1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ

113 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Tác giả Nguyễn Văn Trung
Người hướng dẫn TS. Hoàng Văn Tính
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Khai thác thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[13] Giai đoạn II của Dự án năm 2008 – 2010 tiếp tục phối hợp cùng phía Trung Quốc điều tra liên hợp nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung và ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với mục tiêu xác

Trang 1

Chương I

TỔNG QUAN CÁC

- Tàu cá Việt Nam

Chương II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

2.2.1 Xây dựng mẫu điều tra

2.2.2 Phân bố mẫu điều tra

2.2.3 Phương pháp và địa điểm điều tra

2.3 Thời gian nghiên cứu

2.4 Phương pháp xử lý số liệu điều tra

2.4.1 Xử lý số liệu thứ cấp

2.4.2 Xử lý số liệu sơ cấp

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tàu cá tham gia khai thác tại vịnh Bắc Bộ

3.1.1 Các địa phương có tàu khai thác tại vịnh Bắc Bộ

3.1.2 Quy mô đội tàu của các tỉnh tham gia khai thác ở vịnh Bắc Bộ 3.1.2.1 Số lượng tàu của các tỉnh tham gia khai thác ở vịnh Bắc Bộ 3.1.2.2 Cơ cấu nghề của các tỉnh tham gia khai thác ở vịnh Bắc Bộ 3.2 Cơ cấu đội tàu công suất từ 60-400 cv của 16 tỉnh có tàu khai thác

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

NGUYỄN VĂN TRUNG

GIẢI PHÁP CẤP GIẤY PHÉP CHO TÀU CÁ VIỆT NAM KHAI THÁC TẠI VÙNG ĐÁNH CÁ CHUNG

VỊNH BẮC BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

NGUYỄN VĂN TRUNG

GIẢI PHÁP CẤP GIẤY PHÉP CHO TÀU CÁ VIỆT NAM KHAI THÁC TẠI VÙNG ĐÁNH CÁ CHUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn này trung thực và là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu phỏng vấn, biểu mẫu thống kê nghề cá, điều tra thực địa trên ngư trường là kết quả của tôi và các cộng sự đã giúp đỡ trong quá trình thực

hiện đề tài Các số liệu báo cáo thống kê về tàu thuyền, các tài liệu, văn bản về công

tác quản lý tại các cấp trung ương và địa phương được tôi thu thập tại Uỷ ban liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hải sản, Cục Khai thác và Bảo

vệ nguồn lợi thuỷ sản, các Chi cục khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận văn này

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn là trung thực và là kết quả nghiên cứu của tôi Các biểu mẫu điều tra và số liệu điều tra là của tôi và các cộng sự

đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện Luận văn Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc,

đã được công bố và được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận văn này

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi nhận được sự hướng dẫn tận tình, sự giúp đỡ quí báu của của các thầy giáo Khoa Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, của Uỷ ban liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hải sản, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, các Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, các cộng sự, các bạn đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo - Tiến sĩ Hoàng Văn Tính, khoa Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Tôi xin cám ơn các thầy giáo - TS Nguyễn Hoa Hồng, Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Nha Trang, PGS TS Phan Trọng Huyến, TS Trần Đức Phú và các thầy, cô giáo Lớp cao học Công nghệ khai thác thủy sản, Khóa học 2009 - 2010 đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa học, nâng cao kiến thức chuyên môn để thực hiện Luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cám ơn đến Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Vịnh Bắc Bộ đã tạo điều kiện, bố trí thời gian cho tôi đi học, đi thu thập số liệu và cung cấp số liệu cần thiết để tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, các phòng, ban của Trường đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho chúng tôi trong suốt quá trình học cao học tại Trường

Một lần nữa xin trân thành cám ơn!

Nguyễn Văn Trung

Trang 5

MỤC LỤC

Quyết định giao đề tài luận văn thạc sỹ

Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các biểu bảng Danh mục hình vẽ, đồ thị

Chương I: Tổng quan các vấn đề liên quan

1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề ở trong và ngoài nước 3

1.1.2.1 Nghiên cứu về ngư trường - nguồn lợi vùng đánh cá chung 6 1.1.2.2 Nghiên cứu về hoạt động khai thác và quản lý hoạt động khai

1.2 Điều kiện tự nhiên- nguồn lợi thuỷ sản vịnh Bắc Bộ 9

1.3.3 Nguồn lợi thuỷ sản ở vùng đánh cá chung 15

1.4 Quá trình hình thành việc cấp phép khai thác vùng đánh cá

1.4.1 Các qui định về đánh cá trên vịnh Bắc Bộ 21 1.4.2 Công tác triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá 24

Trang 6

1.4.3 Công tác cấp phép cho tàu cá tham gia đánh cá chung 25 1.4.4 Quản lý hoạt động khai thác ở vùng đánh cá chung 27 1.4.5 Tình hình hoạt động của tàu cá tham gia vùng đánh cá chung 28 1.4.6 Tình hình kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý hai nước 29 1.4.7 Tình hình điều tra, đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh

Chương II: Nội dung và Phương pháp nghiên cứu 33

Chương III: Kết quả nghiên cứu 37

3.1 Thực trạng về đội tàu khai thác tại vịnh Bắc Bộ 37 3.1.1 Các địa phương có tàu khai thác tại vịnh Bắc Bộ 37 3.1.2 Quy mô đội tàu của các tỉnh tham gia khai thác ở vịnh Bắc Bộ 37 3.1.3 Cơ cấu nghề của đội tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ 38 3.1.4 Cơ cấu đội tàu công suất từ 60-400 cv của 16 tỉnh có tàu khai

3.2 Phân tích về thực trạng đội tàu cá Việt Nam được cấp giấy

phép khai thác tại vùng đánh cá chung năm 2010 40 3.2.1 Số tàu được cấp giấy phép năm 2010 theo nhóm công suất 40 3.2.2 Số lượng tàu theo nghề của các tỉnh được cấp giấy phép năm

3.2.3 Cơ cấu nghề theo nhóm công suất các tàu được cấp phép năm

Trang 7

3.2.4 So sánh năng lực các đội tàu và số tàu đã được cấp phép 45 3.2.4.1 So sánh tỷ lệ cấp phép giữa các tỉnh 45 3.2.4.2 So sánh tỷ lệ nghề được cấp phép và cơ cấu nghề thực tế 46 3.3 Đánh giá thực trạng đội tàu Việt Nam và Trung Quốc được cấp

phép đánh cá chung giai đoạn 2004 - 2010 47

3.3.3 Phân tích cơ cấu nghề của tàu cá Trung Quốc được cấp phép

Phụ lục 3: Các biểu mẫu điều tra

Trang 8

3.5 Tàu công suất 60 - 400 cv của 16 tỉnh làm các nghề không cấp

phép đánh cá chung

39

3.6 Số tàu được cấp phép năm 2010 theo nhóm công suất 41 3.7 Cơ cấu nghề các tỉnh được cấp phép năm 2010 43 3.8 Cơ cấu nghề theo nhóm công suất được cấp phép năm 2010 44

3.9 Cơ cấu nghề theo nhóm công suất tàu cá Trung Quốc cấp phép

3.15 Thời gian khai thác trung bình của các nghề năm 2010 52

3.16 Thời gian khai thác trung bình của tàu các tỉnh năm 2010 53

3.17 Sản lượng khai thác trung bình tính theo nghề năm 2010 54

3.18 Tuổi đời trung bình của thuyền trưởng các tỉnh 56 3.20 Tàu các tỉnh có đủ tiêu chuẩn tham gia đánh cá chung và số tàu

được tính

59

3.21 Tính hệ số tích cực hoạt động trong vùng đánh cá chung 61

3.22 Số giấy phép được cấp cho từng tỉnh theo giải pháp 1 62

3.23 Mức điều chuyển số giấy phép của các tỉnh theo giải pháp 1 63

3.24 Tính hệ số k2 theo công suất trung bình tàu 90-400cv của các tỉnh 65

3.25 Số giấy phép cấp cho các tỉnh theo giải pháp 2 66

3.26 Mức điều chuyển số giấy phép của các tỉnh theo giải pháp 2 67

3.27 Tính hệ số k3 theo sản lượng khai thác trung bình/tàu các tỉnh 69

3.28 Số giấy phép cấp cho các tỉnh theo giải pháp 3 70

3.29 Mức điều chuyển số giấy phép của các tỉnh theo giải pháp 3 71

Danh mục các biểu bảng Phụ lục 1

hiệu

1.3 Số lượng loài/nhóm loài hải sản bắt gặp trong các chuyến điều tra

1.4 Trữ lượng nguồn lợi thuỷ sản trung bình theo kết quả điều tra 1.2

Trang 9

chung Việt – Trung 2006 -2007

1.5 Tàu thuyền khai thác thuỷ sản 10 tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ 1.3 1.6 Công suất máy tàu 10 tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ 1.4 1.7 Cơ cấu nghề nghiệp khai thác thủy sản 10 tỉnh vịnh Bắc Bộ 1.5

1.8 Lao động khai thác thủy sản 10 tỉnh vịnh Bắc Bộ 1.6 3.1 Tàu khai thác thủy sản của các tỉnh có tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ 1.7 3.2 Cơ cấu nghề khai thác của 16 tỉnh có tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ 1.8 3.3 Cơ cấu đội tàu 60-400 cv của 16 tỉnh theo nhóm công suất 1.9 3.4 Cơ cấu đội tàu từ 60 - 400 CV của 16 tỉnh theo nghề khai thác 1.10 3.10 So sánh số giấy phép được cấp năm 2010 và số tàu các tỉnh 1.11

3.11 So sánh cơ cấu nghề thực tế và cơ cấu nghề cấp phép năm 2010 1.12

3.12: Tàu cá Việt Nam được cấp phép đánh cá chung 6 năm

Trang 10

3.9 So sánh thời gian hoạt động trung bình giữa các nghề trong vùng

đánh cá chung, ngoài vùng đánh cá chung và cả năm 2010 53 3.10

So sánh sản lượng khai thác trung bình/tàu/năm giữa các nghề

trong vùng đánh cá chung, ngoài vùng đánh cá chung và cả năm

3 Bản đồ Hiệp ước Pháp - Thanh năm 1887 2.3

4 Mẫu Giấy phép đánh bắt trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ 2.4

5 Tàu nghề câu Trung Quốc khai thác ở vùng đánh cá chung 2.5

6 Tàu nghề câu Việt Nam khai thác ở vùng đánh cá chung 2.6

7 Tàu nghề lưới kéo Trung Quốc khai thác ở vùng đánh cá chung 2.7

8 Tàu nghề lưới kéo Việt Nam khai thác ở vùng đánh cá chung 2.8

9 Tàu nghề chụp Việt Nam khai thác ở vùng đánh cá chung 2.9

10 Tàu nghề lưới rê Việt Nam khai thác ở vùng đánh cá chung 2.10

11 Tàu nghề lưới vây Việt Nam khai thác ở vùng đánh cá chung 2.11

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Vịnh Bắc Bộ có diện tích 126.250 km2 (khoảng 36.000 hải lý vuông), là vùng biển nằm giữa nước ta và Trung Quốc Ngày 25/12/2000, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ Hai Hiệp định này

có hiệu lực từ 30/6/2004 Đường phân định ranh giới trên vịnh Bắc Bộ là một đường đơn nhất nối tuần tự 21 điểm từ cửa sông Bắc Luân ra đến cửa vịnh Diện tích phía Việt Nam

là 67.203 km2 (khoảng 19.163 hải lý vuông) chiếm 54,23% diện tích toàn vịnh Phía Trung Quốc là 59,047km2 (khoảng 16.837 hải lý vuông) chiếm 46,77 % diện tích toàn vịnh Theo Hiệp định Hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ, hai nước thiết lập ba vùng đánh cá có thời hạn và chế độ quản lý khác nhau, là vùng đệm cho tàu cá loại nhỏ ở cửa sông Bắc Luân, vùng dàn xếp quá độ, vùng đánh cá chung cho ngư dân hai nước cùng tham gia đánh bắt

Vùng đánh cá chung nằm gần giữa vịnh Bắc Bộ, phía Bắc tính từ vĩ tuyến 200 00/

N, phía Nam đến đường đóng cửa vịnh và từ đường phân định mở rộng về mỗi bên 30,5 hải lý, có diện tích 33.500km2 chiếm 27% diện tích toàn vịnh Vùng đánh cá chung là nơi tập trung nguồn lợi thuỷ sản của vịnh Bắc Bộ Ngư dân hai nước được tham gia đánh bắt trong vùng đánh cá chung theo nguyên tắc bình đẳng về số tàu và tổng công suất Theo Qui định Bảo tồn và Quản lý nguồn lợi thuỷ sản ở vùng đánh cá chung, thời gian đầu mỗi nước được cấp phép cho 1.543 tàu cá với tổng công suất máy không lớn hơn 211.391 cv Công suất máy chính từ 60-400 cv/tàu Trong đó tỷ lệ tàu lưới kéo không quá 40% tổng

số tàu Số tàu tham gia vào vùng đánh cá chung hàng năm được Uỷ ban liên liên hiệp nghề cá vịnh Bắc Bộ xác định trên cơ sở nguồn lợi thuỷ sản của vịnh Bắc Bộ

Đến nay Hiệp định Hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ đã có hiệu lực hơn 6 năm Để thực hiện quản lý việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản tại vùng đánh cá chung, các cơ quan quản lý nghề cá hai nước đã cấp phép cho tàu cá hoạt động trong vùng biển này Việt Nam đã cấp phép cho 1543 tàu/năm cho ngư dân ta tham gia vùng đánh cá chung, Trung Quốc đã cấp phép cho trung bình 810 tàu/năm

Những năm đầu thực thi Hiệp định, ngư dân đăng ký khai thác tại vùng đánh cá chung ít nên đội tàu Việt Nam tham gia khai thác tại vùng này hầu hết tàu nhỏ, thuộc các tỉnh từ Quảng Bình và Thanh Hoá Mặt khác, nhận thức về các quy định trong Hiệp định còn hạn chế nên một số tàu cá nước ta đã bị phía Trung Quốc bắt giữ và xử phạt

Trang 12

Thời gian gần đây, nhận thấy được hiệu quả khai thác tại vùng đánh cá chung, trữ lượng nguồn lợi tại vùng biển này lớn, thành phần loài phong phú, ngư dân đóng tàu mới, công suất lớn đăng ký tham gia khai thác ngày càng nhiều Điều này đã gây ra bất cập trong quản lý: tàu nhỏ, nghề nghiệp lạc hậu giữ giấy phép; tàu lớn, nghề nghiệp tiên tiến không có giấy phép Mặt khác, số tàu được cấp giấy phép không cân đối giữa các tỉnh nên tạo áp lực rất lớn đối với các cơ quan quản lý nhà nước

Để có cơ sở khoa học tham mưu đề xuất cho các cơ quan quản lý nhà nước làm căn

cứ cấp giấy phép cho tàu cá Việt Nam khai thác tại vùng đánh cá chung, vịnh Bắc Bộ

chúng tôi thực hiện đề tài “Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá Việt Nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ”

Mục tiêu của đề tài : đề xuất các giải pháp cấp phép cho các tàu cá của ngư dân ta tham gia vào vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ phù hợp với điều kiện nghề cá nước ta và đặc điểm ngư trường, nguồn lợi tại vùng biển này

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài : Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để giúp các cơ quan quản lý nhà nước làm căn cứ cấp giấy phép cho tàu cá Việt Nam khai thác tại vùng đánh cá chung của vịnh Bắc Bộ có hiệu quả phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của ta khi hội nhập và đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các địa phương, phù hợp các qui định của Hiệp định Hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ

Đề tài có phạm vi rộng nhưng vì điều kiện thời gian, kinh phí nên tôi chỉ giới hạn lại trong phạm vi nghiên cứu về tàu thuyền và nghề nghiệp khai thác hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ

Trang 13

Chương I

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Liên quan với vấn đề nghiên cứu của đề tài chủ yếu là về vấn đề khai thác tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế và vấn đề hợp tác đánh cá chung

Về vấn đề khai thác tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Quốc tế về Luật biển 1982 tại điều 61, 62 thì quốc gia ven biển ấn định khối lượng sinh vật đánh bắt có thể chấp nhận được đối với các tài nguyên sinh vật ở trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình dựa vào các số liệu khoa học đáng tin cậy nhất mà mình

có, thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng

do khai thác quá mức Các thông tin khoa học có thể sử dụng, các số liệu thống kê liên quan được phổ biến và trao đổi với các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các quốc gia có công dân được phép đánh bắt trong vùng đặc quyền về kinh tế

Công dân của các quốc gia khác khi tiến hành đánh bắt trong vùng đặc quyền về kinh tế phải tuân thủ theo các biện pháp bảo tồn và các thể thức, các điều kiện khác được đề ra trong các luật và quy định của quốc gia ven biển

Đó là việc cấp giấy phép cho ngư dân hay tàu thuyền đánh bắt, việc nộp thuế hay các khoản phải trả khác Các chủng loại hải sản cho phép đánh bắt và ấn định tỉ lệ phần trăm đối với các đàn hay các nhóm đàn hải sản riêng biệt hoặc đối với số lượng đánh bắt của từng chiếc tàu trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là đối với số lượng tàu đánh bắt trong một thời kỳ nhất định; Quy định các mùa vụ và các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ và số lượng các phương tiện đánh bắt, cũng như kiểu, cỡ và số lượng tàu thuyền đánh bắt được sử dụng; Ấn định tuổi và cỡ cá và các sinh vật khác

có thể được đánh bắt; Các thông tin mà tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặc biệt là những số liệu thống kê liên quan đến việc đánh bắt và sức đánh bắt và thông báo vị trí các tàu thuyền; Nghĩa vụ với sự cho phép và dưới sự kiểm soát của quốc gia ven biển Quốc gia ven biển phải thông báo theo đúng thủ tục các luật và quy định mà mình ban hành về mặt bảo tồn quản lý [ 3]

Trang 14

Trên thế giới có nhiều vùng đánh cá chung như ở vùng biển Bắc Hải của các nước châu Âu, khu vực phia Bắc đại Tây Dương, Trung Tây Thái Bình Dương, việc hợp tác thường theo khu vực biển hoặc cùng đánh bắt một số loài cá có giá trị kinh tế ở nhiều khu vực biển khác nhau

Các nước trong cộng đồng châu Âu (EU): từ lâu họ đã biết rằng nguồn lợi của

họ rất hạn chế, trong khi nhu cầu ngày càng tăng cao Họ phải thi hành biện pháp cấp quota cho từng nước thành viên trong khối, nhưng kết quả thu được bị hạn chế vì để phục vụ lợi ích riêng, nhiều quốc gia thành viên không theo đúng các hạn mức cho phép Tiếp theo Ủy ban Nghề cá EU cấp quota theo từng đối tượng riêng biệt cho từng vùng biển và từng quốc gia Tuy nhiên, kết quả vẫn hạn chế vì EU không có khả năng kiểm tra được việc thi hành của tàu cá các nước trên biển và ở các cảng cá của cả khối Gần đây, EU đưa ra chính sách mới là cắt giảm đội tàu cá 30% sau 6 năm và chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn từ năm 1999- 2002 cắt giảm 15%, từ 2002-2005 giảm tiếp 15% Bên cạnh đó họ qui định rất chặt chẽ việc cấp giấy phép đóng tàu cá mới, kiên quyết giải bản các tàu cũ, lạc hậu Ngoài ra, họ còn trợ giúp tài chính cho công tác bảo

vệ nguồn lợi thủy sản EU đã loại bỏ hẳn nghề lưới rê cá Thu và rê cá Tuyết từ năm

2005 [20]

Các nước Đông Nam Á: Theo đánh giá của FAO, mặc dù sản lượng khai thác của các quốc gia Đông Nam Á có sự tăng trưởng, nhưng phần lớn các đối tượng khai thác quan trọng đã bị khai thác tới hạn, nguồn lợi ven bờ bị cạn kiệt, chỉ còn khả năng tăng sản lượng ở ngoài khơi với một số đối tượng như: mực, một số loại cá ngừ Công tác bảo vệ nguồn lợi hải sản được ASEAN rất quan tâm Nhiều hội thảo, hội nghị, nghị quyết đã được tiến hành và được công bố Có sự nhất trí cao trong các nước thành viên

về công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tuy nhiên, việc thực thi các biện pháp còn hạn chế và hiệu quả chưa cao, chỉ có Malaysia làm tốt hơn cả

Ở Malaysia đã có hệ thống cập nhật số liệu và thông tin về tình trạng nguồn lợi,

về sản lượng khai thác của từng tàu cá, từng bang, từng cảng cá và hoạt động của từng tàu cá đều được theo dõi chặt chẽ, được thống kê đầy đủ Các số liệu thu thập đều được xử lý nhanh chóng và tập trung Ngoài ra, họ còn quản lý rất chặt chẽ tàu cá, qui định chỉ được sử dụng 17 loại công cụ khai thác, chuyển dần nghề khai thác từ bờ Tây sang bờ Đông

Trang 15

Inđônêxia đã cấm hẳn nghề lưới kéo đáy từ năm 1985 để bảo vệ hệ sinh thái quanh hàng trăm hòn đảo Họ quy định chỉ sử dụng 23 loại công cụ khai thác

Thái Lan: nguồn lợi ven bờ của đã bị can kiệt từ lâu, nên họ cũng rất quan tâm tới vấn đề bảo vệ hệ sinh thái ven bờ, gần đây họ đã cấm hẳn việc khai thác ven bờ trong thời hạn ngắn ở từng địa phương, cấm khai thác từng đối tượng riêng lẻ, tích cực đưa tàu cá ra vùng biển quốc tế ở gần Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, liên doanh với các nước để khai thác.[20]

Nhìn chung, các biện pháp đã được thực hiện để quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong các vùng đánh cá chung là Quy định hạn ngạch khai thác (quota) và kiểm tra việc thực hiện trên thực tế Hạn ngạch khai thác thường được quy định cho từng đội tàu cá, từng địa phương, từng vùng biển có thể theo tổng sản lượng hoặc theo sản lượng của từng đối tượng chủ yếu Hạn ngạch khai thác còn được quy định theo mùa vụ trong năm tùy theo điều kiện cụ thể về thời gian các đàn cá trưởng thành di cư đến ngư trường khai thác Đối với các loài được quản lý đặc biệt như cá voi, cá ngừ vây xanh, thú biển hạn ngạch khai thác quy định đến từng cá thể [20 ]

Để có cơ sở đưa ra các hạn ngạch về sản lượng đúng có thể tận dụng được nguồn tài nguyên lại vừa có tác dụng bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi, phải hoàn toàn dựa vào kết quả nghiên cứu, điều tra, đánh giá đúng hiện trạng nguồn lợi và hệ thống thống kê sản lượng khai thác phải có độ tin cậy cao

Biện pháp này được thực hiện có hiệu quả trong khuân khổ vùng đặc quyền kinh

tế từng nước Nhưng cùng thực hiện trong các vùng biển chung của nhiều nước thường hay thất bại, do ngư dân thường vi phạm và thiếu hợp tác trong khi các Qui chế ràng buộc về kiểm tra giám sât và xử lý chưa đầy đủ và đồng bộ trong khối Thực tiễn cho thấy, để các quy định về hạn ngạch được thực hiện có kết quả, công tác thanh tra, kiểm tra phải được tiến hành rộng khắp, thường xuyên Việc làm này rất tốn kém Thí dụ như EU qui định hạn ngạch rất chặt chẽ tới từng tàu cá của khối, theo từng đối tượng

và theo từng quý trong năm Tuy vậy, ngư dân vẫn thường xuyên vi phạm và việc thanh tra, kiểm tra không thể làm xuể, nên hiệu quả quản lý vẫn không như ý muốn [20]

Năm 2000, Việt Nam và Trung Quốc đàm phán ký kết Hiệp định Hợp tác nghề

cá ở vịnh Bắc Bộ Trung Quốc đã nghiên cứu vấn đề này từ trước và đề nghị coi vịnh Bắc Bộ là vùng đánh cá truyền thống của ngư dân hai nước Tuy nhiên, Việt Nam đã

Trang 16

thỏa thuận thiết lập 3 vùng ngư trường để ngư dân hai nước đánh cá chung có thời hạn,

có hạn ngạch Điều này phù hợp với thực trạng đội tàu cá nước ta tại thời điểm đàm phán (năm 2000)

Diện tích 3 vùng được thiết lập chiếm gần 1/3 diện tích toàn vịnh; Khung thời gian có hiệu lực của Hiệp định gồm thời gian chính thức 12 năm (2004-2016), thời gian gia hạn 3 năm (2017- 2019); Qui định hạn ngạch về số lượng tàu cũng như tổng công suất và tỷ lệ tàu lưới kéo của hai bên bằng nhau và do Uỷ ban liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ qui định hằng năm

Ngày 30/6/2004, Hiệp định có hiệu lực, Trung Quốc đã có ngay danh sách các tàu được cấp phép và rất chủ động trong việc cân đối lực lượng tàu thuyền, nghề nghiệp, địa phương tham gia đánh cá trong vùng đánh cá chung Họ cấp phép hết hạn ngạch về tổng công suất chứ không không cấp hết hạn ngạch về số lượng tàu tham gia [ 15]

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Nghiên cứu về ngư trường - nguồn lợi vùng đánh cá chung

Trước đây, vấn đề vùng đánh cá chung chưa được quan tâm đúng mực nên các nghiên cứu về ngư trường, nguồn lợi chủ yếu là nghiên cứu chung cho cả vịnh Bắc Bộ hoặc nửa vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam Các nghiên cứu có liên quan gần đây gồm: Nghiên cứu “Cơ sở khoa học cho vấn đề quản lý hoạt động nghề cá ở vịnh Bắc Bộ” của TS Phạm Thược, Viện Nghiên cứu Hải sản, năm 2005 [14]

Dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam - ALMRV [11]

Các đề tài điều tra nguồn lợi hải sản ven bờ, đề tài thăm dò nguồn lợi và khả năng khai thác thuỷ sản xa bờ và một số đề tài khác của Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện khảo sát và đánh giá lại trữ lượng nguồn lợi hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Tuy nhiên, do việc phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, ven

bờ và xa bờ còn chưa rõ nên khu vực nghiên cứu chỉ tập trung vào khu vực phía Tây vịnh Bắc Bộ từ kinh tuyến 1080 3/ 13// E (là đường phân định phía Việt Nam tuyên bố) trở vào bờ

Những nghiên cứu trong nước về vấn đề này đa số đều xuất phát từ xác định trữ lượng nguồn lợi, tính toán sản lượng cho phép khai thác của một vùng biển Từ thực

Trang 17

trạng cơ cấu tàu thuyền, nghề nghiệp hoạt động trong vùng biển nghiên cứu, tính toán cường lực khai thác ứng với sản lượng khai thác hiện tại

Từ kết quả tính toán sản lượng thuỷ sản cho phép khai thác, phân bổ chỉ tiêu về sản lượng được phép khai thác cho từng vùng, từng tỉnh Phân bổ chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền (cường lực cho phép) Sau đó cân đối với thực trạng tàu thuyền, cơ cấu nghề nghiệp hiện có để đề xuất các giải pháp (trong đó có giải pháp quản lý nhà nước

là cấp phép khai thác) nhằm điều chỉnh cơ cấu tàu thuyền, cơ cấu nghề nghiệp để phát triển khai thác bền vững

Từ khi Hiệp định có hiệu lực, dự án “Điều tra liên hợp Việt – Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ’’ giai đoạn I, từ năm 2005 đến năm 2007 và giai đoạn II của Dự án (năm 2008 – 2010) Dự án được Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện và đã có báo cáo tổng kết giai đoạn I vào tháng 3/2008 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hiện trạng nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung Vịnh Bắc

Bộ đã bị giảm sút nhiều so với những năm trước đây cả về mật độ, thành phần và kích

cỡ cá loài cá kinh tế Kết quả của dự án bước đầu phục vụ có hiệu quả cho công tác hoạch định hạn ngạch số lượng tàu cá được tham gia hoạt động vùng đánh cá chung của Ủy ban liên hợp Nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam – Trung Quốc [13]

Giai đoạn II của Dự án (năm 2008 – 2010) tiếp tục phối hợp cùng phía Trung Quốc điều tra liên hợp nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung và ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với mục tiêu xác định cơ sở khoa học, thực tiễn phục vụ cho công tác đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và quản lý tàu cá vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế sau này

1.1.2.2 Nghiên cứu về hoạt động khai thác và quản lý hoạt động khai thác vùng đánh cá chung

Các nghiên cứu về hoạt động khai thác và quản lý khai thác ở vịnh Bắc Bộ gần đây gồm có:

Qui hoạch nghề khai thác hải sản xa bờ vịnh Bắc Bộ đến năm 2010, tác giả Nguyễn Hữu Chỉnh đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghề khai thác hải sản ở vịnh Bắc Bộ trong 10 năm (1993-2003) Xác định các căn cứ để xây dựng qui hoạch phát triển nghề khai thác hải sản ở vịnh Bắc Bộ đến năm 2010 Quy hoạch này còn đề cập đến các vấn đề như: phân định rõ ràng các ngư trường, khu vực và mùa vụ khai thác và

Trang 18

quy hoach khai thác cho từng địa phương, quản lý phát triển nghề khai thác hải sản theo các ngư trường và địa phương một cách hợp lý trên cơ sở bền vững của nguồn lợi

và hiệu quả kinh tế Quản lý chặt chẽ các ngư trường, nơi sinh sống, môi trường và các giống loài thủy sản [10]

Xác định cơ sở khoa học cho vấn đề quản lý hoạt động nghề cá ở vịnh Bắc Bộ, tác giả Phạm Thược đã nghiên cứu tình hình thực tiễn nghề cá ở vịnh Bắc Bộ đưa ra các nhận xét đánh giá Bằng cơ sở lý luận và các phương pháp tính toán khoa học tác giả đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động nghề cá ở vịnh Bắc Bộ

Năm 2007 tác giả Chu Tiến Vĩnh nghiên cứu vấn đề nguồn lợi thủy sản và thực trạng hoạt động khai thác thủy sản, các chủ trương, chính sách của nhà nước tác giả đưa ra các định hướng phát triển cho ngành khai thác thủy sản đến năm 2020

Năm 2003, tác giả Nguyễn Văn Kháng đã nghiên cứu phân tích đánh giá về hiện trạng cơ cấu tàu thuyền, nghề nghiệp khai thác hải sản Việt Nam và lý thuyết phát triển khai thác bền vững đưa ra kiến nghị việc sắp xếp lại đội tàu khai thác, cơ cấu nghề nghiệp trên từng vùng biển

Các nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động khai thác trên toàn vùng biển nước

ta nói chung và vịnh Bắc Bộ nói riêng đều đưa ra nhận định chung là: Thực trạng của nghề khai thác thủy sản nước ta là nguồn lợi hải sản ngày càng suy giảm, năng suất khai thác giảm, hiệu quả kinh tế kém, nhưng cơ quan quản lý còn lúng túng trong việc cắt giảm số lượng lớn tàu thuyền khai thác ven bờ Điều đáng quan tâm của nghề khai thác thuỷ sản nước ta là tình trạng chưa quản lý nổi số lượng tàu cá tăng lên hàng nghìn chiếc mỗi năm và số liệu thống kê về số lượng tàu thuyền của các cơ quan quản

lý không có sự thống nhất với nhau giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Vì vậy, đến nay vẫn còn hàng nghìn chiếc tàu chưa đăng ký; đăng ký công suất máy không đúng với công suất thực tế của tàu Việc quy hoạch, điều chỉnh cơ cấu đội tàu là rất cần thiết, nhưng ngành thủy sản vẫn chưa có cơ sở khoa học đầy đủ có thể dùng làm căn cứ để quy hoạch cơ cấu đội tàu, nghề nghiệp khai thác hải sản phù hợp với trữ lượng, nguồn lợi và khả năng khai thác cho phép

Vấn đề cấp thiết của công tác quản lý, hoạch định chính sách phát triển nghề cá bền vững hiện nay là phải xác định được cơ cấu đội tàu, nghề nghiệp khai thác hải sản phù hợp với từng vùng biển; có các chương trình để hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề

Trang 19

nghiệp; hệ thống giám sát tàu cá chặt chẽ phải được thiết lập, để đánh giá tác động của việc giảm khả năng đánh bắt đối với nguồn lợi; đánh giá được hiên trạng nguồn lợi và năng lực khai thác (cơ cấu nghề nghiệp, số lượng tàu thuyền) ở các vùng biển, ngư trường khai thác khác nhau; tình hình kinh tế-xã hội nghề cá có liên quan đến khai thác hải sản để có cơ sở khoa học điều chỉnh cơ cấu đội tàu, nghề nghiệp khai thác hải sản

và đề xuất các giải pháp giám sát hoạt động của đội tàu trên biển; các giải pháp cắt giảm đội tàu và vấn đề liên quan đến kinh tế-xã hội và đời sống cộng đồng ngư dân ven biển nhằm phát triển bền vững khai thác hải sản

Công tác quản lý khai thác ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ được Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt - Trung đưa ra bằng “Qui định quản lý và bảo tồn nguồn lợi thủy sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ”[4] Việc nghiên cứu để xác định số lượng tàu và tổng công suất được vào vùng đánh cá chung hàng năm được Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt - Trung đưa ra trong các kỳ họp hàng năm dựa trên các kết quả điều tra nguồn lợi của hai nước và báo cáo đánh giá việc thực hiện Hiệp định trong thời gian trước đó

1.2 Điều kiện tự nhiên - nguồn lợi thuỷ sản vịnh Bắc Bộ

1.2.1 Điều kiện tự nhiên vịnh Bắc Bộ

Vị trí, diện tích: Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía Tây Bắc biển Đông, trong phạm vi vĩ tuyến từ 17000’N đến 21040’N và kinh tuyến từ 105040’E đến 110000’E có diện tích khoảng 36.207,5 hải lý vuông tương đương 126.250,7 km2 (diện tích vịnh thuộc chủ quyền Việt Nam khoảng 67.203 km2), phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, phía Đông giáp đảo Hải Nam, phía Tây giáp 10 tỉnh của Việt Nam và phía Nam thông với Biển Đông [10]

Bờ biển: Vịnh Bắc Bộ có đường bờ khúc khuỷu, lồi lõm Bờ phía Tây có nhiều cửa sông lớn như sông Bạch Đằng, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Đáy, sông Gianh Bờ phía Tây của vịnh (phía Việt Nam) kéo dài khoảng 680 km, dọc theo

10 tỉnh gồm: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị Có 41 cửa sông, lạch chảy ra biển, hàng năm cung cấp một lượng khổng lồ các chất hữu cơ làm thức ăn cho nhiều loài sinh vật biển Vì vậy vịnh Bắc Bộ được đặc trưng bởi các hệ sinh thái cửa sông, bãi bồi và vùng triều rộng lớn, nơi tập trung sinh sống và đẻ trứng của nhiều loài hải sản

Trang 20

Đảo: Ven bờ phía Tây có nhiều đảo và quần đảo như Đảo Trần, Thanh Lân, Cô

Tô, Thượng Mai, Hạ Mai, Cát Bà, Hòn Mê, Cồn Cỏ Đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, gần như nằm giữa vịnh, ở toạ độ: 20007’35” - 20008’ 36”N và

107042’20” - 107044’15”E; cách đảo Hòn Dấu - Hải Phòng 110km, cách đảo gần nhất

là Hạ Mai - Quảng Ninh 70km, cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130 km Đảo Bạch Long Vĩ là cơ sở hậu cần và nơi trú gió đặc biệt quan trọng cho tàu cá trên vịnh Bắc

Bộ Phía Đông vịnh có ít đảo hơn gồm hai đảo lớn là Vị Châu, Tà Dương

Đáy vịnh: Nền đáy vịnh khá bằng phẳng, có dạng lòng chảo, độ dốc nhỏ hướng

từ phía Bắc về cửa vịnh và từ phía Tây về phía Đông vịnh; Độ sâu trung bình 38,5m, trên 60% diện tích có độ sâu dưới 50m, nơi sâu nhất không quá 100m Nề đáy vịnh chủ yếu là phù sa bùn cát tập trung ở phía Bắc và Tây vịnh, phia đông và Nam vịnh có nhiều cồn rạn đá xen kẽ Trầm tích chủ yếu là cuội, sạn, cát cacbonat, tập trung ở phía Nam Cát lớn, cát trung lẫn nhiều vỏ sinh vật và mảnh san hô, tập trung nhiều nhất ở phía Tây Nam vịnh

Gió biển: vịnh Bắc Bộ nằm trọn trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam kết hợp với bờ biển có hướng Tây Bắc- Đông Nam mùa gió Tây- Nam (từ tháng 4- tháng 9), mùa gió Đông- Bắc (từ tháng 10- tháng 3) hàng năm

Tháng 1 hướng gió ổn định với tần suất xấp xỉ 100% hướng Đông- Đông Bắc (ENE) đến Bắc (N), sức gió chủ yếu cấp 4 - 5 với tần suất 62 - 68% Tháng 7 là thời

kỳ gió mùa Tây Nam thịnh hành, gió có hướng Tây Nam (SW) đến Đông Nam (SE) chiếm 89 - 100% Sức gió chủ yếu từ cấp 3 - 5 với tần suất 86 - 97%

Tháng 4 và tháng 10 là thời gian giao thời giữa hai mùa gió, hướng gió không ổn định, sức gió cấp 2 - 4 chiếm đa số, gió mùa Đông Bắc (NE) hoạt động với sức gió mạnh cấp 5 - 6 chiếm tới 24%

Sóng biển: Sóng biển có sự phân mùa rõ rệt, theo mùa gió, hướng sóng thường trùng với hướng gió Độ cao sóng chủ yếu từ cấp 3 - 4 Sóng lừng thường quan trắc được ở khu vực phía Nam vùng đánh cá chung, nơi chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ thủy văn từ biển Đông

Dòng chảy: Các tháng có gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh, nước lạnh ở phần phía Bắc của vịnh dưới ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc hình thành dòng hải lưu

Trang 21

chảy song song với đường bờ theo chiều Bắc- Nam Tại vùng giữa vịnh từ dòng nước lạnh tách ra một nhánh uốn cong dần về hướng Đông rồi cùng với dòng nước ấm từ phía Nam của vịnh đi lên tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín ngược chiều kim đồng hồ (xoáy thuận) Tại đây có hiện tượng nước từ dưới sâu được đưa lên tầng trên (nước trồi) Dòng chảy vào thời gian gió mùa Đông Bắc hoạt động khá ổn định từ tầng mặt tới tầng sâu sát đáy

Thời gian hoạt động của mùa gió mùa Tây Nam, hướng dòng chảy tầng mặt có

xu thế ngược lại hoàn toàn so với mùa gió Đông Bắc Trong vùng đánh cá chung ở khu vực vĩ độ 17°45- 18°30 N và kinh độ 107°00 - 108°00E, dưới tầng sâu hình thành xoáy thuận nhưng kém ổn định hơn so với mùa gió Đông Bắc

Hệ thống dòng chảy trên đóng vai trò quan trọng trong việc di chuyển và phân

bổ vật chất trong vịnh, ảnh hưởng lớn đến phân bố nguồn lợi thủy sản, ngư trường vịnh Bắc Bộ.[10]

Nhận xét: Vịnh Bắc Bộ có điều kiện tự nhiên tương đối tốt cho nghề cá hoạt

động Gió và sóng biển tốc độ dòng chảy không lớn, thời gian thịnh hành của sóng, gió, dòng chảy cao nhất chỉ chiếm 1-2 tháng trong năm khoảng cách đến ngư trường không quá xa Ven bờ có nhiều cửa sông, đảo nhỏ Ngư trường gần nơi trú đậu cho tàu thuyền vì vậy thuận tiện cho tàu cá hoạt động, nhất là tàu cá loại nhỏ

Do tác động của hai loại gió mùa thay nhau hoạt động trên vịnh nên các yếu tố như dòng chảy, nhiệt độ chia làm hai mùa rõ rệt tương ứng với vụ cá Nam và vụ cá Bắc Vì vậy cơ cấu nghề khai thác ở vịnh Bắc Bộ được phân biệt rõ theo hai vụ

Các yếu tố như sóng, gió, trong vịnh Bắc Bộ có không lớn lắm, đây là điều kiện tốt để các tàu cá bám biển hoạt động dài ngày và nhóm tàu nhỏ có thể tham gia hoạt động ở vùng khơi trong vịnh

Đáy vịnh tương đối bằng phẳng, độ sâu không quá lớn (trung bình 38,5m), phù hợp cho nghề lưới kéo, nghề rê đáy hoạt động

Trong vịnh Bắc Bộ có sự phân biệt về ngư trường, nguồn lợi giữa phía Đông và Tây đường phân định Phía Tây đường phân định (vùng biển phía Việt Nam) có nhiều cửa sông nên lượng phù sa nhiều, đáy biển nông và bằng phẳng hơn phù hợp cho các nghề khai thác cá đáy như lưới kéo, câu, rê tầng đáy Phía Đông đường phân định đáy

Trang 22

biển sâu và nhiều rạn, sỏi, thích hợp cho các nghề khai thác cá nổi như vây, rê nổi, chụp mực

1.2.2 Nguồn lợi thuỷ sản vịnh Bắc Bộ

Những năm gần đây, thông qua dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam - ALMRV”, đề tài “Điều tra nguồn lợi hải sản ven bờ”, đề tài “Thăm dò nguồn lợi và khả năng khai thác hải sản xa bờ” và một số đề tài khác, Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hành khảo sát và đánh giá lại trữ lượng nguồn lợi hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Tuy nhiên, do việc phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc nên khu vực nghiên cứu chủ yếu chỉ được tập trung ở khu vực phía Tây Vịnh Bắc Bộ từ kinh tuyến 108°03/ E trở vào bờ.[11]

1.2.2.1 Thành phần loài

Thành phần loài của nguồn lợi thuỷ sản vịnh Bắc Bộ (xem bảng 1.1) Đã bắt gặp

317 loài thuộc 171 giống nằm trong 98 họ Phong phú nhất về số lượng loài bắt gặp ở dải độ sâu 30-50m nước, với 202 loài, 123 giống, 84 họ; tiếp đó là dải độ sâu 50-100

m nước bắt gặp 178 loài, 106 giống 70 họ [11]

Bảng 1.1 Số họ, giống, loài hải sản bắt gặp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ

Chiếm ưu thế về số lượng giống/loài là họ cá Khế (Carangidae) với 19 loài và 14 giống, tiếp sau đó là họ cá Lượng (Nemipteridae) với 13 loài thuộc 3 giống, họ cá Đù (Sciaenidae) với 11 loài thuộc 5 giống, họ tôm He (Penaeidae) gặp 10 loài thuộc 6 giống Có 2 họ hải sản bắt gặp 9 loài, 1 họ gặp 8 loài và 7 họ bắt gặp 7 loài, các họ khác số loài bắt gặp ít hơn, từ 1 đến 6 loài [11]

Trang 23

1.2.2.2 Sản lượng và năng suất đánh bắt

Năng suất đánh bắt và tỉ lệ % sản lượng của các họ hải sản theo từng dải độ sâu của vùng biển vịnh Bắc Bộ Xét chung cho toàn vùng biển, năng suất đánh bắt trung bình khoảng 104,7 kg/giờ kéo lưới Ở các dải độ sâu khác nhau, năng suất chênh lệch nhau khá rõ rệt Năng suất cao nhất quan sát được ở dải độ sâu 30-50m nước (khoảng

130 kg/giờ), tiếp theo là dải độ sâu 50-100m nước đạt 113,3 kg/giờ; dải độ sâu 20-30

m nước năng suất tương đối thấp, trung bình khoảng 65 kg/giờ

Trên toàn vùng biển, họ cá Khế (Carangidae) có năng suất đánh bắt cao nhất, năng suất đánh bắt trung bình đạt 14,5 kg/giờ; sản lượng khai thác chiếm 14,1% tổng

sản lượng Loài cá Bánh đường (Evynis cardinalis) có năng suất đánh bắt cao nhất Họ

cá Miễn sành (Sparidae) đứng thứ 2 về năng suất đánh bắt và tỉ lệ sản lượng với năng suất trung bình khoảng 13,3 kg/giờ và chiếm khoảng 12,5% tổng sản lượng Các họ khác có năng suất đánh bắt cao là: họ cá Sơn sáng (Acropomatidae), họ cá Hố (Trichiuridae), họ cá Liệt (Leiognathidae), họ Mực ống (Loliginidae), họ cá Mối

(Synodontidae), có 18 họ hải sản đóng góp sản lượng trên 1% vào tống sản lượng

Ở các dải độ sâu khác nhau, năng suất và sản lượng đánh bắt có sự thay đổi khá

rõ rệt Họ cá Khế tập trung nhiều ở vùng nước ven bờ, năng suất đánh bắt đạt trên 39 kg/giờ (chiếm 39,9% tổng sản lượng) ở dải độ sâu dưới 20 m nước, các dải độ khác năng suất đánh bắt thấp hơn, ở dải độ sâu 20-30m nước năng suất chỉ khoảng 7,2 kg/giờ Họ cá Miễn sành năng suất có xu hướng tăng lên theo chiều tăng của độ sâu vùng biển, năng suất đánh bắt trung bình khoảng 7 kg/giờ ở dải độ sâu dưới 20 m nước, năng suất tăng lên ở các dải độ sâu tiếp theo, khoảng 11 kg/giờ ở dải độ sâu 20-30 m nước và khoảng 26 kg/giờ ở dải độ sâu 30-50 m nước; khi độ sâu tiếp tục tăng thì năng suất đánh bắt cá Sơn sáng đã giảm xuống, khoảng trên 6 kg/giờ ở dải độ sâu trên 50 m nước Xu hướng tăng hoặc giảm ở năng suất đánh bắt theo độ sâu cũng thể hiện ở một

số họ hải sản khác

Một số ngư trường đánh bắt có năng suất cao là: vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩ (107045-108030; 20000-21000), vùng Trà Cổ thuộc tỉnh Quảng Ninh (21000-

21030; 107030-108000) và biển ngoài khơi tỉnh Quảng Bình (107045-108000; 170

45-18000) Ở những ngư trường này, năng suất đánh bắt cá đáy có thể đạt trên 200 kg/giờ kéo lưới Vùng biển ngoài khơi tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị năng suất đánh bắt cũng tương đối cao, dao động trong khoảng 100-200 kg/giờ kéo lưới Một số

Trang 24

ngư trường ở vùng biển ven bờ Hải Phòng, Nghệ An và Hà Tĩnh trước đây năng suất đánh bắt khá cao thì nay năng suất đánh bắt chỉ dao động trong khoảng dưới 50 kg/giờ kéo lưới [11]

1.2.2.3 Trữ lượng tương đối

Trữ lượng cá tầng đáy ở vịnh Bắc Bộ trong mùa gió Tây Nam năm 2004 ước tính khoảng 171.880 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 121.918 tấn Trữ lượng cao nhất ở dải độ sâu 30-50m nước, khoảng 63.209 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 85.940 tấn, mật độ phân bố cá đáy ở dải độ sâu 20-30 m khoảng 0,8 tấn/km2, thấp nhất so sới các dải độ sâu khác.[4]

Trữ lượng của một số họ hải sản chiếm ưu thế ở vịnh Bắc Bộ Họ cá Tráp (Sparidae) có trữ lượng cao nhất, khoảng 29.943 tấn, tiếp đó là họ cá Khế (Carangidae) khoảng trên 20.000 tấn Các họ cá chất lượng thấp như: họ cá Sơn sáng (Acropomatidae), họ cá Liệt (Leiognathidae) có trữ lượng khá cao (18.942 tấn và 14.209 tấn) Các họ hải sản có giá trị thương phẩm cao như: họ Mực ống (Loliginidae),

họ Mực nang (Sepiidae) và họ Ghẹ (Portunidae) có trữ lượng tương đối cao so với các

họ khác

Tổng hợp kết quả điều tra nguồn lợi bằng các phương pháp khác nhau cho từng nhóm sinh thái ở vịnh Bắc Bộ được trình bày ở bảng 1.2

Bảng1.2 Trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi hải sản vịnh Bắc bộ [4]

Tr ữ lượng Khả năng khai thác Thành phần

Nhận xét

Trang 25

- Nguồn lợi thủy sản ở vịnh Bắc Bộ tương đối phong phú về thành phần loài Cá nổi nhỏ chiếm ưu thế 73,86% Phân bố không đều ở các khu vực có độ sâu khác nhau

Vì vậy cơ cấu nghề nghiệp đội tàu cần phải đa dạng để tận dụng khai thác được các loài cá kinh tế ở các độ sâu khác nhâu

- Năng suất đánh bắt một số loài cá kinh tế như cá khế, bánh đường, miễn sành tương đối cao có thuận lợi cho nghề lưới kéo ở khu vực có độ sâu 30-50m

- Tổng trữ lượng khoảng 586 nghìn tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng

250 nghìn tấn

1.2.3 Nguồn lợi thuỷ sản ở vùng đánh cá chung

Trong Hiệp định Hợp tác Nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, Điều 6 đã qui định: “ căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt được xác định trên

cơ sở kết quả điều tra định kỳ về nguồn lợi thủy sản và những ảnh hưởng đối với hoạt động nghề cá của mỗi Bên ký kết cũng như nhu cầu của sự phát triển bền vững, … hàng năm xác định số lượng tàu cá của mỗi Bên ký kết vào hoạt động trong vùng đánh

cá chung Ủy ban Liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt - Trung điều chỉnh số tàu hoạt động ở vùng đánh cá chung” [13 ]

Kết quả giai đoạn 1 (2005 - 2007) của Dự án “Điều tra Liên hợp Việt Nam - Trung Quốc đánh giá nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ” đánh giá thành phần loài và trữ lượng nguồn lợi tại vùng đánh cá chung, vịnh Bắc Bộ như sau:

1.2.3.1 Thành phần loài

Số lượng loài/nhóm loài hải sản bắt gặp trong các chuyến điều tra ở Vùng đánh cá chung trong giai đoạn 2006-2007 là tương đối lớn (Xem bảng 1.3 phần phụ lục) Điều này cho thấy nguồn lợi hải sản ở vùng đánh cá chung khá phong phú

Đã bắt gặp 385 loài/nhóm loài hải sản, thuôc 178 giống và 102 họ

Các chuyến điều tra đã bắt gặp 23 loài chiếm ưu thế, có tỷ lệ sản lượng >1,0% tổng sản lượng Mười loài chiếm ưu thế nhất về sản lượng bao gồm: Acropoma japonicum (17,7%), Trichiurus lepturus (15,9%), Trachurus japonicus (11,7%), Leiognathus sp (6,6%), Sphyraena jello (6,2%), Pennahia macrocephalus (5,7%), Leiognathus bindus (4.,5%), Evynnis cardinalis (4,0%), Leiognathus splendens (3,8%), và Apogon amboinensis (3,6%)

Trang 26

Phần lớn các loài cá có dạng đồng sinh trưởng về chiều dài và khối lượng, có tốc

độ sinh trưởng khá lớn, có vòng đời tương đối ngắn Điều này phản ánh nguồn lợi này

đã bị khai thác quá mức Hầu hết các loài có giá trị kinh tế cao ở vùng đánh cá chung Vịnh Bắc bộ đang bị khai thác quá mức cho phép, một số loài hiện đang bị khai thác quá mức nghiêm trọng là: cá mối thường, cá mối vạch, cá trác ngắn, cá lượng dài, cá nục sồ, cá bánh đường, cá sòng nhật, cá hố và cá bạc má.[ 13]

1.2.3.2 Trữ lượng nguồn lợi thuỷ sản trung bình

Trữ lượng nguồn lợi thủy sản của vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ ước tính từ các chuyến điều tra của Việt Nam là 76.760,7 tấn (phần biển phía Việt Nam: 42.323,3 tấn; phía Trung Quốc là 34.437,4 tấn)

Từ các chuyến điều tra của Trung Quốc là 96.088,1 tấn (phần biển phía Việt Nam: 58.867,5 tấn; phía Trung Quốc là 37.220,6 tấn) [13]

Trung bình tính theo số liệu điều tra của cả hai nước là 88.181,2 tấn (Xem bảng 1.4 phần phụ lục)

Nhận xét

- Nguồn lợi thủy sản ở vùng đánh cá chung phong phú về thành phần loài có mặt hầu hết các loài hải sản của vịnh Bắc Bộ Các loài cá kinh tế phân bố theo các độ sâu khác nhau cần có cơ cấu nghề đa dạng để tận dụng tài nguyên nguồn lợi

Với tổng trữ lượng khoảng 88 nghìn tấn thì cần cấp phép để hạn chế cho các tàu vào khai thác trong vùng đánh cá chung, khống chế số tàu lưới kéo không quá 40% theo hiệp định là hợp lý cần duy trì trong thời gian tới

1.3 Nghề khai thác thuỷ sản ở vịnh Bắc Bộ

1.3.1 Tàu thuyền khai thác thuỷ sản

Thống kê tàu thuyền khai thác thủy sản của các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ từ Quảng Ninh đến Quảng Trị được thể hiện ở bảng 1.5, bảng 1.6 phần phụ lục cho thấy:

- Nghề cá các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ có quy mô nhỏ Số tàu lắp máy có 36.965 chiếc, chiếm 87,81% số lượng tàu cá toàn vùng Công suất trung bình của 1 tàu lắp máy thấp chỉ đạt 33,6 cv/tàu

- Tàu cá tỉnh Nghệ An có công suất trung bình lớn nhất (56,4cv/tàu), thấp nhất là tỉnh Quảng Trị, bình quân 20,6 cv/ tàu

Trang 27

- Các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình có số tàu khai thác xa bờ lớn nhất, chiếm 10-20% số tàu khai thác xa bờ toàn vùng.[9]

Đặc điểm quy mô đội tàu khai thác của 10 tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ quyết định qui mô và khả năng hoạt động của đội tàu nước ta tại vùng đánh cá chung

1.3.2 Nghề khai thác

Cơ cấu nghề khai thác thủy sản của 10 tỉnh khu vực vịnh Bắc Bộ năm 2010 được trình bày trong bảng 1.7 phần phụ lục Trong toàn vùng có hơn 24 loại nghề khai thác thuỷ sản được sắp xếp vào trong 7 họ nghề chủ yếu Trong đó có 5 họ nghề tham gia khai thác ở vùng đánh cá chung là: lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nghề câu, chụp Tuy nhiên quy mô đội tàu của các họ nghề có sự khác nhau giữa các địa phương.[9]

- Họ nghề lưới kéo:

Có 5.667 tàu chiếm 13,4% tổng số tàu, trong đó có 3 loại nghề chính là lưới kéo đôi cá, lưới kéo đơn cá và lưới kéo đơn tôm Nghề lưới kéo đơn tôm có công suất dưới 90cv là chủ yếu Hoạt động ở vùng ven bờ, không tham gia khai thác ở vùng đánh cá chung Tỉnh có tỷ lệ tàu làm nghề lưới kéo cao nhất vùng là Quảng Ninh có 1.639 tàu, Thanh Hóa 1.232 tàu nhưng chủ yếu là nghề lưới kéo tôm

Các tàu làm nghề lưới kéo cá đều có công suất lớn, từ 250 cv trở lên Hiện nay các tàu lưới kéo đôi của Thái Bình, Thanh Hóa sử dụng mẫu lưới kéo mắt lưới miệng lớn, độ mở miệng cao du nhập từ Trung Quốc, thường đánh bắt được cả cá tầng đáy và

cá nổi nhỏ, năng suất cao, chất lượng sản phẩm thấp Hoạt động chủ yếu ở vùng lộng, thời gian hoạt động ở vùng đánh cá chung rất ít Do trình độ công nghệ và tốc độ dắt lưới không cạnh tranh được với tàu lưới kéo của Trung Quốc

- Họ lưới vây:

Họ lưới vây có 526 tàu chiếm 1,25% tổng số tàu, có 3 nghề: vây ánh sáng đánh bắt cá cơm, vây ánh sáng đánh bắt cá nổi nhỏ, mực và vây ngày Nghề vây ngày đánh bắt các đàn cá nổi đi tập trung Trong số 10 tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ thì Thanh Hóa

là tỉnh có nghề lưới vây nhiều nhất, 257 tàu Tiếp đến là các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị Nghề vây là nghề hoạt động chủ yếu trong vùng đánh cá chung, có năng suất cao Nghề vây ánh sáng kết hợp với chà 1-2 năm trước phát triển mạnh ở Thanh Hoá, nhưng gần đây do làm ăn thua lỗ nhiều tàu đã chuyền nghề khác, bán tàu sang các tỉnh Nghệ An, Nam Định chuyển sang làm nghề lưới rê Họ lưới vây còn có

Trang 28

nghề lưới rùng Tuy nhiên nghề lưới rùng là nghề chỉ chuyên hoạt động ở vùng ven bờ hiện nay còn rất ít

- Họ lưới vó, mành, chụp:

Họ lưới vó mành, chụp có 3.599 tàu chiếm 8,55% tổng số tàu, trong đó nghề vó ánh sáng phát triển mạnh và tập trung chủ yếu ở Quảng Bình Nghề lưới mành phát triển mạnh ở các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào và số lượng nhiều nhất là tỉnh Thanh Hóa Trong đó nghề mành đèn phát triển hơn Nghề này chủ yếu đánh bắt các loại cá nổi nhỏ như cá Trích, cá Cơm Họ nghề này thường sử dụng tàu có công suất nhỏ Nghề chụp mực chiếm tỷ lệ khá lớn 1995 tàu chiếm 4,7% số tàu thuyền trong vùng Nghề này trước đây đánh bắt các đối tượng có giá trị kinh tế cao như mực ống, cá hố Hiện nay sản lượng khai thác chính của nghề này là cá nổi nhỏ hướng sáng, sản lượng mực chiếm tỷ lệ nhỏ Theo nguyên lý đánh bắt có thể xếp nghề chụp mực cùng họ nghề vó mành ánh sáng Nghề chụp mực hiện nay phát triển mạnh ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Bình hoạt động chủ yếu ở vùng đánh cá chung

- Họ lưới rê:

Họ lưới rê ở các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ rất đa dạng về chủng loại nghề Tổng số 13.791 tàu chiếm 32,76% tổng số tàu thuyền trong toàn vùng bao gồm rất nhiều loại nghề được đặt tên theo đối tượng đánh bắt như: Rê thu ngừ, Rê cá chim, Rê chuồn, Rê trích, Rê bạc má, Rê 3 lớp mực, Rê ghẹ Ở đây ta phân loại theo hình thức hoạt động của lưới như rê tầng mặt, rê tầng đáy, rê cố định và rê trôi, rê 1 lớp, rê 3 lớp Gần đây, phát triển lưới rê hỗn hợp gồm 2 - 3 loại kích thước mắt lưới và độ thô chỉ lưới khác nhau theo chiều cao tấm lưới để đánh bắt các đối tượng khác nhau phân bố ở nhiều tầng nước

Trong họ lưới rê thì nghề Rê thu ngừ (nilon), Rê chuồn, Rê Bạc má, Rê 3 lớp khai thác mực thường đánh bắt ở vùng đánh cá chung Nghề rê 3 lớp đánh mực và rê hỗn hợp hiện nay phát triển mạnh ở Hải Phòng, Nam Định

- Họ nghề câu:

Họ nghề câu có 5.824 tàu chiếm 13,8 % tổng số tàu, trong đó chia ra 3 loại chủ yếu gồm: Câu cá, Câu mực, Câu vàng Nghề câu chủ yếu đánh bắt ở vùng đánh cá chung, nhưng đa số sử dụng tàu thuyền có công suất nhỏ, không an toàn trong quá trình khai thác Nghề câu phát triển nhất ở Quảng Bình với nghề câu cá chiếm tỷ lệ lớn,

Trang 29

nghề câu tỉnh Thanh Hoá chủ yếu là nghề câu mực hoạt động kiêm nghề Nghề câu mực cũng phát triển mạnh ở tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh

- Họ nghề cố định:

Họ nghề này chiếm 2,8 % tổng số tàu của toàn vùng Chủ yếu là nghề đăng, đáy,

lờ mực, bóng cá Trong họ nghề này thì chỉ có nghề bẫy ghẹ, bẫy mực nang có thể hoạt động ở vùng biển khơi trong 3 - 4 tháng/năm kiêm với các nghề chính khác Nghề đăng, đáy hoạt động ven bờ, bãi triều, vùng cửa sông

1.3.3 Lao động khai thác thuỷ sản

Lao động khai thác thuỷ sản của 10 tỉnh ven vịnh Bắc Bộ tại thời điểm tháng 6/2010 trình bày ở bảng 1.8 phần phụ lục, cho thấy:

- Số lượng lao động khai thác thuỷ sản của 10 tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ là 123.107 người, trung bình 3 người/tàu Trong đó Thanh Hoá là tỉnh có số lượng lao động đông nhất trong toàn vùng: 27.904 người (chiếm 23%), Quảng Ninh 26.578 người (chiếm 22%), Quảng Bình 15.608 người (chiếm 12,7%), Nghệ An 15.414 người (chiếm 12,5%) và thấp nhất là tỉnh Ninh Bình: 1.179 người (chiếm 1%) [9]

- Chất lượng lao động khai thác thuỷ sản: Nghề khai thác thuỷ sản là nghề nặng nhọc, nguy hiểm; vì vậy không thu hút được những lao động có trình độ học vấn cao Kết quả thống kê cho thấy, có 68% chưa tốt nghiệp tiểu học, hơn 20% tốt nghiệp tiểu học, khoảng gần 10% có trình độ trung học cơ sở và 0,65% có bằng ở các trường dạy nghề Hầu hết các ngư dân trong khu vực đều có trình độ học vấn thấp, trình độ chuyên môn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cho nên hiệu quả sử dụng tàu thuyền có công suất lớn chưa cao Thuyền trưởng, máy trưởng của các tàu ở khu vực vịnh Bắc

Trang 30

Bộ thường chỉ được đào tạo qua các lớp ngắn hạn Vì vậy, việc sử dụng tàu, máy, ngư

cụ và các thiết bị hàng hải như: định vị, dò cá còn lúng túng, hiệu quả thấp, không phát huy hết tính năng tác dụng của thiết bị Việc tiếp thu công nghệ mới còn rất hạn chế, việc cải tiến công cụ khai thác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau Do trình độ học vấn thấp nên đa số thuyền trưởng không ghi Nhật ký đánh bắt hoặc ghi không đầy đủ và chính xác số liệu theo quy định

Vì vậy, hiệu quả các hoạt động khai thác thủy sản phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm được tích lũy qua thời gian hoạt động thực tiễn trên biển tức là tuổi đời và tuổi nghề của thuyền trưởng các tàu khai thác Trong thực tế, tuổi nghề gần như tỷ lệ thuận với tuổi đời của thuyền trưởng do tính chất cha truyền con nối và người lao động khai thác thủy sản thường đi học nghề rất sớm, từ khi 16-17 tuổi [9]

1.4 Quá trình hình thành việc cấp phép khai thác vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ

1.4.1 Các qui định về đánh cá trên vịnh Bắc Bộ

Việc quản lý khai thác thuỷ sản trong vịnh Bắc Bộ trước đây, trong thời kỳ Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp đã có các quy định về đánh cá biển Năm 1926, Pháp qui định Việt Nam có lãnh hải về mặt đánh cá rộng 3 hải lý; năm 1936, quy định lãnh hải Đông Dương về mặt đánh cá rộng 20km (10,8 hải lý) và năm 1948, quy định Việt Nam có lãnh hải rộng 3 hải lý và vùng đánh cá rộng 20km (10,8 hải lý) dọc theo

bờ biển Phía ngoài các vùng này là biển cả

Trong thời kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, về nguyên tắc Việt Nam ủng

hộ lãnh hải rộng 12 hải lý nhưng không đưa ra quy định cụ thể Như vậy, về nguyên tắc ngoài lãnh hải 12 hải lý là vùng biển cả.[10]

Ngày 12/5/1977, Chính phủ Việt Nam Tuyên bố quy định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Ngày 12/11/1982, Chính phủ ta tiếp tục ra tuyên bố về hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Theo các tuyên bố này, đường biên giới trong vịnh Bắc Bộ giữa hai nước được xác định theo Công ước Pháp - Thanh 1887 về hoạch định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, lấy đường kinh tuyến 108003’13”E làm ranh giới phân chia vịnh Bắc Bộ, vùng nước phía Tây của đường này là “Vùng nước lịch sử” của Việt Nam theo chế độ nội thuỷ

Trang 31

Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 Nước ta trở thành thành viên của Công ước

Trong những năm 50 và 60 (thế kỷ XX), Việt Nam đã cùng Trung Quốc ký kết các thoả thuận về hợp tác nghiên cứu khoa học biển và hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc

Bộ Về nghề cá, hai bên đã ký Hiệp định đánh cá thuyền buồm năm 1957, Nghị định thư năm 1961 và Hiệp định về đánh cá năm 1963 Theo các văn bản này, tàu thuyền đánh cá của hai bên không được vào đánh cá trong vùng biển rộng 3 hải lý (năm 1957), 6 hải lý (năm 1961) và cuối cùng là 12 hải lý (năm 1963) nằm dọc theo bờ biển

và hải đảo của mỗi nước Vùng biển còn lại hai bên được tự do đánh cá Ngoài ra, các Hiệp định còn quy định một vùng đệm ở khu vực cửa sông Bắc Luân cho phép tàu thuyền đánh cá nhỏ từ 10 tấn trở xuống được đánh bắt cá theo tập quán Các thoả thuận này đã hết hiệu lực từ năm 1969 [10]

Phía Trung Quốc không đồng ý tinh thần các tuyên bố 12/5/1977 và 12/11/1982 của Việt Nam về quy định đường kinh tuyến 108003’13”E là ranh giới biển giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ Năm 1974 và 1977 - 1978, trong đàm phán về phân định vịnh Bắc Bộ Trung Quốc đề nghị coi vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa hai nước và hai bên cần đàm phán phân định mới về vịnh Bắc Bộ

Trong quá trình đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, vấn đề hợp tác nghề cá là một trong những nội dung quan trọng được đề cập vì nó có liên quan đến chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế Để giải quyết vấn đề nghề cá sau khi phân định vịnh Bắc

Bộ, đầu năm 2000 bắt đầu đàm phán về Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ Ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh, Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam và Trung Quốc được ký cùng với Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ [20] Sau đó, hai Bên cùng đàm phán về “Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ” và “Quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ”,

đã đạt được nhất trí và ký kết ngày 29/4/2004 Hai Hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 6 năm 2004

Hiệp định hợp tác nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc là một Hiệp định kinh tế - kỹ thuật, quy định hình thức, nội dung, phạm vi và thời hạn hợp tác nghề

cá trong vịnh Bắc Bộ sau khi phân định vịnh Bắc Bộ Có mục đích tăng cường hợp tác nghề cá giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển trong vùng nước Hiệp định ở vịnh Bắc Bộ Đã tham khảo thực

Trang 32

tiễn hợp tác nghề cá trước đây trong Vịnh Bắc Bộ, căn cứ vào tình hình nguồn lợi thuỷ sản, tình hình tàu thuyền của mỗi Bên để xác định quy mô đánh bắt Hiệp định hợp tác nghề cá gồm 7 phần với 22 điều và 1 phụ lục [5]

Nội dung chính của Hiệp định là lập vùng đánh cá chung có thời hạn, nơi tàu cá của hai Bên được hoạt động đánh bắt theo quy định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá Việt

- Trung Vùng đánh cá chung nằm ở phía Nam vĩ tuyến 20000/ N, có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích vịnh Bắc Bộ Ranh giới phía Tây của vùng đánh cá chung đại

bộ phận cách bờ biển Việt Nam từ 35 đến 59 hải lý Thời hạn hiệu lực của vùng đánh

cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn) Sau đó việc hợp tác tiếp theo do hai Bên hiệp thương thoả thuận

Nội dung thứ 2 của Hiệp định là lập vùng dàn xếp quá độ nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 20000/ N, qui định bởi Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Trong thời hạn 4 năm, tàu cá của mỗi Bên được hoạt động trong Vùng dàn xếp quá độ với số lượng được quy định ban đầu và giảm dần mỗi năm 25%

Nội dung thứ 3 của Hiệp định là lập một vùng đệm ở phía ngoài cửa sông Bắc Luân nhằm tạo thuận lợi cho việc ra vào của tàu cá nhỏ hai bên Vùng này dài 10 hải

lý và rộng 6 hải lý (3 hải lý về mỗi phía kể từ đường phân định)

Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là: Vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung; sản lượng và số tàu cá được phép đánh bắt trong vùng đánh cá chung dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ nguồn lợi; mỗi Bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đánh cá chung trong khuôn khổ quy mô đánh bắt của bên mình

Hai bên thoả thuận thành lập Uỷ ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung

Từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 4 năm 2004, hai Bên đã đạt được thoả thuận các nội dung cụ thể về: Quy chế bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản vùng đánh cá chung; số lượng, thành phần Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ và Quy chế làm việc của Uỷ ban liên hợp

Trang 33

Quy chế quản lý và bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ [16] nhằm bảo đảm cho việc quản lý hoạt động nghề cá ở vùng đánh cá chung, Quy chế quy định:

- Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra các hoạt động nghề cá trong vùng đánh cá chung và tiến hành xử lý các hoạt động đánh bắt trái quy định của phía Việt Nam là Thanh tra bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng và Hải quân; của phía Trung Quốc là Cơ quan Quản lý giám sát ngư chính ngư cảng, Công an Biên phòng, Bộ đội Hải quân

- Áp dụng việc dán tem vào Giấy phép cấp cho tàu cá vào hoạt động ở vùng đánh

cá chung theo số lượng tàu cá do hai bên thoả thuận hàng năm để chống việc gian lận

và làm giả Giấy phép

- Quy định hành vi, hình thức xử lý và mức phạt đối với các hành vi vi phạm của người và tàu cá đánh bắt trong vùng đánh cá chung Hành vi vi phạm nghiêm trọng có thể bị phạt tiền đến 150 triệu đồng Việt Nam hoặc 75.000 Nhân dân tệ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật pháp của nước sở tại và bị huỷ bỏ tư cách đánh bắt trong vùng đánh cá chung

- Phụ lục của Quy chế quy định về: Giấy phép đánh bắt trong vùng đánh cá chung, dấu hiệu nhận biết tàu cá hoạt động trong vùng đánh cá chung, nhật ký đánh bắt trong vùng đánh cá chung, giấy xác nhận sự cố, biên bản kiểm tra tàu cá trong vùng đánh cá chung, quyết định xử phạt vi phạm trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc

tự lâu dài ở trong vịnh Bắc Bộ

1.4.2 Công tác triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá

Trang 34

Bộ Thuỷ sản, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì trong công tác phối hợp triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam- Trung Quốc giữa các bộ, ngành và các địa phương [8]

Tổ chức bộ phận thường trực của Ủy ban liên hợp nghề cá và trực 24h/24h để kịp thời giải quyết các vấn đề xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện Hiệp định; Theo dõi, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động cơ quan chuyên môn ở trung ương và địa phương triển khai thực hiện Hiệp định

Tổ chức các phiên họp giữa Ủy ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ hai nước, giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Hiệp định, xác định quy mô đánh bắt của tàu cá hai nước theo từng năm

Tổ chức tuyên truyền nội dung Hiệp định tạo sự thống nhất trong nhận thức và

để thực hiện tốt Tổ chức tập huấn phổ biến và hướng dẫn cụ thể việc triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá và các văn bản kèm theo cho các địa phương và các ngành

Triển khai các hoạt động khai thác hải sản trong vùng nước Hiệp định và việc quản lý hoạt động thuỷ sản ở vùng đánh cá chung Hội nghị lần thứ nhất của Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc đã thống nhất từ ngày 01/8/2004 những tàu cá đã được cấp phép hợp lệ có thể vào hoạt động trong vùng dàn xếp quá độ và vùng đánh cá chung Cũng từ thời điểm này, các lực lượng kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá trong vùng nước Hiệp định của hai Bên được triển khai và thi hành công vụ theo quy định của Hiệp định Việc quản lý hoạt động nghề cá trên biển có nhiều nội dung mới đòi hỏi phải có một cơ chế phối hợp chặt chẽ, có phương thức quản lý, kiểm tra, kiểm soát và xử lý tàu thuyền vi phạm phù hợp với các quy định của Hiệp định [8]

Những tàu cá Việt Nam có khả năng và nhu cầu sang hoạt động khai thác ở phía Đông đường phân định thuộc vùng đánh cá chung cần tiến hành các thủ tục theo hướng dẫn của Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Khi đánh bắt trong vùng đánh cá chung phải tuân thủ Quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản vùng đánh cá chung; mang biển số theo quy định của Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt - Trung

1.4.3 Công tác cấp phép cho tàu cá tham gia đánh cá chung

Trang 35

Theo qui định tại Hội nghị lần thứ nhất của Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc [17], từ ngày 01/8/2004 những tàu cá đã được cấp phép hợp lệ

có thể vào hoạt động trong vùng dàn xếp quá độ và vùng đánh cá chung Hai Bên đã thoả thuận hai năm đầu, số giấy phép cấp cho tàu đánh cá của mỗi bên vào vùng đánh

cá chung là 1.543 tàu với tổng công suất máy tàu là 211.391cv; tỷ lệ tàu lưới kéo không vượt quá 40%; chỉ được sử dụng loại tàu có công suất máy từ 60cv đến 400 cv/tàu; công suất máy tàu bình quân là 137cv/tàu Con số này sẽ được hai Bên thoả thuận điều chỉnh lại trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực dựa trên kết quả điều tra liên hợp nguồn lợi trong vùng đánh cá chung Tuy nhiên trong 6 năm qua con

số này vẫn được giữ nguyên

Các tiêu chuẩn một tàu được cấp phép vào vùng đánh cá chung:

- Có nghề khai thác không phải là nghề cấm, nghề hạn chế theo qui định Luật thuỷ sản;

- Tuân thủ các luật pháp và quy định của Việt Nam và quốc tế về khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản;

- Đáp ứng các quy định của Hiệp định Hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc; ( công suất máy từ 60-400c, tàu lưới kéo không quá 35% );

- Tuân thủ Nghị định số: 33/2010/NĐ-CP, ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển Theo qui định của Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản - Cơ quan thường trực của Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam thì các tàu cá muốn được cấp phép hoạt động đánh bắt ở vùng đánh cá chung phải là tàu có đủ các tiêu chuẩn tham gia và phải hoàn thiện đầy đủ các thủ tục sau:

1 Đơn xin cấp giấy phép đánh bắt hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ;

2 Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá;

3 Sổ chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá (đăng kiểm tàu còn hạn);

4 Sổ danh bạ thuyền viên;

5 Giấy tuỳ thân của thuyền viên (CMT hoặc Sổ thuyền viên);

6 Bằng thuyền trưởng, máy trưởng (theo công suất tàu);

Trang 36

7 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự thuyền viên

Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản các tỉnh: thông báo, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, lập danh sách các tàu trong tỉnh đề nghị được cấp phép gửi về Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản xem xét và cấp giấy phép

Giấy phép được dán tem chống làm giả do phía Trung Quốc gửi đến Việt Nam hàng năm đúng bằng số giấy phép mỗi bên được cấp cho tàu cá vào vùng đánh cá chung Dấu hiệu nhận biết (Biển số đánh cá chung) được làm theo qui định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc và thay đổi hàng năm về màu nền biển và màu chữ số

Thời gian đầu do chưa nắm được các nội dung của Hiệp định cũng như chưa thấy được các lợi ích khi tham gia vào vùng đánh cá chung nên nhiều chủ tàu không đăng ký tham gia Trong khi đó các chủ tàu muốn tham gia nhưng lại không có đủ các thủ tục theo yêu cầu (nhất là bằng thuyền, máy trưởng và giấy đăng ký tàu) Để quản

lý vùng biển, thực hiện nghiêm túc các qui định của Hiệp định, các cơ quan quản lý đã vận động, tuyên truyền ngư dân đăng ký tham gia hoạt động trong vùng đánh cá chung, tạo điều kiện tối đa về thủ tục hành chính cho ngư dân nhưng số tàu được cấp phép đa

số là tàu nhỏ, tập trung vào các tỉnh Quảng Bình và Thanh Hoá Qua một thời gian thực hiện, nhiều tàu cá của ngư dân Việt Nam hoạt động trong vùng đánh cá chung bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giữ, xử phạt

Vùng đánh cá chung là nơi có nguồn lợi thuỷ sản phong phú nên số ngư dân đề nghị tham gia ngày càng nhiều Thời gian gần đây rất nhiều tàu lớn mới đóng cũng có nhu cầu hoạt động trong vùng đánh cá chung, trong khi giấy phép đã được cấp hết trong thời gian đầu, dẫn đến tình trạng tàu nhỏ, nghề nghiệp lạc hậu giữ giấy phép - tàu lớn, nghề nghiệp tiên tiến không có giấy phép, không cân đối giữa các tỉnh

Việc cấp giấy phép của phía Trung Quốc: Trên nguyên tắc bình đẳng về hạn ngạch số lượng tàu và tổng công suất được cấp phép vào vùng đánh cá chung, do có sự chuẩn bị từ trước Trung Quốc đã cấp phép cho ngư dân họ vào vùng đánh cá chung có dán tem chống làm giả của Việt Nam ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và có đủ lực lượng tham gia vào vùng đánh cá chung

1.4.4 Quản lý hoạt động khai thác ở vùng đánh cá chung

Trang 37

Công tác quản lý các hoạt động nghề cá ở vùng đánh cá chung gồm hoạch định các chính sách, quản lý cấp phép vùng đánh cá chung, kiểm tra giám sát việc thực hiện trên biển Tổng kết đánh giá và điều chỉnh chính sách, qui định theo Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam- Trung Quốc [8]

Thành lập Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc: Số lượng, thành phần người của Uỷ ban liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam gồm đại diện của các Bộ, Ngành có liên quan như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ Thuỷ sản trước đây), Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao

Ủy ban Liên hợp Nghề cá vịnh Bắc Bộ hai nước tổ chức các phiên họp để kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam- Trung Quốc trong thời gian giữa hai kỳ họp Nghe báo cáo về kết quả điều tra liên hiệp nguồn lợi thuỷ sản để đưa ra qui định về số lượng tàu và dấu hiệu nhận biết tham gia trong năm tới Trao đổi các kiến nghị của hai bên về các vấn đề liên quan như việc kiểm tra, giám sát thực hiện hiệp định của 2 nước, về việc bắt giữ, xử phạt, trao đổi cập nhật các văn bản qui định về nghề cá của hai bên có sự thay đổi, giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Hiệp định Tổ chức bộ phận thường trực của Ủy ban liên hợp nghề cá và trực 24h/24h để kịp thời giải quyết các vấn đề xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện Hiệp định [8]

1.4.5 Tình hình hoạt động của tàu cá tham gia vùng đánh cá chung

Nhìn chung, các tàu cá Trung Quốc và Việt Nam được cấp giấy phép hoạt động trong vùng đánh cá chung tuân thủ các quy định của Hiệp định và sự kiểm soát của cơ quan chức năng

- Tình hình hoạt động của tàu cá Trung Quốc:

Qua thống kê của các lực lượng kiểm tra, quản lý trên biển vịnh Bắc Bộ thì tàu cá Trung Quốc hoạt động nhiều ở các khu vực Đông – Đông Nam đảo Trần, Thanh Lân từ

13 – 20 hải lý, Tây – Tây Nam đảo Bạch Long Vĩ 12 – 16 hải lý, Đông Nam Bạch Long

Vĩ 13 – 18 hải lý, Đông Nam đèo Ngang từ 30 – 45 hải lý Các tàu cá Trung Quốc đa số hoạt động đánh bắt bình thường theo đúng qui định, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vi phạm như sau:

Tàu cá Trung Quốc được cấp Giấy phép có công suất lớn Nghề lưới kéo, khi hoạt động cùng ngư trường thuộc vùng đánh cá chung kéo cả lưới rê, câu, chà của ngư dân

Trang 38

Việt Nam gây tranh chấp, phá hoại sản xuất của ngư dân Tàu cá Trung Quốc không được cấp Giấy phép nhưng treo biển dấu hiệu nhận biết giả; hoặc không có biển nhận biết trà trộn cùng các tàu cá được cấp Giấy phép Phương thức tiến hành: ban ngày hoạt động dọc phía Đông đường phân định, ban đêm lấn sang phía Tây đường phân định hoặc lợi dụng điều kiện thời tiết xấu xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản trái phép, khi phát hiện các lực lượng kiểm tra, kiểm soát của Việt Nam thì chạy sang phía Đông đường phân định

Tàu cá Trung Quốc được cấp Giấy phép nhưng sử dụng vào mục đích khác ngoài khai thác hải sản như buôn lậu, hoặc bán lẻ xăng dầu trên vùng biển Việt Nam

Việc tuân thủ các quy định về lánh nạn khẩn cấp còn chưa nghiêm, nhiều tàu cá

cố tình tránh trú gió tại khu vực đảo Bạch Long Vĩ trong khi hai bên đã quy định riêng khu vực lánh nạn khẩn cấp cho tàu cá hai nước

Không ghi chép nhật ký khai thác, hoặc ghi không đầy đủ theo qui định của Hiệp định [8]

- Tình hình hoạt động của tàu cá Việt Nam:

Tàu cá của ngư dân Việt Nam tuy có Giấy phép nhưng ít sang phía Đông đường phân định để hoạt động đánh bắt mà tập trung hoạt động nhiều ở phía Tây vùng đánh cá chung, vùng lộng vịnh Bắc Bộ

Các tàu cá Việt Nam được cấp phép hoạt động trong vùng dàn xếp quá độ và vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ chủ yếu là các tàu nhỏ, vỏ gỗ, công suất từ 60 - 300

cv, trang bị lạc hậu, khả năng chịu đựng sóng gió kém, hoạt động phân tán Vì vây, số tàu cá của ngư dân ta vẫn tập trung khai thác ở vùng biển của Việt Nam là chủ yếu Nhật ký đánh bắt được hướng dẫn ghi chép và cấp phát miễn phí cho các tàu cá hoạt động tại các vùng nước Hiệp định Tuy nhiên, đa số thuyền trưởng không ghi Nhật ký hoặc ghi không đầy đủ và chính xác số liệu theo quy định [8]

1.4.6 Tình hình kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý hai nước

Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra các hoạt động nghề cá trong vùng đánh cá chung và xử lý các hoạt động đánh bắt trái quy định của phía Việt Nam là Thanh tra bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng và Hải quân; của phía Trung Quốc là Cơ quan Quản lý giám sát ngư chính ngư cảng, Công an biên phòng, Bộ đội hải quân Ngày 28/4/2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án

Trang 39

bảo vệ vùng biển và kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá trong các vùng nước Hiệp định ở vịnh Bắc Bộ (Quyết định số 355/QĐ-TTg)

Triển khai thực hiện nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự, thực thi pháp luật trên biển

và bảo vệ vùng biển, bảo vệ chủ quyền quốc gia trong vịnh Bắc Bộ, các lực lượng kiểm tra, kiểm soát do Cục Cảnh sát biển làm đầu mối đã phối hợp hiệp đồng với nhau chặt chẽ, đồng bộ; là chỗ dựa tin cậy cho ngư dân Việt Nam trong quá trình hoạt động sản xuất trên biển Trong 6 năm qua đã có nhiều tàu cá hai bên vi phạm các qui định bị bắt giữ, xử phạt

Trong năm đầu tiên, tàu cá hai nước vi phạm bị xử phạt còn nhiều Nhìn chung,

số lượng và mức xử phạt của cơ quan chức năng hai nước đối với tàu cá của bên kia là tương đương nhau

Sang các năm tiếp theo, số vụ bắt giữ và xử phạt đã giảm đáng kể Một phần do ngư dân đã cơ bản nắm bắt được nội dung hai Hiệp định, tuân thủ các quy định có liên quan, một phần do cơ quan giám sát hai nước trên tinh thần giáo dục, nhắc nhở là chính nên chỉ cảnh cáo các trường hợp vi phạm Đối với các trường hợp tàu cá Trung Quốc xâm phạm sâu vào vùng biển của Việt Nam thì cơ quan chức năng phía Việt Nam chỉ tiến hành lập biên bản, xử lý cảnh cáo, trục xuất khỏi vùng biển Việt Nam Lực lượng kiểm tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam đã tiến hành xử phạt cảnh cáo hàng trăm trường hợp tàu cá Trung Quốc vi phạm; kiểm tra bắt giữ xử phạt hành chính 27 tàu cá Trung Quốc; phạt 3,245 tỷ đồng, tịch thu 61.240 lít dầu.[8]

Lực lượng kiểm tra, kiểm soát phía Trung Quốc đã bắt giữ và xử phạt 50 tàu cá Việt Nam với tổng số tiền phạt gần 5 tỷ đồng, cụ thể là: Thanh Hóa: 10 tàu, Hải Phòng:

04 tàu, Quảng Ngãi: 02 tàu, Đà Nẵng: 01 tàu, Quảng Ninh: 01 tàu, Quảng Bình: 05 tàu, Bình Định: 09 tàu

An ninh trật tự trên biển có thời điểm còn diễn biến phức tạp, một số vụ tranh chấp ngư trường, va chạm giữa ngư dân hai nước trong quá trình khai thác trên biển đã diễn ra nhưng không được xử lý đúng quy định của Hiệp định, gây ra hậu quả nghiêm trọng Đặc biệt vụ việc ngày 08/01/2005, tàu Cảnh sát biển Trung Quốc đã bắn làm chết và làm bị thương nhiều ngư dân Thanh Hóa Vụ việc này đã đấu tranh đúng mức

và đã phối hợp cùng phía Trung Quốc xử lý thỏa đáng

Trang 40

Phần lớn các chủ tàu và ngư dân các tàu bị va chạm, mất lưới đều không xác định chính xác thời gian và nguyên nhân bị mất lưới, mất chà Do trời tối và ở khoảng cách xa nên không xác định được rõ biển số đăng ký và số Biển dấu hiệu nhận biết của tàu vi phạm

Đã xảy ra một số vụ việc tàu cá nước ngoài tấn công tàu cá Việt Nam, tuy nhiên phía người bị nạn chỉ nghi là tàu của Trung Quốc, nhưng không có rõ tên số hiệu và biển số đăng ký tàu nước ngoài nên rất khó cho việc xác minh, điều tra và đấu tranh ngoại giao

Do số lượng tàu tuần tra tham gia thực hiện nhiệm vụ còn ít (8 tàu), hơn nữa do hạn chế về kinh phí nên thời gian hoạt động tuần tra trên biển ngắn, sức chịu đựng sóng gió của tàu hạn chế, nên hiệu quả chưa cao [8]

Vấn đề kiểm tra liên hợp giữa cơ quan giám sát hai nước Từ năm 2006 đến nay,

cơ quan giám sát hai nước (Cảnh sát biển Việt Nam và Cục Ngư chính khu Nam Hải)

đã phối hợp tổ chức 6 đợt kiểm tra liên hợp trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ Hoạt động nói trên đã góp phần tăng cường việc kiểm tra, giám sát và quan hệ hữu nghị giữa cơ quan giám sát hai nước

1.4.7 Tình hình điều tra, đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung

Để có cơ sở khoa học giúp Uỷ ban liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ qui định số lượng tàu, công suất máy tàu hàng năm được tham gia vùng đánh cá chung, hai nước đã tiến hành điều tra, đánh giá nguồn lợi thuỷ sản trong vùng đánh cá chung Bộ Thủy sản trước đây đã giao cho Viện Nghiên cứu Hải sản nhiệm vụ triển khai dự án “Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ” giai đoạn

I, từ năm 2005 đến năm 2007 và Giai đoạn II (năm 2008 – 2010)

Kết quả thực hiện của giai đoạn I dự án:

Dự án đã đạt kết quả tương đối khả quan, đáp ứng được yêu cầu mục tiêu đề ra và bước đầu phục vụ hiệu quả cho công tác của Ủy ban liên hợp Nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc

Về đánh giá trữ lượng nguồn lợi, hai bên đã đi đến thống nhất đánh giá hiện trạng nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ đã bị giảm sút nhiều so với những năm trước đây cả về mật độ, thành phần và kích cỡ cá loài cá kinh tế Do cơ chế

Ngày đăng: 16/08/2014, 00:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Số họ, giống, loài hải sản bắt gặp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ. - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 1.1. Số họ, giống, loài hải sản bắt gặp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (Trang 22)
Đồ thị 3.1: So sánh tỷ lệ tàu được cấp phép năm 2010 theo nhóm công suất - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
th ị 3.1: So sánh tỷ lệ tàu được cấp phép năm 2010 theo nhóm công suất (Trang 50)
Từ bảng 3.6 và đồ thị 3.1, đồ thị 3.2 ta thấy đội tàu tỉnh Quảng Bình có công suất  trung  bình/tàu  là  thấp  nhất  106,7cv/tàu,  tỉnh  Khánh  Hoà  có  công  suất  trung  bình/tàu  cao nhất 197,1cv/tàu - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
b ảng 3.6 và đồ thị 3.1, đồ thị 3.2 ta thấy đội tàu tỉnh Quảng Bình có công suất trung bình/tàu là thấp nhất 106,7cv/tàu, tỉnh Khánh Hoà có công suất trung bình/tàu cao nhất 197,1cv/tàu (Trang 51)
Bảng 3.7: Cơ cấu nghề được cấp giấy phép năm 2010.                              (  ĐVT:  tàu) - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 3.7 Cơ cấu nghề được cấp giấy phép năm 2010. ( ĐVT: tàu) (Trang 52)
Đồ thị 3.4: So sánh tỷ lệ tàu được cấp năm 2010 và số lượng tàu các tỉnh - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
th ị 3.4: So sánh tỷ lệ tàu được cấp năm 2010 và số lượng tàu các tỉnh (Trang 54)
Bảng 3.13: Cơ cấu nghề theo nhóm công suất tàu Trung Quốc cấp phép năm - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 3.13 Cơ cấu nghề theo nhóm công suất tàu Trung Quốc cấp phép năm (Trang 57)
Đồ thị 3.6: Cơ cấu nghề của tàu Trung Quốc được cấp phép 2010. - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
th ị 3.6: Cơ cấu nghề của tàu Trung Quốc được cấp phép 2010 (Trang 58)
Đồ thị 3.8: So sánh công suất trung bình nghề giữa Việt Nam và Trung Quốc - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
th ị 3.8: So sánh công suất trung bình nghề giữa Việt Nam và Trung Quốc (Trang 59)
Đồ thị 3.9: So sánh thời gian hoạt động trung bình giữa các nghề trong vùng đánh cá  chung, ngoài vùng đánh cá chung và cả năm 2010 - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
th ị 3.9: So sánh thời gian hoạt động trung bình giữa các nghề trong vùng đánh cá chung, ngoài vùng đánh cá chung và cả năm 2010 (Trang 61)
Bảng 3.17: Sản lượng khai thác trung bình tính theo nghề năm 2010 (ĐVT: kg) - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 3.17 Sản lượng khai thác trung bình tính theo nghề năm 2010 (ĐVT: kg) (Trang 63)
Bảng 3.19. Tuổi đời trung bình của thuyền trưởng các tỉnh                 (ĐVT: Tuổi) - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 3.19. Tuổi đời trung bình của thuyền trưởng các tỉnh (ĐVT: Tuổi) (Trang 64)
Bảng 3.27: Tính hệ số k3 theo sản lượng khai thác trung bình tàu các tỉnh      ( ĐVT:  kg) - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 3.27 Tính hệ số k3 theo sản lượng khai thác trung bình tàu các tỉnh ( ĐVT: kg) (Trang 78)
1.7. Bảng 3..1: Tàu khai thác thủy sản của 16 tỉnh có tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ                                          (ĐVT: tàu) - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
1.7. Bảng 3..1: Tàu khai thác thủy sản của 16 tỉnh có tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ (ĐVT: tàu) (Trang 92)
1.8. Bảng 3.2 : Cơ cấu nghề khai thác của 16 tỉnh có tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ                                      (ĐVT: tàu) - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
1.8. Bảng 3.2 : Cơ cấu nghề khai thác của 16 tỉnh có tàu khai thác ở vịnh Bắc Bộ (ĐVT: tàu) (Trang 93)
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH  2.1. Bản đồ vịnh Bắc Bộ - Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá việt nam khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
2 HÌNH ẢNH 2.1. Bản đồ vịnh Bắc Bộ (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w