1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008 2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ

76 379 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam – trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008 -2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Tác giả Đào Thị Liên
Người hướng dẫn TS. Đào Mạnh Sơn
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thành phần loài, phân bố, số lượng Trứng cá – cá con nhằm xác định mùa vụ và bãi đẻ của một số loài cá, tìm hiểu về khu vực sinh trưởng tập trung của đàn cá con và thời điểm x

Trang 1

ĐÀO THỊ LIÊN

BIẾN ĐỘNG TRỨNG CÁ, CÁ CON MỘT SỐ HỌ ƯU THẾ TRONG VÙNG ĐÁNH CÁ CHUNG VIỆT NAM – TRUNG QUỐC THUỘC VỊNH BẮC BỘ GIAI ĐOẠN 2008 -2010 VÀ

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ

Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn chưa được sử dụng để bảo vệ một học

vị nào Các số liệu hoàn toàn là số liệu gốc, đảm bảo tính chính xác Số liệu sử dụng được sự đồng ý của ông giám đốc Dự án Việt Trung và lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Hải Sản

Học Viên

Đào Thị Liên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô khoa Nuôi trồng thủy sản Trường Đại Học Nha Trang nói riêng và các thầy cô của Trường nói chung đã dạy dỗ

và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Đào Mạnh Sơn – người hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Ông giám đốc Dự án Việt Trung, Lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Hải Sản, Cử Nhân Đỗ Văn Nguyên, và toàn thể cán bộ phòng Nghiên Cứu Nguồn Lợi Hải Sản đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè luôn ở bên động viên, giúp đỡ tôi Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học Viên

Đào Thị Liên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới .3

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

Chương 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

2.1 Tài liệu, đối tượng và vùng nghiên cứu 10

2.2 Nội dung nghiên cứu 10

2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu 12

2.3.1 Phương pháp thu mẫu 12

2.3.2 Phân tích mẫu 12

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 13

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 15

3.1 Đặc điểm nhận dạng TCCC một số họ chiếm ưu thế 15

3.1.1 Họ cá khế Caragidae 15

3.1.2 Họ cá trích Clupeidae 15

3.1.3 Họ cá trỏng Engraulidae 17

3.1.4 Họ cá phèn Mullidae 18

3.1.5 Họ cá mối Synodontidae 19

3.1.6 Họ cá hố Trichiuridae 20

3.2 Biến động TCCC một số họ chiếm ưu thế 22

3.2.1 Biến động về số lượng 22

3.2.2 Biến động về phân bố mật độ 25

3.3 Các giải pháp bảo vệ TCCC 31

3.4 Thảo luận 33

Trang 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

1 Kết luận 38

2 Kiến nghị 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc trưng hình thái trứng cá của năm loài thuộc họ cá Mối 20 Bảng 3.2 Số lượng TCCC một số họ cá theo loại lưới 24

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ trạm vị nghiên cứu 11

Hình 2.2 Các giai đoạn phát triển từ trứng cá tới cá con 14

Hình 3.1 Hình ảnh họ cá Khế 15

Hình 3.2 Hình ảnh một số TC họ cá Trích 16

Hình 3.3 Hình ảnh cá con họ cá Trích 17

Hình 3.4 Hình ảnh TC họ cá Trỏng 18

Hình 3.5 Hình ảnh CC họ cá Trỏng 19

Hình 3.6 Hình ảnh cá con họ cá Phèn 19

Hình 3.7 Hình ảnh TC họ cá Mối 21

Hình 3.8 Hình ảnh TC họ cá Hố 21

Hình 3.9 Biến động trứng cá của 4 họ ưu thế theo năm 22

Hình 3.10 Biến động CC của 4 họ theo năm 22

Hình 3.11 Biến động TC theo mùa gió 23

Hình 3.12 Biến động CC theo mùa gió 23

Hình 3.13 Phân bố mật độ CC họ cá Khế mùa gió Đông Bắc 25

Hình 3.14 Phân bố mật độ CC họ cá Khế mùa gió Tây Nam 25

Hình 3.15 Phân bố mật độ CC họ cá Phèn mùa gió Đông Bắc 26

Hình 3.16 Phân bố mật độ CC họ cá Phèn mùa gió Tây Nam 26

Hình 3.17 Phân bố TC họ cá Mối mùa gió Đông Bắc 27

Hình 3.18 Phân bố TC họ cá Mối mùa gió Tây Nam 27

Hình 3.19 Phân bố TC họ cá Trích mùa gió Đông Bắc 28

Hình 3.20 Phân bố TC họ cá Trích mùa gió Tây Nam 28

Hình 3.21 Phân bố CC họ cá Trích mùa gió Đông Bắc 28

Hình 3.22 Phân bố CC họ cá Trích mùa gió Tây Nam 28

Hình 3.23 Phân bố mật độ TC họ cá Trỏng mùa gió Đông Bắc 29

Hình 3.24 Phân bố mật độ TC họ cá Trỏng mùa gió Tây Nam 29

Hình 3.25 Phân bố CC họ cá Trỏng mùa gió Đông Bắc 29

Hình 3.26 Phân bố CC họ cá Trỏng mùa gió Tây Nam 29

Hình 3.27 Phân bố TC họ cá Hố mùa gió Đông Bắc 30

Hình 3.28 Phân bố TC họ cá Hố mùa gió Tây Nam 30

Trang 9

Hình 3.29 Phân bố mật độ CC họ cá Khế ở vùng đánh cá chung mùa gió Đông Bắc và Tây Nam giai đoạn 2006 -2007 34 Hình 3.30 Phân bố mật độ TCCC họ cá Trích ở vùng đánh cá chung mùa gió Tây Nam giai đoạn 2006 -2007 35 Hình 3.31 Phân bố mật độ CC họ cá Mối ở vùng đánh cá chung mùa gió Đông Bắc và Tây Nam giai đoạn 2006 -2007 35 Hình 3.32 Phân bố mật độ TCCC họ cá Trỏng mùa gió Đông Bắc ở vùng đánh

cá chung giai đoạn 2006-2007 36 Hình 3.33 Phân bố mật độ TCCC họ cá Trỏng ở vùng đánh cá chung mùa gió Tây Nam giai đoạn 2006- 2007 36 Hình 3.34 Phân bố mật độ TC họ cá Hố ở vùng đánh cá chung mùa gióĐông Bắc và Tây Nam giai đoạn 2006 -2007 37

Trang 10

MỞ ĐẦU

Nước ta có bờ biển dài trên 3200 km đường biển với hơn 10000 loài sinh vật biển cư trú trong 20 kiểu hệ sinh thái khác nhau Hiện tại nguồn lợi thuỷ sản nước ta đang bị suy giảm nghiêm trọng: năng suất đánh bắt của các loài hải sản nói chung và của các loài cá thường gặp có sự suy giảm đáng kể [4] do áp lực khai thác tăng, đặc biệt là vùng ven bờ Chất lượng nguồn lợi có xu hướng giảm biểu hiện ở năng suất đánh bắt và tỉ lệ sản lượng của các họ hải sản có giá trị thương phẩm thấp, thay vào đó năng suất đánh bắt và tỷ lệ sản lượng của nhóm cá tạp tăng lên [4]

Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu về Trứng cá –cá con đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong ngư loại học Đây là giai đoạn phát triển sớm trong vòng đời của các loài cá, chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện môi trường như: nhiệt

độ, sóng, gió, dòng chảy, thuỷ triều Nghiên cứu thành phần loài, phân bố, số lượng Trứng cá – cá con nhằm xác định mùa vụ và bãi đẻ của một số loài cá, tìm hiểu về khu vực sinh trưởng tập trung của đàn cá con và thời điểm xuất hiện là cơ sở để khai thác

cá hợp lý, góp phần vào bảo vệ nguồn lợi thủy sản [32] Ngoài ra, thông qua nghiên cứu cá bột về các mối quan hệ với môi trường sống và dinh dưỡng mà tìm ra quy luật sinh trưởng, mức chết, sự di cư ở các giai đoạn đầu tiên trong chu trình sống của cá [27] Nghiên cứu Trứng cá – cá con còn giúp tính toán nguồn lợi bổ sung của nhiều loài cá nhất là các loài cá kinh tế

Ở nước ta nghiên cứu Trứng cá – cá con cũng được tiến hành từ rất sớm vào những năm 1959 -1965 trong chương trình điều tra tổng hợp vịnh Bắc Bộ của Việt Nam -Trung Quốc [32] Từ đó đến nay, có rất nhiều công trình, đề tài, dự án nghiên cứu có đề cập đến Trứng cá – cá con ở vùng biển này Các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến thành phần loài, phân bố, mô tả đặc điểm hình thái của một số loài, nhóm loài… Các công trình còn chưa đồng bộ, thời gian rời rạc , chưa đánh giá được sự biến động

về thành phần họ, phân bố, số lượng Trứng cá – cá con chiếm ưu thế trong từng giai đoạn, từng vùng biển khác nhau

Từ năm 2006 đến nay trong khuôn khổ dự án điều tra liên hợp Việt Trung, Trứng cá – cá con được đưa vào điều tra thu mẫu định kỳ Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích thành phần loài, họ bắt gặp trong mẫu điều tra Trong 2 năm 2006

Trang 11

2007, thực hiện 04 chuyến/ năm bằng tàu nghiên cứu Biển Đông Từ năm 2008

-2010, thực hiện 02 chuyến/ năm bằng tàu BV 9262 TS

Từ thực tế trên, đề tài “Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung Việt Nam - Trung Quốc thuộc Vịnh Bắc Bộ giai đoạn 2008 -2010

và đề xuất các giải pháp bảo vệ” được thực hiện

Đề tài gồm các ba nội dung cơ bản: Đặc điểm nhận dạng một số TCCC của 6

họ ưu thế, Biến động TCCC một số họ và đề xuất các giải pháp bảo vệ

Đề tài góp phần đánh giá sự biến động TCCC một số họ chiếm ưu thế trong vùng đánh cá chung giai đoạn 2008 – 2010, thống kê, nghiên cứu và cập nhật được xu hướng biến động và sự thay đổi thành phần họ của một số họ chiếm ưu thế Từ đó đưa

ra các bãi đẻ, tính toán thời gian và mùa vụ khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ và tái tạo nguồn lợi cá biển nói riêng và nguồn lợi thuỷ sản nói chung

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu TCCC được bắt đầu từ cuối những năm 1800 và liên tục phát triển

cả về chiều rộng và chiều sâu Vào năm 1865, Sars.G.O người Nauy đầu tiên nghiên

cứu về trứng cá – cá con đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cá Gadus morhua từ giai đoạn trứng, cá bột, tới cá hương và cá trưởng thành Năm 1882, 1884,

1895 Vitor Hensen xây dựng hệ thống phân loại trứng cá, ông cũng thiết kế loại lưới đặc biệt để thu thập mẫu trứng cá biển Đến thế kỷ 20, cùng với sự ra đời của các loại tàu khảo sát lớn và sự cải tiến về lưới thu mẫu, các nghiên cứu về TCCC được tiến hành rộng hơn.Vào năm 1904, 1909, Ehrenbaum.E đã xuất bản hai cuốn sách tổng hợp những nghiên cứu về TCCC, và trở thành tài liệu để phân loại các giai đoạn sớm của

cá biển ở vùng đông bắc Đại Tây Dương Cùng thời điểm năm 1903 -1904, Petersen.C.G.J đã miêu tả giai đoạn sớm của một số loài thuộc họ Gobiidae, còn

Schmidt.J nghiên cứu về giống cá Gadus J.Schmidt còn sử dụng đặc điểm vây lưng và

vây hậu môn để kiểm tra lại mỗi nhóm phân loại, ông cũng là người có những công trình nghiên cứu rất sâu về cá chình Châu Âu vào những năm 1906, 1909, 1911, 1912,

1923, 1924, 1927, 1931, 1932 [32] Năm 1913, Weber.M và De Beaufort.M.F khi nghiên cứu hình thái phân loại các loài cá ở quần đảo Indo – Australia, đã mô tả sơ

lược một mẫu cá bột loài cá mối vện Saurus variegatus, cá con loài cá mối đầu to Saurus myops và cá mối nhẳng Saurida gracilis [62] Ở Châu Âu và Liên Xô (cũ) đã

có nhiều công trình nghiên cứu về TCCC, như Becker.V.E (1964, 1965), Belyanina.T

N (1974, 1977), Rass.T.S (1972), Gorbunova, N.N (1965, 1972, 1974, 1977), Karmopskaja, E.X (1964, 1965, 1972, 1990), Mukhacheva, V.A (1964, 1972, 1974), Parin, N.V (1964, 1972, 1974)…[32]

Năm 1935, Norman.J.K đã nghiên cứu và phân loại 6 loài thuộc họ cá mối

(Synodontidae) hiện đang lưu giữ ở Viện Bảo tàng Tự nhiên Luân Đôn, trong đó chỉ

có một mẫu cá bột loài Saurida gracilis dài 13 mm, còn lại là những mẫu cá con có

chiều dài lớn hơn 40 mm [58] Delsman.H.C (1938) đã mô tả TCCC của hai loài cá ở vùng biển Java (Indonexia) chưa khẳng định loài [41] Ngày nay, căn cứ vào mô tả

của ông, ta có thể phân loại chúng là cá mối thường (Saurida tumbil) và Mối vện (Synodus variegatus) Nair R V (1952) nghiên cứu hình thái trứng, cá bột, mùa vụ

Trang 13

xuất hiện của loài cá mối thường ở vùng biển Madras (đông India) Đây cũng là nội dung được Vijayaraghavan P nêu trong luận văn Tiến sĩ vào năm 1957 [27]

Năm 1959, Kuthalingam M.D.K đã tiến hành thụ tinh nhân tạo và ương nuôi, theo dõi các giai đoạn phát triển từ sau khi thụ tinh đến khi cá bột dài 26 mm của loài

cá mối thường [50] Ở Đài Loan Lưu Huyền Phát và Đống Dật Tu (Liu F.H and Tung I.H, 1959) nghiên cứu sinh thái đẻ trứng, bãi đẻ, thời gian và mùa vụ đẻ trứng của loài

cá mối thường ở eo biển nước này [52]

Từ năm 1951 -1968 có nghiên cứu của Jones.S (1951-1952), Gorbunova.N.N (1963-1965), Bensam.P (1968) ở vùng nước Ấn Độ Dương Indonexia có nghiên cứu của Delsman.H.C (1921-1938) với các nghiên cứu về TCCC của một số giống ở biển

Java (Indonesia) như Clupea, Dorosoma, Engraulis, Pellona, Stolephorus, Cybium, Septibinna,… [34, 35, 36, 37, 38, 39, 40,43] Ở Nhật Bản có nghiên cứu của

Kamiya.T (1916-1922), Uchida.K (1958), Mito.S (1960-1963) Năm 1966, Mito.S

có công trình nghiên cứu tóm tắt về trứng cá và cá bột của vùng biển Nhật Bản [53, 54] Ở Philippin có nghiên cứu của Wade.C.B (1949-1951), Duray.M.N (1990) Nghiên cứu của Bensam.P (1965-1968, 1971, 1973) chủ yếu mô tả đặc điểm hình thái

TC –CC theo từng giai đoạn phát triển Năm 1981, ông cũng công bố báo cáo mang tính chất tổng hợp “Những vấn đề về mặt phân loại học trong việc định dạng TCCC của cá Trích ở vùng biển Ấn Độ Dương” [34]

Ở Trung Quốc có nghiên cứu của Viên Vĩnh Cơ (1963); Trương Hiếu Uy (1965), Thành Khánh Thái (1962)… Nghiên cứu của Thành Khánh Thái chỉ ra mùa

vụ đẻ trứng của cá mối vây lưng dài ở vùng biển Trung Quốc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [66] Năm 1980, Rudometkina G P nghiên cứu các đặc trưng của 2 loài cá mối ở gần bờ phía tây Châu Phi [27] Nghiên cứu trứng và cá bột cá mối vạch ở vùng biển Ả rập được thực hiện bởi Fursa T I vào năm 1982[42]

Năm 1986, Victor.B.C đã ước tính thời gian sinh trưởng của giai đoạn cá con

của 100 loài thuộc họ Labridae ở cả Thái Bình Dương và Đại Tây Dương dựa trên

phương pháp đọc tuổi bằng nhĩ thạch Nghiên cứu cho thấy thời kỳ tăng trưởng này khác nhau ngay cả trong cùng một loài, nhất là các loài có pha sinh trưởng kéo dài [61] Năm 1989, Victor sử dụng phương pháp này để ước tính tuổi của họ

Pomacentridae

Trang 14

Lĩnh vực TCCC có nội dung nghiên cứu khá đa dạng Tuy đa số hướng nghiên cứu tập trung vào việc mô tả đặc điểm hình thái và đặc trưng phân bố, song vẫn có nhiều công trình đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của TCCC Nhiều nhất phải kể đến các nghiên cứu về tác động của nhiệt độ và độ mặn, hai yếu tố được coi là quyết định đối với tỷ lệ tử vong của TCCC Bên cạnh đó còn có các nhân tố môi trường khác như dòng chảy, mật độ chlorophyl, tia phóng xạ, mối quan hệ dinh dưỡng, thuỷ triều, thời gian ngày- đêm, … cũng có mối quan hệ mật thiết với TCCC [32]

Năm 1962, Nakia.Z có báo cáo: “Nghiên cứu các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sự thụ tinh và phát triển của trứng cá Trích - số liệu định lượng trứng” (1962); “Biến động số lượng của TCCC cá Trích từ 1949 - 1951” (1962); “Ảnh hưởng của độ mặn tới giai đoạn phát triển sớm của cá Trích” (1966) [55, 56, 57] Các nhà khoa học Nhật Bản cũng tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố môi trường tới

giai đoạn sớm của cá Sòng Nhật (Trachurus japonicus) ở vùng biển phía Đông Trung

Quốc Nghiên cứu TCCC phục vụ cho việc sản xuất cá giống của các loài cá thương phẩm cũng rất phát triển ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan từ những năm 70 của thế kỷ 20

Sự phân bố và biến động thành phần loài của TCCC theo sự biến đổi của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ muối, độ đục, hàm lượng chlorophyl trong vùng nước ven bờ biển Andaman của Thái Lan đã được nghiên cứu bởi Janekarn Vudhichai (1993) Kết quả nghiên cứu còn cho thấy: thành phần loài cá bột của nhóm tầng sát đáy đa dạng hơn nhóm tầng mặt và tầng giữa [47]

Tổng kết từ nhiều công trình nghiên cứu về cá con, năm 2005 Wilfredo L Campos đã chia cá con thành 18 nhóm theo hình dạng cơ thể, độ dài ống ruột, đặc điểm vây lưng, độ cao thân, đầu, sắc tố trên cơ thể, số lượng đốt cơ….[63] Tác giả cũng đưa ra những hạn chế như nhiều loài có hình dạng tương đối giống nhau, trong cùng một họ nhưng đặc điểm hình thái khác nhau, đặc điểm cá bột khác với cá trưởng thành

Đánh giá hiện trạng TCCC là lĩnh vực nghiên cứu mang tính thực tiễn và phục

vụ trực tiếp nhất cho các nhà quản lý, làm cơ sở cho việc quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản Tuy nhiên, việc ước tính lượng bổ sung và trữ lượng cá từ TCCC hiện nay đang gặp khó khăn về số liệu và phương pháp nghiên cứu Thời gian gần đây, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc sử dụng các phần mềm và trang thiết bị phòng thí nghiệm trở nên thuận lợi và đáng tin cậy hơn Nhiều nước đã ứng

Trang 15

dụng phương pháp ước tính trữ lượng trứng được sinh ra trong thời gian một ngày, để ước tính sinh khối và giám sát xu hướng thay đổi mật độ của đàn cá như Anh, Na-uy, Nam Phi [32]

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu biển ở nước ta được tiến hành từ rất sớm Trong giai đoạn từ 1925

-1935, Pháp đã thực hiện nhiều chuyến khảo sát Ngoài ra còn có các tàu thăm dò và khai thác hải sản của Nhật (1927 -1935) và Đài Loan (1935 -1936) [32]

Công trình nghiên cứu đầu tiên về TCCC được C Dawydoff tiến hành năm

1937 ở vịnh Nha Trang đã xác định nhịp điệu di cư thẳng đứng ngày đêm của cá bột Năm 1959-1960 chương trình hợp tác Việt – Trung đã điều tra tổng hợp tại vịnh Bắc

Bộ liên tục trong 13 tháng Kết quả xác định được 125.492 trứng cá và 17.131 cá con, thuộc 38 họ 27 giống và 44 loài [32] Năm 1960 -1961 đoàn hợp tác Việt - Xô đã tổ chức thăm dò khảo sát toàn diện Vịnh Bắc Bộ Ngoài số liệu thu thập về TC- CC, đoàn

đã bố trí thí nghiệm thụ tinh nhân tạo và nghiên cứu phát triển giai đoạn đầu của 20 loài cá [32] Viện Nghiên cứu Hải sản (Hải Phòng) đã tổ chức khảo sát vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ từ Cát Bà đến Hà Tĩnh trong các năm 1962, 1963 và 1965 [32] Năm

1970 -1971, Viện nghiên cứu biển đã tiến hành khảo sát ở 3 cửa sông lớn: Ba Lạt, Ninh Cơ và Cửa Đáy Năm 1971-1972 đã tiến hành khảo sát vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng Các tác giả đã phân loại TC –CC và chỉ ra sự liên quan của các điều kiện môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, dòng hải lưu… tới TCCC [32]

Một vài giai đoạn phát triển, sự sinh sản và phân bố của cá Ngừ con ở Vịnh Bắc

Bộ, đã được Nguyễn Anh (1963) thể hiện tương đối rõ Tác giả đã đưa ra hình vẽ các loài cá Ngừ con, sơ đồ phân bố, sinh sản, sơ đồ các điều kiện môi trường như nhiệt độ,

độ mặn, dòng chảy, mật độ sinh vật phù du…[32] Song kết quả còn rất sơ sài Sau đó, Nguyễn Hữu Phụng đã công bố các tài liệu về phân loại cá con bộ cá trích Clupeiformes (1973), họ cá Ngần Salagidae (1973), bộ cá Cháo Elopiformes (1974),

loài cá lưỡi búa Mene maculata (1976), trứng giống cá cơm Stolephorus (1978) và họ

cá mối Synodontidae (1980) [18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 26] Năm 1974, Đào Tất Kim công bố nghiên cứu về hình thái cá tuyết vây đen Bregmaceros atsipinni [8]

Các nhà khoa học nước ngoài cũng có những công trình nghiên cứu về TC –CC

Trang 16

ở vùng biển nước ta như nghiên cứu của Kuronuma.K và Yamashita.M về cá bột cá măng biển (1962) [57], Thành Khánh Thái (1962) về mùa vụ sinh sản của cá mối dài

Saurida elongata ở vịnh Bắc Bộ vào tháng 2 đến tháng 4 [65] Năm 1965,

Gorbunova.N.N về mùa vụ sinh sản của họ cá thu Scombridae, họ cá hố Trichiuridae

ở vịnh Bắc Bộ , Kovalevskaya.N.V với trứng cá, cá con của bộ cá Nhái Beloniformes

ở vịnh Bắc Bộ (1965), Belyanina.T.N với cá bột của cá Sơn đá Holocentridae ở vịnh

Bắc Bộ, biển Đông (1974) [48, 33]

Năm 1965, Zvjagina O.A xác định được trứng của 4 loài cá mối: cá mối thường, cá mối đầu to, cá mối dài, cá mối vện và cá bột của 3 loài: cá mối đầu to, cá mối vạch, cá mối vện ở vịnh Bắc Bộ Tiếp tục thụ tinh nhân tạo và ương nuôi cá mối đầu to và cá mối thường, quan sát hình thái, đặc điểm của các giai đoạn phát triển, mối quan hệ giữa mùa vụ đẻ trứng với các yếu tố môi trường như nhiệt độ và độ mặn [64]

Tiếp tục hướng nghiên cứu, Nguyễn Phi Đính, Trần Nho Xy, Hoàng Phi (1971)

đề cập đến thời kì đẻ trứng của loài cá mối vạch và cá mối vây lưng dài ở vịnh Bắc Bộ [3] Năm 1975-1976, Đỗ Văn Nguyên và Hồ Thanh Hải đã tiến hành nghiên cứu TCCC ở vùng biển ven bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Cửa Sót (Hà Tĩnh) Kết quả thu được 28.777 trứng cá và 7299 cá bột Các tác giả đã bước đầu đưa ra thành phần và biến động số lượng của TCCC trong vùng nghiên cứu, và ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự xuất hiện của TCCC [10] Nguyễn Khắc Hường công bố thành phần giống, loài và một số đặc điểm của họ cá mối ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1977 [7]

Ương nuôi và theo dõi sự phát triển phôi của họ cá Mối (Synodontidae) đã được Hoàng Phi (1978-1979) tiến hành tại Viện Hải dương học Nha Trang Tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái và thời gian phát triển của phôi Bước đầu xác định được trứng và cá bột của loài cá mối đầu to, cá mối thường, cá mối vạch, cá mối vện và cá mối dài [17] Năm 1978-1980, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện Đề tài “Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải” trong đó có thu mẫu TCCC Bước đầu các tác giả đã xác định thành phần loài, bãi đẻ và mùa vụ sinh sản của một số loài hải sản [13] Với số lượng mẫu thu được rất lớn, nhưng các tác giả không phân chia theo các giai đoạn phát triển của cá thể, miêu tả rất ít số lượng cá thể bắt gặp, đặc biệt hiện nay mẫu không còn lưu giữ

Trang 17

Năm 1991, Nguyễn Hữu Phụng công bố một số dẫn liệu về sinh thái cá bột họ

cá mối ở Vịnh Bắc Bộ [29] Cũng trong năm 1991, các nghiên cứu về TCCC ở vùng biển Việt Nam được tổng kết Kết quả cho thấy, ở vùng biển Việt Nam thành phần TCCC rất phong phú Đã xác định được 102 họ cá thuộc 19 bộ TCCC xuất hiện quanh năm, nhiều loài có thời gian xuất hiện rất dài, nhưng phổ biển và tập trung chủ yếu từ tháng 4 - 6 và tháng 10 - 12, có khi cả năm Số lượng TCCC nhiều hơn cả là ở vùng biển Đông-Tây Nam Bộ (nhất là ở phía Nam cửa sông Hậu và Côn Đảo, Nam Vũng Tàu và ven bờ Phan Thiết), vịnh Bắc Bộ (nhất là ở ven bờ Tây Bắc vịnh, xung quanh đảo Bạch Long Vĩ, Tây Nam đảo Hải Nam), vùng biển dọc miền Trung không có vùng phân bố tập trung rõ rệt [30]

Năm 1999, Nguyễn Thị Thu đã tiến hành nghiên cứu về nguồn giống cá ở hệ đầm phá Tam Giang -Cầu Hai Nghiên cứu đã chỉ ra thành phần, số lượng cá con và các yếu tố ảnh hưởng đên sự phân bố và biến động số lượng cá bột như nhiệt độ, pH,

Năm 2004 -2005, Đề tài KC.CB.01.14 “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ (chủ yếu là cá Trích, cá Nục, cá Cơm, cá Bạc má ) ở vùng biển Việt Nam”, bước đầu đã xác định nơi tập trung, thành phần loài và số lượng của TCCC [15] Đây là điều kiện thuận lợi rất quan trọng, giúp cho Đề tài bổ sung thêm nguồn số liệu, mở rộng phạm vi nghiên cứu và có cái nhìn tổng quát hơn về đối tượng TCCC ở vùng biển nghiên cứu

Nguyễn Khắc Bát và các chuyên gia Nga (2006) đã xác định một số nguyên nhân chính gây tử vong đối với trứng cá và cá con ở vịnh Nha Trang (Khánh Hoà), Quảng Bình và đảo Cát Bà (Hải Phòng) Nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng lớn của nhân

tố nhiệt độ và độ mặn tới tỷ lệ tử vong của trứng cá Ngoài ra còn có yếu tố nhiễm kí sinh và địch hại là các loài cá nổi ở khu vực phân bố trứng [2]

Năm 2006-2007, Dự án “Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải

Trang 18

sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ” đã được triển khai TCCC cũng là một đối tượng được tiến hành nghiên cứu Bước đầu đã xác định xu thế phân bố TCCC ở khu vực phía Bắc thường cao hơn khu vực phía Nam vùng biển nghiên cứu; khu vực đẻ trứng chính là vùng biển phía Nam và Tây Nam đảo Bạch Long Vỹ, vùng biến sát với đường ranh giới phía biển Trung Quốc, từ vĩ độ 19000 trở lên phía Bắc và vùng biến sát với đường ranh giới phía biển Việt Nam, khu vực ngang với đảo Hòn Mê [16] Trong hai năm 2007 và 2008, Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo vệ trứng cá cá con và ấu trùng tôm tôm con ở vùng biển ven bờ Đông Tây Nam Bộ” đã đánh giá được hiện trạng thành phần loài, phân bố mật độ của trứng cá cá con và ấu trùng tôm tôm con Đề tài đã xác định được 185 loài thuộc 125 giống và 88 họ Thành phần loài bắt gặp phong phú nhất ở các họ cá trỏng – Engraulidae (15 loài), cá bống trắng - Gobiidae (11 loài), cá khế - Carangidae (10 loài), cá sơn - Apogonidae (8loài), cá liệt – Leiognathidae, cá mối Synodontidae (7 loài) Với trứng cá mới xác định được 17 họ TCCC phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ Bình Thuận, từ Vũng Tàu đến Bạc Liêu và quanh các đảo Nam Du

và phía đông đảo Phú Quốc Mật độ TCCC cao nhất bắt gặp ở tầng thẳng đứng, sau đó

Trang 19

Chương 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tài liệu, đối tượng và vùng nghiên cứu

- Tài liệu nghiên cứu

Sử dụng tài liệu, mẫu vật của dự án Việt Trung thu thập trong 3 năm từ 2008

-2010 Mỗi năm tiến hành thu 2 chuyến đại diện cho 2 mùa gió: gió mùa Tây Nam (chuyến tháng 4) và gió mùa Đông Bắc (chuyến tháng 10) Mẫu được thu thập trong các chuyến khảo sát tổng hợp

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các họ TCCC chiếm ưu thế trong các năm từ 2008

-2010 Qua số liệu 2 năm 2008, 2009 đề tài đã chọn ra TC của 4 họ và CC của 4 họ làm đối tượng nghiên cứu Cụ thể:

+ Với trứng cá: Họ Clupeidae, Synodontidae, Trichiuridae, Engraulidae

+ Với cá con: Họ Mullidae, Clupeidae, Carangidae, Engraulidae

- Vùng nghiên cứu

Vùng đánh cá chung giữa Việt Nam –Trung Quốc thuộc vịnh Bắc Bộ từ 17030 đến 20001N đến 106037 đến 108030E, độ sâu dao động từ 31 đến 87 mét Diện tích vùng nghiên cứu là 33618 km2 Mẫu được tiến hành thu trên 35 trạm, bằng 2 loại lưới tầng mặt và tầng thẳng đứng

Các trạm nghiên cứu được bố trí song song với đường kinh tuyến và vĩ tuyến Hai trạm cách nhau ít nhất là 8 hải lý, nhiều nhất là 30 hải lý (hình 1)

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu biến động TCCC của một số họ chiếm ưu thế ở vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ giai đoạn 2008 -2010 Cụ thể như sau:

 Đặc điểm nhận dạng TCCC của họ: Carangidae, Clupeidae, Engraulidae, Mullidae, Synodontidae, Trichiuridae

 Biến động số lượng, phân bố mật độ TCCC theo mùa gió, theo năm và theo loại lưới thu mẫu

 Đề xuất các giải pháp bảo vệ TCCC

Trang 20

Hình 2.1: Sơ đồ trạm vị nghiên cứu

Trang 21

2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

2.3.1 Phương pháp thu mẫu

- Mẫu được tiến hành thu bằng 2 loại lưới: lưới tầng mặt và lưới thẳng đứng + Lưới tầng mặt: dùng để thu mẫu ở tầng nước từ 0,5 - 0 m Miệng lưới hình chữ nhật, kích thước 1m x 0,5 m Diện tích miệng lưới 0,5 m 2 Lưới được may bằng vải lưới chuyên dùng, kích thước mắt lưới 450 µm Lưới có dạng hình chóp cụt, chiều dài tính từ miệng lưới đến ống đáy là 3 m Khi tiến hành thu mẫu, lưới được thả cách mạn tàu khoảng 40 m và buộc cố định vào mạn tàu Cho tàu chạy từ từ theo hướng ngược sóng với tốc độ 1mét/giây Thời gian thu mẫu khoảng 7 -9 phút

+ Lưới kéo thẳng đứng: Miệng lưới hình tròn, đường kính 0,5 m, diện tích miệng lưới 0,2 m 2 Vải lưới và thiết kế gần giống lưới tầng mặt Lưới được thả theo phương thẳng đứng, sao cho miệng lưới cách đáy 2 mét và kéo từ từ lên trên mặt nước, với tốc

độ khoảng 1mét/giây

- Trình tự thu mẫu (theo quy trình thu mẫu trên biển năm 1978) [25]

• Đo độ sâu, quan sát chất đáy Lưới được treo ở đầu cần trục

• Khoá nắp ống đáy, điều chỉnh chỉ số của máy Flowmeter về số 0

• Thả lưới tuỳ theo tầng thu mẫu

• Lưới sau khi thu mẫu được cho lên khỏi mặt nước, treo lưới ngay ngắn Tiến hành rửa lưới bằng vòi phun nước, phun ở bên ngoài để dồn hết mẫu bên trong xuống ống đáy Rửa lưới và ống đáy nhiều lần, đảm bảo sạch mẫu

• Mẫu được lấy từ khoá ống đáy, cho vào ống lọc bớt nước

• Mẫu thu được, đựng trong lọ nhựa có dung tích từ 500 -1000 ml và được bảo quản trong dung dịch Formaline nồng độ từ 5 -7 % và được chuyển về phòng thí nghiệm tiến hành phân tích

2.3.2 Phân tích mẫu

- Các bước tiến hành phân tích mẫu:

+ TCCC được nhặt ra khỏi các sinh vật phù du và rác bẩn

+ Tiến hành phân loại TCCC dưới kính hiển vi soi nổi có micromete để đo kích thước của trứng cá, cá con Trang thiết bị bao gồm kính giải phẫu Nikon SWZ 1000, Kruss, Nikon E200

+ Tách riêng từng họ, từng loài đã phân loại được vào từng ống nghiệm riêng biệt có chứa formaline để lưu giữ mẫu

Trang 22

- Tài liệu sử dụng để phân loại chủ yếu dựa vào tài liệu của các tác giả Nguyễn Hữu Phụng (1971, 1973, 1976-1982, 1991, 1994), Deslman.H.C (1920 -1934, 1938), Mito S (1960, 1966), Zvjagina O.A (1965), Jeffrey M.Leis và Brooke M Carson Ewart (2000), A.M Shadrin et al (2003)…

- Số lượng trứng cá –cá con được đếm và ghi vào biểu phân tích thành phần loài (phụ lục)

- Mẫu TCCC được xác định dựa vào giai đoạn phát triển theo Rass T.S (1965) Trong đó trứng cá được chia làm 4 giai đoạn (I, II, III, IV), cá con chia làm 3 giai đoạn (cá bột, cá hương, cá giống) ( hình 2.2)

• Cá bột (larva): tính từ khi cá nở đến khi hình thành xong vây đuôi, trong đó chia ra:

 Cá bột trước (prelarva): cá còn túi noãn hoàng

 Cá bột (larva): từ khi túi noãn hoàng biến mất đến khi hình thành xong vây đuôi

• Cá hương (postlarva): tính từ khi hình thành xong vây đuôi cho đến hết giai đoạn biến thái, có đầy đủ các vây, khi có hình dạng gần giống cá bố mẹ

• Cá con (Juvenile): có hình dạng giống cá trưởng thành, đã xuất hiện vẩy

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Mật độ TCCC của mỗi trạm nghiên cứu, cũng như của từng họ cá, loài cá được tính theo số lượng cá thể/1000 m3 nước biển

N= 1000 n/V Trong đó: N: Số lượng TCCC có trong 1000 m3 nước biển

n: Số lượng TCCC có trong mẫu thu được V: Lượng nước qua lưới (m3)

- Lượng nước qua lưới được chuyển đổi từ số vòng quay của thiết bị đo lưu lượng nước qua lưới (flowmeter) theo công thức:

V = S * T [ (X :T)* 0,2324 + 0,0497]

Trong đó :

V : lượng nước qua lưới (m3)

S : diện tích miệng lưới (m2) T: Thời gian kéo lưới (giây) X: số vòng quay trên máy flowmeter

Trang 23

- Sử dụng VIETFISHBASE để nhập số liệu về thành phần loài, sinh lượng

- Sử dụng kính để chụp hình ảnh

- Phần mềm Adobe Photoshop 7.0 chỉnh sửa hình ảnh

- Phần mềm Exel và Statistaca tính toán số liệu

- Phần mềm MapInfo để vẽ bản đồ phân bố

Hình 2.2 : Các giai đoạn phát triển từ trứng cá tới cá con

(Nguồn Kelldan và ctv, 1984)

Trang 24

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm nhận dạng TCCC một số họ chiếm ưu thế

3.1.1 Họ cá khế Caragidae

Ở biển Việt Nam, họ cá khế có 62 loài, 17 giống , trong đó giống cá Nục Decapterus thường có sản lượng cao nhất khi đánh bằng các loại nghề cá nổi như: lưới vây, vó ánh sáng, lưới mành và bằng lưới kéo đáy [1]

Cá con họ cá khế có nhiều dạng, nhưng nhìn chung đều có hình dạng hơi dài, dẹp hai bên Chiều cao thân lớn nhất nằm ở ngay sau đầu Hậu môn nằm ở nửa sau của thân Đầu to, miệng rộng, nắp mang có hai hàng gai rõ rệt [14] Sắc tố trên lưng thường thành hàng ở hai bên, có dạng hình phóng xạ, màu đen hoặc nâu Khi lớn hơn

có 2 gai cứng tách ra nằm ở phía trước vây hậu môn

Trong đợt thu mẫu chủ yếu phân loại đến họ Một số cá có kích thước lớn có

thể nhận dạng để phân loại đến loài như Atule mate, Carangoides melalopteus, Naucrates ductor, Selaroides leptolepis

(18) Noãn hoàng không chứa giọt dầu như loài cá lầm mắt mỡ Etrumeus micropus (đường kính loài này là 1,23 – 1,35 mm), trứng cá mai Kowalla coval (đường kính

trứng từ 0,95 -1,1, đường kính noãn hoàng từ 0,9- 1,05), hoặc có chứa một giọt dầu

như trứng của loài cá đé Ilisha elongata (đường kính trứng loài này dao động từ 2,1 –

Trang 25

2,5 mm, đường kính giọt dầu 0,35 – 0,4 mm, trên giọt dầu có sắc tố đen), hoặc chưa

nhiều giọt dầu như trứng của loài cá mòi không răng Anodontostoma chacuda [53]

Trứng họ cá trích bắt gặp trong đợt thu mẫu này phân loại gồm: trứng cá trích Sardinella spp chiếm 71,46 %, loài Kowalla coval chiếm 0,65% tổng số, Clupeidae chi

Hình 3.2 Hình ảnh một số TC họ cá Trích

CC đều có dạng thân nhỏ, dài, nửa trong suốt, đầu bé Đầu và nắp mang không

có gai, có bóng bơi rõ rệt Các vây đều không có tia cứng, chiều cao thân phía trước hậu môn gần bằng nhau Ruột dài, hậu môn nằm ở nửa sau của thân Khoảng cách giữa mút mõm và vây hậu môn chiếm khoảng 80% chiều dài thân [21] Khởi điểm của gốc vây hậu môn nằm sau điểm mút của gốc vây lưng theo chiều thẳng đứng qua thân Số lượng đốt cơ từ 39 -62, trong đó số lượng đó cơ phía sau hậu môn ít khoảng từ 6 -15 (thường từ 8 -10) [21] Sắc tố đen phân bố ở thành ống ruột hay ở rìa dưới của thân đuôi thành hàng Dựa vào số lượng đốt cơ và sự phân bố sắc tố để phân loại đến loài

Ví dụ số lượng đốt cơ nhiều từ 60 -62, sắc tố ít là loài Dussumieria, số lượng đốt cơ ít

M 34 +12 = 46 là loài cá mai Kowlla coval [21]

Với cá con, do kích thước cơ thể còn nhỏ, đặc điểm phân loại đến giống loài chưa rõ ràng nên khi phân tích chỉ để dạng họ

Trang 26

Hình 3.3 Hình ảnh cá con họ cá Trích

3.1.3 Họ cá trỏng Engraulidae

TC giống cá cơm đều có dạng hình elíp dài, kích thước dao động từ 0,8 – 1,8

mm x 0,5 -0,8 mm Đa số trứng có màng trơn nhẵn, trong suốt, trừ loài cá cơm thường Stolephorus commersonii có một núm nhỏ ở một đầu màng trứng Noãn hoàng dạng hạt đều đặn, sắp xếp theo kiểu mai rùa [23] Noãn hoàng có hoặc không có giọt dầu Dựa vào đặc điểm này để phân loại trứng Trứng cá cơm thường và cá cơm sọc xanh

Encrasicholina puntifer không chứa giọt dầu, ở trứng cá cơm mõm nhọn S.heteroloba

(đường kính trứng từ 1,5 – 1,8 mm x 0,6 -0,7 mm) và một loài khác (kích thước trứng nhỏ hơn, dao động từ 1,1 – 1,3 – 0,6 -0,7 mm) có chứa giọt dầu [14]

Trong mẫu nghiên cứu, đã tiến hành phân tích và tách ra được 2 loài trứng cá

cơm là cá cơm sọc xanh Encrasicholina punctifer chiếm 98,55% tổng số, cá cơm thường Stolephorus commersonii chiếm 1,45% tổng số trứng cá thu được

Trang 27

nhiều từ 65 -69, số lượng đốt cơ phía sau hậu môn từ 29 -31 là giống Coilia Với giống Stolephorus là M 26 -28 + 16 -20, thân hơi ngắn và to, mình hơi dày Với giống Thrissa là M 29 -32 + 16 -22, rìa bụng phía dưới ống ruột từ bóng bơi đến hậu môn có

nhiều chấm sắc tố bé, gốc vây hậu môn thường không có sắc tố Rìa bụng phía dưới ống ruột từ bóng bơi đến hậu môn có 4 vệt sắc tố đậm, gốc vây hậu môn thường có

một vệt sắc tố, A 50 -56 là loài Setipinna taty [21] Đặc điểm để phân biệt với cá con

họ cá trích là: khởi điểm vây hậu môn thường nằm ngang hoặc trước điểm mút của vây lưng theo chiều thẳng đứng ngang thân Số lượng đốt cơ sau hậu môn của cá Trỏng nhiều từ 16 -31 [21]

Cá con họ cá trỏng trong đợt phân tích đều chưa được phân loại đến giống, loài

3.1.4 Họ cá phèn Mullidae

CC của họ cá phèn có dạng thân nhỏ, dài, hơi dẹp hai bên Đầu tròn, đầu và xương nắp mang không có gai hậu môn nằm ở nửa trước của thân Số lượng đốt cơ ít, thường là 24 (10 + 14) [14] Sắc tố màu đen dạng chấm nhỏ tròn, phân bố đều ở rìa

Trang 28

dưới phần thân đuôi Những cá thể lớn thường có hai vây lưng, trong đó vây lưng thứ hai và vây hậu môn thường đối xứng nhau

Hình dạng họ cá phèn rất dễ nhầm lẫn với họ cá lượng Đặc điểm để phân biệt

là ở cá lượng số lượng đốt cơ nhiều hơn, các chấm sắc tố phân bố ở phần rìa dưới thân đuôi nhiều, xếp khít nhau hơn so với cá phèn

trứng của loài cá mối vạch Saurida undosquamis, cá mối dài Saurida elongata, và

dạng có vân lục giác, ở mỗi đỉnh của vân lục giác thường có một gai ngắn như trứng

của loài cá mối hoa Trachinocephalus myops, cá mối thường Saurida tumbil, cá mối Synodus variegatus

Trang 29

Ngoài ra để phân biệt đến loài còn dựa vào kích thước trứng và sắc tố trên thể phôi, kích thước của gai được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3.1: Đặc trưng hình thái trứng cá của năm loài thuộc họ cá Mối

Tên loài Đường kính

trứng (mm)

Cấu trúc của màng

trứng

Sắc tố trên thể phôi

Saurida undosquamis 1,26 -1,34 Nhẵn trơn Không

Saurida elongata 1,26 -1,28 Nhẵn trơn Có

Saurida tumbil 1,01 – 1,11 Vân lục giác có gai

(Nguồn: Đỗ Văn Nguyên (1999))

Dựa vào đặc điểm hình thái, mẫu trứng cá mối trong đợt nghiên cứu này bắt gặp

3 loài: cá mối thường Saurida tumbil, cá mối vạch Saurida undosquamis và cá mối hoa Trachinocephalus myops Trong đó cá mối thường chiếm tỷ lệ cao nhất 61,35%,

thấp nhất là cá mối hoa chiếm 2,07%, còn lại là cá mối vạch chiếm 36,58% tổng số TC thu được

3.1.6 Họ cá hố Trichiuridae

Trứng dạng hình tròn, màng trứng trơn, nhẵn bóng Đường kính trứng lớn, dao động từ 1,6 -1,8 mm, thường có màu hồng Noãn hoàng đồng nhất, có chứa giọt dầu Đường kính giọt dầu từ 0,35 -0,45 mm Trên thân phôi có chấm sắc tố dạng phóng xạ

Trứng cá hố chủ yếu bắt gặp là loài cá hố Trichiurus lepturus chiếm tới 96,79 %,

còn lại để dạng họ Trichiuridae

Trang 30

Hình 3.7 Hình ảnh TC họ cá Mối

H ình 3.8 Hình ảnh TC họ cá Hố

Trang 31

3.2 Biến động TCCC một số họ chiếm ưu thế

Hình 3.10 Biến động CC của 4 họ theo năm

Hình 3.9 và 3.10 cho thấy sự biến động số lượng TCCC của 6 họ cá theo từng năm Xu hướng biến động khác nhau tuỳ từng họ Năm 2009 số lượng trứng cá tăng đột biến so với năm 2008 thuộc về họ cá trích (7091/23 TC), sau đó là họ cá Hố

Trang 32

(631/293 TC) TC họ cá mối, cá Trỏng giảm đi so với năm 2008 Đến năm 2010, đa số lượng trứng cá đều giảm so với năm 2009, trừ họ cá Trỏng lại tăng (721/269 TC) Với CC, họ Clupeidae và Mullidae tăng dần theo các năm Năm 2009 gấp từ 6 đến 11 lần năm 2008, năm 2010 gấp từ 1,1 lần đến 2 lần năm 2009 Họ cá Khế và họ

cá Trỏng năm 2009 tăng, đến năm 2010 lại giảm nhưng vẫn cao hơn năm 2008

3.2.1.2 Biến động TCCC theo mùa gió

Qua hình 3.11 cho thấy sự biến động khá lớn về số lượng theo mùa gió Dao động lớn nhất ở 2 họ: họ cá Trích Clupeidae và họ cá hố Với họ cá trích số lượng mùa gió Tây Nam cao gấp hơn 235 lần mùa gió Đông Bắc Với cá hố con số này là gần 3 lần

Trang 33

Với họ cá Trỏng và họ cá Mối, số lượng trứng cá ở cả 2 mùa gió không khác nhau nhiều Với trứng cá Trỏng mùa gió Đông Bắc thu được 746 TC, mùa gió Tây Nam thu được 704 TC Với họ cá mối sự chênh lệch giữa hai mùa gió cao hơn là 859/639

Với cá con chỉ riêng họ cá Trỏng có số lượng mùa gió Đông Bắc cao hơn mùa gió Tây Nam, 3 họ còn lại có số lượng cá con mùa gió Tây Nam cao hơn Đông Bắc rất nhiều Điều này hoàn toàn phù hợp vì TC Trỏng mùa gió Đông Bắc cao hơn Tây Nam

Tỷ lệ giữa 2 mùa gió Tây Nam và Đông Bắc cao nhât là họ cá Phèn 4,8 lần, tiếp đến là

họ cá Trích 2,79 lần, và thấp nhất là họ cá khế là 2,03 lần Với họ cá Trỏng số lượng mùa gió Đông Bắc gấp 5,79 lần mùa gió Tây Nam (Hình 3.12.)

3.2.1.3 Biến động TCCC theo loại lưới

Bảng 3.2 Số lượng TCCC một số họ cá theo loại lưới

Đối tượng Tên khoa học Lưới thẳng đứng Lưới tầng mặt

Clupeidae 18 7232

Engraulidae 253 1197

Synodontidae 92 1406 Trứng cá

…ở tầng mặt thuận lợi cho sự tồn tai, sinh trưởng và phát triển của TCCC Tầng mặt

có thành phần, số lượng thức ăn phong phú, đa dạng hơn tầng thẳng đứng Số lượng

TC cao hơn số lượng CC Điều này có thể lý giải rằng: khi cá bố mẹ đẻ trứng, gặp điều kiện như sóng to, gió lớn, nhiệt độ cao làm trứng chết Khi điều kiện môi trường bất lợi thì tỷ lệ sống, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở của trứng thấp Kết quả là số lượng cá con ít

Trang 34

3.2.2 Biến động về phân bố mật độ

3.2.2.1 Họ Cá Khế Carangidae

Sự phân bố CC họ cá khế tương đối giống nhau ở cả hai mùa gió, phân bố rải rác khắp vùng nghiên cứu với mật độ thấp, nhỏ hơn 50 CC/1000m3 nước Khu vực có mật độ cao hơn từ 50 -196 CC/ 1000 m3 thuộc vùng biển phía Nam đảo Bạch Long

Vỹ, phía biển bên 2 nước Mật độ ở phía Bắc cao hơn ở phía Nam vùng nghiên cứu

ở phía biển của hai nước hơn là vùng trung tâm

Hình 26, 27 cũng chỉ ra mật độ CC mùa gió Đông Bắc ít hơn rất nhiều so với mùa gió Tây Nam Mật độ cao nhất mùa gió Tây Nam đạt 995CC/1000m3 nước, còn mùa gió Đông Bắc là 134 CC/1000m3 nước biển

Trang 35

Phân bố TC họ cá Mối tập trung cao chủ yếu ở phía Bắc của vùng nghiên cứu ở

cả hai mùa gió, ở phía Nam của đảo Bạch Long Vỹ

Mật độ TC mùa gió Đông Bắc cao hơn mùa gió Tây Nam Mật độ đạt cao nhất vào mùa gió Đông Bắc là 1539 TC/1000m3 nước biển Vào mùa gió Tây Nam, con số này là 419 TC/1000m3 nước biển

Trang 36

Hình 3.17 Phân bố TC họ cá Mối mùa gió

Với CC mật độ cao nhất tập trung ở khu vực phía Tây – Tây Nam của đảo Bạch Long Vỹ, bên phần biển Việt Nam Điều này có thể lý giải do dòng chảy, sóng gió, thuỷ triều di chuyển TC từ vùng biển phía Trung Quốc sang bên phía biển Việt Nam (

Hình 3.17., 3.18.)

Trang 37

Hình 3.19 Phân bố TC họ cá Trích mùa gió

Đông Bắc

Hình 3.20 Phân bố TC họ cá Trích mùa

gió Tây Nam

Hình 3.21 Phân bố CC họ cá Trích mùa gió

Đông Bắc

Hình 3.22 Phân bố CC họ cá Trích mùa

gió Tây Nam

Trang 38

Hình 3.23 Phân bố mật độ TC họ cá Trỏng

mùa gió Đông Bắc

Hình 3.24.Phân bố mật độ TC họ cá Trỏng mùa gió Tây Nam

Ngày đăng: 15/08/2014, 23:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ trạm vị nghiên cứu - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 2.1 Sơ đồ trạm vị nghiên cứu (Trang 20)
Hình 2.2. : Các giai đoạn phát triển từ trứng cá tới cá con  (Nguồn Kelldan và ctv, 1984) - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 2.2. Các giai đoạn phát triển từ trứng cá tới cá con (Nguồn Kelldan và ctv, 1984) (Trang 23)
Hình 3.1. Hình ảnh họ cá Khế  3.1.2. Họ cá trích Clupeidae - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.1. Hình ảnh họ cá Khế 3.1.2. Họ cá trích Clupeidae (Trang 24)
Hình 3.2.  Hình ảnh  một số TC họ cá Trích - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.2. Hình ảnh một số TC họ cá Trích (Trang 25)
Hình 3.3. Hình ảnh cá con họ cá Trích  3.1.3. Họ cá trỏng Engraulidae - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.3. Hình ảnh cá con họ cá Trích 3.1.3. Họ cá trỏng Engraulidae (Trang 26)
Hình 3.5. Hình ảnh CC họ cá Trỏng - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.5. Hình ảnh CC họ cá Trỏng (Trang 28)
Hình 3.7. Hình ảnh TC họ cá Mối - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.7. Hình ảnh TC họ cá Mối (Trang 30)
H ình 3.8. Hình ảnh TC họ cá Hố - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
nh 3.8. Hình ảnh TC họ cá Hố (Trang 30)
Hình 3.9. Biến động trứng cá  của 4 họ ưu thế theo năm - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.9. Biến động trứng cá của 4 họ ưu thế theo năm (Trang 31)
Hình 3.11. Biến động TC theo mùa gió  S ố lượng - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.11. Biến động TC theo mùa gió S ố lượng (Trang 32)
Bảng 3.2. Số lượng TCCC một số họ cá theo loại lưới - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Bảng 3.2. Số lượng TCCC một số họ cá theo loại lưới (Trang 33)
Hình 3.13. Phân bố mật độ CC họ cá Khế  mùa gió Đông Bắc - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.13. Phân bố mật độ CC họ cá Khế mùa gió Đông Bắc (Trang 34)
Hình 3.14. Phân bố mật độ CC họ cá Khế  mùa gió Tây Nam - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.14. Phân bố mật độ CC họ cá Khế mùa gió Tây Nam (Trang 34)
Hình 3.15. Phân bố mật độ CC họ cá Phèn  mùa gió Đông Bắc - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.15. Phân bố mật độ CC họ cá Phèn mùa gió Đông Bắc (Trang 35)
Hình 3.16. Phân bố mật độ CC họ cá  Phèn mùa gió Tây Nam - Biến động trứng cá – cá con một số họ ưu thế trong vùng đánh cá chung việt nam   trung quốc thuộc vịnh bắc bộ giai đoạn 2008  2010 và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Hình 3.16. Phân bố mật độ CC họ cá Phèn mùa gió Tây Nam (Trang 35)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w