nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng lysine, probiotics trong thức ăn hỗn hợp đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt gà Ta nuôi thương phẩm” Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu ảnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
NGUYỄN TIẾN TOÀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LYSINE VÀ PROBIOTICS TRONG THỨC ĂN HỖN HỢP ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT GÀ TA NUÔI THƯƠNG PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành : Công nghệ sau thu hoạch
Mã số : 60.54.10 Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ VĂN NINH
Nha Trang - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Toàn
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Luận văn này trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Thực phẩm sự kính trọng, niềm tự hào được học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Nha Trang trong những năm qua
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho thầy: TS Đỗ Văn Ninh –Phó Hiệu Trường Đại học Nha Trang đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin cám ơn: PGS TS Trang Sĩ Trung Phó Hiệu Trường Đại học Nha Trang, PGS.TS Ngô Đăng Nghĩa – Viện trưởng Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường,
TS Vũ Ngọc Bội – Trưởng khoa Thực phẩm, GS.TS Trần Thị Luyến, TS Nguyễn Anh Tuấn và các thầy cô phản biện đã cho tôi những lời khuyên quí báu để công trình nghiên cứu được hoàn thành có chất lượng, cùng gia đình và bạn bè luôn luôn chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về gà ta 3
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm ngoại hình của gà ta 3
1.1.2 Tập tính của gà ta 4
1.2 Những nghiên cứu về axit amin và protein trong thúc ăn gia cầm 5
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng protein 5
1.2.2 Dinh dưỡng axit amin 7
1.2.3 Dinh dưỡng axit amin của gia cầm 8
1.2.3.1 Nhu cầu axit amin 8
1.2.3.2 Axit amin thay thế và axit amin không thay thế 9
1.2.3.3 Axit amin giới hạn 10
1.2.3.4 Sự chuyển hóa giữa các axit amin 10
1.2.3.5 Vấn đề cân bằng axit amin trong khẩu phần 11
1.2.3.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu axit amin của gia cầm 12
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cho thịt 13
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, khả năng cho thịt 14
1.2.6 Các chế phẩm tổng hợp và cân bằng amino acid trong khẩu phần thức ăn 15
1.2.7 Vai trò của lysine 15
1.3 Nghiên cứu và ứng dụng probiotics trong thức ăn gia cầm .16
1.3.1 Lịch sử probiotic 16
1.3.2 Định nghĩa probiotics 17
Trang 51.3.3 Hệ vi sinh vật đường ruột và tác động của hệ vi sinh vật đến sức khỏe
của vật nuôi 17
1.3.4 Cơ chế tác dụng của probiotics 19
1.3.5 Tiêu chuẩn lựa chọn chủng vi sinh vật probiotic 20
1.3.5.1 Lựa chọn các chủng probiotic 20
1.3.5.2 Những vi sinh vật thường được sử dụng cho ăn trực tiếp 21
1.3.5.3 Yêu cầu an toàn đối với các chủng vi sinh vật probiotic 23
1.3.5.4 Đặc tính của chế phẩm probiotics sử dụng trong thí nghiệm 23
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của lysine, probiotics trên gà 24
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.4.1.1 Nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của lysine 24
1.4.1.2 Nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của probiotics 25
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26
1.4.2.1 Nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của lysine 26
1.4.2.2 Nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của probiotics 27
1.4.3 Nhận xét 27
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 29
2.3.2 Xây dựng khẩu phần thức ăn 30
2.3.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 32
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Ảnh hưởng của lysine trong khẩu phần đến sự biến đổi khối lượng cơ thể của gà ta nuôi thịt .36
3.2 Ảnh hưởng của lysine trong khẩu phần đến tốc độ sinh trưởng của gà ta nuôi thịt 38
3.4 Ảnh hưởng của lysine trong khẩu phần đến một số chỉ tiêu về chất lượng thịt xẻ của gà ta nuôi thương phẩm .44
Trang 63.4.1 Ảnh hưởng của lysine trong khẩu phần đến tỷ lệ thịt xẻ của gà ta nuôi
thương phẩm .44
3.4.2 Ảnh hưởng của lysine trong khẩu phần đến chất lượng thịt của gà ta nuôi thương phẩm .45
3.5 Ảnh hưởng của probiotics trong khẩu phần đến sự biến đổi khối lượng cơ thể của gà ta nuôi thịt 46
3.6 Ảnh hưởng của probiotics trong khẩu phần đến tốc độ sinh trưởng của gà ta nuôi thịt 47
3.7 Ảnh hưởng của probiotics trong khẩu phần đến hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà ta nuôi thịt 48
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 52
4.1 Kết luận 52
4.2 Đề xuất ý kiến: 53
Tài liệu tham khảo 54
Phụ Lục 58
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2: Tỷ lệ axit amin lý tưởng theo lysine 9
Bảng 1.3: Các loại vi sinh vật có lợi sử dụng trong các chế phẩm probiotics 22
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm I 29
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm II 30
Bảng 2.3: Khẩu phần thức ăn cho gà ở thí nghiệm I(%) 310
Bảng 2.4: Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn thí nghiệm I 301
Bảng 2.5: Khẩu phần thức ăn cho gà ở thí nghiệm II (%) 321
Bảng 2.6: Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn thí nghiệm II 312
Bảng 3.1: Khối lượng gà qua các tuần tuổi (gam) 61
Bảng 3.2: Tốc độ sinh trưởng (g/con/ngày) của gà ta qua các giai đoạn sinh trưởng TNI .63
Bảng 3.3a: Thức ăn thu nhận của gà qua các giai đoạn TNI (g/con/ngày) 64
Bảng 3.3b: Hiệu quả chuyển hóa thức ăn TNI(kg TĂ/ kg TT) 64
Bảng 3.4a: Kết quả phân tích thành phần protein, lipid và khoáng trong thịt gà 65
Bảng 3.4b: Kết quả phân tích thành phần acid béo trong thịt gà của các lô 65
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của probiotics trong khẩu phần đến sự biến đổi khối lượng cơ thể của gà qua các giai đoạn ở TNII 66
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của probiotics trong khẩu phần đến tốc độ sinh trưởng của gà qua các giai đoạn TNII .67
Bảng 3.7a: Thức ăn thu nhận theo các giai đoạn TNII(g/con/ngày) 67
Bảng 3.7b: Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà ở TNII(kg TĂ/ kgTT) 68
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Gà Ta 4 tuần tuổi 28
Hình 3.1: Khối lượng cơ thể gà qua các tuần tuổi ở TN I .37
Hình 3.2: Tốc độ sinh trưởng của gà ta qua các giai đoạn TNI 38
Hình 3.3a : Thức ăn gà thu nhận trong các giai đoạn nuôi TNI 41
Hinh 3.3b : Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà qua các giai đoạn TNI .42
Hình 3.4: Tỉ lệ thịt xẻ của gà giữa các lô thí nghiệm 45
Hình 3.5: Khối lượng gà qua các tuần tuổi TNII .47
Hình 3.6: Tốc độ sinh trưởng của gà ta TNII 48
Hinh 3.7a: Thức ăn thu nhận của gà ở TNII 49
Hình 3.7b: Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà qua các giai đoạn nuôi TNII (kg TĂ/ kg TT) 50
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây vấn đề vệ sinh và an toàn thực phẩm của các sản phẩm thực phẩm cho con người ngày càng được quan tâm do việc lạm dụng các loại hóa chất, phụ gia độc hại trong bảo quản thực phẩm hay do việc lạm dụng chất kích thích tăng trưởng, chất kháng sinh trong chăn nuôi Chúng ta đã chứng kiến rất nhiều
"vấn nạn" trong lĩnh vực thực phẩm, trong đó có việc sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng trong thức ăn cho gà, lợn Hiện chúng ta đã nhập nhiều giống gà có năng suất cao và tỷ lệ nạc cao, tuy thế người chăn nuôi và các công ty chế biến thức ăn bao giờ cũng muốn vật nuôi ngày càng có năng suất cao Dẫn đến tình trạng lạm dụng các chất kích thích tăng trưởng gây mất an toàn thực phẩm Chúng ta biết rằng thức ăn là một trong những yếu tố chính tác động đến năng suất, phẩm chất của thịt động vật Trong
đó tác động có tính chất quyết định của thức ăn tới tốc độ tăng trọng và tỷ lệ thịt là do protein, nhất là thành phần và các tỷ lệ axit amin có trong khẩu phần quyết định Bên cạnh đó, các chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần cũng có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỉ khi đáp ứng không những đầy đủ mà còn cân đối phù hợp thì mới có thể khai thác tối đa tiềm năng di truyền của vật nuôi Mặc khác để tăng sức đề kháng và khả năng chuyển hóa thức ăn Các nhà nghiên cứu còn cho rằng nếu sử dụng các loại chế phẩm vi sinh vật có thể làm tăng sức đề kháng của vật nuôi Vì thế nhiều quốc gia đã nghiên cứu và đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng lysine, chế phẩm vi sinh trong thức
ăn chăn nuôi Chẳng hạn theo tiêu chuẩn NRC của Mỹ tỷ lệ lysine cho gà nuôi thịt giai đoạn 0 ÷ 6, 7 ÷ 9 và trên 9 tuần tuổi là 1,2% ; 1,1% ; 1,0% hay xí nghiệp gà giống Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc (2000), đã khuyến cáo nuôi gà thịt Lương Phượng
0 ÷ 6, 7 ÷ 11 và 11 tuần tuổi tới hạ thịt với mức lysine tương ứng: 1,2%; 1,1 ; 1,0% Mỗi nước trong những điều kiện nghiên cứu và thực tiễn cụ thể có thể đưa ra những khuyến cáo không hoàn toàn giống nhau Trong điều kiện nước ta nói chung và Phú Yên nói riêng thịt gà Ta rất được người tiêu dùng ưa chuộng, nhưng chưa được nuôi tập trung và chế độ dinh dưỡng chưa phù hợp, nguồn thức ăn chủ yếu cho gà Ta hiện nay là lúa, ngô thiếu rất nhiều chất dinh dưỡng nên sản lượng thịt thấp chưa đủ đáp ứng cho thị trường trong nước Do vậy việc nghiên cứu tạo ra một khẩu phần thức ăn phù hợp cho gà Ta để khai thác tối đa tiềm năng di truyền của chúng là rất cần thiết
Để góp phần giải quyết vấn đề này trong điều kiện chăn nuôi tại Tuy Hòa tôi tiến hành
Trang 11nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng lysine, probiotics trong thức ăn hỗn hợp
đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt gà Ta nuôi thương phẩm”
Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ lysine,
probiotics khác nhau đến khả năng sinh trưởng, năng suất và tỷ lệ thịt nạc từ đó xác định
tỷ lệ lysine, probiotics phù hợp cho gà Ta nuôi thương phẩm trong giai đoạn sinh trưởng
(4 tuần tuổi đến 16 tuần tuổi)
Nội dung của đề tài
- Ảnh hưởng của lysine trong thức ăn hỗn hợp đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà Ta nuôi thương phẩm
- Ảnh hưởng của việc bổ sung probiotics đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn của gà Ta nuôi thương phẩm
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Các số liệu nghiên cứu của đề tài là số liệu thực tế bổ sung cho sự hiểu biết về
nhu cầu của lysine trong khẩu phần thức ăn của gà Ta Xác định mật độ vi sinh vật có lợi trong khẩu phần thức ăn để hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Ta nuôi thương phẩm cao nhất đồng thời chống chịu bệnh tật
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thành công của đề tài là bước đầu nghiên cứu về ảnh hưởng của lysine trong thức ăn đến tốc độ sinh trưởng, chất lượng của thịt gà ta, ảnh hưởng của probiotics trong thức ăn đến tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà ta nuôi thương phẩm trong giai đoạn sinh trưởng (4 tuần tuổi đến 16 tuần tuổi)
Thành công của đề tài sẽ là cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu sản xuất thức ăn riêng cho gà Ta nhằm hướng tới một nền chăn nuôi sạch và bền vững
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIỚI THIỆU VỀ GÀ TA
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm ngoại hình của gà ta
Gà ta (danh pháp khoa học: Gallus gallus domesticus) là một loài chim đã được
con người thuần hoá cách đây hàng ngàn năm Có ý kiến cho rằng loài này có thủy tổ
từ loài gà rừng lông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á
Phân loài (subspecies): Gallus gallus domesticus
Ở một ngày tuổi gà ta có bộ lông màu cánh sẻ có 2 đường kẻ sọc trên lưng chạy dài từ vai đến đuôi Mỏ và chân màu vàng, chân có 4 ngón và có 2 hàng vảy Giai đoạn trưởng thành gà ta có bộ lông màu vàng nâu Thân hình thoi hơi gù, đuôi thẳng
Trang 13Đầu có mào màu đỏ thay đổi qua các tuần tuổi, ở giai đoạn trưởng thành mào cao 2- 4 cm đối với gà trống và 1,5- 2 cm đối với gà mái Trích của gà màu đỏ và có 2 loại: một loại màu lá dẹt áp sát vào cổ, còn một loại hình lá hoa đá rủ xuống Chân có hai hàng vảy, con trống có cựa, con mái không có cựa Việc phân biệt trống mái đối với gà ta rất khó khăn khi còn nhỏ ở một ngày tuổi phân biệt trống mái qua lỗ huyệt không chính xác như các giống gà bình thường
Đến giai đoạn trưởng thành con trống và con mái hoàn toàn khác nhau Con trống có bộ lông sặc sỡ khối lượng cơ thể 2 ÷ 2,5 kg/con, con mái có màu lông nhạt hơn và ít hoa văn hơn và đạt khối lượng 1,6 ÷ 1,8 kg/con Con trống gáy ở giai đoạn 5 đến 6 tháng tuổi và ở giai đoạn này con mái cũng gọi ổ
1.1.2 Tập tính của gà ta
Trong chăn nuôi tập trunggà ta vẫn giữ lại được bản năng hoang dã gà tìm kiếm thức ăn trên mặt đất, chủ yếu là côn trùng và những mẫu thực vật Gà ta có tính bầy đàn cao và rất nhạy cảm với tiếng động như: mưa, gió, sấm, chớp, tiếng cành cây gẫy, tiếng rơi vỡ của đồ vật Đặc biệt khi còn nhỏ gà rất sợ bóng tối Vì vậy cần hết sức chú
ý khi nuôi gà ta để tránh stress có thể xảy ra Gà ta thuộc loài ưa hoạt động, ban ngày thường chúng không ngủ, trừ giai đoạn gà con Ban đêm chúng ngủ thành từng bầy
Gà ta rất thích mổ những vật lạ, những sọi dây tải, hay những chiếc que nhỏ trong chuồng, thậm chí cả nền chuồng, tường chuồng Do vậy thường làm tổn thương đến niêm mạc miệng của chúng, vì vậy trong chuồng ta không nên để bất cứ vật gì ngoài máng ăn, máng uống, nền, tường chuồng phải làm chắc chắn
Gà ta cũng có nhu cầu tắm nắng thường tập trung tắm nắng từ 9h-11h sáng và 3h- 4h chiều Khi tắm nắng gà thường bới một hồ cát thật sâu rồi rúc mình xuồng hố,
cọ lông vào cát và nằm phơi dưới nắng
Gà ta thành thục sinh dục khi được 6÷ 7 tháng tuổi, khi giao phối thường bắt đầu hành vi ghẹ gà mái của con trống đó chính là sự khoe mẽ Ngoài ra, chúng còn thể hiện thông qua tiếng gáy dài Gà mái thì đẻ trứng tập trung một chỗ Mỗi chu kỳ sinh sản đẻ được 13 ÷ 15 quả trứng, sản lượng trứng hàng năm từ 50 ÷ 60 quả
Thịt gà Ta rất ngon nhưng gà Ta hiện được nuôi không tập trung nên sản lượng thịt không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng, mặc khác thức ăn chủ yếu của gà
Trang 14Ta chủ yếu là lúa và ngô không cung cấp đủ dinh dưỡng cho sự phát triển bình thường của gà dẫn đến bệnh tật, thời gian nuôi dài nên hiệu quả kinh tế không cao, những nghiên cứu khoa học về giống gà Ta chưa được quan tâm nhiều Do việc nghiên cứu tạo ra một khẩu phần thức ăn phù hợp cho gà Ta để khai thác tối đa tiềm năng di truyền của chúng là rất cần thiết
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ AXIT AMIN VÀ PROTEIN TRONG THỨC
ĂN GIA CẦM
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng protein
Protein cần thiết cho động vật như là nguồn dinh dưỡng không thể thay thế và đứng hàng đầu trong đời sống của động vật Nhờ protein có sẵn trong nguyên liệu thức
ăn gia cầm mới có thể tổng hợp được protein của cơ thể và các sản phẩm, ngoài ra còn tổng hợp ra các chất xúc tác sinh học như hormone và enzyme, cùng với các hợp chất khác đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh lý Nói đến protein trong quá trình dinh dưỡng là phải nhắc đến amino acid, vì động vật không thể hấp thụ trực tiếp được protein, mà phải qua quá trình tiêu hóa, biến đổi protein của thức ăn thành các chất hợp phần là các amino acid Từ các amino acid cơ thể mới xây dựng thành các protein trong các mô và các chất hoạt động sinh lý khác Thiếu amino acid thì cơ thể sinh vật thiếu nguyên liệu và không thể có sản phẩm
* Nguồn protein từ bột cá
Cá và bột cá là nguồn protein dồi dào dùng cho chăn nuôi Bột cá được chế biến
từ cá hoặc các phế liệu của ngành công nghiệp cá Bột cá là loại thức ăn có chứa một lượng lớn amino acid, vitamin và khoáng, trong đó có nhiều amino acid không thay thế, và tỷ lệ khá cân đối Tuy nhiên, chất lượng của bột cá biến động rất lớn, điều này phụ thuộc vào loài, giống, độ tươi của cá trước khi chế biến và kỹ thuật chế biến thành bột Protein bột cá có chất lượng cao do giàu lysine, methionine, trytophan và các amino acid không thay thế khác Tỷ lệ tiêu hóa, hấp thu protein và amino acid của bột
cá rất cao [ 10]
Hàm lượng protein trong bột cá phụ thuộc vào phương pháp chế biến, loại cá Nói chung, hàm lượng protein trong bột cá dao động từ 45 – 57% Ngoài protein trong bột cá còn một lượng lipid, vitamin, khoáng …Trong 1 kg bột cá có giá trị dinh dưỡng như sau: protein: 450 – 590g; lipid: 19 – 180g: tro: 234 – 292 g; lysine : 41 – 51g;
Trang 15tryptophan: 4,7 – 5,7g; methionin: 13,6 – 16,5 g; xixtin: 8,9 – 10,8g; arginin: 31,5 – 38,2 g; Ca: 67 – 76g; P :31,8 – 37g; Na: 7,2 - 10,3g; K: 6,7 g
Bột cá là loại thức ăn bổ sung hoàn hảo axit amin cho gia súc, gia cầm, là loại thức ăn giàu protein, chất lượng protein cao Bột cá tốt chứa 50 – 60% protein Tỷ lệ amino acid cân đối, có nhiều amino acid chứa lưu huỳnh, 1kg bột các có 52g lysine, 15 – 20g methionine, 8 – 10g cystine, giàu Ca, P tỷ lệ tương đối cân đối: Ca khoảng 6 – 7%, P khoảng 4%, giàu vitamin B12, B1 Ngoài ra, còn vitamin A và D Tuy nhiên, chất lượng bột cá còn phụ thuộc rất nhiều vào loại các và các bộ phận của cá đem chế biến Nếu bột cá chế biến từ loại cá nhỏ, đầu cá, vây cá thì hàm lượng protein thấp từ
20 – 25% Trong khi đó bột cá được chế biến từ cá lớn, hàm lượng protein trên 50%
Cần bảo quản tốt bột cá để giữ chất lượng protein tốt, nếu bảo quản không tốt
mỡ trong bột cá sẽ bị ôi làm giảm chất lượng dinh dưỡng và gây độc cho vật nuôi
Trong chăn nuôi gia cầm người ta xác định nhu cầu protein của vật nuôi theo protein thô và protein tiêu hoá
Protein thô chứa protein thuần và hợp chất nitơ phi protein Nitơ phi protein thường chiếm 20 - 25% lượng nitơ tổng số ở thức ăn xanh, 70 - 80% ở củ cải và 10% ở thức ăn hạt
Đối với gia cầm, người ta thường xác định nhu cầu protein hàng ngày cho chúng theo khối lượng mỗi ngày hoặc theo nồng độ phần trăm trong thức ăn hỗn hợp
Trang 16* Protein tiêu hóa
Protein tiêu hóa là phần protein hấp thu được so với phần ăn vào
Protein tiêu hóa = Protein thô x Tỷ lệ tiêu hóa
Protein thu nhận (g) - Protein ở phân (g)
Tỷ lệ protein tiêu hóa (%) =
Protein thu nhận (g)
x 100
Tỷ lệ tiêu hóa của protein thức ăn khác nhau theo từng loại thức ăn Tuy nhiên
ở loài dạ dày đơn, sự chênh lệch về tỷ lệ tiêu hóa giữa các loại thức ăn không lớn (70 - 90%) nhưng ở loài nhai lại thì chênh lệch nhau nhiều (20 - 80%) [ 6]
1.2.2 Dinh dưỡng axit amin
Trong dinh dưỡng protein – axit amin người ta phải xác định được nhu cầu của động vật, quá trình tiêu hóa và hàm lượng tiêu hóa của các chất này, xây dựng được định mức thức ăn sao cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng loài, trong từng giai đoạn sinh trưởng và pháp triển đảm bảo cho vật nuôi có năng suất cao
Đối với các động vật nông nghiệp, dinh dưỡng protein và axit amin nhìn chung có những nét giống nhau nhưng có nhiều nét riêng biệt Các nhóm động vật
có cấu tạo ống tiêu hóa khác nhau: Nhóm dạ dày đơn (lợn, thỏ và gia cầm), nhóm
dạ dày kép (đại gia súc) có sự khác nhau cơ bản về nhu cầu protein: Nhóm dạ dày đơn cần protein có đầy đủ các axit amin có sẵn trong thức ăn, nhóm dạ dày kép cần một phần protein có sẵn trong thức ăn, một phần khác là do trong dạ dày kép của nhóm này có tồn tại các vi sinh vật sử dụng các chất phi protein có trong thức
ăn để xây dựng nên protein của chúng Nhóm động vật có dạ dày kép huy động protein của vi sinh vật phục vụ cho nhu cầu của chúng
Nhu cầu về axit amin của các loài động vật, ở các lứa tuổi là khác nhau, thường con non có nhu cầu cao hơn động vật trưởng thành Giữa gia cầm và gia súc thì nhu về axit amin không thay thế khác nhau Người ta xác định được 10 axit amin không thay thế đối với gia cầm là: lysine, tryptophan, methionine, valine, histidine, phenylalanine, leucine, isoleucine, treonine và arginine Qua những thí nghiệm nuôi gà con với khẩu phần thiếu lysine thì gà bị giảm khối lượng, nhưng khi bù lại vào thức ăn thì gà phục hồi lại được mức tăng khối lượng [ 13]
Trang 171.2.3 Dinh dưỡng axit amin của gia cầm
1.2.3.1 Nhu cầu axit amin
Trong dinh dưỡng vật nuôi, nhu cầu về axit amin chủ yếu là nhu cầu về các axit amin không thay thế Khi thiếu bất kỳ một axit amin không thay thế nào trong khẩu phần thì quá trình tổng hợp protein bị rối loạn, thậm chí còn phá hủy trao đổi chất của cơ thể Điều đó làm giảm khả năng sinh trưởng cũng như sức sản xuất của gia cầm Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ các axit amin không thay thế theo đúng nhu cầu của mỗi loại vật nuôi Có 4 cách thông thường biểu thị nhu cầu axit amin [ 19]:
- Số gam axit amin cho vật nuôi một ngày
- Số gam axit amin cho 1000 kcal năng lượng trao đổi (ME) của khẩu phần
- Tỷ lệ phần trăm axit amin tính theo khẩu phần
- Tỷ lệ phần trăm axit amin tính theo protein
Cách tính thứ nhất là cách chính xác nhất để thể hiện nhu cầu về axit amin nhưng rất khó áp dụng trong sản xuất Cách thứ ba và thứ tư tiện lợi trong thực tế lập khẩu phần ăn cho gà nên hiện nay đang được sử dụng nhiều hơn
* Xác định nhu cầu axit amin
Khi xác định nhu cầu axit amin cho gia cầm cần chú ý đến các nhu cầu sau [ 26]
- Nhu cầu cho tăng trọng tối đa
- Nhu cầu cho hiệu quả chuyển hóa thức ăn tối ưu
- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt xẻ tối đa
- Nhu cầu cho thành phần hóa học thân thịt tối ưu
- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt lườn (cơ ngực) cao nhất
Những kết quả đã nghiên cứu cho biết hàm lượng axit amin cần cung cấp cho mỗi nhu cầu trên không hoàn toàn đồng nhất Vì vậy, rất khó để đưa ra nhu cầu về các axit amin đảm bảo tối ưu cho cả 5 nhu cầu trên Chính vì vậy, tùy từng điều kiện cụ thể
về kinh tế và kỹ thuật mà nên ưu tiên cho nhu cầu nào được coi là quan trọng nhất
Tỷ lệ các loại axit amin theo lysine trong khẩu phần cho gia cầm như sau [32]:
Trang 18Bảng 1.2: Tỷ lệ axit amin lý tưởng theo lysine
NRC: National Research Councill (Mỹ)
1.2.3.2 Axit amin thay thế và axit amin không thay thế
Căn cứ theo yêu cầu và khả năng tổng hợp axit amin của cơ thể động vật người
ta chia axit amin thành 2 loại: Axit amin không thay thế và Axit amin thay thế
- Axit amin không thay thế là những axit amin mà cơ thể động vật không thể tự tổng hợp được hoặc không thể tạo thành bằng cách chuyển hóa từ các axit amin khác Động vật buộc phải lấy các axit amin đó từ thức ăn Ở gia cầm có 10 loại axit amin không thay thế là arginin, lysine, histidin, leucin, isoleucin, valin, methionin, treonin, tryptophan và phenylalanin Riêng glyxin là axit amin không thay thế với gia cầm con còn với gia cầm trưởng thành thì nó là axit amin thay thế
- Axit amin thay thế là các axit amin mà cơ thể động vật có thể tổng hợp được hoặc tạo được bằng cách chuyển hóa từ các axit amin khác nhau Người ta đã xác định được 13 axit amin thay thế trong cơ thể gia cầm đó là: alanin, asparaginin, aspartic, xystin, glutamic, glyxin, hydroprolin, prolin, serin, xitrulin, tyrozin, xystein và hydroxylizin Axit amin thay thế này có thể không cần thiết phải cung cấp qua thức ăn
Sự phân chia axit amin thành axit amin thay thế và không thay thế chỉ là tương đối Một axit amin là thay thế hoặc không thay thế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiêu chuẩn đánh giá (sinh trưởng, duy trì, cân bằng nitơ), tuổi con vật, sự có mặt của các axit amin khác trong khẩu phần, sự cung cấp các chất dinh dưỡng khác (đặc biệt là vitamin) và trạng thái sinh lý của con vật
Trang 191.2.3.3 Axit amin giới hạn
Trong khẩu phần thức ăn của gia cầm có các axit amin mà hàm lượng của nó thấp hơn so với nhu cầu của con vật từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng protein Người
ta gọi các axit amin thiếu trong khẩu phần là axit amin giới hạn hay là yếu tố hạn chế Như vậy, axit amin giới hạn là axit amin mà số lượng của nó thường thiếu so với nhu cầu, từ đó làm giảm giá trị sinh học của protein trong khẩu phần Axit amin nào thiếu nhất và làm giảm hiệu suất sử dụng protein lớn nhất thì gọi là axit amin hạn chế thứ nhất (yếu tố số một) và theo cách lý giải như vậy, những axit amin tiếp theo đó ít thiếu hơn so với nhu cầu và với mức axit amin khác được gọi là axit amin giới hạn thứ 2, rồi đến thứ 3, thứ 4 Nguyên tắc cơ bản để bổ sung axit amin vào khẩu phần vật nuôi là theo trình tự giới hạn Axit amin giới hạn thứ nhất được bổ sung đầu tiên sau đó đến axit amin giới hạn thứ 2, thứ 3 [1]
Nếu khẩu phần cho gia cầm chủ yếu sử dụng nguyên liệu ngô và đậu tương thì axit amin giới hạn thứ nhất là methionine [10]
Vai trò của axit amin trong cơ thể rất đa dạng, là thành phần chủ yếu của protein, axit amin giữ vai trò quan trọng trong nuôi dưỡng gia cầm Để quá trình tạo và đổi mới protit được tiến hành liên tục và cơ thể gia cầm phát triển một cách tối ưu, cần phải cung cấp cho chúng một lượng axit amin cần thiết với tỷ lệ nhất định trong thức ăn
1.2.3.4 Sự chuyển hóa giữa các axit amin
Giữa các axit amin có thể chuyển hóa lẫn nhau bằng phản ứng oxy hóa khử, hoặc phản ứng chuyển amin Vì vậy, khi thiếu loại này có thể đưa đến thiếu loại kia, hoặc khi trong thức ăn có nhiều loại này có thể làm giảm nhu cầu loại kia Ví dụ từ phenylalanine bằng phản ứng oxy hóa khứ có thể chuyển thành tyrosine Từ methioninie có thể chuyển hóa thành tyrosine, cystine để thay thế phenylalanine, methionine Vì có sự chuyển hóa một chiều nên khi tính nhu cầu, người ta thường tính đơn và đôi (methionine và methionine + cystine) Ngoài sự chuyển hóa một chiều, còn
có sự chuyển hóa hai chiều, ví dụ như giữa glycine và serine Trường hợp này thường tính gộp hai loại thành một
Trang 201.2.3.5 Vấn đề cân bằng axit amin trong khẩu phần
Cơ thể gia cầm chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo một mẫu cân đối về axit amin Những axit amin nằm ngoài mẫu cân đối sẽ bị oxy hóa cho năng lượng Do vậy, khi sử dụng các khẩu phần được cân đối phù hợp với nhu cầu axit amin của gia cầm thì sự sinh trưởng và sức sản xuất sẽ cao hơn, hiệu quả sử dụng protein tốt, do đó tiết kiệm được protein thức ăn Hiệu quả này còn phụ thuộc vào các axit amin thay thế
và không thay thế của protein
Cân bằng axit amin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cân bằng các chất dinh dưỡng Bởi vì, thứ nhất tất cả các axit amin cần thiết cho vật nuôi đều được lấy từ thức
ăn, thứ 2 ngoại trừ một lượng nhỏ axit amin dùng cho mục đích đặc biệt còn lại tất cả các axit amin được dùng chủ yếu để tổng hợp protein cơ thể Và điều quan trọng nhất
là không có sự dự trữ các axit amin trong cơ thể Sự vắng mặt của một axit amin không thay thế trong khẩu phần sẽ ngăn cản việc sử dụng các axit amin khác để tổng hợp protein Điều đó làm giảm tính ngon miệng, giảm sinh trưởng, cân bằng nitơ âm nghiêm trọng Tức là mất protein cơ thể [35]
Trong khẩu phần một vài axit amin không thay thế bị thiếu so với nhu cầu sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất ở gia cầm gây giảm khối lượng, chậm lớn, gia cầm con chậm phát triển, khả năng chống chịu bệnh kém Khi không có isolơxin hoặc valin trong thức ăn gà con sẽ chết sau 19 ngày Trong khẩu phần không có histidin gà con chỉ sống được 2 tháng Còn nếu không có lysine gà sống được 53 ngày Nếu loại trừ tất cả các axit amin ra khỏi khẩu phần ăn thì thời gian sống trung bình của
gà con là 35 ngày
Nếu axit amin dư thừa so với nhu cầu, axit amin không được sử dụng cho tổng hợp protein của cơ thể sẽ bị phân huỷ tạo ra axit uric, từ đó làm mất cân bằng axit amin, tạo ra yếu tố hạn chế mới, giảm sự lợi dụng protein trong khẩu phần làm gia cầm giảm sinh trưởng, giảm khả năng sản xuất [35]
Sự dư thừa axit amin còn gây ra sự đối kháng giữa các axit amin Ví dụ như lysine với arginine, khi khẩu phần thừa lysine dẫn đến tăng cường hoạt động của enzim argininaza trong cơ thể, emzim này phân giải axit amin arginine ở ống thận do
đó tăng hấp thu arginine
Trang 211.2.3.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu axit amin của gia cầm
- Giống, giới tính, hướng sản xuất và lứa tuổi: Nhu cầu về axit amin giữa các dòng, giống là khác nhau Những giống có khối lượng lớn, có tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất trứng cao thì nhu cầu về axit amin của chúng lớn hơn những giống nhẹ cân, tốc độ sinh trưởng kém, khả năng sản xuất thấp Gia cầm mái có nhu cầu axit amin thấp hơn gia cầm trống vì cùng lứa tuổi nhưng có tốc độ sinh trưởng con trống cao hơn con mái Gia cầm con cần nhiều arginine và glycine hơn gia cầm trưởng thành, gia cầm đẻ trứng cần nhiều glutamic
- Mức năng lượng trong khẩu phần: Năng lượng trong khẩu phần cao thì nhu cầu axit amin cũng cao Khẩu phần có năng lượng thấp sẽ được động vật ăn nhiều hơn
so với khẩu phần có năng lượng cao Nếu nồng độ các axit amin là không đổi thì ở khẩu phần có năng lượng cao, lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm vì thế mà nhu cầu về axit amin có thể không được thoả mãn Như vậy, khi khẩu phần có năng lượng tăng thì cũng cần tăng nhu cầu về axit amin Ví dụ như, nếu trong 1 kg thức ăn có năng lượng
1900 kcal ME, nhu cầu về lysine là 0,53% thì khi năng lượng đến 2300 kcal ME thì nhu cầu về lysine phải là 0,71%
- Mức protein thô trong khẩu phần: Mức protein trong khẩu phần cao sẽ gây ra quá trình phân giải protein cho năng lượng đã sinh ra một lượng lớn các chất có hại cho cơ thể Nếu protein thừa, khi xuống manh tràng sẽ bị vi sinh vật lên men gây thối làm viêm sưng ruột, tiêu chảy
Nhu cầu amino acid tính theo tỷ lệ % protein thô trong khẩu phần tăng lên khi protein thô của khẩu phần giảm đi Mối tương quan giữa lysine và protein thô được biểu diễn qua phương trình hồi quy
X: % protein thô của khẩu phần
Figueroa và Cs năm 2003 đã thí nghiệm bổ sung lysine, methionine, tryptophan
và threonine vào 2 khẩu phần chứa 12% và 11% protein thô để bù lại lượng protein có trong khẩu phần chứa 16% protein thô Việc giảm protein khẩu phần sẽ có ý nghĩa nếu như khẩu phần được bổ sung thêm các amino acid tổng hợp
Trang 22- Nhiệt độ môi trường: Tỷ lệ tiêu hoá các axit amin trong điều kiện nhiệt độ cao (320C) thấp hơn ở nhiệt độ bình thường (210C) Mức độ giảm tỷ lệ tiêu hóa của các axit amin cũng khác nhau Tỷ lệ tiêu hóa của lysine, methionine và izoleucine tương ứng ở 210C là 83%, 92% và 87% thì ở 310C là 80%, 87% và 80% [34]
- Ảnh hưởng của vitamin: Nhu cầu về axit amin chịu ảnh hưởng bởi các chất có hoạt tính sinh học như vitamin và một số nguyên tố đa vi lượng Khi đưa vitamin B12vào trong khẩu phần thì việc sử dụng các axit amin là rất tốt vì vitamin B12 tham gia vào thành phần của enzim methyl transferaza, enzim này có chức năng chuyển hormon cystine thành methionine [10].Methionine cung cấp nhóm metyl cho sự tổng hợp cholin và ngược lại, nếu trong khẩu phần không chứa đủ cholin thì đòi hỏi một lượng tối thiểu methionine chủ yếu để tổng hợp protein mô Như vậy, chỉ có thể xác định nhu cầu về methionine khi sử dụng khẩu phần có đủ cholin Ngoài ra trong cơ thể gia cầm axit nicotinic có thể tổng hợp từ tryptophan, axit này là chất rất cần thiết cho quá trình tổng hợp ADN Vì vậy, nếu trong khẩu phần thức ăn thiếu axit nicotinic dẫn đến tăng nhu cầu về tryptophan
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cho thịt
Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu do protein quyết định Protein thịt là loại protein hoàn thiện chứa tất cả các amino acid cần thiết cho cơ thể con người Thịt theo nghĩa rộng bao gồm các tổ chức cơ, mỡ, xương, da và các cơ quan bộ phận khác của con vật Theo nghĩa hẹp, thịt gồm các cơ và tổ chức, do đó đánh giá khả năng cho thịt
có liên quan đến khả năng sinh trưởng tích lũy của các bộ phận này
Mô cơ là mô có giá trị thực phẩm cao nhất, nó chiếm 35 – 45% khối lượng cơ thể con vật bao gồm 2 loại cơ vân và cơ trơn Cơ cấu tạo từ các tế bào đa nhân, co giãn theo chiều dài sợi cơ, sợi cơ có kích thước từ 10 – 100 m, chiều dài 1 cm và được chia thành 3 phần: màng cơ, cơ chất và nhân Thành phần hóa học của mô cơ là:
Trang 23Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tăng trọng hàng ngày của
gà nội rất thấp Đối với các giống gà nhập ngoại tốc độ tăng trọng và khả năng cho thịt rất cao như gà Tam Hoàng, gà BT2… Bên cạnh đó phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng tăng trọng mặc dù trong cùng một giống
- Yếu tố dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng quyết định năng suất chăn nuôi Nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng của gà Vì vậy, bảo đảm cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Nếu dinh dưỡng kém kéo dài thì các yếu tố di truyền không những không phát huy theo hướng tích cực mà thậm chí còn ngược lại
- Thời gian nuôi dưỡng
Sự thay đổi thành phần hóa học mô cơ của gà chủ yếu xảy ra trong giai đoạn trước 6 tháng tuổi chia làm nhiều giai đoạn sinh trưởng khác nhau trên cơ sở quy luật sinh trưởng tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể gà từ đó tùy giai đoạn sinh trưởng mà đưa ra các phương thức nuôi dưỡng thích hợp
- Yếu tố chăm sóc quản lý
Các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, cường độ chiếu sáng, diện tích chuồng nuôi … đều có tác động nhất định tới khả năng sinh trưởng tích lũy của gà thịt Khi chăm sóc quản lý tốt sẽ giúp gà tăng trọng nhanh và giảm giá thành trên một đơn vị chăn nuôi
Trang 241.2.6 Các chế phẩm tổng hợp và cân bằng amino acid trong khẩu phần thức ăn
Theo số liệu của FAO thì năm 1964 toàn thế giới đã dùng 203 triệu tấn protein (trong thức ăn) để nuôi bò, cừu, lợn và gia cầm Tạo ra được là 22.7 triệu tấn protein động vật (thịt, trứng và sữa) Như vậy hiệu suất chuyển đổi chỉ đạt 11% Sở dĩ có kết quả như vậy là do protein trong thức ăn cho vật nuôi không hoàn chỉnh về thành phần các axit amin
Ngày nay, các nhà dinh dưỡng học, các nhà chăn nuôi đã kết luận ra rằng
“muốn tăng năng suất ngành chăn nuôi phải dựa trên cơ sở là chăn nuôi có chiều sâu” (thâm canh trong chăn nuôi) phải có thức ăn cân đối về amino acid, cân đối về chất khoáng và vitamin, trong đó việc cân đối amino acid giới hạn là điều quan trọng hàng đầu
Trong các thức ăn có nguồn gốc thực vật cho vật nuôi đặc biệt là ngũ cốc, rau xanh thường chứa quá ít hoặc không đủ protein, đã vậy thành phần amino acid của những nguồn protein này còn khác xa so với protein từ động vật Do vậy việc nghiên cứu bổ sung thêm các amino acid vào thức ăn chăn nuôi là cần thiết nhằm đảm bảo tính cân đối của thức ăn và nâng cao tốc độ sinh trưởng
1.2.7 Vai trò của lysine
Lysine là một axit amin không thay thế rất cần cho hoạt động sống của người và động vật Nghĩa là cơ thể không tự tổng hợp được nó, phải lấy từ nguồn cung cấp bên ngoài, hay nói cách khác là lấy từ nguồn thức ăn
Lysine giữ vai trò sống còn trong sự tổng hợp protein Nó là chìa khoá trong việc sản xuất các enzyme, hoocmon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng và chống trả với bệnh tật
Lysine giúp kích thích ăn, gia tăng chuyển hoá hấp thu tối đa dinh dưỡng
Nó cũng giúp tăng cường hấp thu calci, ngăn cản sự bài tiết khoáng chất này ra ngoài cơ thể nên nó có tác dụng tăng trưởng chiều cao, ngăn ngừa bệnh còi xương, loãng xương
Lysine có nhiều trong trứng, thịt, sữa, cá, đậu nành… nhưng dễ bị phá huỷ trong quá trình chế biến, nấu nướng thức ăn
Cơ thể động vật thiếu lysine cơ thể sẽ khó hoạt động bình thường, đặc biệt ở động vật còn non sẽ xảy ra hiện tượng chậm lớn, dễ thiếu men tiêu hoá và nội tiết tố
Trang 25Chính vì thế lysine là một loại axít amin cần được thêm vào khẩu phần ăn của gia cầm,
Sau đó năm 1907, Elie Metchnikoff - người Nga, đạt giải Nobel – đã chứng
minh được rằng việc tiêu thụ Lactobacillus sẽ hạn chế các nội độc tố của hệ vi sinh vật
đường ruột Ông giải thích được điều bí ẩn về sức khỏe của những người Cô-dăc ở Bulgary, họ sống rất khỏe mạnh và tuổi thọ có thể lên tới 115 tuổi hoặc hơn, nguyên nhân có thể là do họ tiêu thụ rất lớn các sản phẩm sữa lên men, điều này được ông báo cáo trong sách “sự kéo dài cuộc sống” – The Prolongation of life (1908)
Có thể nói Tisser và Metchnikoff là người đầu tiên đưa ra những đề xuất mang tính khoa học về probiotic, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về probiotic [28]
Năm 1930, nhà khoa học người Nhật Minoru Shirota phân lập các vi khuẩn lactic từ phân của các em thiếu nhi khỏe mạnh [30]
Cùng năm đó, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng minh là Lactobacillus
acidophilus có khả năng làm giảm bệnh táo bón thường xuyên Các nhà khoa học đại
học Havard phát hiện ra các vi khuẩn đường ruột đóng một vai trò quyết định trong quá trình tiêu hóa, giúp tiêu hóa thức ăn, cung cấp một số vitamin và các chất dinh dưỡng khác nhau mà cơ thể vật chủ không tự sản xuất ra được Sau đó 5 năm, một trong các đồ uống lên men – đặt tên là “Yakult” từ sữa được cho là hỗ trợ sức khỏe đường ruột (intestinal health) được sản xuất Khái niệm chung probiotics được chấp nhận ở Châu Á trong nhiều năm khi các sản phẩm lên men từ sữa probiotic đầu tiên được giới thiệu ở Châu Âu những năm của thập niên 80
Ngày nay, các sản phẩm probiotic có chứa Bifidobacteria hoặc Lactobacillus
được tiêu thụ rộng rãi và phổ biến trên khắp thế giới như những nguồn thực phẩm chính giúp tăng cường sức khỏe cho con người cũng như vật nuôi
Trang 261.3.2 Định nghĩa probiotics
Thuật ngữ probiotcs được đưa đầu tiên bỡi Lilly và Stillwell (1965) để mô tả những yếu tố kích thích sinh trưởng được sản sinh bỡi vi sinh vật Từ “probiotics” được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa tiếng Anh là “for life” nghĩa là “dành cho cuộc sống” Nó được dùng để mô tả các vi khuẩn "thân thiện" thường sống ở đường ruột và
có đóng góp vào sức khỏe tốt của vật chủ Một trong những định nghĩa được đa số các nhà khoa học nhất trí “Probiotics là những vi sinh vật còn sống khi đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ sẽ có lợi cho sức khỏe của vật chủ” FAO/WHO, 2001
1.3.3 Hệ vi sinh vật đường ruột và tác động của hệ vi sinh vật đến sức khỏe của vật nuôi
Bên cạnhsự hấp thụ các chất dinh dưỡng, đường tiêu hóa còn đóng vai trò quan trọng như là cơ quan miễn dịch lớn nhất trong cơ thể Do đó, nó là hệ thống bảo vệ và
là hàng rào quan trọng chống lại các tác nhân gây bệnh xâm nhiễm Thêm vào các cơ chế bảo vệ nói chung, hệ thống miễn dịch, với các phản ứng đặc hiệu và không đặc hiệu, giúp chống lại các vi sinh vật gây bệnh Khu hệ vi sinh vật đường ruột cũng được coi là một trong các yếu tố chống lại các tác nhân gây bệnh [31]
Khi còn ở trong bào thai, đường tiêu hoá của vật nuôi ở trạng thái vô trùng, nhưng chỉ vài giờ sau khi sinh các vi sinh vật đã bắt đầu cư trú và trở thành những “cư dân” bình thường trong đường tiêu hoá Theo thời gian, do tiếp xúc trực tiếp với môi trường, đặc biệt là qua thức ăn và nước uống, số lượng và tính đa dạng sinh học của các vi sinh vật cộng sinh không ngừng tăng lên Số lượng tế bào vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa của vật nuôi có thể cao gấp mười lần số lượng tế bào ban đầu trong cơ thể khi chúng mới sinh ra [27]
Số lượng loài có thể lên tới từ 400-500 [40] Tuy nhiên, mật độ vi sinh vật ở các phân đoạn khác nhau của đường tiêu hóa (dạ dày; tá tràng; ruột non và ruột già) ở loài động vật dạ dày đơn rất khác nhau (khoảng 101-103; 101-104; 105-108 và 109-1012cfu/ml chất chứa tương ứng) [31]
Sức khỏe của vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: trạng thái sinh lý của vật chủ, khẩu phần thức ăn và hệ vi sinh vật Các yếu tố này chịu tác động của môi trường, của các stress và tác động qua lại lẫn nhau Trong số các nhân tố trên, hệ vi sinh vật
Trang 27đường tiêu hóa đóng vai trò trung tâm, chỉ một biến động bất lợi của một trong hai yếu
tố còn lại cũng ảnh hưởng xấu tới hệ vi sinh vật [24]
Sự cộng sinh của các loài vi sinh vật trong đường tiêu hoá của vật nuôi (chủ yếu là trong ruột) tạo nên một hệ sinh thái mở và mối cân bằng của quần thể vi sinh vật được xác lập chỉ một thời gian rất ngắn sau khi sinh [31]
Có nhiều quan điểm khác nhau về mối tương quan cân bằng của hệ vi sinh vật
ruột Theo Jans (2005), để đánh giá trạng thái cân bằng, các vi sinh vật ruột được chia
thành 3 nhóm (1) nhóm chủ yếu (main flora) gồm các loài vi khuẩn kị khí
(Clostridium; Lactobacillus; Bifidobacteria; Bacteroides, Eubacteria); (2) nhóm vệ tinh (Satellite flora), gồm chủ yếu là Enterococcus và E coli, và (3) nhóm còn lại (Residual flora) gồm các vi sinh vật có hại như Proteus, Staphylococcus và
Pseudomonas… Một quần thể vi sinh vật được coi là cân bằng khi tỷ lệ của các nhóm
dao động trong khoảng 90; 1,0 và 0,01% tương ứng Trạng thái mà các nhóm này hình thành một tỷ lệ 90:1:0,01 được gọi là trạng thái “eubiosis” (tiếng Hy Lạp có nghĩa là
sự chung sống có lợi giữa các vi khuẩn với nhau và với vật chủ) Ở trạng thái
“eubiosis”, vật chủ cung cấp các điều kiện sống lý tưởng như nhiệt độ ổn định, pH trung tính, dinh dưỡng và sự đào thải các chất chuyển hóa Đổi lại, hệ vi sinh vật sẽ mang lại lợi ích cho vật chủ thông qua tăng cường tiêu hóa các chất dinh dưỡng, giải độc, tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K, loại trừ các vi sinh vật có hại, tăng cường đáp ứng miễn dịch của vật chủ Sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa bị tác động bởi một số nhân tố vô sinh và hữu sinh như: sinh lý vật chủ, khẩu phần thức ăn và cơ cấu nội tại của bản thân hệ vi sinh vật Thức ăn là nền dinh dưỡng cơ bản của vi sinh vật, bởi vậy sự thay đổi thành phần khẩu phần, thức ăn không đảm bảo
vệ sinh, phương pháp cho ăn không hợp lý đều làm tổn hại đến trạng thái cân bằng
hệ vi sinh vật ruột Tương tự như vậy, các chất bài tiết của hệ tiêu hóa (dịch mật, các enzym, chất đệm và chất nhầy ) cũng như kiểu và tần số nhu động ruột cũng tác động trực tiếp đến hệ vi sinh vật Kiểu và tần số nhu động ruột bị tác động rất lớn bởi các stress (sinh đẻ, cai sữa, dồn chuồng, vận chuyển ) Khi quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật ruột bị phá vỡ sẽ tạo nên trạng thái “dysbiosis” (trạng thái “chung sống có hại”) Biểu hiện của trạng thái “dysbiosis” ở vật chủ thường là thể tạng kém, sinh trưởng chậm và mắc các bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm ruột hoại tử Để cải thiện quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật ruột ở vật nuôi, một phương pháp thường
Trang 28được áp dụng là bổ sung vào khẩu phần thức ăn một số loại kháng sinh liều thấp như những chất kích thích sinh trưởng Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi một cách không có kiểm soát đã và đang gây ra những hậu quả đáng lo ngại
về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là gây nên tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng của các vi khuẩn gây bệnh trên người và vật nuôi Khối liên minh châu Âu (EU) đã cấm sử dụng kháng sinh để bổ sung vào thức ăn như chất kích thích sinh trưởng từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 Việc cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi cũng đặt ra những thách thức lớn về kỹ thuật, đặc biệt đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm non hoặc trong điều kiện vệ sinh kém và vật nuôi chịu nhiều stress Để vượt qua những thách thức đó, đã có rất nhiều những nghiên cứu nhằm tìm ra tác nhân
để thay thế kháng sinh nhưng an toàn với vật nuôi Một trong những tác nhân tìm ra đó
là probiotics
1.3.4 Cơ chế tác dụng của probiotics
Theo tài liệu của Han poong industry co., Ltd (2002), Fullet (1992), Fullet (1989), Saarela và ctv (2000), Lã Văn Kính (1998), cơ chế tác dụng của probiotics như sau:
- Duy trì hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột bằng cách loại trừ cạnh tranh và bằng hoạt động đối kháng
Cạnh tranh bao gồm: cạnh tranh về vị trí bám dính trên nhunh mao ruột, cạnh tranh chất dinh dưỡng, cạnh tranh về khối lượng các chất sinh ra bỡi vi sinh vật Nhiều nghiên cứu chứng minh probiotics ức chế sự bám dính của vi sinh vật gây bệnh như E coli, Salmonella typhimurium (Bernet và ctv, 1994; Saxelin, 1997; Johansson và ctv, 1993; Tuomola và cộng sự, 1999) Việc ức chế khả năng bám dính của vi sinh vật gây bệnh sẽ ngăn ngừa sự phát triển và gây bệnh của chúng, từ đó probiotics được coi là giải pháp phòng ngừa bệnh đường ruột
Hoạt động đối kháng của vi khuẩn lactic chống lại vi sinh vật gây bệnh là do chúng sản xuất các chất như bacteriocin, axit hữu cơ, hydroperoxyd, lactocidin … Lactocidin có phổ kháng khuẩn rất rộng, còn các axit acetic và lactic thì làm giảm pH ruột, ức chế sự phát triển của nhiều vi sinh vật gây bệnh Gram (-) Thí dụ Lactobacillus acidophilus sản xuất các chất kháng khuẩn lactacin B và acidocin Lactacin B đã được chứng minh là gây ức chế các loại Lactobacillus khác còn acidocin
ức chế các vi sinh vật gây bệnh [22]
Trang 29- Tăng thức ăn vào và khả năng tiêu hóa: probiotics kích thích tính thèm ăn, làm tăng tích lũy mỡ, nitrogen,Ca, P, Cu, Mn (Nahashon và ctv, 1992 – 1996 trích dẫn Lã Văn Kính.1998), tiết các enzyme tiêu hóa như α- amylase, cellulase, lipase, protease
- Làm giảm hoạt tính urease trong ruột non, ngăn chặn tổng hợp những axit amin độc, giảm nồng độ NH3 trong phân gia súc, gia cầm do đó ảnh hưởng có lợi đối với môi trường
- Tổng hợp vitamin nhóm B : B1, B2, B6, B12
- Trung hòa và khử độc yếu tố trong đường ruột Theo Rani và Khetarpaul (1998), ảnh hưởng có lợi của probiotics trong thức ăn là sự sản xuất các chất kháng khuẩn có tác dụng trung hòa độc tố gây bệnh tiêu chảy của vi khuẩn E.coli
- Kích thích hệ thống miễn dịch: Yếu tố được xác định có vai trò kích thích hệ thống miễn dịch là thành phần của vách tế bào vi khuẩn Sự phân hủy peptidoglycan tạo ra chất muramyl peptid tác dụng kích thích hoạt động của đại thực bào Khả năng bám dính vào niêm mạc ruột của probiotics tạo nên sự tương tác giúp probiotics tiếp xúc với hệ thống lympho đường ruột và hệ thống miễn dịch, nhờ đó thúc đẩy hiệu quả miễn dịch và tạo nên sự ổn định của hàng rào bảo vệ ruột
Probiotics được coi là sản phẩm đầy hứa hẹn cho việc phòng ngừa và điều trị bệnh đường ruột nhờ khả năng ổn hệ vi sinh vật đường ruột, ổn định sự tiết nhầy đường ruột, là hàng rào bảo vệ cơ học chống sự phá hoại của vi sinh vật có hại đối với biểu mô ruột
1.3.5 Tiêu chuẩn lựa chọn chủng vi sinh vật probiotic
1.3.5.1 Lựa chọn các chủng probiotic
Việc lựa chọn các chủng vi sinh vật với tiêu chuẩn đầu tiên là phải an toàn cho quá trình sản xuất và ứng dụng, có khả năng sống sót và chiếm lĩnh (colonization) trong đường tiêu hóa vật chủ Các tiêu chuẩn lựa chọn này được hợp lý hóa thông qua các thí nghiệm in vitro, từ đó sẽ tuyển chọn được các chủng có tiềm năng như là nguồn probiotic [25]
Các chủng vi sinh vật probiotic được lựa chọn theo các tiêu chuẩn chủ yếu sau:
- Tính bám dính trên bề mặt đường tiêu hóa hoặc các tế bào biểu mô: Các chủng probiotic phải bám dính được vào thành ruột non, khu trú tốt trong đường tiêu
Trang 30hoá và sinh sôi nảy nở Khả năng bám dính được xem là một yêu cầu quan trọng để tăng khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh, bảo vệ biểu mô và tăng khả năng miễn dịch của vật chủ Đặc tính này làm tăng khả năng cạnh tranh của các chủng probiotic với các vi sinh vật bất lợi khác
- Hoạt tính kháng khuẩn chống lại các vi khuẩn gây bệnh: Lựa chọn được các chủng có khả năng sản sinh các chất kháng khuẩn là đặc tính quan trọng nhất trong phát triển probiotic Các chủng probiotic cần có hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh
như E coli, Salmonella và Campylobacteria Hoạt tính kháng khuẩn của chúng có thể
theo nhiều cơ chế khác nhau như:
+ Sản sinh ra các chất Bacteriocin
+ Làm giảm độ pH bởi tạo ra axit lactic
+ Tạo ra H2O2
+ Làm giảm độc tố theo các cơ chế khác nhau
+ Khả năng làm giảm sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh trên bề mặt + Cạnh tranh dinh dưỡng với các vi khuẩn gây bệnh
- Khả năng tồn tại trong môi trường axit dạ dày: Khoang miệng và dạ dày của vật chủ là nơi có môi trường axit pH từ 2-3 và có mặt các enzym tiêu hoá (amylaza, proteaza, lysozym…) Các chủng vi sinh vật được coi như là nguồn probiotic phải tồn tại được trong điều kiện này Hiện nay các công ty đã khuyến cáo dùng vỏ bọc (microcapsute) với chế phẩm probiotic nhằm tăng khả năng sống của vi khuẩn probiotic khi đi qua khoang miệng và dạ dày
- Khả năng chịu muối mật: Thông thường, muối mật trong dịch tiêu hoá của động vật dao động 1-3% (Sameh H M, 2003), Để tồn tại và phát triển, các chủng probiotic phải có khả năng tồn tại và phát triển với nồng độ muối mật ≥ 2%, ngoài ra
một số chủng probiotic (Nấm men, Bacillus và Lactobacillus) có khả năng sinh enzym
tiêu hoá như: amylaza, xenlulaza và proteaza, lipaza và phytaza có vai trò làm tăng khả năng tiêu hoá thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng của vật chủ
1.3.5.2 Những vi sinh vật thường được sử dụng cho ăn trực tiếp
Những vi sinh vật có lợi thường được sử dụng trong các chế phẩm probiotics ở
Mỹ gồm có vi khuẩn, nấm men, nấm mốc [33]
Trang 31Bảng 1.3 : Các loại vi sinh vật có lợi sử dụng trong các chế phẩm probiotics
Aspergillus niger
Aspergillus oryzae
Saccharomyces cerevisiae
Trang 321.3.5.3 Yêu cầu an toàn đối với các chủng vi sinh vật probiotic
Việc nghiên cứu, phát triển chế phẩm probiotic và sử dụng trong chăn nuôi bắt đầu từ khâu nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ, sử dụng trên đàn gia súc, gia cầm Như vậy các chủng vi sinh vật đã qua nhiều khâu tiếp xúc với con người, môi trường trước khi vào cơ thể động vật Điều này cho thấy là yêu cầu an toàn đối với chủng vi sinh vật
là vấn đề quan trọng nhất đối với vật nuôi, con người và môi trường Đối với động vật cần có thời gian thử nghiệm từ 1-3 tháng, kiểm tra các chỉ tiêu tăng trọng, phản ứng cơ thể, theo dõi các bệnh tiêu hoá, bệnh nhiếm khuẩn và các phản ứng phụ Ngoài ra cần
có những thông số phân tích sinh hoá về máu và đánh giá chỉ số coliform trong phân Đối với con người không cần thiết phải thử nghiệm như trên động vật nhưng cần chú ý các phản ứng phụ như dị ứng với da, mũi, mắt Với môi trường cần đảm bảo là vi sinh vật không có hại đối với con người và động vật, không mang gen lạ Nói chung các chủng vi sinh vật probiotic có nguồn gốc tự nhiên (từ hệ vi sinh vật đường ruột vật nuôi) là các chủng được khuyến cáo sử dụng Tổ chức FAO (2002) đưa ra hướng dẫn với việc tuyển chọn các chủng probiotic, ngoài các đặc tính probiotic và đảm bảo an toàn thì các chủng này phải được cụ thể hoá các thông tin về nguồn gốc chủng, tên phân loại đến chi và loài Đối với vấn đề an toàn probiotic, cộng đồng Châu Âu đã lập một Uỷ ban khoa học về dinh dưỡng động vật (Scan: scientific committee for animal nutrition) đưa ra những quy định đánh giá an toàn đối với sản phẩm và những khuyến cáo cho vấn đề này qua các điều luật và kỹ thuật online ([38]
Tổ chức FAO (2002) khuyến cáo các chủng probiotic không những cần được phân loại chính xác mà còn phải được cung cấp và lưu giữ tại các bảo tàng vi sinh vật đạt tiêu chuẩn quốc tế Quy trình sản xuất phải theo tiêu chuẩn GMP (Good Manufacturing Practices)
1.3.5.4 Đặc tính của chế phẩm probiotics sử dụng trong thí nghiệm
- Thành phần
Chế phẩm probiotics dạng bột được tạo ra từ 2 chủng vi khuẩn : Bacillus
subtilis, Lactobacillus acidophilus, mật độ vi khuẩn đạt 108cfu/g
- Đặc điểm và tác dụng
Bacillus subtilis
Trang 33Đặc điểm : Trực khuẩn gram dương, có bào tử, hiếu khí, di động được, không
có giáp mô, nhiệt độ thích hợp 350C, lên men đường glucose và saccharose
Tác dụng : Sản sinh enzyme tiêu hóa : Amylase, cellulase, pectinase, protease, lipase, tripsin, mantase, sản sinh các axit hữu cơ (Axit lactic, axit acetic) làm giảm pH đường ruột, tổng hợp vitamin nhóm B, cạnh tranh vị trí bám với vi khuẩn gây bệnh
Lactobacillus acidophilus
Đặc điểm : Trực khuẩn gram dương, không sinh nha bào, không di động, kị khí, thích hợp nhiệt độ 300 – 400C, chịu được pH < 5, lên men đường glucose, lactose và maltose sinh axit nhưng không sinh hơi
Tác dụng : Bám chặt vào màn nhầy ruột, ức chế sự bám dính của vi sinh vật gây bệnh, sản xuất các axit hưu cơ (axit lactic, axit acetic, axit benzoic) làm giảm pH đường ruột, tạo môi trường không thuận lợi cho vi sinh vật có hại, sản xuất một số kháng sinh có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh như lactacin B (Barefoot và Klaenhammer, 1983 ; Barefoot và ctv 1994 ; Ferreira và Gilliland), acidophilucin A (Toba và ctv, 1991), acidocin JCM 1132 và acidocin J1229 (Tahara và Kanatani, 1996), sản xuất các ezyme tiêu hóa (amylase, cellulase, lipase, protease) nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, và các vitamin như: B1, B2, B6, B12, khử độc tố trong đường ruột
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LYSINE, PROBIOTICS TRÊN GÀ
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.4.1.1 Nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của lysine
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gà thịt công nghiệp của nước ta phát triển rất mạnh mẽ và có một số công nghiên cứu nhu cầu về axit amin cho gà thịt công nghiệp như:
Lã Văn Kính (1995), đã xác định tỷ lệ tối ưu các axit amin trong thức ăn cho gà broliler 0 – 4 tuần tuổi là 1,2 % lysine, 0,54% methionine, 1,0% methionine + cystine 0,85% threonine 0,25% tryptophan, và cho gà 5 – 8 tuần tuổi là 1,0% lysine, 0,42% methionine, 0,87% methionine + cystine, 0,75% threonine, 0,22% tryptophan
Theo Bùi Thị Oanh và ctv (1996), mức lysine cho gà thịt (Ross 208 và BE 88)
là 1,10; 1,00; 0,90 & tương ứng với các giai đoạn 0 -3; 4-6 và 7-9 tuần tuổi
Trang 34Ở nước ta mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về xác định mức protein và axit amin thích hợp trong khẩu phần cho các giống gà cải tiến lông màu
Dương Thanh Liêm và cộng tác viên (1999), xác định ảnh hưởng của các mức protein khác nhau đến sự sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của các giống gà thả vườn đã kết luận mức protein thích hợp cho gà con giai đoạn úm 0 – 4 tuần là 20%; gà giò 5 –
12 tuần tuổi là 18%; gà giò vỗ béo sau 12 tuần đến xuất thịt là 16%
Trần Quốc Việt và ctv (2000), nghiên cứu trên gà Tam Hoàng dòng 882 và Kabir đã kết luận mức protein và axit amin cho gà Tam Hoàng 0 – 4, 5 – 8, 9 – 12 tuần tuổi tương ứng 19, 18, 17 % protein thô và 1,05, 0,95, 0,85% lysine, các axit amin khác như methionine + cystine, threonine được tính theo phần trăm so với lysine như sau: 74,78, 82%; 66, 68, 70% cho các giai đoạn 0-4, 5-8, 9-12 tuần tuổi
Hồ Lam Sơn và ctv (2000), nghiên cứu sản xuất thức ăn hỗn hợp cho gà Kabir thương phẩm, đã đưa ra mức protein, lysine, methionine + cystine tương ứng là: 20,0 1,0, 0,83% cho giai đoạn 1 – 30 ngày tuổi và 18,0, 0,95, 0,83% cho gà 30 ngày tuổi đến xuất chuồng
1.4.1.2 Nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của probiotics
Phạm văn Toản và cộng sự (1996) đã bước đầu sản xuất chế phẩm gồm hai nhóm vi sinh vật là vi khuẩn phân giải cellulose C1, C2, C3 và vi khuẩn lên men lactic L1, L2 dùng thử nghiệm trên chim cút Hiêu quả của chế phẩm được đánh giá theo các chỉ tiêu: mật độ vi sinh vật (VSV) trong đường tiêu hóa chim cút, tăng trọng, sức đẻ trứng, hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phí thức ăn Kết quả đạt được như sau: Mật độ VSV tăng nhiều lần (10 – 20 lần) ở diều, dạ dày và manh tràng, tăng trọng cao hơn 8g/con, tỉ lệ đẻ tăng 14%, hiệu quả tiêu hóa chất sơ tăng 4% và hiệu quả tái hấp thụ
NH3 tăng 0,73%, giảm giá thành sản xuất một quả trứng từ 119 đồng xuống 80 đồng
Nguyễn Duy Hoan và Trần Thị Kim Oanh (2001) nghiên cứu sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi gà thả vườn đã ghi nhận kết quả: Tăng trọng cao hơn lô đối chứng 8,04% (P < 0,01), tiêu tốn thức ăn giảm 7,17%, tỉ lệ xẻ thịt tăng 0,75% và giảm được mùi hôi trong chuồng nuôi
Tạ Thị Vịnh và cộng sự sử dụng chế phẩm VITOM1.1 và VITOM.3 của Nga trong phòng trị bệnh đường tiêu hóa trên heo và gà nhận thấy: Tăng trọng trên heo
Trang 35tăng 6%, tỉ lệ tiêu chảy phân trắng giảm 11%, tỉ lệ khỏi bệnh đạt 100% và không có tái phát, (VITOM.3), tăng trọng trên gà tăng 11,8%, tỉ lệ khỏi bệnh đạt 99% (VITOM1.1
EM cải thiện tăng trọng 2,05%, giảm tiêu tốn thức ăn 2,67%, giảm tỉ lệ hao hụt 1,2%
so với gà dùng kháng sinh, sử dụng EM đã làm giảm hàm lượng khí độc trong chuồng nuôi có tác dụng bảo vệ môi trường
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.4.2.1 Nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của lysine
Cùng với sự phát triển của công nghiệp sản xuất axit amin tổng hợp Nghiên cứu về sử dụng protein đã tập trung vào nghiên cứu về sử dụng axit amin Với cùng cân bằng tốt về axit amin, mức protein thấp cho kết quả ngang với mức protein cao Mức protein thấp nhưng cân bằng axit amin sẽ cho kết quả tốt hơn mức protein cao mà không cân bằng axit amin Cân bằng axit amin tốt sẽ cho tăng trọng cao, hiệu quả sử dụng protein cao, chất lượng thịt tốt (Paar và Sumer, 1985, Bornstein và Lipstein,
1985, Summer; Spatt và Atkinson, 1992; Yanming; Hiroyuki; Parsons và Baker, 1992; Smith, 1987, Sibbald, 1986; Almquist, 1979; Huyghetbaert và Pack; Goote, 1994; Hickling; Gneter và Jackson, 1990; Hosheimer và Veerkamp 1992; Moral Bilgilki, 1990; Tkachev và Mantel, 1993)
Một số nhà nghiên cứu cho rằng chỉ cần chú ý tới cân bằng axit amin chứ không cần chú ý tới mức protein (Babour, Latshaw, 1992), nhưng một số tác giả lại cho rằng, mặc dù axit amin được cân bằng tốt, nhưng mức protein thô quá thấp thì tăng trọng của gà giảm và tiêu tốn thức ăn tăng (Bryan, Jensen 1989)
Xí nghiệp gà giống Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc (2000), đã khuyến cáo, nuôi gà thịt Lương Phượng 0 – 6,7 – 11 và 11 tuần tuổi tới hạ thịt với mức protein, methionine và lysine tương ứng: 19,0, 0,4, 1,2%; 18,0, 0,4, 1,1%; 16,0,0,3, 1,0%
Trang 361.4.2.2 Nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của probiotics
Theo báo cáo của Lã Văn Kính (1998), nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã thủ nghiệm probiotics trên gà đẻ và gà thịt cho kết quả như sau : Đối với gà
đẻ sản lượng trứng tăng 5% ở mức bổ sung 100mg/kg thức ăn (Mohal và cộng sự,
1995) Khi bổ sung một lứa cấy hỗn hợp của Lactobasilus acidophilus và
Lactobasilus lasei ( > 106 CFU/g) đã cải thiện số ngày đẻ trứng, hệ số chuyển hóa thức
ăn, trọng lượng trứng và chất lượng lòng trắng (Tortuero và Fernandez, 1995) Đối với
gà thịt, tăng trọng cao hơn gà đối chứng ( P < 0,05), tiêu tốn thức ăn thấp hơn ( P <
0,05), hiệu quả sử dụng thức ăn cải thiện 2% khi bổ sung hỗn hợp Lactobasilus
Acidophlus và S Faecium (2.109 CFU/kg) cho 5 – 8 tuần (Tortuero và ctv, 1989)
1.4.3 Nhận xét
Các công trình nghiên cứu được tóm lược ở trên đã sử dụng lyzine, chế phẩm probiotics cho gia súc, gia cầm để cải thiện tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn, ức chế vi sinh vật gây bệnh, phòng ngừa và điều trị tiêu chảy Mỗi công trình nghiên cứu
về một khía cạnh khác nhau, áp dụng lyzine, chế phẩm probiotics có thành phần khác nhau trên vật nuôi khác nhau, nhưng đều có kết luận là lyzine, probiotics có ảnh hưởng
có lợi trên vật nuôi
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của lyzine, probiotics đối với giống gà Ta sống trong điều kiện các tĩnh miền Trung Việt Nam Vì vậy, tôi tiến hành thí nghiệm để tìm ra ảnh hưởng của lysine, probiotics tới tốc độ sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn và chất lượng thịt của gà Ta trong điều kiện sống tại Tuy Hòa, Phú yên
Trang 37CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu: Gà được 4 tuần tuổi có khối lượng trung bình
(Trống 170 ÷190 gam/con, mái (155÷ 175gam/con ) Chọn khối lượng trung bình của gà Ta trong các lô thí nghiệm đồng đều nhau
Địa điểm: cơ sở nuôi gà tại xã Hòa Quang Nam huyện Phú Hòa tĩnh Phú Yên Mỗi thí nghiệm đều được tiến hành trên 120 gà ta từ 4 đến 16 tuần tuổi
Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm I được tiến hành từ tháng 05/2011 đến tháng 08/2011 Thí nghiệm II được tiến hành từ tháng 01/2011 đến tháng 04/2011
Hình 2.1: Gà Ta 4 tuần tuổi
* Thức ăn sử dụng trong nghiên cứu
- Thức ăn tổng hợp có bổ sung lysine
- Thức ăn tổng hợp có bổ sung chế phẩm probiotics
- Lysine: Nguồn lysine công nghiệp nhập khẩu từ Thái lan
- Probiotics: Gồm 2 chủng vi sinh vật: Bacillus subtilis, Lactobacillus acidophilus, mật độ vi khuẩn đạt 108cfu/g Được sản xuất từ viện vacxin Nha Trang
- Bột cá: Công ty cổ phần chế biến bột cá Kiên Giang
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Ảnh hưởng của việc bổ sung probiotics đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn của gà ta nuôi thương phẩm
Trang 38- Ảnh hưởng của lysine trong thức ăn hỗn hợp đến khả năng sinh trưởng, hiệu
quả sử dụng thức ăn và chất lượng thịt của gà ta nuôi thương phẩm
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mỗi nội dung nghiên cứu trên được thực hiện bằng một thí nghiệm nuôi dưỡng
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm I: Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của lysine trong thức ăn hỗn hợp đến
khả năng sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng thịt của gà ta nuôi
thương phẩm
Thí nghiệm được bố trí với lysine tiêu hóa gồm 3 mức: Mức cao (1,2%) mức
trung bình (1,0%) và mức thấp (0,8%) Các axit amin thiết yếu quan trọng khác như
methionine, cystine, threonine và tryptophan tiêu hóa được cân đối với lysine theo
khuyến cáo về hình mẫu protein lý tưởng của Baker và ctv (1996) Với tổng số 3 lô thí
nghiệm và 2 lô đối chứng, mỗi lô có 12 lần lặp lại(24 con/lô, 12 trống/ 12 mái ) được
đeo số cánh từng con để theo dõi Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.1
Thí nghiệm II: Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của việc bổ sung probiotics đến khả
năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà nuôi thương phẩm
Thí nghiệm được bố trí với probiotics gồm 3 mức: Mức cao (6g/kg thức ăn)
mức trung bình (4g/kg thức ăn) và mức thấp (2g/kg thức ăn)
Với tổng số 3 lô thí nghiệm và 2 lô đối chứng, mỗi lô có 12 lần lặp lại (24 con/lô, 12 trống/ 12 mái ) được đeo số cánh từng con để theo dõi Sơ đồ bố trí thí nghiệm