Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói, Việt Nam thừa nhận định nghĩa này như
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Luận văn
Ngày nay, giải quyết sự nghèo đói đang là một trong tám mục tiêu của thiên nhiên kỷ là mối quan tâm toàn cầu Các nhà nghiên cứu lo ngại rằng sự gia tăng và kéo dài nghèo đói chính là nhân tố gây nên những tệ nạn xã hội phức tạp và hậu quả khó lường Trong khi đó, những chính sách của nhà quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng góp phần tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo Điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để biết được những nhân tố nào ảnh hưởng tới sự ngèo đói
và các phương thức quản lý để làm cơ sở trong công tác xóa đói giảm nghèo Đây chính là vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam
Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói, Việt Nam thừa nhận định nghĩa này như sau:
“Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các
nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Thực trạng nghèo đói trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (World Bank), nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh
tế tiếp tục suy giảm trong năm 2009 sẽ đẩy thêm 53 triệu người rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa mạng sống của thêm 200.000-400.000 trẻ em trong giai đoạn năm 2009-2015, theo đó sẽ có 1,4-2,8 triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng tiếp diễn
Bên cạnh đó, số lượng, hình thức, mức độ ngèo đói và những biện pháp áp dụng của các quốc gia khác nhau nhằm hạn chế sự nghèo đói cũng khác nhau và không đồng nhất Đây cũng chính là một hạn chế của công tác xóa đói giảm nghèo trên phạm vi toàn cầu
Trang 2Mặt khác, trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng việc nghiên cứu về sự nghèo đói mới chỉ dừng lại ở phạm vi tổng thể, chưa đi sâu vào những lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực Thủy sản Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự nghèo đói và nhân tố ảnh hưởng tới nghèo đói của ngư dân trong lĩnh vực thủy sản là hướng nghiên cứu cần quan tâm Kết quả nghiên cứu mang tính định lượng này sẽ là cơ sở để đưa ra những chính sách quản lý và giải pháp hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo Nếu điều này được thực thi thì sẽ là một động lực rất lớn đối với cộng đồng ngư dân nghèo ven biển
Ven biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là 6 xã bãi ngang, cồn bãi gồm xã: Quảng Đông, Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng Hưng, Quảng Xuân, Quảng Phúc, có diện tích là 10.277,8 ha với số dân của vùng này là 46.463 người, tỷ lệ các hộ nghèo năm
2010 theo chuẩn của Quốc gia (giai đoạn 2006-2010) là 15,97%, theo chuẩn mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 là 18,64%, tỷ lệ hộ nghèo của khu vực này quá cao so với bình quân toàn tỉnh Quảng Bình là 11,56%
2 câu hỏi nghiên cứu đặt ra đó là:
- Thực trạng tình hình nghèo đói của ngư dân ven biển vùng này?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng nghèo đói của ngư dân tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình?
Để giải quyết vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới sự nghèo đói của ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”
2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung
Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng nghèo đói từ đó gợi ý những chính sách nhằm giảm nghèo bền vững cho cộng đồng ngư dân nghèo ven biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng tình hình nghèo đói của ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 3- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói của ngư dân tại huyện Quảng Trạch trong những năm gần đây
- Đề xuất và gợi ý một số chính sách quản lý đối với những cơ quan hữu quan trong thời gian tới giúp ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch sớm thoát nghèo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hộ ngư dân nghèo ven biển vùng bãi ngang huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình gồm các xã: Quảng Đông, Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng Hưng, Quảng Xuân, Quảng Phúc
- Thời gian: Từ tháng 9/2009 đến tháng 4/2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn sẽ thực hiện các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập dữ liệu (sơ cấp, thứ cấp), phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp chuyên khảo, phương pháp định lượng với sử dụng các phần mềm thống kê chuyên dụng: Excel, SPSS…
Phương pháp thu thập dữ liệu (sơ cấp, thứ cấp): thực hiện tổng hợp các báo
cáo, số liệu thống kế và phỏng vấn các hộ dân thuộc các xã ven biển huyện Quảng Trạch trong phạm vi nghiên cứu với các tiêu chí chủ yếu như: tuổi, giới tinh, tôn giáo, thu nhập từ ngành nghề, chi tiêu, việc làm, trình độ văn hóa, sở hữu tài sản đất đai, vốn sản xuất Phương pháp này tạo ra cơ sở dữ liệu sơ cấp để xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm phân tích tình trạng nghèo, nguyên nhân dẫn đến nghèo và đề xuất hướng giải quyết
Phương pháp chuyên khảo: để nghiên cứu các tài liệu có tính chất lý luận về
nghèo đói, các mô hình đã được các tác giả đi trước nghiên cứu về nghèo đói
Trang 4Phương pháp thống kê mô tả: để mô tả về tình hình nghèo đói, các đặc điểm về
kinh tế, xã hội
Phương pháp phân tích và tổng hợp: dùng để phân tích và tổng hợp về tình
hình nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói của vùng nghiên cứu
Phương pháp định lượng: lập mô hình hồi quy để tìm ra mối quan hệ giữa chi
tiêu đầu người với các yếu tố khác như: việc làm, vốn sản xuất, số con, sống lệ thuộc, trình độ văn hóa, sở hữu tài sản đất đai, dân tộc, điều kiện sống, từ đó đề xuất một số chính sách giảm nghèo trên địa bàn ven biển huyện Quảng Trạch
5 Những đóng góp của luận văn
Về mặt lý thuyết, luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo
đói, đồng thời làm rõ bản chất của nghèo đói
Về mặt thực tiễn, luận văn làm phong phú thêm thực tế và kinh nghiệm
nghiên cứu vấn đề nghèo đói, đặc biệt là vấn đề nghèo đói của các hộ ngư dân làm nghề thủy sản vùng bãi ngang ven biển Ngoài ra, luận văn còn dùng làm tài liệu để nghiên cứu và giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục và tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến được cấu trúc thành 5 chương như sau: Chương 1 nêu về tổng quan lý thuyết về nghèo đói bao gồm khái niệm về nghèo đói, các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đói, tổng hợp tình hình nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam Chương 2 nêu lên cơ sở xác định đâu là nghèo, đo lường và đánh giá mức độ nghèo đói, tổng quan các nghiên cứu liên quan đến nghèo đói và đề xuất mô hình nghiên cứu về tình hình nghèo của các hộ dân ven biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Chương 3 sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu bao gồm các phương pháp nghiên cứu, nguồn số liệu
sử dụng, mẫu nghiên cứu, cách thức và phương pháp chọn mẫu Chương 4 trình bày
về kết quả nghiên cứu, sẽ phân tích về tình hình nghèo đói của các hộ dân ven biển huyện Quảng Trạch và kết quả mô hình kinh tế lượng về các nhân tố ảnh hưởng tới nghèo đói của các hộ dân này Chương sẽ nêu những gợi ý chính sách nhằm giảm
nghèo cho các xã ven biển từ việc nghiên cứu thực trạng của khu vực này đồng thời trình bày những hạn chế của mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu
Trang 5Chương 1- TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐÓI
1.1 Khái niệm về nghèo đói
Báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về phát triển con người có ba quan điểm khác nhau về nghèo đói:
- Quan điểm thu nhập (tiêu dùng)
- Quan điểm nhu cầu cơ bản
- Quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người
a Báo cáo phát triển liên hợp quốc (UNDP) 1997 cho rằng có 3 quan điểm khác nhau:
Quan điểm về thu nhập là một cách hiểu hẹp nhất, một người được cho là vô sản nếu như mức thu nhập của anh ta dưới một ngưỡng xác định
Quan điểm nhu cầu cơ bản: Quan điểm này không xuất phát từ mức thu nhập
mà xuất phát từ khả năng mà xã hội có thể cung cấp cho người dân để họ ngăn ngừa nghèo đói Nghĩa là thu nhập của họ không nhiều, họ có thể tự mình sản xuất một phần sản phẩm nào đấy, còn các nhu cầu khác sẽ được thỏa mãn nhờ các dịch vụ miễn phí của Nhà nước như y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc…
Quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người: Người dân không thể có được khả năng thỏa mãn một cách đầy đủ mọi nhu cầu căn bản của mình như: ăn, mặc, ở…Ngoài ra, họ còn bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục, tham gia vào các hoạt động đoàn thể và không được thỏa mãn cả nhu cầu
về văn hóa xã hội…Tóm lại là sự lựa chọn của họ bị hạn chế Áp dụng quan điểm tiếp cận này cho phép định nghĩa nghèo đói như là một sự thiếu vắng hàng loạt nhu cầu cơ bản và hạn chế sự lựa chọn của con người Quan điểm này nó bao trùm 2 quan điểm trên Nghĩa là cả mức thu nhập và hạn chế khả năng con người thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mình Cách nhìn vấn đề từ quan điểm phát triển con người cho phép khảo sát nghèo đói như là một hiện tượng đa chiều, có nguồn gốc sâu xa
Trang 6b Ủy ban kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương (Thái Lan 1993) đưa ra
khái niệm về nghèo đói và cũng thường sử dụng ở Việt Nam là:
"Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người
- Thiếu cơ hội được lựa chọn tham gia vào các dịch vụ cơ bản trong quá trình phát triển của cộng đồng
Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa của Ngân hàng thế giới về nghèo đó là tình trạng mà cá nhân hoặc hộ gia đình “không có khả năng có mức sống tối thiểu”
QUAN ĐIỂM THU
NHẬP
QUAN ĐIỂM KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN TIỀM NĂNG
QUAN ĐIỂM NHU CẦU CƠ
Hình 1.1 Các quan điểm về nghèo đói
Trang 71.2 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đói
1.2.1 Phương pháp dựa vào chi tiêu
Theo Sarah Bales (2001) thì tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói đó là
mức chi tiêu (hay thu nhập) để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người
Ngân hàng thế giới (WB 2007), Cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay trong
đo lường phúc lợi kinh tế đó là dựa vào chi tiêu hay thu nhập của hộ gia đình nếu chúng ta chia đều cho các thành viên của hộ thì được chỉ tiêu chi tiêu hay thu nhập bình quân đầu người.(WB 2005) thì các nước phát triển sử dụng thu nhập để xác định nghèo đói vì nó mang tính ổn định cao hơn, đối với các nước đang phát triển thì dùng chỉ tiêu chi tiêu vì dễ thấy và dễ dàng hơn
Nội dung của phương pháp này dựa vào các cuộc điều tra về thông tin chi tiết chi tiêu của hộ, từ đó là cơ sở để tính toán chuẩn nghèo và được đo bằng mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo đủ 2100 Kcalo trong một ngày, dựa vào cách mà hộ phân
bổ chi tiêu giữa những nhu cầu khác nhau trong cuộc sống như lương thực và phi lương thực Trên cơ sở đó những hộ có mức chi tiêu bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo là những hộ nghèo và tỷ lệ nghèo là tỷ lệ dân số có mức chi tiêu dưới chuẩn nghèo Tuy nhiên phương pháp này cũng có những nhược điểm như là chi phí lớn, điều tra chi tiêu đầu người mẫu thường nhỏ và sai số trong quá trình ước tính nghèo đói có thể xảy ra rất cao Phương pháp này thường cho kết quả khả quan và đáng tin cậy với cấp độ tính toán trên phạm vi rộng từ cấp vùng hoặc tỉnh trở lên
1.2.2 Phương pháp dựa vào thu nhập
Việc áp dụng phương pháp tính toán và xác định nghèo đói theo phương pháp dựa vào thu nhập được Bộ LĐTB&XH nước ta áp dụng và triển khai trong điều tra đánh giá mức sống dân cư năm 1998 và 2002 Nội dung chủ yếu của phương pháp này đó là điều tra những thông tin liên quan đến thu nhập của một hộ gia đình trong một năm và lấy bình quân theo đầu người của hộ đó, trên cơ sở số liệu đó đối chiếu với chuẩn nghèo được ban hành đối với khu vực hộ đó đang cư trú Ở Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dựa trên điều tra gồm những câu hổi về tài sản và
về thu nhập từ c á c nguồn khác nhau Thu nhập từ tất cả các nguồn này được cộng
Trang 8lại, chia cho số người trong hộ và so sánh với một trong hai chuẩn nghèo tùy theo xã
Chuẩn nghèo ở thành thị: 500.000 đ/người/tháng
Tuy nhiên phương pháp này cũng mắc phải một số nhược điểm như tâm lý của người dân không muốn khai thật về mức thu nhập của mình Theo Alderman (1994) & Paxson (1993), ở các nước kém phát triển thu nhập của hộ thường biến động theo mùa vụ trong khi chi tiêu dùng tương đối ổn định theo các năm vì thế chi tiêu của hộ là con số phản ánh mức sống của hộ tốt hơn so với thu nhập
Hình 1.2 Đường thu nhập và chi tiêu trong năm của hộ gia đình
Nguồn: WB (2007)
Trang 91.2.3 Phân loại của địa phương
Điểm căn bản trong việc xác định đối tượng nghèo và phân bổ các khoản trợ giúp trên thực tế ở các địa phương là có sự chi phối theo một tập tục truyền thống,
đó là thôn Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo và đói Danh sách này sẽ được cập nhật một hoặc hai lần trong một năm, khi mà những lợi ích như miễn học phí và thẻ khám chữa bệnh được phát Trên thực tế thì chúng ta dễ dàng hiểu được rằng những hộ không nghèo thường không tham gia hội đồng này vì họ ít có khả năng nhận được những lợi ích kèm theo Nhiều khi những khoản lợi ích được cấp không cung ứng đầy đủ cho tất cả những hộ thuộc diện nghèo, do đó vấn đề đặt ra là xem ai xứng đáng nhận được những khoản trợ giúp đó, cộng thêm sự đánh giá chủ quan của những hộ khác, ngoài những yếu tố về mặt thu nhập Và đến đây thì chúng
ta có thể thấy được ưu điểm của phương pháp mà Bộ LĐTB&XH áp dụng để xác định những hộ nghèo
Nhược điểm của phương pháp này đó là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định hộ nghèo và liệu việc thảo luận cấp thôn có thật sự thành công trong việc xác định ai là người cần giúp đỡ nhất hay không vẫn là một câu hỏi cần bỏ nghỏ, một mặt nữa là những hộ bị coi là không chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm
xã hội hiếm khi nhận được sự giúp đỡ, trên thực tế thì con cái của những hộ này chịu
sự thiệt thòi rất lớn từ các phân loại này
Trên cơ sở n h ữ n g phân tích trên, đề tài sử dụng chỉ tiêu "chi tiêu bình quân
để đánh giá sự nghèo đói của các hộ ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch và đồng thời tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự nghèo đói này
1.3 Tổng quan về nghèo đói trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới
Trong số hơn 6 tỷ người trên Trái đất thì có 2,8 tỷ người sống dưới mức 2 USD một ngày và 1,2 tỷ người sống dưới mức 1 USD, 44% số này sống ở khu vực Nam Á Trong khi ở các nước giàu, trung bình trong 100 đứa trẻ sinh ra chỉ có chưa đến một trẻ không sống được đến tuổi thứ 5 thì ở những nước nghèo tỷ lệ này là gần
Trang 1020 trẻ Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng ở các nước phát đang phát triển lên tới 50% còn ở những nước giàu có chưa đến 5%
Bảng 1.1 Nghèo đói theo thu nhập, phân theo vùng trong một số năm,
Số người sống dưới 1USD một ngày (%) Vùng
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Bảng 1.2 Tỷ lệ hộ nghèo theo vùng của thế giới năm 2005
Vùng Số người sống dưới 1,25
USD một ngày (%)
Số người sống dưới 2 USD một
ngày (%)
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Trang 11Qua bảng 1.2 ta thấy khu vực nghèo nhất thế giới đó là vùng Nam Sahara châu Phi và Nam Á có số người sống dưới 2 USD/ngày lên trên 70% Khu vực có tỷ
lệ nghèo ít nhất đó là Châu Âu và Trung Á có số người sống dưới 2 USD/ngày là 8,9%
Nghèo đói ở những khu vực khác nhau cũng có những mức độ khác nhau
(Hình 1.3) Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB) thì với tỷ lệ 1,25
USD/ngày, châu Phi – vùng Sahara là khu vực rộng lớn duy nhất, nơi tình trạng nghèo đói vẫn suy giảm không đáng kể về tỷ lệ (50.9% vào năm 2005, thấp hơn so với 57.6% vào năm 1990, 58% vào năm 1996) và tăng về số lượng (384 triệu người vào năm 2005 cao hơn so với 202 triệu vào năm 1981)
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỉ lệ thanh niên thất nghiệp cao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi) Thất nghiệp là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra nạn nghèo đói của ”lục địa Đen” và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kế hoạch phát triển, với tỉ
lệ tăng 10% mỗi năm 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi Số tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỉ USD Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất thế giới, 45 tuổi Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch
Từ vài thập kỷ nay, tỉ lệ mù chữ tại châu Phi gia tăng, chiếm khoảng 40% số dân châu Phi ở độ tuổi 15 và chiếm hơn 50% số phụ nữ ở độ tuổi 25 Từ nhiều năm nay, châu Phi đã phải gánh chịu một vấn đề kinh niên là vấn đề người tị nạn Theo các con số chính thức, tại châu Phi có hơn 7 triệu người tị nạn và hơn 20 triệu người không có nhà cửa do hàng loạt các cuộc xung đột và nội chiến gây ra và đã để lại một hậu quả nặng nề về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng và kinh tế bị đình trệ
Châu Phi đang phải đối mặt với nạn hạn hán kinh niên và bị thiếu nước sạch thường xuyên, điều này đã và đang cản trở sự phát triển của châu lục này Tình trạng không được sử dụng nước sạch và mất vệ sinh đã gây ra những hậu quả tai hại và là nguồn gây ra các bệnh dịch trên toàn châu Phi Mặc dù trong những năm qua, các nước châu Phi đã đạt được những tiến bộ về việc cung cấp nước sạch và điều kiện
vệ sinh, song những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vẫn chưa đạt được
Trang 12Số lượng những người nghèo giảm nhiều nhất tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nơi số lượng người phải sống nghèo khổ ở mức 337 triệu người vào năm 2005, thấp hơn so với 1,088 tỷ người vào năm 1981 và giảm nhiều về tỷ lệ % (18% vào năm 2005 thấp hơn rất nhiều so với 80% vào năm 1981) Tại Trung Quốc,
tỷ lệ người nghèo đã giảm từ 84% (1981) xuống 16% (2005) và số lượng cũng giảm
từ 835 triệu (1981) xuống 208 triệu người (2005)
Khu vực có số lượng người nghèo cao nhất là Nam Á với 596 triệu người được thống kê vào năm 2005, cao hơn so với 548 triệu người vào năm 1981 và với
tỷ lệ 40% dân số (2005) phải sống dưới ngưỡng nghèo đói (thấp hơn so với 59% vào năm 1981)
Tại châu Mỹ Latinh và các nước Ả rập, tình trạng nghèo đói đã giảm về % (8% vào năm 2005 so với 12% vào năm 1981) và giảm về số lượng (45 triệu vào năm 2005 so với 59 triệu vào năm 1999)
Trong một số khu vực nhỏ như Tây Âu và Trung Á, tình trạng nghèo đói đã tăng lên về % cũng như về số lượng (5% vào năm 2005 cao hơn so với 2% vào năm
1981, 24 triệu người - 2005 cao hơn so với 7 triệu - 1981) ngay cả khi xu hướng này
đã bắt đầu giảm kể từ năm 2002
Tại Bắc Phi và Trung Đông, nghèo đói đã giảm (5% vào năm 2005 so với 9% vào năm 1981, 14 triệu người vào năm 2005 so với 15 triệu - 1981)
Hình 1.3 Tỷ lệ những người sống thấp hơn $1.25/ngày theo khu vực trên thế giới
Nguồn: Báo cáo phát triển của Worldbank 2007
Trang 13Báo cáo của "Sodexho Foundation", một tổ chức từ thiện chuyên theo dõi về nạn nghèo đói ở Mỹ, cho biết, nạn nghèo đói ở nước này trong nhiều năm qua không giảm mà còn có chiều hướng tăng Theo thống kê, trong năm 2005, toàn nước Mỹ có khoảng 35 triệu người thường xuyên không đủ ăn, phải sống dựa vào các nguồn từ thiện Trong 90 tỉ USD chi cho người nghèo hàng năm, tới 66,7 tỉ USD dành cho y
tế và chữa bệnh; 14,5 tỉ USD chi dưới các dạng tem phiếu hoặc các suất ăn từ thiện hàng ngày; 9,2 tỉ USD bị thiệt hại do năng suất lao động giảm
Tổ chức từ thiện Finn Care của Anh công bố một nghiên cứu cho thấy khoảng 12,5 triệu người Anh, tức 20% dân số nước này, đang sống dưới mức nghèo đói (theo chuẩn của Anh) Đây là thực tế đáng ngạc nhiên bởi Anh là một trong 8 nước có nền công nghiệp phát triển nhất của thế giới Hơn 140 triệu người ở châu Á
bị đẩy vào tình trạng cực kỳ nghèo đói trong năm 2009 khi nạn thất nghiệp gia tăng
do suy thoái kinh tế toàn cầu Đó là cảnh báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong bản báo cáo mang tên The Fallout in Asia được công bố ngày 18/2/2010
Theo nhận định của ông Kuroda (Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), khoảng 620 triệu người ở châu Á sống dưới mức 1USD/ngày Ít nhất một nửa và trong số này lần lượt sống ở Ấn Độ và Trung Quốc - 2 nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh
Nghèo đói đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác
Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi "nghèo đói đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi, những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong
Trang 14quan hệ quốc tế; và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ nổ ra chiến tranh
Mặt khác, nghèo đói còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại Thay vì con người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần lớn nguồn lực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề nghèo đói và các vấn đề toàn cầu khác do nghèo đói mang lại Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc
tế (khủng bố, nạn buôn bán ma túy và rửa tiền); nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết kéo theo đó là gia tăng dân số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng (do sự gia tăng nhanh chóng những hoạt động kinh tế của con người); lương thực, thực phẩm ngày càng thiếu hụt; bệnh tật (nhất là đại dịch HIV/AIDS) ngày càng lan tràn, khó kiếm soát; môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự
do đang ngày càng trở nên phức tạp
Như vậy, đói nghèo là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người Tác động của nó trong quan hệ quốc tế
là rất lớn và vì vậy vấn đề này không phải của một quốc gia riêng lẻ nào mà là của toàn nhân loại, đòi hỏi thế giới phải chung tay để giải quyết một cách triệt để và toàn diện Ngăn chặn tình trạng nghèo đói sẽ không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các nước đang phát triển mà còn mang lại sự bảo đảm về an ninh cho các nước giàu
1.3.2 Kinh nghiệm các tổ chức quốc tế và các nước về xóa đói giảm nghèo
1.3.2.1 Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế
Đấu tranh chống nghèo đói hiện đang là vấn đề rất cấp bách không chỉ của riêng một vùng hay một quốc gia nào mà còn là của toàn thế giới Điều này xảy ra vì hai nhu cầu bức thiết chính: Một là, nghèo đói ở từng vùng, từng quốc gia ngày ngày
đe dọa đến sự ổn định và an toàn xã hội Muốn tránh được xung đột xã hội có thể xảy ra, mỗi vùng hay mỗi quốc gia phải quan tâm đến việc giảm nghèo, quá sức chịu đựng của xã hội Hai là, xu thế toàn cầu hóa đang buộc các quốc gia phải mở rộng tính dân chủ Khẩu hiệu chung về một xã hội công bằng có trật tự kinh tế và phân phối tiến bộ khiến cho các quốc gia phải có những chính sách, những hành động cụ thể để hội nhập
Trang 15Vì vậy, một mặt việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm của chính phủ từng nước; mặt khác, các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) Giữ vai trò quan trong giúp các quốc gia giảm bớt gánh nặng nghèo đói
Biện pháp đầu tiên thường được sử dụng là chu cấp các khoản vay có gắn với các điều kiện giải ngân theo các chương trình xóa đói giảm nghèo Đây được đánh giá là một biện pháp trực tiếp và có nhiều yếu tố tích cực nếu quá trình tổ chức thực hiện hạn chế được lãng phí và tham nhũng của các quan chức trung gian
Tiếp theo đó là những nỗ lực của các quốc gia công nghiệp phát triển, Hội nghị thượng đỉnh Rio năm 1992 đã đề ra một công ước chung, theo đó viện trợ phát triển cho các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm 0,7% tổng sản phẩm xã hội của các quốc gia công nghiệp phát triển với mục tiêu đóng góp vào việc giảm số người nghèo trên thế giới Tính đến cuối thế kỷ XX, quốc gia dẫn đầu về thực hiện Công ước này là Hà Lan và Thụy Điển, họ chi tới trên 0,8% GDP Các nước khác như Anh đã chi trong năm 1999 là 0,24%, sang năm 2000 tăng lên 0,31% Sau đó là Thụy sỹ 0,34%, Pháp 0,33%, riêng Cộng Hòa Liên bang Đức năm
1998 đã chi 0,4% GDP cho viện trợ phát triển, nhưng đến đầu thế kỷ XXI Chính phủ Đức lại giảm xuống mức thấp nhất từ trước tới nay còn 0,27%
Biện pháp tiếp theo là gián tiếp, thường tập trung vào các giải pháp dãn nợ, giảm nợ đối với các quốc gia rơi vào cảnh nghèo đói đến mức mất khả năng trả nợ Trong số các sự kiện liên quan đến sự việc này, trước hết phải kể đến các hội nghị thường niên của WB va IMF về xử lý nợ cho các nước nghèo, các câu lạc bộ như Câu lạc bộ Pari, Câu lạc bộ Luân Đôn Chẳng hạn ở hội nghị ở Washington (thắng
10 năm 1996) đã quết định giảm ít nhất 5,6 tỉ USD nợ của khoảng 20 nước nghèo nhất trên thế giới, và đến những năm gần đây con số giảm nợ đã tăng lên đến hàng chục tỉ USD
Các biện pháp thường tập trung vào giải quyết những vấn đề dễ phát sinh lớn, như trong lĩnh vực bảo hiểm, thiết lập một hệ thống can thiệp của các công ty bảo
Trang 16hiểm và nhà nước vào những thiệt hại lớn do thiên tai gây ra Ngoài ra, còn có các hoạt động của những tổ chức nhân đạo, như Hội chữ thập đỏ quốc tế, UNICEF cũng thường tổ chức các hỗ trợ nhân đạo, tiêm chủng mở rộng, cung cấp nước sạch, tóm lại là hướng vào các hoạt động hỗ trợ người nghèo, lấy người nghèo đói làm trung tâm, đối tượng để triển khai các dự án hỗ trợ và giúp đỡ
Tuy vậy trên thực tế, hiệu quả đích thực của các biện pháp mà các nước giàu, cũng như các tổ chức quốc tế đưa ra để giúp đỡ các nước nghèo thường rất hạn chế
và rất không cơ bản Chẳng hạn các biện pháp đầu tư phát triển và hỗ trợ thương mại cho các nước nghèo rút cuộc thường làm cho các nước nghèo chịu nhiều thua thiệt
”các luật chơi” của thị trường thế giới Theo BBC (Kênh truyền hình BBC có trụ sở chính tại Anh) ngày 20/5/2001, một báo cáo do Oxfam đưa ra cho thấy, những biện pháp hạn chế về thương mại mà các nước giàu áp dụng đã làm cho các nước nghèo nhất thế giới thiệt hại một khoản thu ngoại tệ lớn là 2.5 tỷ USD/năm Ví dụ, ở Bangladesh, cứ 1 USD nhận được từ viện trợ của Mỹ thì trên thực tế lại bị thiệt hại 7 USD do những hạn chế thương mại mà Mỹ áp đặt và còn bị thiệt hại gấp 5 lần như thế nếu so với 1 USD viện trợ nhận được từ Canada
Có thể nói rằng, thời gian qua các nước công nghiệp phát triển nhất chỉ đưa ra những lời hứa hão với các nước nghèo của thế giới thứ ba về viện trợ, giảm nợ và thương mại Lời nói còn cách quá xa so với việc làm cụ thể Khoảng 11% hàng hóa xuất khẩu của các nước nghèo (LDC) phải chịu mức thuế quan trên 15%, cao gấp 3 lần thuế quan đánh vào hàng hóa cùng loại nhập từ các nước khác Các nước công nghiệp thuộc tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) hứa tăng hỗ trợ phát triển cho các nước LDC lên 0,2 %GDP của họ Nhưng kể từ đó cho đến nay, OECD đã giảm 3,5 tỷ USD và mức viện trợ bình quân đầu người của họ đã giảm Trong khi đó họ lại trợ giá nông sản (thường là mặt hàng xuất khẩu chủ lực các nước nghèo) trong nước lên tới 1 tỷ USD/ngày, tương đương với tổng GDP của tất cả các nước LDC
Trang 171.3.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo một số nước
Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rất thành công trong việc xóa đói giảm nghèo, từ những năm sau cuộc cải cách 1978, Trung Quốc đã giảm tỷ lệ nghèo một cách ngoạn mục thông qua những chính sách cải cách đặc biệt và tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao Theo chuẩn nghèo của quốc gia thì số người nghèo đã giảm từ 200 triệu vào năm 1981 xuống còn 28 triệu vào năm 2002 Mặt khác, dùng chuẩn nghèo theo thu nhập 1 USD/ngày của Ngân hàng thế giới, số người nghèo đã giảm từ khoảng 490 triệu người xuống còn 88 triệu người trong cùng giai đoạn Tỷ lệ nghèo đã giảm từ 49% năm 1981 xuống còn 6,9% năm 2002
Trung Quốc đã đạt được thành quả giảm nghèo thần tốc như vậy chủ yếu là nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cao GDP thực tăng trung bình 9,4% trong giai đoạn 1979-2003 Sự tăng trưởng nhanh này là kết quả của những cải cách liên tục và
sự thay đổi cơ cấu chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, từ nông nghiệp sang dịch vụ, mở cửa thương mại quốc tế và trao đổi công nghệ Nghèo đói ở Trung Quốc là hiện tượng ở nông thôn, do sự di cư từ nông thôn ra thành thị bị hạn chế nên việc phát triển nông thôn là yếu tố quan trọng nhất để giảm nghèo Trung Quốc đã tập trung cải cách về thể chế ở nông thôn như việc sở hữu đất, sản xuất và giá thu mua vì thế tỷ lệ nghèo ở Trung Quốc giảm một nữa từ 49% xuống còn 24% theo chuẩn 1 USD/ngày, số người nghèo ở nông thôn năm 1978 là 250 triệu người giảm xuống còn 125 triệu người vào năm 1985
Điểm đáng chú ý là vào năm 1994, Chính phủ Trung Quốc ban hành
”Chương trình 8-7” (Chương trình giảm nghèo quốc gia) với mục tiêu đem phần lớn của 80 triệu người nghèo còn lại lên trên đường nghèo của Chính phủ trong 7 năm từ 1997-2000 Thực chất chương trình 8-7 nhằm vào các khu vực nghèo, nhấn mạnh trách nhiệm của lãnh đạo địa phương đối với hiệu quả giảm nghèo trong quyền hạn của họ Chương trình này có những mục tiêu chính: trợ giúp những hộ gia đình nghèo tận dụng đất đai, cho vay để tăng vụ và sản xuất chăn nuôi và kiếm việc làm phi nông nghiệp; cung cấp cơ sở hạ tầng như đường, điện cho các quận huyện và
Trang 18nước sạch cho đa số các làng xã nghèo; hoàn thành giáo dục cơ sở và chăm sóc sức khỏe Từ năm 1997, quỹ dành cho xóa đói giảm nghèo tăng vọt đến 50%
Chương trình 8-7 đã tác động lớn đến việc giảm nghèo ở Trung Quốc, đóng góp cho sự phát triển cả về kinh tế và xã hội của các khu vực nghèo ở Trung Quốc Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp ở những vùng này là 7,5% so với tốc độ trung bình cả nước là 7%, thu nhập ròng hộ gia định bình quân tăng 12,8% cao hơn so với trung bình cả nước, tuy nhiên những người không nghèo lại được hưởng nhiều hơn người nghèo từ chương trình này
Từ kế hoạch 8-7, chính phủ Trung Quốc đã phát động một Chương trình giảm nghèo nông thôn thế kỷ mới cho giai đoạn 2011-2010 Bên cạnh những khu vực nghèo trước đây, sẽ có thêm 500.000 làng nghèo được đưa vào chương trình, chương trình nghèo mới đặc biệt nhấn mạnh sự tham gia của người dân vào các chương trình giảm nghèo, hơn nữa bệnh tật cũng được xem như là một yếu tố gây nghèo ở nông thôn vì vậy chính phủ Trung Quốc sẽ đẩy mạnh hơn nữa các chương trình chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội ở nông thôn Trung Quốc đạt được thành tựu giảm nghèo như trên là do những cải cách đúng đắn và sự phát triển mạnh của khu vực nông thôn, thực trạng những khu vực nghèo của Việt Nam cũng khá tương đồng với những khu vực nghèo của Trung Quốc, việc trợ giúp những hộ gia đình nghèo để tận dụng đất đai, cho vay để tăng vụ sản xuất chăn nuôi, kiếm việc là phi nông nghiệp, cung cấp cơ sở hạ tầng như điện, đường, nước sạch cho các xã nghèo
và hoàn thành giáo dục, chăm sóc sức khỏe là điều đáng để Việt Nam học tập
Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước tiêu biểu cho chính sách phát triển kinh tế bứt lên trước, xử
lý nghèo đói sau và đã có những thành công nhất định
Trước những năm 60, Hàn Quốc có xuất phát điểm là rất nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ khi thực hiện chính sách và chiến lược phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu Các chính sách phát triển ấy đã hứa hẹn rằng nghèo đói sẽ được loại bỏ trong quá trình tăng trưởng GNP Kết quả là Hàn Quốc đã đạt được tăng trưởng cao kỷ lục khoảng 9%/năm trong suốt thời kỳ 1962-1988 Và
Trang 19nếu căn cứ vào chuẩn nghèo tuyệt đối của năm 1988 được áp dụng cho các hộ nông dân là 5525 USD/năm/hộ thì tỷ số hộ nghèo đói năm đó đã giảm xuống còn 6,5% so với 33,7% năm 1967
Thế nhưng do phát triển kinh tế quá nhanh nên bức tranh nghèo đói tương đối lại hoàn toàn khác, chuẩn nghèo đói tương đối áp dụng cho các hộ nông dân năm
1988 ở Hàn Quốc là 7324 USD/năm/hộ Tỷ lệ nghèo đói tương đối trong nông thôn tính cho năm 1988 là 17,9% với 31,6% năm 1970 Điều đó chứng tỏ tăng trưởng kinh tế thực sự đã làm giảm tỷ lệ số hộ thuộc diện nghèo đói ở nông thôn Tuy vậy, chuẩn nghèo ở Hàn Quốc lại phân biệt khá rõ giữa các vùng thành phố lớn, thành phố vừa và nhỏ và vùng nông thôn Chuẩn nghèo ở vùng nông thôn chỉ bằng 80% chuẩn nghèo ở thành phố lớn và bằng 90% chuẩn nghèo ở thành phố vừa và nhỏ Nhìn chung, tỷ lệ các hộ nghèo tương đối vùng nông thôn tuy có giảm những vẫn còn chậm hơn so với tỷ lệ số hộ nghèo tuyệt đối, hố ngăn cách giàu nghèo có dãn ra nhanh chóng nhưng nhìn chung cho năm 1993 thì hệ số Gini vẫn không quá lớn, chỉ khoảng trên 0,31
Trong những năm 90, Hàn Quốc đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong công tác giảm nghèo, tỷ lệ nghèo đói ở thành thị đã giảm trung bình xuống còn 20% một năm trong giai đoạn 1990-1997 và không có sự gia tăng bất bình đẳng Nhưng khi khủng hoảng nổ ra thì thất nghiệp và nghèo đói đã tăng lên nhanh chóng Diện nghèo đói ở khu vực thành thị đã tăng gấp đôi từ 9% năm 1997 lên đến 19,2% năm
1998 Thất nghiệp tăng từ 2,6% trong quý II năm 1997 lên tới đỉnh điểm là 8,7% vào đầu năm 1999 Mức lương thực tế giảm 20,7%, chính sách tài khóa mở rộng năm
1998 và 1999 đóng vai trò thiết yếu để ngăn chặn suy thoái kinh tế Chi tiêu cho bảo trợ xã hội đã tăng ba lần từ 0,6% năm 1997 lên 2,0% năm 1999 Chính phủ đã sử dụng ban công cụ bảo trợ xã hội chính để giúp đỡ người thất nghiệp, người nghèo và người già đó là: mở rộng chương trình bảo hiểm thất nghiệp, tạo ra thêm việc làm công cộng và ban hành chương trình bảo đảm nguồn sống Tính đến cuối năm 2001,
tỷ lệ nghèo ở Hàn Quốc chỉ có 4% và GDP bình quân đầu người là 19.400 USD Việt Nam có thể học hỏi để vận dụng cho phù hợp với bối cảnh của kinh tế xã hội của nước ta như giúp đỡ những người thất nghiệp, người già và những người nghèo
Trang 20Bangladesh
Là một nước nông nghiệp, dân số khoảng 120 triệu, trên 80% sinh sống tại nông thôn và bằng nghề nông, thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 120-150 USD năm 1999, trên 50% số hộ nông dân có ruộng, cuộc sống của phần lớn trong số
họ nằm dưới mức nghèo khổ Nhưng từ khi xuất hiện hình thức cấp tín dụng cho người nghèo của Grameen Bank (năm 1976), mà người đặt nền móng là giáo sư Yunus trường Đại học Chittagong, người nghèo ở Bangladesh đã được hưởng một
sự giúp đỡ thật sự hiệu quả
Thống kê đến tháng 10 năm 2003, hai mươi năm sau ngày chính thức thành lập, Grameen Bank đã có 3,02 triệu người đến vay, trong đó 95% là phụ nữ Tổng số khoản nợ còn lưu hành là 262,71 triệu USD, tổng số cho vay tính từ ngày thành lập
là 4,12 tỷ USD trong đó có 3,73 tỷ USD đã được hoàn trả lại Grameen Bank cho vay theo nhóm mà không phải thế chấp và áp dụng nhiều lãi suất khác nhau tuy theo mục đích vay và đối tượng Làm như thế , ngân hàng này đã dựa trên hai nguyên tắc
cơ bản là tín nhiệm nhau và liên đới chịu trách nhiệm tập thể giữa các người nghèo Đồng thời, Grameen Bank cũng chứng minh được rằng người nghèo có khả năng chi trả và vi tín dụng cùng có hiệu quả ở hai phía người đi vay và người cho vay
Nhận xét chung của những người nghiên cứu ngân hàng này là nó rất kiên trì mục tiêu phục vụ người nghèo và khai thác triệt để những đặc điểm của người nghèo, khơi dậy mặt tích cức của họ Nhờ đó số hộ nghèo tự vươn lên thoát nghèo bằng các khoản vay nhỏ từ Grameen Bank đang tăng lên ngày một nhiều
Điều này cho thấy một trong những nhân tố nhằm giảm nghèo của Bangladesh mà Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng cần học hỏi đó là việc cấp tín dụng cho người nghèo để có những vốn liếng nhất định phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Thông thường tại Việt Nam, những hộ nghèo không
có tài sản nên không thể thế chấp từ các tổ chức tín dụng, nên sử dụng chính sách tín dụng này đối với người nghèo cũng là giải pháp hay cần học tập
Trang 211.3.3 Tình hình nghèo đói ở Việt Nam
Thời gian vừa qua, Việt Nam được biết đến là quốc gia có thu nhập thấp nhất trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhưng thành tựu giảm nghèo của Việt Nam lại là một trong những nước thành công nhất trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo Khoảng gần 2 thập kỷ trước (năm 1993), Việt Nam có hơn 58% dân số sống dưới mức chi tiêu bình quân đáp ứng cho nhu cầu lương thực và phi lương thực cơ bản nhất Năm năm sau đó tỷ lệ nghèo giảm xuống còn 37%, đến năm 2002 tỷ lệ này tiếp tục giảm còn 28,9%, năm 2006 là 16% và đến năm 2008 tỷ lệ nghèo chỉ còn 14,5% (xem bảng 1.3) Tỷ lệ nghèo đói đo lường bằng chuẩn nghèo lương thực thực phẩm, giảm từ 24,9% năm 1993 xuống còn 10,9% năm 2002 và 6,9% năm 2008 Nếu dùng chuẩn USD $1 PPP, Việt Nam đã vượt xa Mục tiêu Phát triển Thiên niên
kỷ ”giảm 50% tỷ lệ người dân có thu nhập dưới mức USD $1 PPP/ngày trong giai đoạn 1990-2015” Tỷ lệ này đã giảm được trên 9 lần từ 39,9% xuống còn 4,1% năm
Bảng 1.3 Tỷ lệ và khoảng các nghèo ở Việt Nam
37,4 9,2 45,5
28,9 6,6 35,6
19,5 3,6 25,0
16 3,9 20,4
14,5 3,3 18,7
Trang 22Kinh và Hoa
Dân tộc thiểu số
53,9 86,4
31,1 75,2
23,1 69,3
13,5 60,7
10,3 52,3
8,9 50,3 Nghèo lương thực
52
15 2,5 18,6 10,6 41,8
10,9 1,9 13,6 6,5 41,5
7,4 0,8 9,7 3,5 34,2
6,7 1,2 8,7 3,2 29,2 Khoảng cách nghèo
9,5 1,7 11,8 7,1 24,2
6,9 1,3 8,7 4,7 22,8
4,7 0,7 6,1 2,6 19,2
3,8 0,7 4,9 2,0 15,4
3,5 0,5 4,6 1,7 15,1
Ghi chú: Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số Khoảng cách nghèo đo mức chênh lệch trung bình giữa chi tiêu của người nghèo với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo
Nguồn: Báo cáo các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 2010
35,4 29,4 58,6
30,2 25,0 49,0
24,3 45,7 Đông bằng sông Hồng
Duyên hải Bắc Trung Bộ
62,7 74,5
29,3 48,1
22,4 43,9
12,1 31,9
8,8 29,1
8,1 22,6
Trang 23Bảng 1.4 cho thấy xu hướng giảm nghèo ở một số vùng nhưng tốc độ giảm nghèo và tỷ lệ nghèo thì khác nhau Nhìn chung vùng núi phía Bắc là vùng nghèo nhất nước tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Trong khoảng thời gian hơn mười năm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo Vùng núi phía Bắc đã đạt được những kết quả vượt bậc tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 81,5% xuống còn 30,2% Tuy nhiên,
ở vùng này vẫn thể hiện sự hạn chế ở khả năng giảm nghèo trong những năm qua, nghèo về lương thực ít thay đổi
Bảng 1.5 Tỷ lệ chi tiêu của các nhóm ngũ vị phân trong dân số
8,2 11,9 15,5 21,2 43,3
7,8 11,2 14,6 20,6 45,9
7,1 11,2 15,2 21,8 44,7
7,2 11,5 15,8 22,3 43,3
Trang 24Tuy nhiên chúng ta thấy từ năm 1993 đến 2004 có tăng đôi chút và còn giảm đôi chút giai đoạn 2004-2006 Độ ổn định của hệ số Gini được tạo nên bởi sự cải thiện mức sống tốt ba nhóm ngủ vị phân chia giữa của dân số và điều này đã làm nổi lên một tầng lớp trung lưu ngày càng quan trọng
So sánh một số chỉ tiêu giữa Việt Nam và các nước
Việt Nam là một quốc gia đặc biệt nổi bật trong công tác xóa đói giảm nghèo
so với các nước trong và ngoài khu vực Khi sử dụng ngưỡng nghèo 1 đô-la/ngày thì mức giảm nghèo ở Việt Nam thật là đáng khen Theo ngưỡng này, tỷ lệ nghèo đã giảm 2/3 trong giai đoạn 1993-2002, mặt khác nếu mức giảm nghèo lại khiêm tốn hơn nếu dùng chuẩn nghèo 2 đô-la/ngày Sự tương phải giữa hai xu hướng này là do một bộ phận lớn người dân Việt Nam không còn nghèo cùng cực nhưng tỷ lệ cận nghèo còn nhiều và chắc chắn là chưa giàu
Một so sánh quốc tế có ý nghĩa cần tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các nước, xét trên giác độ này thì Việt Nam cũng làm rất tốt Bảng 1.6 cho thấy những ước tính mới nhất về ngưỡng nghèo 1 đô-la/ngày ở một loạt nước có thể
so sánh với Việt Nam vì những nước này thuộc cùng khu vực hoặc là những nên kinh tế mới nổi lên Qua bảng ta thấy GDP tính theo đầu người theo đô la PPP, tuy Việt Nam có tỷ lệ nghèo cao hơn Ma-lai-xia, Thái Lan và In-đô-nê-xia nhưng Việt Nam lại giảm nghèo tốt hơn các nước giàu hơn như Trung Quốc, Ấn Độ và Phi-lip-pin
Bảng 1.6 Tỷ lệ so sánh được Việt Nam với một số quốc gia
Tên quốc gia GDP tính theo đầu người theo
Trang 25độ giảm tương đối cao Chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam đã đem lại sự thay đổi tích cực trong ngành y tế Cũng giống như giáo dục, thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này nhìn chung cao hơn của các nước có cùng trình độ phát triển Tuy nhiên, Việt Nam lại chậm thay đổi trong tỷ lệ người dân được tiếp cận với các thiết bị vệ sinh điều này đã phần nào cho thấy cuộc sống của người dân Việt Nam vẫn còn trong khó khăn, chưa đạt chất lượng như mong muốn
Trong thời gian tới, công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam sẽ không còn được hưởng những điều kiện thuận lợi như đã từng có nữa, Chính phủ Việt Nam cũng như chính quyền các địa phương các cấp phải đối mặt với những thách thức: Kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo nhưng sự tăng trưởng này
sẽ ít có lợi cho người nghèo hơn Những thành quả do việc phân phối lại đất nông nghiệp cho các hộ gia định ở nông thôn sẽ không còn nữa vì đất đã được tận dụng hết và số dân thì ngày một tăng lên Cùng với thời kỳ hội nhập, giá cả leo thang, nghèo đói ở nông thôn trong những năm tới sẽ chiếm đa số nhưng tập trung vào vùng sâu, vùng xa, biên giới và ảnh hưởng nhiều hơn đến các dân tộc thiểu số Tăng trưởng kinh tế sẽ tiếp tục giảm nghèo ở nông thôn nhưng chưa đủ để giải quyết các vấn đề liên quan đến nghèo đói ở các vùng này Những vùng tăng trưởng chậm sẽ không có đủ khả năng để chi trả cho các dịch vụ xã hội làm cho các hộ gia đình sẽ dựa vào những người cung cấp dịch vụ tư nhân với giá đắt hơn Đầu tư hạn chế của
Trang 26những vùng chậm tăng trưởng vào giáo dục, y tế, vệ sinh sẽ làm tăng khoảng cách
về nguồn nhân lực với nhưng vùng giàu hơn dẫn đến làm giảm sự hấp dẫn đầu tư tư nhân và kết cục là những vùng nghèo sẽ tạo được thêm ít việc làm hơn
Từ những kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn của Việt Nam, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác xóa đói giảm nghèo tại các xã bãi ngang ven biển huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
Trước hết là chu cấp các khoản vay có gắn với các điều kiện giải ngân theo các chương trình xóa đói giảm nghèo, các giải pháp dãn nợ, giảm nợ đối với những
hộ rơi vào cảnh nghèo đói đến mức mất khả năng trả nợ
Thứ hai đó là việc trợ giúp những hộ gia đình nghèo về vay vốn, tạo cho họ những việc làm phi nông nghiệp, cung cấp cơ sở hạ tầng cho họ
Thứ ba là có chính sách bảo trợ xã hội cho những đối tượng thất nghiệp, người già và những người nghèo góp phần giảm tình trạn nghèo đói cho những đối tượng này
Trang 27Chương 2- CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cơ sở để xác định đâu là nghèo đói
Kế thừa ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực phân tích nghèo đói, tác giả nhận thấy rằng việc áp dụng chuẩn nghèo để tính ra một tỷ lệ nghèo không có nhiều
ý nghĩa trong việc phân tích và đánh giá nghèo đói Đồng thời công việc này cũng
đã được Sở Lao động Thương bình và Xã hội phối hợp với Cục Thống kê tính toán
và báo cáo thường xuyên Chính vì lẽ đó, trong phạm vi luận văn này tôi chọn cách
đã từng được sử dụng trong phân tích điều tra mức sống dân cư ở Việt Nam giai đoạn 1993 – 1998 Trên cơ sở đó, những hộ được xếp vào diện nghèo nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một chỉ tiêu tương đối, lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ
có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị
Theo tác giả Phạm Anh Tuấn (2003) cho thấy nhóm những hộ có mức chi tiêu bình quân thuộc “1%” thấp nhất và cao nhất thường không có tình đại diện cho mẫu nghiên cứu nên trong quá trình phân tích nên loại bỏ những hộ này
Dựa trên các nghiên cứu trước (Bộ LĐTB&XH và Tổng cục Thống kê,
1993-1998, WB) chúng tôi định nghĩa năm nhóm chi tiêu như sau: Chia đoạn chi tiêu thành 5 khoảng bằng nhau và những hộ có chi tiêu nằm trong khoảng thấp nhất được xem là hộ nghèo tương đối Những hộ có chi tiêu nằm trong khoảng cao nhất được xem là những hộ giàu
2.2 Đo lường và đánh giá mức độ nghèo đói
2.2.1 Công thức đo lường mức độ nghèo đói chung
Sau khi xác định các nhóm chi tiêu, chúng ta có thể tính toán được một số thống kê mô tả như qui mô, mức độ của nghèo đói Những thống kê này bao gồm chỉ số đếm đầu người (xác định tỷ lệ nghèo đói), khoảng cách nghèo đói (xác định mức độ sâu của nghèo đói), bình phương khoảng cách nghèo đói (xác định tính
Trang 28nghiêm trọng của nghèo đói) Các tác giả Foster, Green và Thorbecke (1984) đã chỉ
ra rằng ba thước đo này được tính toán dựa vào công thức sau:
1
i i
α là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng đến những người nghèo
Khi α =0, đẳng thức trên tương đương M/N, tức bằng số người nghèo chia
tổng số người có trong mẫu Thước đo này gọi là tỷ số đếm đầu (Headcount ratio).Có thể nói rằng chỉ số này là dễ tính nhất, tuy nhiên không nhạy cảm với khoảng cách những người nghèo so với ngưỡng nghèo
Khi α =1, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói Chỉ số này cho biết sự thiếu
hụt trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo và nó thể hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong quần thể Có thể xem đây là chi phí tối thiểu
để xóa bỏ nghèo đói trong điều kiện mọi khoản chi chuyển nhượng đều đúng đối tượng Tuy nhiên, trong thực tế việc chuyển giao thường có hao hụt và chi phí hành chính cho nên chi phí thực tế để xóa bỏ nghèo đói thường là bội số của khoảng cách nghèo đói
Khi α =2, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói bình phương (Squared Poverty
gap index) hay còn gọi là chỉ sốn nhảy cảm nghèo Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng của nghèo đói và làm tăng thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo
Ngoài ra người ta còn dùng đường cong Lorenz để thể hiện mức độ bất bình đẳng trong phân phối Đường cong Lorenz là sự biểu diễn bằng hình học của hàm phân bố tích lũy, chỉ ra quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm của một giá trị thể hiện qua trục tung với tỷ lệ phần trăm của một giá trị khác thể hiện qua trục hoành Đường cong
Trang 29Lorenz thường được sử dụng trong việc nghiên cứu sự phân bố thu nhập, chỉ ra tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình hay dân số trong tổng số và tỷ lệ phần trăm thu nhập của
họ trong tổng thu nhập Một đường cong Lorenz điển hình như sau:
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wi
Hình 2.1 Đường công Lorenz
Tỷ lệ phần trăm cộng dồn số hộ gia đình được thể hiện trên trục hoành, và tỷ
lệ phần trăm cộng dồn thu nhập thể hiện trên trục tung
Đường phía trên (Đường số 1) hợp với trục hoành thành một góc 45° gọi là
đường bình đẳng tuyệt đối Mỗi điểm trên đường này thể hiện tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình đúng bằng tỷ lệ phần trăm thu nhập
Đường phía dưới (Đường số 2) được gọi là đường bất bình đẳng tuyệt đối
Mỗi điểm trên đường này thể hiện tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình không có thu nhập hoặc tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình chiếm toàn bộ tổng thu nhập
Đường cong Lorenz luôn luôn bắt đầu từ điểm (0,0) và kết thúc tại điểm (1,1) Nó không thể nằm phía trên đường bình đẳng tuyệt đối, cũng không thể nằm phía dưới đường bất bình đẳng tuyệt đối Một đường Lorenz điển hình là đường lõm hướng về gốc (0,0) Một điểm bất kỳ trên đường Lorenz cho biết tỷ lệ % cộng dồn của nhóm dân cư nghèo nhất nhận được bao nhiêu % tổng thu nhập Như vậy đường
Đường số 1
Đường số 1 Đường
Lorenz
Trang 30Lorenz là cách biểu hiện trực quan của sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập,
nó càng lõm thì mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng cao
Để phản ánh một cách đầy đủ và thông qua những chỉ tiêu cụ thể về mức độ bất bình đẳng trong thu nhập của các tầng lớp dân cư người ta dùng hệ số GINI thông qua đường cong Lorenz Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập)
Cách xác định:
Nếu đường cong Lorenz được biểu diễn bằng hàm số Y=L(X), khi đó giá trị của G (hệ số GINI) là hàm tích phân:
2.2.2 Phân loại mức độ nghèo đói theo tiêu chuẩn
2.2.2.1 Phân loại theo chỉ tiêu của thế giới
Ngân hàng thế giới (WB, 2007) cho rằng cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay
trong đo lường phúc lợi kinh tế đó là dựa vào chi tiêu hay thu nhập của hộ gia đình nếu chúng ta chia đều cho các thành viên của hộ thì được chi tiêu hay thu nhập bình quân đầu người Cũng theo nghiên cứu của tổ chức này thì các nước phát triển sử dụng thu nhập để xác định nghèo đói vì nó mang tính ổn định cao hơn, đối với các nước đang phát triển thì dùng chỉ tiêu chi tiêu vì dễ thấy và dễ dàng hơn
Theo đó những người có mức chi tiêu thấp hơn $1,25/ngày là những người nghèo và cận nghèo là $2/ngày
2.2.2.2 Phân loại theo chỉ tiêu của Việt Nam
Chỉ tiêu thu nhập bình quân
Ở Việt Nam hiện nay chuẩn nghèo đã có những sự điều chỉnh đáng kể theo từng khu vực và từng thời kì và cụ thể như sau: Năm 2005 (QĐ số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005), chuẩn nghèo ở thành thị: 260.000 đ/người/tháng; Nông thôn:
Trang 31200.000 đ/người/tháng Năm 2008: Chuẩn nghèo ở thành thị: 390.000 đ/người/tháng; Nông thôn: 300.000 đ/người/tháng Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-
2015 (Quyết định số 09/QĐ-TTg ngày 30/01/2011): Chuẩn nghèo ở thành thị: 500.000 đ/người/tháng, Nông thôn: 400.000 đ/người/tháng
Chỉ tiêu chi tiêu bình quân
Phương pháp này được Tổng cục thống kê (GSO) áp dụng theo tiêu chuẩn của ngân hàng thế giới, tuy nhiên với đặc thù tại Việt Nam thì Tổng cục Thống kê không sử dụng đồng USD để phản ánh thay vào đó sử dụng đồng VNĐ và được thay đổi theo từng năm đánh giá, cụ thể như sau:
Bảng 2 1 Ngưỡng nghèo theo chi tiêu bình quân 1 người/tháng
2.2.3 Đánh giá các nhân tố tác động đến nghèo đói bằng mô hình kinh tế lượng
2.2.3.1 Mô hình hồi quy xác định những nhân tố tác động đến chi tiêu bình quân
Mô hình hồi quy đa biến xác định những nhân tố tác động đến chi tiêu đầu người, có thể dùng bảng hai chiều đánh giá, tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là các tác động đối với chi tiêu có thể tương quan đến nhau, do đó không thể thể hiện được tác động độc lập Cần phải có một mô hình hồi quy có khả năng đảm bảo hơn
Theo David & Osutka (1994) mô hình kinh tế lượng phân tích những yếu tố tác động đến chi tiêu có dạng hàm Logarit: lnC0 i X i, với biến phụ thuộc là Logarit của chi tiêu bình quân đầu người Việc sử dụng hàm logarit ở đây là vì số liệu chi tiêu bình quân lệch phải, vì vậy sử dụng logarit thì tình hình sẽ được cải thiện hơn Do đó, những giả định của mô hình hồi quy có khả năng đảm bảo hơn và
Trang 32chúng ta dễ dàng tính toán được tác động biên của từng biến số Xi lên chi tiêu bình quân
Như vậy chúng ta có mô hình lý thuyết tổng quát như sau:
0ln( ) C iXi
Trong đó:
C: Chi tiêu bình quân đầu người hàng năm
β0 , βi: Hệ số hồi quy của mô hình
Xi: Nhân tố tác động đến chi tiêu bình quân đầu người, hay còn gọi là các biến độc lập của mô hình
Tiếp theo để đánh giá tác động biên của từng yếu tố lên chi tiêu ta thực hiện bằng cách biến đổi theo thuật toán logarit và lấy đạo hàm của C theo biến Xi Ta sẽ
có các phương trình tương đương với mô hình tổng quát:
Trang 33thuộc có giá trị bằng 1 nếu hộ gia đình nghèo và bằng 0 cho tất cả các hộ gia đình khác
Mô hình Binary Logistic cho Pi được xác định như sau:
)
(
11 11 3
3 2 2 1 1 0
11 11 3
3 2 2 1 1 0
X X
X X
Pi: Xác xuất rơi vào nghèo đói
X1, X2,…,X11 là các biến lần lượt theo thứ tự như mô hình hồi quy ban đầu Chúng ta cũng lưu ý rằng dấu kì vọng của các biến độc lập trong mô hình này
là ngược dấu so với mô hình hồi quy xác định những nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu
Để đánh giá tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc ta trở lại mô hình logistic tổng quát:
Bằng phương pháp biến đổi toán học ta dễ dàng triển khai mô hình tổng quát trên về dạng:
Trang 340
(P 1 là xác suất nghèo mới tương ứng với hệ số chênh lệch nghèo O 1)
Công thức trên có thể được viết lại như sau:
1
0 1
*1
0 1
2.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến nghèo đói
2.3.1 Tổng quan những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói của các nghiên
cứu đã thực hiện
Theo Lê Đại Trí và ctv (2003) trong nghiên cứu “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại đồng bằng sông Cửu Long”, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói là do có ít lao động, có ít đất sản xuất, thiếu kinh nghiệm, rủi ro
Nguyễn Ngọc Đệ và ctv (2003) trong nghiên cứu “Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long - những điều kiện để thoát nghèo”, kết quả nghiên cứu cho thấy, các
Trang 35khó khăn thuộc về khách quan của cộng đồng mà họ gặp phải là thiếu cơ hội việc làm, cơ hội học hành, đào tạo, huấn luyện, khả năng tiếp cận tín dụng, thông tin và
cơ sở hạ tầng thấp kém, những khó khăn thuộc về nội tại là trình độ văn hóa còn thấp, kiến thức và tay nghề chưa cao, ít đất, nghèo tài nguyên, chậm thích ứng với sự chuyển đổi trong cơ chế thị trường và năng lực quản lý kinh tế kém
Theo Phạm Văn Ngọc và ctv (2003) trong nghiên cứu “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Đaklak” cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói
đó là: thiếu vốn, thiếu đất, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng kém, thị trường kém phát triển, các chương trình, chính sách của nhà nước kém hiệu quả,vv…
Theo Phạm Anh Tuấn và ctv (2003) trong nghiên cứu “Đánh giá nghèo đói
có sự tham gia của cộng đồng tại Ninh Thuận” cho rằng các yếu tố sau đây ảnh hưởng đến nghèo đói như: thiếu vốn, đông nhân khẩu, thiếu việc làm, thiếu đất, thiếu kinh nghiệm,vv…
Theo báo cáo của Bộ lao động TB&XH (2003) thì những nguyên nhân nghèo đói tính chung cho cả nước bao gồm 8 nhân tố chính, được tập hợp trong bảng sau:
Bảng 2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói tại Việt Nam theo vùng
vốn
Thiếu đất
Thiếu
LĐ
Thiếu kinh nghiệm
Bệnh tật
Tệ nạn
Rủi
ro
Đông người
21,38 10,46 8,54 18,90 12,59 26,12 20,08 47,73
8,26 5,56 17,50 14,60 10,80 7,76 8,64 5,47
33,45 47,37 23,29 50,65 17,57 27,11 20,60 5,88
7,79 5,78 36,26 14,42 31,95 9,03 17,54 4,22
2,30 0,58 1,46 0,80 0,83 1,22 0,37 0,87
1,26 0,52 2,39 1,92 1,34 1,32 0,39 1,80
12,08 9,39 7,30 16,61 20,71 13,72 9,50 11,95
Nguồn: Bộ Lao động TB&XH, 2003
Trang 36Bảng (2.2) cho thấy trong cả nước nguyên nhân lớn nhất dẫn đến nghèo là thiếu vốn, nguyên nhân này chiếm đến 63,69% ý kiến được hỏi Tiếp theo là các nguyên nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh (31,12%), thiếu đất (20,82%), bệnh tật (16,94%), đông người (13,6%), thiếu lao động (11,40%),vv Trình tự này đúng với hầu hết các vùng, tuy có khác nhau về mức độ Sự khác nhau này phần nào phản ánh đặc điểm của từng vùng Chẳng hạn, nguyên nhân thiếu vốn có vẻ trầm trọng ở vùng nghèo như Bắc Trung Bộ (80,95%), Tây Bắc (73,6%), ở đây người dân cần vốn để sản xuất nhằm giảm nghèo, tiến tới đủ ăn, đủ mặc Tuy nhiên, ở vùng Đông Nam Bộ, nơi có thu nhập bình quân cao nhất cũng thiếu vốn, nhưng mang tính chất khác với các vùng nghèo, vì họ cần vốn để sản xuất kinh doanh, những nơi này không có vốn cũng có thể dẫn đến nghèo Nhu cầu về vốn ở người nghèo khá lớn nhưng việc tiếp cận các nguồn vốn còn khó khăn, bởi vì nếu vay của tư nhân thì lãi suất cao, còn các tổ chức tín dụng, như ngân hàng hoặc một số quỹ thì gặp các rào cản như thủ tục rườm rà,vv…
Hầu hết ở các vùng nhiều ý kiến cho rằng vai trò của kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo Kiến thức và kinh nghiệm luôn cần để sử dụng tiềm năng về đất, vốn, lao động Những vùng nghèo như Tây Bắc (47,37%) và Bắc Trung Bộ (50,65%) là nơi có nhiều ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân quan trọng Nguyên nhân thiếu đất có thể xảy ra với các vùng có mật
độ dân số cao, tỷ lệ đất canh tác trên đầu người thấp như Bắc Trung Bộ hay Duyên hải miền Trung, và cả đối với vùng cần có diện tích lớn để canh tác, như Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó một số hộ nghèo bán/chuyển nhượng quyền sử đụng đất canh tác mà trước đây họ đã được cấp Đây là một hiện tượng nổi cộm có liên quan đến cơ chế quản lý, phương thức sản xuất Nguyên nhân thiếu lao động dẫn đến nghèo thường đi đôi với đông người, thường diễn ra với các gia đình có đông con, nhiều người sống phụ thuộc, không có khả năng lao động Nguyên nhân rủi ro xảy
ra không chỉ khi thời tiết bất hoà, mà cả khi mất giá trong một số sản xuất hàng hoá nông nghiệp (cà phê, hoa quả) và do con người gây nên hoả hoạn, cháy rừng… Nhưng đây không phải là nguyên nhân phổ biến
Trang 37Ngô Thị Lệ Thủy (2006) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói là do: thiếu vốn; không có kinh nghiệm; thiếu việc làm; đất canh tác ít; trình độ văn hóa; đông nhân khẩu; lười biếng, nghiện hút, rủi ro
Một nghiên cứu gần đây, theo Lương Văn Duyên (2007) trong nghiên cứu
“Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao đời sống cộng đồng người Khmer tại
xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” Kết quả nghiên cứu cho thấy người nghèo không biết chữ chiếm tỷ lệ cao 53,3% so với 2 nhóm hộ khá/giàu và hộ thoát nghèo, diện tích canh tác của 3 nhóm hộ không đồng đều, phong tục, tập quán cũng
là nhân tố chính ảnh hưởng đến việc nâng cao đời sống của cộng đồng trong vùng nghiên cứu
Theo Võ Ngọc Ánh (2008) trong nghiên cứu “Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói ở xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói bao gồm: có ít đất canh tác (chỉ có 26,67% hộ có đất sản xuất), thiếu vốn sản xuất (33,33% hộ được vay vốn), trình độ học vấn thấp (mù chữ 49,31%, cấp 1 là 34,25%), nghề nghiệp bấp bênh (77,78% hộ làm thuê) và khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật còn thấp
Theo Nguyễn Thị Hoàng Phượng (2009) trong nghiên cứu “Thực trạng nghèo
ở xã Phú Xuân huyện Phú Tân tỉnh An Giang” Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu
tố dẫn đến nghèo bao gồm: trình độ văn hóa thấp, không có nghề nghiệp ổn định, thiếu vốn sản xuất
Các nghiên cứu trên cho thấy, nghèo đói hiện là vấn đề nóng bỏng mặc dù có
sự hỗ trợ của các chương trình, chính sách của nhà nước tại các địa phương Các yếu
tố ảnh hưởng đến nghèo đói ở từng khu vực có những yếu tố khác nhau nhưng nhìn chung, đối với người nghèo do các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói thường là: thiếu vốn; không có kinh nghiệm; thiếu việc làm; đất canh tác ít; trình độ văn hóa,vv… Vì vậy, khi nghiên cứu về nghèo đói cần chú ý đến các yếu tố trên để có những giải pháp cụ thể nhằm giúp người dân thoát nghèo
Trang 382.3.2 Nghề nghiệp và tình trạng việc làm
Theo Ngô Thị Lệ Thủy (2006) cho rằng yếu tố thiếu việc làm có ảnh hưởng đến nghèo đói là do không tạo ra thu nhập cho gia đình, ngược lại phải tốn chi phí cho sinh hoạt hàng ngày, từ nguyên nhân không có việc làm dẫn đến lâm vào tệ nạn
xã hội và tiêu cực
Theo Vũ Hoàng Đạt & ctg (2006) phát hiện thấy việc chuyển đổi nghề nghiệp của chủ hộ từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp hoặc kinh doanh thương mại làm giảm nguy cơ hộ rơi vào nghèo đói
Đồng thời, theo La Hồng Huy (2009) trong nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp hỗ trợ giảm nghèo cho các xã nghèo của tỉnh An Giang” Kết quả nghiên cứu cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến người nghèo thường gặp nhiều khó khăn thử thách trong cuộc sống đó là tình trạng thiếu việc làm chiếm 57,6% và nghề nghiệp chủ yếu là làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp là chính, do đó công việc này cũng mang tính thời vụ thu nhập không ổn định
Kết quả trên cũng tương tự với nghiên cứu của Võ Ngọc Ánh (2008) cho rằng đối với nhóm hộ nghèo thì nghề nghiệp chủ yếu là làm thuê trong hoạt động nông nghiệp để sinh sống chiếm 77,78%, vì nhóm hộ này thường không có đất canh tác nên họ phải đi làm thuê theo mùa như cắt lúa, làm đất để kiếm thêm thu nhập nhưng nguồn thu nhập này cũng chẳng được bao nhiêu và không ổn định nên cuộc sống của
họ thường gặp nhiều khó khăn
MDPA (2004) cho rằng nghèo đói gắn chặt với nông nghiệp và lưu ý rằng phần lớn các hộ nghèo thường sống ở nông thôn và chỉ trồng lúa
Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam (2000) thì nghèo đói là một hiện tượng mang tính đặc thù của nông thôn, những người rơi vào ngưỡng nghèo thường là thành viên của những hộ gia đình có chủ hộ là nông dân tự do
Do vậy, người nghèo thường là những người không có việc làm ổn định và công việc của họ thường dựa vào việc làm thuê trong nông nghiệp là chủ yếu Do
đó, sức lao động là tài sản duy nhất của họ được sử dụng để phục vụ cho hoạt động
Trang 39kiếm sống hàng ngày Ngoài ra, hoạt động trong sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên công việc làm thuê của người nghèo cũng không ổn định, từ đó dẫn đến thu nhập thấp và cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn Vì vậy, nguồn lao động này được sử dụng trong thời gian nông nhàn để kiếm thêm thu nhập góp phần giúp nông dân cải thiện đời sống
Bảng 2.3 Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam năm 1998
Trình độ học vấn
Tỷ lệ tính trong tổng số người nghèo (%)
Tỷ lệ trong tổng dân
số (%) Không được đi học
Trang 40Nguyễn Ngọc Đệ và ctv (2003) cho biết trình độ văn hóa, kiến thức và tay nghề chưa cao là nguyên nhân ảnh hưởng đến đời sống của người dân nghèo Khmer,
ít có cơ hội học hành và cơ hội việc làm Đồng thời, khi trình độ văn hóa của các hộ nghèo thấp (đa số chỉ học tới bậc tiểu học) nên những hộ này không có kiến thức trong cách làm ăn dẫn đến tình trạng làm ăn bị thua lỗ
Theo Vũ Hoàng Đạt & ctg (2006) nhận thấy rằng những hộ có chủ hộ đạt trình hộ cấp phổ thông cơ sở có khả năng thoát nghèo cao hơn những hộ có điều kiện tương tự mà không có học vấn hoặc thấp hơn
Qua các nhận định trên cho thấy, người nghèo thường có trình độ văn hóa thấp, không có tay nghề hay không qua đào tạo nghề ảnh hưởng đến việc tiếp thu các ứng dụng kỹ thuật mới vào trong quá trình sản xuất cũng như ít có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt Do đó, họ thường làm những công việc đơn giản như làm thuê là chủ yếu và thu nhập từ công việc này thường thấp, không ổn định Mặt khác, đối với những hộ nghèo do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không có khả năng cho con đến trường, thậm chí được sự hỗ trợ của chính quyền và nhà trường như miễn giảm học phí, cho sách vỡ… nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên phải nghỉ học đi làm thuê để kiếm thêm thu nhập phụ giúp gia đình
2.3.4 Khả năng tiếp cận những nguồn lực cơ bản
2.3.3.1 Đất đai
Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam (2000) thì các hộ nghèo coi diện tích đất
và chất lượng đất là yếu tố quan trọng đến mức sống Không có đất hoặc hầu như không có đất đồng nghĩa với nghèo đói Trong năm 1998, 10% hộ ở nông thôn được đánh giá là không có đất
Theo MDPA (2004) một khi nông dân không còn sở hữu đất, họ dễ rơi vào cảnh nghèo khó
Võ Ngọc Ánh (2008) cho thấy trên thực tế chỉ có 33,33% hộ nghèo và 66,67% hộ thoát nghèo được vay vốn, còn lại nhóm hộ nghèo không được vay vốn nguyên nhân là do gia đình có ít hoặc không có đất sản xuất, không có tài sản thế chấp nên buộc họ phải vay của tư nhân với lãi suất cao (10%) để phục vụ hoạt động