Đặc điểm sinh học: Là loài cá sống ở tầng mặt và tầng giữa thường tập trung

thành từng đàn có hiện tượng di cư thẳng đứng, chúng có tính hướng quang mạnh thường vào lúc hoàng hôn hoặc những đêm trăng chúng kết đàn và nổi lên mặt nước

Cá trích tập trung nhiều ở độ sâu 25 ÷ 30 m, độ mặn 29 ÷ 330/00 Nhiệt độ thích hợp 18

÷ 230C thức ăn là các loài giáp xác Hàng năm cá trích đi đàn và di cư từ tháng 3 đến tháng 7 ở đến những nơi có độ sâu từ 7 ÷ 20 m ở phần cửa sông, quanh đảo Cá khai thác được chủ yếu từ 1 ÷ 2 tuổi, có chiều dài 100 ÷ 140 mm tuổi thọ cao nhất là 5 tuổi

Trang 24

mùa khai thác từ tháng 2 đến tháng 10 Cá trích rất nhạy với ánh sáng mạnh huỳnh quang, sau khi chiếu sáng 30 ÷ 40 phút thì chúng xuất hiện quanh nguồn sáng có thể thấy rõ bằng mắt thường, nếu nguồn sáng di chuyển thì chúng cũng di chuyển theo

* Cá ngừ (Thunnus spp.)

Hình dạng: Có thân hình thoi, dài và hơi tròn Trên thân có vảy nhỏ, có loài chỉ

có một phần thân có vây Đầu cá thon nhỏ, hai vây lưng cách xa nhau, phía sau vây lưng thứ hai là vây hậu môn và có một số vây nhỏ

Đặc điểm sinh học: Cá ngừ thích sống ở vùng nước trong và có nồng độ muối cao

32 ÷ 350/00, nhiệt độ thích hợp là 21 ÷ 31oC, mùa sinh sản từ tháng 3 ÷9, rộ nhất từ tháng 5

÷ 7 Thức ăn chủ yếu là các loài cá con Tốc độ di chuyển khoảng 1,6 m/s Ở khu vực ngoài khơi có độ sâu trên 30m cá thường xuất hiện đàn và di chuyển trên tầng mặt

* Mực ống (Logigo spp.)

Hình dạng: Cơ thể lớn, thân dài 100 ÷ 400 mm Chiều dài thân gấp 6 lần chiều

rộng, vây dài bằng 2/3 chiều dài thân, đuôi nhọn xúc tay có hai hàng giác bám Xúc tay bắt mồi có 4 hàng giác bám, lớn hơn giác bám ở những xúc tay khác

Đặc điểm sinh học: Mực ống sống ở tầng đáy và gần đáy, phân bố rộng và rải

rác, rất nhạy với ánh sáng và nhiệt độ, nhiệt độ thích hợp từ 20 ÷ 280C, độ mặn từ 29 ÷

330/00 Có hiện tượng di cư thẳng đứng theo ngày và đêm Ban đêm mực đi nổi Thức

ăn chủ yếu là động vật phù du, nhuyễn thể, giáp xác và cá nhỏ.v.v Vùng gần bờ với thức ăn phong phú, đầy đủ dưỡng khí đó là những bãi đẻ cho mực Mực ống nhạy với ánh sáng trắng, tím Mực tập trung thành đàn dưới sâu nguồn sáng Khi giảm độ rọi sáng, mực nổi lên mặt nước sau đó lặn xuống rất nhanh và phân tán Mùa khai thác mực cho sản lượng cao từ tháng 6 đến tháng 9

Trang 25

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Ninh Thuận là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý từ

11018‘14” ÷ 12009’45”N và 108039’08” ÷ 109014’25” E, phía Đông giáp Biển Đông Ninh Thuận có đường bờ biển kéo dài hơn 105km, từ vĩ độ 11018’ ÷ 11050’N, vùng đặc quyền kinh tế 24.480 km2, diện tích vùng biển nội thủy 1.800 km2 [13]

Hình 2.1: Bản đồ hành chính của tỉnh Ninh Thuận

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh Ninh Thuận, được tiến hành từ tháng 01/2010 đến tháng 05/2011

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Đội tàu lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận và một số đối tượng cá nổi nhỏ: cá nục thuôn, cá nục sồ, cá bạc má, cá tráo,…

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng

Nghiên cứu sử dụng ánh sáng nhân tạo trong nghề cá ở nước ta được tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ 19, các nghiên cứu đi sâu đánh giá hiện trạng sử dụng nguồn sáng và tác động của ánh sáng mạnh tới một số loài hải sản Trong thời gian gần đây,

Trang 26

nhằm giải thích cho sự có hại khi tăng công suất nguồn sáng của ngư dân và các biện pháp nâng cao năng suất khai thác, hiệu quả kinh tế,… nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào phương pháp trang bị nguồn sáng, hiện trạng nguồn sáng và ứng dụng màu sắc ánh sáng được triển khai, nổi bật là các công trình nghiên cứu của một số tác giả như:

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Sĩ (2006), thấy rằng [10]: các yếu tố công suất nguồn sáng, độ cao treo đèn và góc treo đèn ảnh hưởng mạnh đến sản lượng khai thác

cá Nục sồ trên tàu lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông – Tây Nam Bộ; đối với vùng biển Nam Trung Bộ: năng suất khai thác cá nục sồ cao nhất khi trang bị công suất nguồn sáng dao động từ 2,5 ÷ 4 kW, độ cao treo đèn khoảng từ 3,0 ÷ 3,5 m, góc treo đèn 300 ÷ 400

Năm 2009, nghiên cứu về hiện trạng sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây của Đông Nam Bộ, của Bùi Văn Tùng [12], đã xác định được: bóng SL đạt hiệu quả khai thác cao nhất, tiếp đến là bóng FL, bóng 1.000MH

Tiếp đến, kết quả nghiên cứu của Đoàn Văn Phụ, (2010) [9], cho thấy: phạm vi vùng sáng không tỷ lệ với công suất nguồn sáng, khi tăng công suất nguồn sáng lên 5 lần thì phạm vi vùng sáng theo phương ngang chỉ tăng 1,5 lần và theo phương đứng tăng 1,3 lần; năng suất khai thác trung bình của các mẻ lưới sử dụng ánh sáng trắng cao hơn các loại ánh sáng còn lại; ánh sáng trắng có năng suất cao hơn ánh sáng trắng ngầm từ 2,05 ÷ 3,12 lần và cao hơn các loại ánh sáng màu (đỏ, vàng và xanh) từ 1,69 ÷ 2,90 lần Ngoài ra, năng suất khai thác của các loài cá nổi như: cá nục thuôn, cá nục sồ, cá tráo vàng, cá tráo xanh và cá ngân không ảnh hưởng bởi loại ánh sáng

Như vậy, bỏ qua tác động của yếu tố ngoại cảnh thì nghề lưới vây sử dụng ánh sáng nhân tạo phụ thuộc vào các yếu tố: công suất nguồn sáng, cách bố trí nguồn sáng, chủng loại bóng đèn và màu sắc ánh sáng Dựa trên cơ sở khoa học của các công trình nghiên cứu đi trước và kết hợp với thực tiễn sản xuất của ngư dân làm nghề lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận, luận văn lựa chọn một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng ánh sáng như sau:

- Công suất nguồn sáng (ký hiệu: P): là tổng công suất nguồn sáng được trang bị trên tàu phục vụ cho việc chiếu sáng tập trung cá

- Độ cao treo nguồn sáng (ký hiệu: Z): là độ cao được tính từ tâm của máng đèn hoặc tâm của chóa đèn mặt nước (xem hình 2.2)

Trang 27

- Góc treo nguồn sáng (ký hiệu: α): là góc hợp bởi trục quang của bóng đèn với phương thẳng đứng tính từ vị trí đặt nguồn sáng (xem hình 2.2)

- Tỷ lệ chủng loại bóng đèn (ký hiệu: H): là tỷ số giữa tổng công suất bóng đèn loại này so với tổng công suất của tất cả các loại bóng đèn trang bị trên tàu phục vụ cho việc chiếu sáng tập trung cá

- Màu sắc ánh sáng: phụ thuộc vào thành phần quang phổ có trong bóng đèn, được xác định thông qua nhiệt độ màu và chỉ số hoàn màu

+ Nhiệt độ màu (ký hiệu là T): biểu hiện màu sắc của đèn và ánh sáng mà nó phát

ra Nhiệt độ màu của đèn sẽ làm cho đèn có nguồn sáng “ấm”, “trung tính” hoặc “mát” Nhiệt độ màu càng thấp thì nguồn sáng càng mát và ngược lại, đơn vị tính là Kelvin (K)

+ Chỉ số hoàn màu (R a ): Nói lên chất lượng chiếu sáng của nguồn, phản ánh độ

trung thực, màu sắc của sự vật trong không gian được chiếu sáng Ra là đơn vị đo đặc tính hoàn màu của nguồn ánh sáng được công nhận rộng rãi nhất Hệ số hoàn màu càng cao được coi chất lượng ánh sáng càng tốt Đây là chỉ tiêu chất lượng kĩ thuật

Hình 2.2: Độ cao và góc treo nguồn sáng trên tàu lưới vây ánh sáng

2.2.2 Bố trí thí nghiệm

Đây là phương pháp bố trí thí nghiệm của đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu sử dụng ánh sáng đèn ngầm trong nước và ánh sáng màu cho nghề lưới vây xa bờ biển miền Trung và niềm Nam”, gọi tăt là đề tài “Ánh sáng đèn ngầm”, tiến hành thử

nghiệm 5 chuyến biển (khoảng 22 ngày) năm 2008 ở ngư trường Nam Trung Bộ (vùng biển tỉnh Ninh Thuận) Luận văn chỉ sử dụng số liệu thu được trên tàu thực nghiệm và chính tác giả là người trực tiếp thu thập số liệu trên tàu thí nghiệm này Vì vậy, luận văn mô tả sơ qua cách bố trí thí nghiệm của đề tài như sau:

Đề tài sử dụng tàu mẹ (NT92036TS) và tàu con (NT00018TS), để thử nghiệm ánh sáng cho nghề lưới vây ở vùng biển Nam Trung bộ

Trang 28

Tàu NT92036TS thử nghiệm luân phiên giữa ánh sáng đỏ và ánh sáng vàng theo hình thức thắp sáng trên mặt nước

Tàu NT00018TS thử nghiệm luân phiên giữa ánh sáng xanh và ánh sáng trắng ngầm Công suất phát sáng ở tàu mẹ và tàu con như nhau, trung bình 4.400 W Khoảng cách thắp sáng giữa hai tàu từ 1,5 - 2,5 hải lý

Sau một thời gian thắp sáng, tàu mẹ tiến hành giảm công suất nguồn sáng để quan sát tập tính cá gần nguồn sáng và đo các thống số ánh sáng Khi đến thời điểm thích hợp thì tàu mẹ đưa mành đèn dụ cá để tiến hành đánh bắt

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.3.1 Thu thập số liệu nghề cá trên bờ

a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan ban ngành quản lý nghề cá ở địa phương, Viện Nghiên cứu Hải sản, Trường Đại học Nha Trang,.v.v

Các số liệu thu thập bao gồm: Tổng quan tình hình phát triển kinh tế của nghề

cá, các chính sách, chỉ tiêu,.v.v.; số lượng tàu thuyền, tổng công suất, sự phân bố tàu thuyền ở mỗi địa phương trong tỉnh và năng lực tàu thuyền của từng nghề; ngư trường hoạt động và đặc điểm ngư trường nguồn lợi của nghề lưới vây

b Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn và khảo sát trực tiếp chủ tàu, thuyền trưởng, ngư phủ làm nghề lưới vây ánh sáng khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận Quá trình thu số liệu được thực hiện theo phương pháp điều tra thu mẫu của FAO

Các thông tin thu thập bao gồm: Tàu thuyền, trang thiết bị (phục vụ khai thác và phục vụ hàng hải), ngư cụ của nghề lưới vây ánh sáng; tổ chức sản xuất, năng suất khai thác

và hiệu quả kinh tế của đội tàu lưới vây ánh sáng; thông tin về sử dụng ánh sáng (chủng loại bóng đèn, cách bố trí, công suất nguồn sáng,.v.v.) của đội tàu lưới vây ánh sáng

2.2.3.2 Thu thập số liệu thực nghiệm

Số liệu thu thập bao gồm: công suất nguồn sáng, chủng loại bóng đèn được thắp sáng, qui trình sử dụng ánh sáng, thành phần loài, sản lượng khai thác,

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

2.2.4.1 Xác định yếu tố vật chất [5]

- Hao mòn hữu hình (ký hiệu: H): Đánh giá sự giảm dần của thiết bị tham gia

sản xuất, đơn vị tính là phần trăm (%)

Trang 29

i

i i

P

h P H

1

Trong đó: P - giá thành lúc mua của bộ phận i (tr.đồng); h i i - mức hao mòn của bộ phận i (%)

- Tuổi trung bình của thiết bị (ký hiệu: T): đánh giá mức độ thời gian sử dụng

thiết bị đã được sử dụng Kết hợp với tiêu chí khác để đánh giá sự suy giảm chất lượng hoạt động của thiết bị, đơn vị tính là năm

n

i

i i

P

T P T

1

1 (2-2)

Trong đó: P - giá thành lúc mua của bộ phận i (tr.đồng); i T - tuổi của bộ phận i i

- Hệ số đổi mới thiết bị (ký hiệu: K dm ): đánh giá mức độ đổi mới công nghệ,

trong thời gian gần thời điểm đánh giá

- Mức độ huy động thiết bị vào sản xuất (ký hiệu: K sx ): mức độ sử dụng thiết bị

so với tiềm năng có thể sử dụng, đơn vị tính là phần trăm (%)

N

Trong đó: N sx – số ngày thực tế hoạt động; N tn – số ngày tiềm năng tàu có thể hoạt động

- Tỷ trọng thiết bị hiện đại (ký hiệu: I hd ): đánh giá mức độ hiện đại của trang

thiết bị phục vụ sản xuất (máy phụ, máy phát điện, máy dò ngang, định vị, ra đa, ), đơn vị tính là phần trăm (%)

G

Trong đó: G hd – tổng giá trị thiết bị hiện đại; G sx – tổng giá trị của tàu

- Mức độ trang bị động lực (ký hiệu: H nl ): đánh giá khả năng, mức độ trang bị

động lực của tàu, đơn vị tính là mã lực (cv)

Trang 30

- Mức độ trang bị vốn cho sản xuất (ký hiệu: K v ; K ’ v ): đánh giá mức độ vốn đầu

tư cho sản xuất, đơn vị tính là đồng/người và đồng/tàu

 1 '

(2-8)

Trong đó: G sxcd – giá trị thiết bị tại thời điểm đầu tư; G i – vốn đầu tư tàu i; m – số tàu điều tra; n – số lao động tại thời điểm điều tra

- Chi phí cho đơn vị sản phẩm (ký hiệu: H 1 ): đánh giá hiệu quả sản xuất tương

ứng với công nghệ đang sử dụng, đơn vị tính là phần trăm (%)

100

sp

nl G

G

Trong đó: G nl – chi phí nhiên liệu (dầu, nhớt) một chu lỳ hoạt động; G sp – doanh thu một chu kỳ sản xuất

- Độ mạnh nghề (ký hiệu: V): đánh giá khả năng hoạt động khai thác của nghề

bao gồm cả yếu tố công nghệ, đơn vị tính là Prom (PM)

4

2 h l

V   (2-10)

Trong đó: l – chiều dài giềng phao; h – chiều cao lưới làm việc

2.2.4.2 Xác định các thông số ánh sáng

- Xác định tổng công suất điện cung cấp cho tải [2]:

+ Công suất biểu kiến của nguồn cung cấp (máy phát điện):

+ Công suất điện của các bóng đèn tiêu thụ (tải) để phát sáng:

Trong đó: U - điện áp nguồn (V); I - cường độ dòng điện (A); Cosφ - hệ số công suất

+ Công suất điện cung cấp cho tải là:

Scung cấp =

 Cos

Trang 31

Hệ số công suất cosφ là chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng, có ý nghĩa rất lớn về kinh

tế, nâng cao hệ số công suất sẽ tận dụng tốt công suất nguồn (máy phát điện, máy biến áp,.v.v.) cung cấp cho tải

- Tổng công suất nguồn sáng:

i

N N

P

1

2 1

Trong đó: P - tổng công suất nguồn sáng, đơn vị tính Watt (W) hoặc Kilo Watt (kW);

N 1 - số lượng bóng đèn cao áp (bóng); N 2 - số lượng bóng đèn huỳnh quang (bóng); n - tập hợp các số tự nhiên, n = 1,2,3,…

- Góc treo nguồn sáng: sử dụng thước đo độ, để đo góc nghiêng của máng đèn và

chóa đèn so với mặt phẳng thành cabin tàu, góc nghiêng này cũng chính là góc treo nguồn sáng trên tàu khảo sát, đơn vị tính là độ và được tính theo công thức:

2

2 1

i i i

- Độ cao treo nguồn sáng: sử dụng thước dây, đo từ mặt nước đến tâm của vị trí

treo máng đèn hoặc chóa đèn, độ cao đo được chính là độ cao treo nguồn sáng, đơn vị tính là mét (m) và tính theo công thức:

2

2 1

i i i

i

Z Z Z Z

Trong đó: Z i - độ cao treo nguồn sáng trung bình trên tàu khảo sát thứ i (m); Z i1- độ cao

treo nguồn sáng mạn trái trên tàu khảo sát thứ i (m); Z i2- độ cao treo nguồn sáng mạn phải trên

tàu khảo sát thứ i (m); Z i3- độ cao treo nguồn sáng sau đuôi trên tàu khảo sát thứ i (m)

- Tỷ lệ công suất bóng đèn huỳnh quang:

P H

n

i n

i HQ HQ

i

Trong đó:

i HQ

H - tỷ lệ phần trăm tổng công suất bóng đèn huỳnh quang trên tàu khảo

sát thứ i (%);

i HQ

P - tổng công suất bóng đèn huỳnh quang trên tàu khảo sát thứ i (W)

Trang 32

2.2.4.2 Tính hiệu suất khai thác của nghề lưới vây

- Năng suất đánh bắt trung bình được tính theo công thức (Sparre & Siebren,1995):

- Lợi nhuận chuyến biển:

Lợi nhuận của chuyến biển được xác định là khoảng chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ có thể xác định được lợi nhuận ròng (lãi ròng)

Tổng doanh thu = ∑Sản lượng * Giá bán (2-19) Tổng chi phí chủ yếu được xác định là chi phí biến đổi (chi phí nhiên liệu, bảo quản, lương thực - thực phẩm, lương thuyền viên, sửa chữa nhỏ)

LC = ∑Doanh thu chuyến biển - ∑Chi phí chuyến biển (2-20)

Trong đó: L C – lợi nhuận trong chuyến biển

Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê trên phần mềm Excel để tính sản lượng, năng suất khai thác, lợi nhuận chuyến biển,.v.v

Trang 33

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận

3.1.1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận

3.1.1.1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản phân theo nhóm công suất

Cơ cấu nghề khai thác hải sản phân bố chủ yếu ở các nghề rê (39,30%), pha xúc (21,40%), câu (10,29%), lưới vây ánh sáng (5,91%), lưới kéo (4,64%) và nghề khác (39,86%), thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản theo nhóm công suất

Nguồn: Chi cục KT & BVNL Thủy sản Ninh Thuận, tính đến tháng 11 năm 2009

- Nghề lưới rê: phân bố ở nhóm tàu có công suất máy tàu nhỏ hơn 50 cv (chiếm 88,10%), hoạt động chủ yếu ở vùng biển ven bờ;

- Nghề câu: tập trung ở nhóm công suất nhỏ hơn 50 cv (chiếm 97,09%), hoạt động khai thác vùng ven bờ là chủ yếu;

- Nghề lưới kéo: có số lượng tàu ít nhất trong tỉnh, phân bố nhiều ở nhóm tàu từ

Nhóm công suất

(cv) Nghề khai thác

Trang 34

Như vậy, tàu cá của tỉnh Ninh Thuận có quy mô nhỏ, hoạt động khai thác chủ yếu ở vùng biển ven bờ Trong cơ cấu nghề, tuy số lượng tàu làm nghề lưới vây chỉ có

158 chiếc, nhưng số lượng tàu này tập chủ yếu ở nhóm công suất lớn hơn 90 cv và có

xu hướng phát triển xa bờ cao hơn so với nghề rê và nghề câu của địa phương

3.1.1.2 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản theo địa phương

Qua khảo sát, thấy rằng tàu cá của địa phương phân bố chủ yếu ở các huyện Ninh Hải (35,75%), Ninh Phước (36,43%), Phan Rang (25,80%), Thuận Nam (1,31%)

và Thuận Bắc (0,71%), thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 3.2: Cơ cấu tàu thuyền khai thác chia theo địa phương

Nguồn: Chi cục KT & BVNL Thủy sản Ninh Thuận, tính đến tháng 11 năm 2009

Bảng 3.2 cho thấy, số lượng tàu trong ba huyện Ninh Hải, Ninh Phước và Tp Phan Rang tập trung nhiều nhất, chiếm 97,98% tổng số tàu thuyền trong tỉnh và chủ yếu làm các nghề: lưới rê, câu, lưới vây và lưới kéo

- Ninh Hải: phát triển chủ yếu là nghề lưới rê, chiếm 41,53% tổng số tàu toàn

huyện, tiếp đến là lưới vây (chiếm 12,97%) và nghề câu (chiếm 11,92%) Tuy số lượng tàu lưới vây (chủ yếu lưới vây ánh sáng) là 124 chiếc đứng thứ 2 trong huyện, nhưng công suất máy tàu trung bình lớn nhất trong số đội tàu hoạt động khai thác , đạt 108,54 cv Điều này cho thấy, nghề lưới vây ánh sáng của huyện có khả năng phát triển xa bờ hơn hẳn nghề lưới rê và nghề câu;

- Ninh Phước: số lượng tàu cá tập trung nhiều ở nhóm nghề khác, chiếm 61,97%

tổng số lượng tàu hoạt động khai thác trong huyện, tiếp đến là nghề lưới rê (chiếm 23,64%)

và nghề câu (chiếm 11,20%) Tuy số lượng tàu lưới vây ánh sáng chỉ chiếm 2, 88% tổng số lượng tàu của huyện, nhưng công suất máy tàu trung bình, đạt 114,43 cv lớn hơn công suất trung bình của nghề lưới rê (15,23 cv) và nghề câu (16,09 cv)

Địa phương

Nghề

Ninh Hải

Ninh Phước

Phan Rang

Thuận Bắc

Trang 35

- Phan Rang: số lượng tàu tập trung chủ yếu ở nghề lưới rê, chiếm 58,49% tổng

số tàu hoạt động khai thác hải sản của thành phố và lưới kéo (chiếm 10,45%) Đối với nghề lưới vây ánh sáng, số lượng tàu rất ít, chỉ có 6 chiếc (chiếm 0,87%) và công suất máy trung bình nhỏ, đạt 74,67 cv

- Các huyện Thuận Bắc và Thuận Nam, tuy có hoạt động khai thác hải sản nhưng số lượng tàu của 2 huyện này rất ít, chiếm 2,02% tổng số tàu cá của tỉnh và có công suất máy trung bình rất nhỏ

Như vậy, nghề lưới vây ánh sáng của tỉnh Ninh Thuận phân bố chủ yếu ở ba tỉnh Ninh Hải, Ninh Phước và Tp.Phan Rang Số lượng tàu lưới vây ánh sáng tuy ít, nhưng công suất máy trung bình của đội tàu này, đạt 108,30cv lớn hơn công suất trung bình của đội tàu lưới rê 4,12 lần và nghề câu là 6,62 lần

3.1.2 Năng lực nghề lưới vây ánh sáng ở Ninh Thuận

3.1.2.1 Tàu thuyền, ngư cụ và thiết bị phục vụ khai thác

a Tàu thuyền

Theo kết quả điều tra, đội tàu lưới vây ánh sáng tỉnh Ninh Thuận chủ yếu đóng bằng vỏ gỗ; chiều dài thân tàu từ 11,20 ÷ 18,35m; chiều rộng tàu từ 2,85 ÷ 4,55m; chiều cao mạn tàu từ 0,96 ÷ 2,50m; tải trọng tàu từ 5,70 ÷ 53,54 tấn Kích thước và tải trọng trung bình tàu lưới vây ánh sáng của địa phương được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 3.3: Kích thước và tải trọng trung bình chia theo nhóm công suất

Bảng số liệu trên cho thấy, kích thước và tải trọng trung bình của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương tỷ lệ thuận với công suất máy tàu

Đối với tàu lưới vây, giá trị của con tàu cũng như thiết bị phục vụ sản xuất, được phản ánh bởi tuổi và mức độ hao mòn của hệ thống tàu Tuổi trung bình của đội tàu lưới vây ánh sáng là 6,49 năm, lớn hơn đội tàu lưới vây cả nước (5,8 năm) [14] và có xu hướng giảm dần theo sự giảm công suất tàu Hao mòn hữu hình của đội tàu này khoảng 16,72% và có xu hướng giảm dần theo sự tăng công suất tàu (xem hình 3.1)

Thông số tàu Nhóm CS (cv)

Số mẫu (chiếc) Lmax (m) Bmax (m) Hmax (m)

Tải trọng (tấn)

Trang 36

Hình 3.1: Tuổi và hao mòn hữu hình của

đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương

Hình 3.2: Khả năng đầu tư của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương

Điều này cho thấy, xu hướng đóng tàu lắp máy có công suất lớn đang được phát triển tại địa phương

Vốn đầu tư trung bình cho mỗi tàu lưới vây là 381,82 triệu đồng/tàu, suất đầu tư trên đơn vị lao động trung bình đạt 26,19 triệu đồng/người (xem hình 3.2) thấp hơn so với đội tàu lưới vây cả nước

Hình 3.3: Trang bị động lưc của đội tàu

lưới vây ánh sáng địa phương

Hình 3.4: Mức tiêu hao nhiên liệu của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương

Trang bị động lực trung bình của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương khoảng 143,75 cv, cao hơn so với đội tàu lưới vây cả nước (133,48 cv) [14] và có xu hướng tăng theo sự tăng công suất tàu (xem hình 3.3) Chi phí nhiên liệu cho một đơn vị sản phẩm trung bình của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương là 9,50%, thấp hơn rất nhiều so với đội tàu lưới vây cả nước và xu hướng tăng giảm không rõ ràng, cao nhất

là nhóm tàu 90 ÷ 150cv, đạt 10,58% (xem hình 3.4)

b Ngư cụ

Sản lượng khai thác của nghề lưới vây ánh sáng không phụ thuộc nhiều vào kích thước vàng lưới, bởi tập tính hướng sáng của cá Tuy nhiên, kích thước này phải

Ngày đăng: 16/08/2014, 00:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Viện Nghiên cứu Hải sản (2011), Hội thảo khoa học đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản”.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản
Tác giả: Viện Nghiên cứu Hải sản
Năm: 2011
17. Chikara Shimane, Kensuo Tanaka và nnk (2005), Operation Strategy by Target Spesies on Offshore Perse Seine Fisheries in the Westeen Waters Japan, Journal of the Tokyo University of Marine Science and Technology, Vol 1, pp 87-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Operation Strategy by Target Spesies on Offshore Perse Seine Fisheries in the Westeen Waters Japan
Tác giả: Chikara Shimane, Kensuo Tanaka và nnk
Năm: 2005
18. Gunzo Kawamura (1983), Vision and behaviour of fish in the vicinity of fish lamp, Proc. Intl. Conf. Dev. Managt. Trop Living Aquat. Resources. Serdang, Malaysia. 2-5 Aug.1983, pp. 197-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vision and behaviour of fish in the vicinity of fish lamp
Tác giả: Gunzo Kawamura
Năm: 1983
20. Shigeo Hayase, Chuichi Miyata, Tomeyoshi Yamazaki, Srisunan Narintha- rangkura, Sakul Supongpun, Pirochana Saikliang (1983), Preliminary study on estimating effective light intensity for purse seine fisheries in Thailand, Joint Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shigeo Hayase, Chuichi Miyata, Tomeyoshi Yamazaki, Srisunan Narintha-rangkura, Sakul Supongpun, Pirochana Saikliang (1983)
Tác giả: Shigeo Hayase, Chuichi Miyata, Tomeyoshi Yamazaki, Srisunan Narintha- rangkura, Sakul Supongpun, Pirochana Saikliang
Năm: 1983
1. Lê Nguyên Cẩn và nnk (1984), Nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật đánh cá bằng lưới vây ban ngày và ban đêm kết hợp ánh sáng điện khai thác ở vùng lộng và vùng khơi trên các tàu có công suất từ 16-45 CV, Viện nghiên cứu Hải sản Khác
3. Ngô Thị Hương Giang (1973), Đánh cá bằng ánh sáng (bản dịch tiếng Việt), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Khác
4. Vũ Duyên Hải (2001), Nghiên cứu tác động của sử dụng cường độ ánh sáng mạnh đối với một số loài cá (cá cơm, cá trích, cá nục) và Mực trong khai thác hải sản, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
5. Vũ Duyên Hải (2008), Đánh gí trình độ công nghệ khai thác hải sản xa bờ, Trung tâm khuyến nông – khuyến Ngư quốc gia Khác
6. Phạm Trung Kiên (2003), Thử nghiệm mô hình Cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ rạn San hô trên địa bàn huyện Ninh Hải, Chi cục BVNL tỉnh Ninh Thuận Khác
7. Nguyễn Long (2001), Nghiên cứu khai thác mực đại dương (Sthenoteuthis Oualanensis) và mực ống (Loligo spp.) ở vùng biển xa bờ, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
8. Thái Văn Ngạn (2005), Phương pháp và các loại ngư cụ đánh cá sử dụng nguồn sáng, NXB Nông Nghiệp Khác
9. Đoàn Văn Phụ (2010), Nghiên cứu sử dụng ánh sáng đèn ngầm trong nước và ánh sáng màu cho nghề lưới vây xa bờ miền Trung và miền Đông Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
10. Nguyễn Đức Sĩ (2006), Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng, Luận án tiến sỹ, Nha Trang Khác
11. Đặng Văn Thi, Mai Văn Điện, Vũ Duyên Hải và nnk (2006), Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến thành phần và sản lượng của nghề lưới vây, Báo cáo kỹ thuật, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
12. Bùi Văn Tùng (2009), Hiện trạng sử dụng nguồn sáng trên các tàu lưới vây kết hợp ánh sáng khai thác hải sản xa bờ ở Đông Nam Bộ và khuyến cáo các giải pháp sử dụng nguồn sáng hợp lý, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
13. Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (2009), Báo cáo tổng kết vụ cá Nam 2009 và kế hoạch triển khai vụ cá Bắc 2009 – 2010, Ninh Thuận Khác
19. Paul Bannerman and Richmond Quartey (2004), the marine fisheries re- search division (MFRD), tema report on the observations of commercial light fishing operation in ghana, february – june 2004 Khác
21. Sugeng Hari Wisudo, Mulyono Sumitro Baskoro (2003), Output perform- ance of pressure kerosene lamp for the floated bamboo-platform liftnet (Bagan) in Indonesia, Laboratory of Fish Behavior, Tokyo Uni. Fish Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ hành chính của tỉnh Ninh Thuận - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 2.1 Bản đồ hành chính của tỉnh Ninh Thuận (Trang 25)
Hình 2.2: Độ cao và góc treo nguồn sáng trên tàu lưới vây ánh sáng - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 2.2 Độ cao và góc treo nguồn sáng trên tàu lưới vây ánh sáng (Trang 27)
Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản theo nhóm công suất - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Bảng 3.1 Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản theo nhóm công suất (Trang 33)
Hình 3.1: Tuổi và hao mòn hữu hình của  đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.1 Tuổi và hao mòn hữu hình của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương (Trang 36)
Hình 3.2: Khả năng đầu tư của đội tàu  lưới vây ánh sáng địa phương - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.2 Khả năng đầu tư của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương (Trang 36)
Hình 3.6: Khối nước tác dụng của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.6 Khối nước tác dụng của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương (Trang 37)
Bảng 3.5: Thiết bị phục vụ khai thác chia theo nhóm công suất - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Bảng 3.5 Thiết bị phục vụ khai thác chia theo nhóm công suất (Trang 38)
Hình 3.8: Mức độ sử dụng thiết bị của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương  b. Tổ chức sản xuất - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.8 Mức độ sử dụng thiết bị của đội tàu lưới vây ánh sáng địa phương b. Tổ chức sản xuất (Trang 40)
Bảng 3.9: Trang bị chủng loại bóng đèn theo nhóm công suất - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Bảng 3.9 Trang bị chủng loại bóng đèn theo nhóm công suất (Trang 42)
Hình 3.9: Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây địa phương - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.9 Hiệu quả khai thác của đội tàu lưới vây địa phương (Trang 45)
Hình 3.10: Năng suất khai thác trung bình theo nhóm công suất nguồn sáng - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.10 Năng suất khai thác trung bình theo nhóm công suất nguồn sáng (Trang 46)
Bảng 3.12: Hiệu quả khai thác của  tàu lưới vây theo nhóm công suất nguồn sáng - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Bảng 3.12 Hiệu quả khai thác của tàu lưới vây theo nhóm công suất nguồn sáng (Trang 47)
Hình 3.11: Năng suất khai thác trung bình theo nhóm độ cao treo nguồn sáng - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.11 Năng suất khai thác trung bình theo nhóm độ cao treo nguồn sáng (Trang 48)
Hình 3.12: Năng suất khai thác trung bình theo nhóm góc treo nguồn sáng - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.12 Năng suất khai thác trung bình theo nhóm góc treo nguồn sáng (Trang 50)
Hình 3.13: Năng suất khai thác trung bình theo tỷ lệ công suất bóng  FL - Đánh giá hiệu quả  sử dụng ánh sáng cho nghề lưới vây tỉnh ninh thuận khai thác một số loài cá nổi  nhỏ
Hình 3.13 Năng suất khai thác trung bình theo tỷ lệ công suất bóng FL (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm