1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên

74 482 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên
Tác giả Trần Ngọc Khánh
Người hướng dẫn TS. Thái Văn Ngạn
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Khai thác Thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 33,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số số liệu sử dụng trong luận văn được trích từ một phần kết quả của đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu cải tiến ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NHA TRANG - 2011

Trang 3

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iv

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

1.1.1 Nghiên cứu sự di cư của cá ngừ và xác định ngư trường 3

1.1.2 Độ sâu phân bố của cá ngừ đại dương 4

1.1.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước biển đến sự phân bố của cá ngừ 5

1.1.4 Ảnh hưởng của địa hình đáy biển đến sự phân bố của cá ngừ 6

1.1.5 Đặc điểm sinh học cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 6

1.1.6 Đặc điểm sinh học cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) 7

1.1.7 Công nghệ khai thác cá ngừ 8

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 9

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Nội dung nghiên cứu 15

2.1.1 Khảo sát hiện trạng nghề câu cá ngừ ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên 15

2.1.2 Khảo sát việc sử dụng vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến trong thực tiễn sản xuất ở thành phố Tuy Hòa 15

2.1.3 Đánh giá hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu 15

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tổng quát 15

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 15

2.2.4 Phân tích và xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa-Phú Yên 27

3.1.1 Cơ cấu nghề nghiệp nghề khai thác hải sản tỉnh Phú Yên 27

3.1.2 Đối tượng, mùa vụ và ngư trường khai thác 28

3.1.3 Đặc tính kỹ thuật tàu thuyền làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương 28

3.1.4 Đặc điểm kỹ thuật vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa 30

3.2 Khảo sát việc sử dụng vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến trong thực tiễn sản xuất ở thành phố Tuy Hòa 33

3.2.1 Cơ sở khoa học để đề tài “Câu cá ngừ đại dương” đề xuất vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến .33

Trang 4

3.2.2 Khảo sát việc sử dụng vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến ở thành phố Tuy

Hòa tỉnh Phú Yên 35

3.3 Đánh giá hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 36

3.3.1 Thi công vàng câu 36

3.3.2 Bố trí thí nghiệm 36

3.3.3 Sản lượng và thành phần loài cá đánh bắt 39

3.3.4 Năng suất khai thác 40

3.3.5 Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến trên cơ sở năng suất khai thác 41

3.3.6 Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến trên cơ sở hiệu quả kinh tế 43

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 45

1 Kết luận 45

2 Đề xuất 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 49

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là do quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện điều tra, khảo sát tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và các chuyến đánh bắt thử nghiệm trên tàu làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Một số số liệu sử dụng trong luận văn được trích từ một phần kết quả của đề tài

cấp Bộ: “Nghiên cứu cải tiến ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ” Các số liệu này được Lãnh đạo

Viện Nghiên cứu Hải sản, Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ nói trên cho phép sử dụng

Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây

Hải Phòng, ngày 01 tháng 04 năm 2011

Tác giả

Trần Ngọc Khánh

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Thái Văn Ngạn và TS Trần Đức Phú là những người trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, chủ nhiệm đề tài:

“Nghiên cứu cải tiến ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ”, đã cho phép và tạo mọi điều kiện để tôi sử

dụng một số số liệu của đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai Viện Nghiên cứu Hải sản đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

thác-Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Ban giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Khai thác, Quý thầy trong Khoa Khai thác đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này

Hải Phòng, ngày 1 tháng 04 năm 2011

Tác giả

Trần Ngọc Khánh

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương 12

Bảng 1.2: Kích thước trung bình vỏ tàu câu vàng theo nhóm công suất 13

Bảng 2.1: Thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương tàu PY2979BTS 18

Bảng 2.2: Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 21

Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản tỉnh Phú Yên 27

Bảng 3.2: Biến động tỷ lệ ngành nghề khai thác theo kích thước vỏ tàu tại tỉnh Phú Yên năm 2009 28

Bảng 3.3: Thông số cơ bản vỏ tàu làm nghề lưới câu vàng cá ngừ đại dương 28

Bảng 3.4: Thống kê máy chính và máy phụ trang bị trên tàu 29

Bảng 3.5: Thống kê trang thiết bị hàng hải, khai thác 29

Bảng 3.6: Vàng câu cá ngừ đại dương trang bị trên tàu 30

Bảng 3.7: Thông số cơ bản vàng câu thử nghiệm lựa chọn chiều dài thẻo câu phù hợp của đề tài và vàng câu đối chứng 34

Bảng 3.8: Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương do đề tài đề xuất 35 Bảng 3.9: Tổng hợp các mẻ câu thí nghiệm vàng câu đối chứng của tàu PY92979TS 37

Bảng 3.10: Tổng hợp các mẻ câu thí nghiệm vàng câu cải tiến trên tàu PY92979TS 38

Bảng 3.11: Thành phần loài và sản lượng trong 2 chuyến thử nghiệm 39

Bảng 3.12: Thống kê năng suất khai thác của 2 vàng câu 40

Bảng 3.13: Năng suất khai thác cá ngừ đại dương của 2 vàng câu 41

Bảng 3.14: Năng suất khai thác chung của 2 vàng câu 41

Bảng 3.15: Năng suất khai thác của một số tàu câu vàng cá ngừ đại dương khác 42

Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế của 1 số tàu câu cá ngừ đại dương 43

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Trang Hình 1.1: Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 6

Hình 1.2: Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) 7

Hình 2.1: Bản vẽ tổng thể vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng 19

Hình 2.2: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng 20

Hình 2.3: Bản vẽ tổng thể vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến dùng thí nghiệm 22

Hình 2.4: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến dùng để thí nghiệm .23

Hình 2.5: Tàu PY92979TS nghiên cứu thử nghiệm vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 24 Hình 2.6: Vị trí nghiên cứu thử nghiệm 25

Hình 3.1: Bản vẽ tổng thể cấu tạo vàng câu cá ngừ đại dương trên các tàu của ngư dân ở thành phố Tuy Hòa 31

Hình 3.2: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương trên các tàu ở thành phố Tuy Hòa 32

Hình 3.3: Năng suất khai thác vàng câu cải tiến và vàng câu đối chứng 42

Trang 9

Phụ lục 4: So sánh năng suất khai thác vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng và vàng câu

cá ngừ đại dương cải tiến

Phụ lục 5: Hình ảnh hoạt động thử nghiệm

Phụ lục 6: Phiếu điều tra và thu số liệu trên tàu thí nghiệm

Trang 10

MỞ ĐẦU

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới; vùng biển nước ta có 2 loài cá ngừ có

giá trị kinh tế cao và đang được ngư dân khai thác mạnh là cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) và cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) (sau đây gọi tắt là cá ngừ đại dương)

Đây cũng là hai loài cá ngừ có kích thước cá thể lớn (chiều dài lớn nhất có thể đạt tới

250 cm), có giá trị kinh tế cao, đồng thời cá ngừ vây vàng là loài cá “nhiệt đới”, rất phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng biển nước ta (Kitty Simonds and William L Robinson, 2006)

Nghề câu vàng cá ngừ đại dương đã được du nhập vào nước ta từ năm 1992 Đến năm 2004, số lượng tàu câu vàng cá ngừ đại dương của cả nước có khoảng 1.670 tàu, trong đó có khoảng 45 tàu câu công nghiệp, số còn lại là các tàu có kích thước nhỏ với công nghệ khai thác thô sơ Nghề câu vàng cá ngừ đại dương được du nhập vào nước ta theo cách tự phát và ít được nghiên cứu hoàn chỉnh về kết cấu ngư cụ; qui trình khai thác cho phù hợp với cỡ tàu thuyền và ngư trường Việt Nam

Hiện nay tồn tại hai mô hình câu vàng là mô hình câu thủ công và mô hình câu công nghiệp Mô hình câu thủ công có đặc điểm là cứ mỗi dây thẻo câu có một phao ganh, vì vậy các lưỡi câu đều có độ sâu đồng nhất Do cách kết cấu như vậy nên trong thực tế ngư dân thường sử dụng độ sâu lưỡi câu trong khoảng 45 - 65 m Hiện nay hầu hết các tàu câu của ngư dân đều sử dụng mô hình này Mô hình câu công nghiệp có đặc điểm là cứ 5 - 20 dây thẻo câu mới buộc 1 phao ganh Vì vậy vàng câu sẽ có độ võng và độ sâu làm việc của lưỡi câu có thể dao động trong khoảng 50 - 250 m Mô hình câu này chỉ được phổ biến trên số ít các tàu câu cỡ lớn

Một vấn đề đặt ra là ngư dân còn ít hiểu biết về độ sâu phân bố của cá ngừ đại dương, về sự di cư thẳng đứng của cá ngừ phụ thuộc vào ngày và đêm; ảnh hưởng của nhiệt độ nước biển đến sự phân bố của cá; ngư cụ còn chưa phù hợp Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu về các vấn đề nói trên phục vụ cho việc cải tiến ngư cụ, nâng cao năng suất khai thác là rất quan trọng và cần thiết

Để đáp ứng nhu cầu trên, Bộ Thủy sản đã giao cho Viện Nghiên cứu Hải sản

thực hiện đề tài độc lập cấp Bộ: “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” (gọi tắt

là đề tài “Câu cá ngừ đại dương”) Một trong những nội dung chính của đề tài là:

Nghiên cứu cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương trên các tàu câu thủ công của ngư dân Sau khi hoàn thành, đề tài trên đã đề xuất mẫu vàng câu cá ngừ đại dương cải

Trang 11

tiến Tuy nhiên, hiệu quả việc ứng dụng vàng câu cá ngừ đại dương trong thực tế mà

đề tài “Câu cá ngừ đại dương” đề xuất chưa được đánh giá

Đề tài “Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa tỉnh

Phú Yên” trong khuôn khổ luận văn cao học là một bước tiếp theo hết sức cần thiết

trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ứng dụng của công trình nghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất

Mục tiêu chính của đề tài: Đánh giá hiệu quả khai vàng câu cá ngừ đại dương

do đề tài “Câu cá ngừ đại dương” đề xuất tại tỉnh Phú Yên

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Cá ngừ là đối tượng khai thác quan trọng ở vùng nước xa bờ và đang được sự đầu tư phát triển khai thác, chế biến và quản lý nguồn lợi của rất nhiều quốc gia trên thế giới Trong 30 năm qua, sản lượng khai thác cá ngừ đã tăng gấp đôi, từ 2 triệu tấn (1975) tăng lên hơn 4 triệu tấn (2005) Hiện nay, việc khai thác các đối tượng cá ngừ

đã đạt được trình độ phát triển cao Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đánh giá nguồn lợi cá ngừ, xác định ngư trường, sự di cư, tập tính sinh học cá ngừ ở các vùng biển nghiên cứu Các công nghệ mới khai thác cá ngừ đã phát triển rất mạnh ở nhiều nước Các đội tàu khai thác cá ngừ có qui mô lớn đã khai thác rất thành công bởi các nghề như: lưới vây cá ngừ; câu vàng; câu cần,…

Trong tổng số 4 triệu tấn cá ngừ đánh bắt được hàng năm trên thế giới, có tới 65% sản lượng khai thác ở Thái Bình Dương, 21% ở Ấn Độ Dương và 14% ở Đại Tây

Dương, trong đó cá ngừ vây vàng (thunnus albacares) chiếm đến 30% và cá ngừ mắt

to (thunnus obesus) chiếm khoảng 10%, cá ngừ vây ngực dài (thunnus alalunga)

chiếm 5%, tổng sản lượng cá ngừ thế giới (Joseph, 2003)

FAO (1997), đã xuất bản tập Tuna Atlat, giới thiệu sản lượng của từng loài cá ngừ hàng năm ở các vùng biển (1970 - 1993) Giới thiệu những bản đồ của một số thông số đặc trưng quan trọng liên quan đến sự phân bố của cá ngừ như nhiệt độ trung bình bề mặt nước biển hàng năm trên toàn thế giới; độ sâu của tầng nước đột biến nhiệt độ; nhiệt độ trung bình hàng năm ở các tầng nước sâu 100m và 250m; sản lượng khai thác của các loài cá ngừ bằng các phương pháp khai thác khác nhau

1.1.1 Nghiên cứu sự di cư của cá ngừ và xác định ngư trường

Cá Ngừ phân bố rất rộng ở tất cả các đại dương và có tính di cư cao Nhiều công trình nghiên cứu về sự di cư của cá Ngừ, nhưng đến nay con người vẫn có hiểu biết chưa đầy đủ về sự di cư này

Một số chương trình đánh dấu cá ngừ để nghiên cứu sự di cư của cá đã được tiến hành Chương trình “Nghiên cứu và đánh dấu cá ngừ” ở Ấn Độ Dương đã được bắt đầu từ năm 2002 và sẽ tiến hành trong 10 năm Riêng năm 2005 đã đánh dấu được 80.000 con cá ngừ (hầu hết là Cá ngừ Vây vàng và Cá ngừ Mắt to) Chương trình cũng nghiên cứu về ảnh hưởng của Elnino đến nguồn lợi cá Ngừ Nhờ vậy, bước đầu đã

Trang 13

nắm được quá trình di cư của các đàn cá Ngừ, giúp cho việc tổ chức khai thác có hiệu quả và bảo vệ nguồn lợi được tốt hơn [20]

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự phân bố của cá ngừ với điều kiện môi trường đã được tiến hành [13],[16],[18], [20] Một số công trình nghiên cứu đã phát hiện ra rằng sự phân bố của cá Ngừ gắn kết chặt chẽ với nhiệt độ nước biển Nhiệt độ thích hợp cho sự tập trung các đàn cá Ngừ vào khoảng từ 15 – 30 độ C, phổ biến nhất

là ở khoảng nhiệt độ từ 18 – 28 độ C Khi nhiệt độ của vùng nước bị nóng lên, cá Ngừ

có xu hướng di chuyển đến những vùng có nhiệt độ thấp phù hợp Dựa vào đặc tính này, kết hợp với kỹ thuật viễn thám [21], sẽ giúp cho việc xác định sự di chuyển của các đàn cá Ngừ Các ảnh chụp từ vệ tinh sẽ cho bản đồ nhiệt độ của cả một vùng biển rộng lớn với những vùng có màu sắc khác nhau, tương ứng với nhiệt độ bề mặt nước biển khác nhau Dựa vào sự thay đổi màu sắc của bản đồ nhiệt độ qua từng ngày, kết hợp với kết quả đánh bắt kiểm chứng, sẽ suy ra sự di chuyển và biết được sự phân bố của cá Ngừ (Stretta, 1991) Điều này rất có ý nghĩa cho đội tàu khai thác, giảm được chi phí nhiên liệu trong quá trình chạy tàu tìm cá và tăng hiệu quả khai thác rất nhiều Ngoài ra ảnh hưởng của các dòng hải lưu cũng tác động đến sự phân bố và di cư của cá Ngừ ở vùng biển phía Tây Thái Bình Dương, cá Ngừ thường tập trung theo dải

vĩ độ 20N - 20S và 30N - 60N, tương ứng với ảnh hưởng của dòng hải lưu xích đạo (EC) và dòng Hải lưu Ngược Xích đạo Bắc (NECC) Rõ ràng, các dòng hải lưu đã ảnh hưởng đến sự di chuyển của các đàn cá Ngừ [21]

Kết hợp với số liệu đánh bắt của nghề cá thương phẩm thông qua nhật ký và số liệu thu được từ các bến cá đã giúp cho việc đánh giá và xác định ngư trường Các kết quả nghiên cứu về ngư trường cá Ngừ được thể hiện trên các bản đồ ngư trường, giúp cho các tàu nâng cao được năng suất đánh bắt

1.1.2 Độ sâu phân bố của cá ngừ đại dương

Độ sâu phân bố cá Ngừ Đại dương cũng khác nhau theo từng loài và bị thay đổi bởi những yếu tố sinh học như là mật độ sinh vật phù du, cá nhỏ (ăn mồi), nhiệt độ nước, độ muối, dòng chảy và cường độ sáng

Một số tàu nghiên cứu như Shinro Maru, Magasaki Maru, Kysho Maru đã sử dụng máy dò cá có tần số 14Khz, 28Khz để nghiên cứu độ sâu phân bố của cá Ngừ phụ thuộc vào thời điểm trong ngày, vào lớp nước xáo trộn; địa hình đáy; loài cá Ngừ [22]

Trang 14

Các nghiên cứu đã xác định được rằng độ sâu bơi của cá khác nhau giữa ngày

và đêm Vào ban đêm, độ sâu bơi của cá ngừ mắt to khoảng 20 - 50m, nhưng vào ban ngày thường đạt đến 300m Có thể nói chắc chắn rằng độ sâu phân bố của Cá ngừ Mắt

to và vây vàng thường trong khoảng 50 - 200m (J.Hampton & K Bailey, 1993) [14]

Đa số các loài cá cỡ nhỏ như: Ngừ Vằn, ngừ Chù và cả những đàn Cá ngừ Vây vàng, Mắt to non tuổi (trọng lượng 2 - 5kg) thường phân bố gần mặt nước, vì vậy chúng dễ dàng bị đánh bắt bởi lưới vây [14]

1.1.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước biển đến sự phân bố của cá ngừ

Một số nghiên cứu trước đây cho rằng nhiệt độ nước biển phù hợp đối với sự phân bố của cá ngừ đại dương trong khoảng 18 – 280C

Nắm được sự phụ thuộc giữa nhiệt độ môi trường và sự phân bố của cá ngừ, đã giúp cho các tàu câu cá ngừ lựa chọn ngư trường có nhiệt độ phù hợp để khai thác Khi đến ngư trường, nếu đo nhiệt độ nước thấy quá nóng, thuyền trưởng có thể cho tàu chạy đến ngư trường có nhiệt độ nước phù hợp hơn, hoặc phải thả câu xuống sâu hơn

để có nhiệt độ nước phù hợp [5]

Ngày nay trên thế giới, kết quả của viễn thám kết hợp với điều tra trên biển đang được ứng dụng rộng rãi để đưa ra các thông tin dự báo sự phân bố và khu vực tập trung của cá Ngừ trên biển thông qua sự phân tích sự biến động nhiệt độ nước biển, mật độ thực vật phù du, bản đồ dòng chảy của cả một vùng biển rộng lớn Các phần mềm hiển thị nhiệt độ bề mặt nước biển trên toàn thế giới thông qua sự quan trắc từ vệ tinh cũng đã được ứng dụng Ứng với từng dải nhiệt độ nước biển, trên màn hình sẽ hiển thị các màu sắc khác nhau tương ứng; Căn cứ vào các dữ liệu thu được, ta có căn

cứ để xác định những khu vực tập trung cá ngừ Điều này sẽ hỗ trợ tốt và giảm chi phí tìm kiếm cá cho đội tàu khai thác cá ngừ [21]

Các tàu đánh cá ngừ công nghiệp đã và đang sử dụng các dịch vụ hỗ trợ đánh bắt cá ngừ thông qua vệ tinh Đó là các phần mềm như “Seastar”, “Catsat” Các phần mềm này sẽ cho biết các bản đồ qui mô toàn cầu về biến động của mực nước biển, bản

đồ về các dòng chảy, biểu hiện sự di chuyển của các khối nước và định vị các fron, các dòng xoáy đại dương; Bản đồ về sự phân bố của các khối nước giàu thực vật phù du; Bản đồ dự báo khí tượng để điều chỉnh các hoạt động đánh bắt và góp phần bảo đảm

an toàn cho các hoạt động trên biển Các số liệu này có thể truy cập 2 lần một tuần, riêng dự báo khí tượng có thể cập nhật hàng ngày

Trang 15

1.1.4 Ảnh hưởng của địa hình đáy biển đến sự phân bố của cá ngừ

Địa hình đáy biển cũng có ảnh hưởng đến sự phân bố của cá Ngừ Nhiều tàu đánh cá Ngừ của Nhật dùng máy dò để phát hiện các gò nổi và bãi cát ngầm, đây cũng chính là nơi cá Ngừ thường tập trung Quanh các gò nổi ở độ sâu 400 - 700m vùng Kyushu thường tập trung nhiều Cá ngừ Vây vàng và Ngừ Mắt to [20] Đàn cá thường tập trung ở phía trên nước so với gò nổi

Hanamoto, E (1987) đã dùng máy dò để quan sát lớp nước bơi của cá ngừ gần hai gò nổi cao 1000 - 2000m so với đáy biển Lớp nước bơi của cá ngừ nằm giữa hai

gò nổi sâu khoảng 100 - 200m Kết quả quan sát cho thấy độ sâu bơi của cá Ngừ trở nên nông hơn khi gần các gò nổi [20]

1.1.5 Đặc điểm sinh học cá ngừ mắt to (Thunnus obesus)

Cá ngừ Mắt to mặc dù phân bố rộng trong cùng vĩ độ với cá ngừ vây vàng, nhưng cá ngừ mắt to thường ưa thích nước lạnh nên sống sâu hơn chúng có đặc điểm

là lớn nhanh trong giai đoạn còn non, di chuyển giữa vùng ôn đới và nhiệt đới Cá thường đẻ ở vùng xích đạo với lượng trứng nhiều Người ta cho rằng cá ngừ Mắt to sống lâu hơn cá ngừ vây vàng nhưng không lâu như loài cá ngừ vây xanh [20]

Hình 1.1: Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus)

Cá ngừ Mắt to ăn mồi sâu hơn cá ngừ vây vàng, chúng ăn nhiều mực và cá nổi tầng giữa Cá non thường tập trung ở lớp nước xáo trộn gần tầng mặt cùng với những con cá ngừ vây vàng nhỏ có cùng kích thước Cá lớn thường ở tầng nước sâu hơn, lạnh hơn và có ít oxy hoà tan hơn so với cá ngừ vằn và cá ngừ vây vàng [20] Hanamoto (1987) ước tính vùng cư trú ưa thích của cá ngừ mắt to là ở nhiệt độ 100 - 150C, bình thường từ 100 - 290C, trong khoảng độ muối 34,5 - 35,5%0, nơi mà lượng oxy đạt trên 1ml/l

Trang 16

Vùng sinh đẻ của cá ngừ mắt to khá rộng ở TBD, trong vùng nhiệt đới nơi có vĩ

độ cao và nhiệt độ trên 240C ([40], Kume 1966; Miyabe 1994) Hisada (1979) [16], phát hiện rằng Cá ngừ Mắt to thường phân bố ở lớp nước xáo trộn, với độ sâu ít nhất 50m

Trong vùng biển TBD, cá ngừ mắt to phân bố rộng Ở phần phía tây TBD, cá phân bố từ phía Bắc Nhật Bản đến Bắc Newzeland, từ vĩ độ 400N đến 300S Sự phân

bố của cá ngừ phụ thuộc vào nhiệt độ nước và lượng oxy hoà tan Độ muối không đóng vai trò quan trọng trong sự phân bố của cá ngừ [20]

Schaefer và Fuller (2002) nhận thấy cá ngừ ở Đông TBD dùng hầu hết thời gian ban ngày ở độ sâu 200 - 300 m, với nhiệt độ 130 - 140C Chúng có thể lặn dưới 1.500m

và ở nhiệt độ <30 C

Vào ban ngày, cá ngừ mắt to thường tập trung ở độ sâu 220 - 240m và ban đêm nổi lên ở độ sâu 70 - 90m, [20] Tập tính di cư thẳng đứng, nổi lên đến tầng nước 50 - 70m cũng đã được Nguyễn Long (2005) khẳng định khi nghiên cứu về nghề câu vàng

cá ngừ đại dương [5]

1.1.6 Đặc điểm sinh học cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares)

Trong khi người ta cho rằng cá ngừ mắt to là cá ngừ phân bố trung gian giữa vùng nhiệt đới và vùng “nước lạnh”, thì cá ngừ vây vàng hoàn toàn là loài cá nhiệt đới [20] Cá ngừ vây vàng sống tập trung gần mặt nước ở tất cả các vùng đại dương ấm áp Chúng tập trung ở vùng nông, lớp nước ấm ở lớp nước xáo trộn phía trên, nghĩa là tầng nước mặt

Cá ngừ vây vàng phân bố rộng từ vĩ độ 350N - 350S ở Đông Thái Bình Dương (TBD) và 400N - 350S ở Trung Tây TBD Nhiệt độ phù hợp nhất đối với cá là 180 -

310C, lượng oxy hoà tan là 1,4 - 2 ml/l, nhiều hơn so với cá ngừ mắt to

Hình 1.2: Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares)

Trang 17

Cá ngừ Vây vàng hương và giống thường tập trung ở tầng mặt, còn cá lớn lặn sâu hơn ở dưới tầng nước xáo trộn [17]

Cá ngừ Vây vàng trưởng thành thường bắt gặp ở nhiệt độ 180 - 310C Độ mặn không ảnh hưởng đến sự phân bố của cá ngừ như nhiệt độ và độ trong của nước (Hisada, 1979) [15], [20]

Đã có nhiều dự án nghiên cứu sự di cư của cá ngừ bằng cách đánh dấu và thả xuống biển, sau đó bắt lại cá để biết sự di cư của cá Ví dụ: Dự án Đánh giá và Điều tra Cá Ngừ (SSAP) đã đánh dấu và thả 9.464 cá ngừ cây vàng, bắt lại được 264 con (2,8%); Dự án đánh dấu cá ngừ đã đánh dấu và thả 40.075 con cá ngừ vây vàng ở

Trung Tây TBD, bắt lại được 4.950 con [19], [20]

Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết cá đã thả bị bắt lại trong thời gian ngắn và cách xa nơi thả chỉ vài trăm hải lý Số lượng cá di cư xa bị bắt lại rất ít Khoảng cách

xa nhất là cá thả ở Fiji và bị bắt ở phía Đông TBD bằng tàu lưới vây Mỹ cách 3.800 hải lý Những điều này chứng tỏ cá ngừ cây vàng không phải loài di cư xa

Sự di cư của cá ngừ vây vàng có đặc điểm theo mùa: chúng đến vùng nước ấm

ở vĩ độ cao và trở về vùng vĩ độ thấp khi đến mùa đông (Suzuki,1978) Những ví dụ về tình trạng này có thể thấy ở Nhật Bản với cá ngừ vây vàng ở dòng hải lưu Kuroshio

Sự di chuyển của cá ngừ ở dòng hải lưu Đông Austraylia, hoặc sự xuất hiện theo mùa của cá ngừ vây vàng ở California và Newzeland [21]

Nhiều nghiên cứu cho rằng cá ngừ vây vàng dùng hầu hết thời gian sống ở lớp nước xáo trộn tầng mặt Cá ngừ vây vàng nhỏ ở Hawaii thường ở lớp nước xáo trộn hoặc ở trên tầng nhiệt đột biến, trong khi cá lớn dùng 60-80% thời gian ở trong hoặc ngay dưới lớp nước xáo trộn trong khoảng 100m sâu (Brill , 1994, [11])

Cá ngừ Vây vàng có thể lặn sâu tới 464m [40] Tuy nhiên số liệu gần đây nhất (Dagorn et all, 2006, [12]) cho rằng cá ngừ Vây vàng có thể lặn sâu tối đa đến 1.000m

1.1.7 Công nghệ khai thác cá ngừ

Nghề khai thác cá ngừ ở phía tây Thái Bình Dương là quan trọng nhất trong nghề khai thác cá ngừ của thế giới; đã cung cấp hơn nửa số cá ngừ khai thác của toàn cầu Năm 2004, cung cấp 2 triệu tấn cá ngừ, chiếm 78% sản lượng cá ngừ của Thái Bình Dương và hơn 50% sản lượng cá ngừ của toàn cầu

+ Khai thác các đàn cá di động

Trang 18

Đó là những đàn cá không bám chà, thường tập trung do có sự liên quan đến các điều kiện địa lí hải dương (các gò nổi, roi đất, vùng có dòng chảy xoáy, nước trồi - chìm…) Các đàn cá này thường di chuyển nhanh, xuất hiện giống như vùng nước sôi, sủi bọt, di chuyển với tốc độ 5 - 10 hải lý/giờ Việc bao vây các đàn cá này rất khó, thường phải kết hợp với việc cho ăn (để tập trung gọn và để cá sao nhãng với việc bao vây của ngư cụ) và đợi đến khi trời tối (cá khó phát hiện ra lưới)

Hiện nay, đang có xu hướng cải tiến kỹ thuật thao tác, tốc độ thả - thu lưới, kỹ thuật dò tìm và phát hiện đàn cá như sử dụng máy dò cá ngang (Sonar), máy bay, Rađa tìm chim…để có thể chuyển dần sang vây bắt đàn cá di chuyển tự do ngay vào ban ngày, giảm sự phụ thuộc vào chà

- Nghề câu vàng cá ngừ đại dương

Được phát triển mạnh với qui mô công nghiệp ở các nước và khu vực có nghề

cá phát triển như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc…Đội tàu câu của các nước này được

cơ giới hóa cao trong công tác thu, thả vàng câu Các nghiên cứu về ngư trường, tập tính cá, sự di cư của cá…đã hỗ trợ cho việc khai thác đạt hiệu quả cao

Vàng câu được trang bị trên các tàu này thường có chiều dài tới 100km, với số lượng lưỡi câu đạt đến 2.200 chiếc Chiều dài dây thẻo thường từ 20 - 25m; khoảng cách giữa các dây thẻo từ 40 - 50m; khoảng cách các phao ganh từ 300 - 350m Độ sâu làm việc của các lưỡi câu trong khoảng 50 - 200m

Các tàu câu vàng nói trên được áp dụng kỹ thuật và công nghệ bảo quản tốt nên duy trì được chất lượng và giá trị sản phẩm cao

- Nghề câu tay cá ngừ đại dương quanh chà

Lợi dụng đặc tính dựa chà của cá ngừ đại dương Người ta đã thả những cụm chà lớn ở những ngư trường có cá ngừ đại dương với độ sâu ngư trường lên tới 1.000 - 2.000m Ngư dân Philippin đã sử dụng các thuyền nhỏ và tiến hành câu cá ngừ đại dương bằng hình thức câu tay Lưỡi câu sử dụng mồi mực được thả ở độ sâu từ 50 - 150m

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu về cá ngừ đại dương ở trong nước mới chỉ tập trung chủ yếu vào điều tra nguồn lợi, đặc điểm sinh học, ngư trường khai thác Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa có điều kiện nghiên cứu sâu, các số liệu nghiên cứu còn mỏng Các nghiên

Trang 19

cứu về khai thác cá ngừ đại dương hầu như chưa được tiến hành có hệ thống, mà chỉ là các báo cáo nhỏ lẻ

+ Nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ

- Năm 1960, trong Chương trình hợp tác Việt - Xô, lần đầu tiên cá ngừ được tiến hành nghiên cứu trên các tàu nghiên cứu cá biển Việt - Xô (cũ) Khu vực nghiên cứu chủ yếu là Vịnh Bắc Bộ và một số chuyến biển nghiên cứu ở phía nam Vịnh

- Năm 1991 - 1993, đề tài KN04-01 đã tập trung nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ ở Vịnh Bắc Bộ và biển miền Trung Đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học

của các loài cá ngừ như: ngừ chù (auxis tharzard); ngừ chấm (euthynnus affinis); cá ngừ bò (thunnus tonggol); cá ngừ ồ (auxis rochei) ở vùng biển nghiên cứu và đã đưa ra

bản Atlat cá ngừ ở biển Việt Nam, 8 loài cá ngừ được mô tả cùng với các đặc điểm sinh học của chúng

- Năm 1994 - 1997, đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển quần đảo Trường Sa” đã nghiên cứu tổng hợp nguồn lợi sinh vật vùng ven đảo phía Nam và

Tây Nam quần đảo Trường Sa cho thấy, ở khu vực nghiên cứu có trên 400 loài hải sản, trong đó có trên 40 loài thu được bằng lưới rê, trên 10 loài thu được bằng nghề câu vàng Kết quả nghiên cứu cũng cho biết đặc điểm sinh học, năng suất khai thác, sản lượng của một số đối tượng chính như ngừ vằn Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu còn hẹp nên kết quả mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định

- Năm 1996 - 1997, Dự án “Khảo sát nguồn lợi biển Việt Nam” do JICA (Nhật

Bản) tài trợ đã sử dụng lưới rê nghiên cứu các loài cá nổi đại dương (như cá ngừ, cá đuối, ) ở khu vực biển xa bờ từ Đồng Hới đến Cà Mau Kết quả nghiên cứu đã xác định được thành phần loài và phân bố sản lượng của một số loài cá thường gặp vào 2 mùa gió Đông Bắc và Tây Nam

- Một số đề tài dự án đã được tiến hành như: Dự án “Thăm dò nguồn lợi hải sản phục vụ cho phát triển nghề cá xa bờ” năm 1998 - 1999; Đề tài “Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam” năm 2000 - 2002; Đề tài “Xây dựng mô hình dự báo cá khai thác và các cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam năm 2001 - 2004” Các đề tài trên đã cơ bản xác định được đối tượng khai thác

chính ở vùng biển xa bờ cho các loại nghề; nghiên cứu các đặc điểm sinh học của các đối tượng này; bước đầu xác định được một số ngư trường trọng điểm, mùa vụ, năng

Trang 20

suất khai thác của từng loại nghề; nghiên cứu về cơ cấu tàu thuyền; cấu tạo ngư cụ; công nghệ và kỹ thuật khai thác; công nghệ bảo quản sau thu hoạch và công tác dự báo ngư trường khai thác cho một số loại nghề chính trong hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam

- Đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi (chủ yếu

là cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to) và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ năm 2002 - 2004” đã đi sâu hơn vào

nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ, bước đầu có đánh giá cụ thể về nguồn lợi cá ngừ vằn, ngừ vây vàng và ngừ mắt to ở vùng biển xa bờ miền Trung và đông Nam Bộ

- Năm 2005-2006, Viện nghiên cứu Hải sản đã nghiên cứu thành công đề tài

“Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở

vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” Kết quả đề tài đã đề xuất vàng câu cải tiến

cho các tàu câu vàng cá ngừ đại dương của ngư dân tỉnh Phú Yên

+ Các đối tượng cá ngừ khai thác chủ yếu tại vùng biển Việt Nam

Theo kết quả điều tra của tác giả Đào Mạnh Sơn từ năm 2000 đến năm 2004 cho thấy họ cá thu ngừ là đối tượng khai thác chính của nghề câu vàng, chiếm 17,55-60,79% sản lượng câu vàng vụ Nam và 2,19 - 66,80% sản lượng câu vàng vụ Bắc Trong đó chủ yếu là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to

+ Trữ lượng và khả năng khai thác bền vững một số loài cá ngừ đại dương ở biển Việt Nam

Trong những năm gần đây số lượng tàu thuyền và cường lực đánh bắt ngày càng tăng, nhưng năng suất đánh bắt cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ lại có xu hướng giảm xuống Cá ngừ vằn là đối tượng khai thác chính của nghề lưới rê ở vùng biển xa

bờ cũng trong tình trạng tương tự

Tổng hợp các nguồn số liệu, trữ lượng cá ngừ vằn vùng biển xa bờ miền Trung

và Đông Nam Bộ ước tính vào khoảng 618.000 tấn, khả năng khai thác bền vững là 216.000 tấn; trữ lượng cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to vào khoảng 44.853 – 52.591 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 17.000 tấn (bảng 1.1)

Trang 21

Bảng 1.1: Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương

(Nguồn: Đào Mạnh Sơn, 2005)

bền vững (tấn)

Cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to 44.853 - 52.591 17.000

+ Ngư trường khai thác chính một số loài cá ngừ đại dương

Những kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy, cá ngừ đại dượng xuất hiện quanh năm ở vùng biển ngoài khơi miền Trung nước ta, mùa vụ khai thác chính từ tháng 11-

4 năm sau, mùa phụ từ tháng 5 - 10 Tuy nhiên, tháng 10 - 12, thời tiết xấu nên nhiều tàu không đi khai thác, ở nhà sửa chữa tàu, trang thiết bị và ngư cụ chuẩn bị cho mùa đánh bắt tiếp theo

Ngư trường khai thác cá ngừ đại dương ở nước ta gồm có 3 ngư trường chính là: Vùng biển xa bờ tỉnh Phú Yên, tọa độ 12000N-13000N, 110030E-112000E, , vùng biển tỉnh Khánh Hòa (12000N - 13000N, 110000E - 112000E và vùng biển phía Tây quần đảo Trường Sa (8000N - 10000N, 110000E - 115000E)

Ngư trường hoạt động nghề câu vàng cá ngừ đại dương thay đổi theo mùa Thông thường, những tháng đầu mùa (tháng 12 – 3 năm sau), tàu thường khai thác ở vùng biển Bắc Biển Đông, Đông Bắc Hoàng Sa, Bắc Trường Sa, các tháng giữa mùa (tháng 4 - 6) ở vùng biển Trường Sa, miền Trung và những tháng còn lại ở vùng biển Nam Trường Sa, Nam Biển Đông Như vậy, cá ngừ có tính di cư theo mùa (từ đầu năm đến cuối năm) từ Bắc xuống Nam

+ Nghề câu vàng khai thác cá ngừ đại dương ở Việt Nam

- Tàu thuyền làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương

Theo số liệu thống kê năm 2004, số lượng tàu câu vàng cá ngừ đại dương có 1.670 tàu, tập trung ở các đội tàu có công suất > 90CV là 921 chiếc (Bộ Thủy sản, 2004) Các tàu này chủ yếu tập trung ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, TP

Hồ Chí Minh

Phần lớn đội tàu làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương đều là tàu cỡ nhỏ, vỏ tàu được làm bằng gỗ có chiều dài từ 14 - 16m, lắp máy công suất < 150cv Từ khi có chương trình khai thác hải sản xa bờ của nhà nước năm 1997 trở về đây, số lượng tàu

Trang 22

thuyền có công suất máy lớn đã tăng lên đáng kể và cũng đã xuất hiện một số tàu mới hiện đại đóng bằng vỏ composite

Kết quả điều tra kích thước vỏ tàu của các đội tàu làm nghề câu vàng của đề tài

“Cá nổi lớn” ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa được trình bày trong bảng 1.2

Bảng 1.2: Kích thước trung bình vỏ tàu câu vàng theo nhóm công suất

(Nguồn: Đào Mạnh Sơn, 2005)

+ Các loại nghề câu vàng cá ngừ đại dương hiện có ở nước ta

Hiện nay nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở nước ta có thể chia thành hai loại là nghề câu theo mô hình câu công nghiệp và nghề câu thủ công

+ Nghề câu theo mô hình câu công nghiệp

Đây là nghề câu qui mô lớn, thường được áp dụng trên các tàu lắp máy từ 750cv với trang thiết bị hàng hải, khai thác, bảo quản sản phẩm đầy đủ hiện đại như: Máy thu dây câu chính (dây triên), máy thu dây nhánh (dây thẻo), máy thả câu, phao

200-vô tuyến, hầm cấp đông và nhiều thiết bị điện tử, hàng hải chuyên dụng khác đáp ứng tốt hoạt động khai thác dài ngày ở vùng biển xa bờ

Các tàu loại này có số lượng không nhiều (khoảng 45 chiếc), vỏ tàu hoặc bằng thép hoặc bằng composite có chiều dài từ 22 - 27m

Vàng câu được sử dụng thường có chiều dài từ 60 - 100 km Vàng câu được thả theo dạng có độ võng, vì vậy độ sâu làm việc của lưỡi câu trong khoảng 50 – 200m + Nghề câu theo mô hình câu thủ công

Nghề câu theo mô hình câu thủ công được áp dụng trên hầu khắp các tàu làm nghề câu vàng cá ngừ Số lượng các tàu câu theo mô hình này chiếm tới 97% tổng số tàu làm nghề câu cá ngừ đại dương

Vỏ tàu bằng gỗ, có chiều dài chủ yếu từ 13,5 - 18m, lắp máy từ 33 - 300cv Hầu hết các tàu chỉ có trang bị máy thu dây câu chính còn thô sơ, máy định vị vệ tinh, la

Trang 23

bàn, thông tin liên lạc Thiết bị và kỹ thuật bảo quản sản phẩm trên tàu còn thiếu và lạc hậu (chỉ sử dụng nước đá xay để bảo quản sản phẩm)

Tóm lại: năm 2005 để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu nhằm cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương trên các tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân, Bộ Thủy sản đã giao

cho Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện đề tài độc lập cấp Bộ: “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” (gọi tắt là đề tài “Câu cá ngừ đại dương”) Một trong những nội dung chính của đề tài là: Nghiên cứu cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương trên các tàu câu thủ công của ngư dân Sau khi hoàn thành, đề tài trên đã đề xuất mẫu vàng câu cá ngừ

đại dương cải tiến Tuy nhiên, hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương mà

đề tài “Câu cá ngừ đại dương” đề xuất chưa được đánh giá trong thực tế

Đề tài “Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên” trong khuôn khổ luận văn cao học là một bước tiếp theo hết sức cần

thiết trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ứng dụng của công trình nghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất

Trang 24

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Khảo sát hiện trạng nghề câu cá ngừ ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên

- Hiện trạng tàu thuyền

2.1.3 Đánh giá hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến

- Thi công vàng câu

- Bố trí thí nghiệm: sơ đồ bố trí thí nghiệm và số lượng mẻ câu thí nghiệm,

- Năng suất khai thác

- Hiệu quả kinh tế

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thực nghiệm và phân tích Ngoài

ra, còn sử dụng phương pháp phi thực nghiệm như phỏng vấn, điều tra tại các bến cá, khảo sát thực tiễn vv

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tổng quát

Tác giả tiến hành: thu thập số liệu hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở địa phương nghiên cứu Điều tra, khảo sát việc sử dụng vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến vào thực tiễn sản xuất

Trên cơ sở đó lựa chọn địa điểm, thiết bị và thời gian để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên biển

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.1.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại dương

Trang 25

- Trên cơ sở đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” đã chọn

địa phương nghiên cứu là thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tác giả cũng chọn cùng địa phương này để nghiên cứu

- Điều tra, phỏng vấn thuyền trưởng hoặc chủ tàu thu thập số liệu về tàu thuyền, ngư cụ và trang thiết bị, doanh thu, chi phí

- Khảo sát, lập bản vẽ kỹ thuật vàng câu cá ngừ đại dương: Tiến hành khảo sát, lập bản vẽ kỹ thuật vàng câu cá ngừ đại dương đang được sử dụng khai thác hải sản tại địa phương nghiên cứu, thông qua đo đếm thực tế vàng câu và phỏng vấn các chủ tàu, thuyền trưởng

- Trên tàu sản xuất, tiến hành phân tích sinh học với đối tượng khai thác chính: xác định loài, đo chiều dài kinh tế (FL); cân trọng lượng cá thể; xác định tình trạng cá mắc câu

- Kỹ thuật khai thác: thông qua việc phỏng vấn thuyền trưởng tại các bến cá, sau

đó trực tiếp đi biển trên tàu thí nghiệm nhằm phân tích, đánh giá kỹ thuật khai thác phù hợp với điều kiện trên tàu

2.2.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Địa điểm nghiên cứu là vùng biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ, là ngư trường khai thác chính của nghề câu vàng cá ngừ đại dương

- Thời gian tiến hành nghiên cứu được chọn vào mùa vụ chính của nghề câu vàng cá ngừ đại dương đó là mùa gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch năm sau)

- Để đánh giá hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến so với vàng câu truyền thống của ngư dân (gọi là vàng câu đối chứng), cả hai vàng câu được khai thác trên cùng một tàu, tàu được chọn nghiên cứu chính là tàu đã được đề tài cấp

Bộ “Câu cá ngừ đại dương” chọn nghiên cứu để đề xuất vàng câu cải tiến

a Tàu thuyền và trang thiết bị trên tàu

Tàu được sử dụng trong các chuyến nghiên cứu thử nghiệm là tàu: PY2979TS của ngư dân Tuy Hòa-Phú Yên có các thông số cơ bản sau:

- Chiều dài lớn nhất vỏ tàu: 15,50 m

- Chiều rộng lớn nhất vỏ tàu: 4,50 m

Trang 26

- Vật liệu vỏ tàu: Gỗ

- Ngư cụ phụ: lưới rê cá chuồn 37 tấm x 110m/tấm =4.070m

Để có mồi câu cá ngừ đại dương, tàu trang bị 1 vàng lưới rê đánh bắt cá chuồn

và 7 thúng chai câu mực xà

+ Lưới rê đánh bắt cá chuồn:

- Chiều dài vàng lưới : 4.070m

- Chiều dài rút gọn 1 tấm lưới: 110m

- Chiều cao kéo căng tấm lưới: 1,26m

- Số tấm lưới: 37 tấm, Kích thước mắt lưới: 2a = 36mm

- Vật liệu chỉ lưới PA sợi đơn  = 0,35mm

Bản vẽ khai triển, lắp ráp chi tiết và tổng quát lưới rê cá chuồn như phụ lục 1 + Thúng chai câu mực xà:

Sử dụng 7 thúng chai bằng che có chu vi miệng thúng 1,8 -2,0m, trên mỗi thúng

có 1 thuỷ thủ xuống câu với 1 bộ câu bao gồm: 1 bộ đèn chớp dụ mực, 1 bình ắc quy

và 1 bộ câu tay mực xà

+ Các thiết bị khai thác khác:

- Rổ câu: Để đựng dây triền và dây thẻo trên tàu dùng các rổ câu đan bằng tre;

rổ đựng dây triền có kích thước B x H = (1,2 x 0,9)m số lượng là 2 cái; rổ đựng dây thẻo có kích thước B x H = (1,0 x 0,9)m, số lượng là 5 cái Hình vẽ 2 loại rổ câu thể hiện trong phụ lục 1

- Dụng cụ bắt cá: Để bắt cá lên tàu dùng khấu tre, cấu tạo khấu tre bao gồm 1 đoạn tre dài 2 - 3m, đường kính 6 - 8cm một đầu buộc móc nhọn bằng Inox Trên tàu

có từ 2 - 3 khấu tre

b Vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng

Trang 27

Vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng là vàng câu đang được ngư dân sử dụng

để khai thác

Bản vẽ chi tiết vàng câu như hình 2.1, 2.2 và bảng thống kê như bảng 2.1

Bảng 2.1: Thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương tàu PY2979BTS

Số

Kích thước (m)

Đường kính (mm)

10 Dây liên kết dây triên và

16 Ống luồn ở mối liên kết

17 Ống luồn ở mối liên kết

18 Ống luồn ở mối liên kết

Trang 28

Hình 2.1: Bản vẽ tổng thể vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng

630x11,2m

bện tết 6

2.925,0 m

Trang 29

Hình 2.2: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng

Trang 30

c Vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến

Vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến được tác giả thi công trên cơ sở vàng câu mà

đề tài cấp Bộ “Câu cá ngừ đại dương” đề xuất

Bản vẽ chi tiết vàng câu như hình 2.3, 2.4 và bảng thống kê tại bảng 2.2

Bảng 2.2: Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến

(kg)

Trang 31

Hình 2.3: Bản vẽ tổng thể vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến dùng thí nghiệm

200x42m

4000m

Trang 32

Hình 2.4: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương

cải tiến dùng để thí nghiệm

Trang 33

Hình 2.5: Tàu PY92979TS nghiên cứu thử nghiệm vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 2.2.2.4 Phạm vi thử nghiệm

Vàng câu đối chứng và vàng câu cải tiến được tiến hành đánh bắt thử nghiệm ở vùng biển quần đảo Trường Sa với 02 chuyến biển Vị trí thử nghiệm các mẻ câu được trình bày như hình 2.6

Trang 34

+ Năng suất đánh bắt trung bình (Sparre & Venema, 1995) là đại lượng được biểu diễn trên một đơn vị cường lực Đối với nghề câu vàng cá ngừ đại dương đại lượng này thường biểu diễn bằng (kg/100 lưỡi câu)

Trang 35

2.2.4 Phân tích và xử lý số liệu

- Tiến hành phân tích và kiểm tra, loại bỏ sai số thô không đảm bảo mẫu thống

kê ngẫu nhiên

- Số liệu tiến hành xử lý theo phần mềm Microsoft Office excel, Autocad, MapInfo

- Xử lý, tính toán giá các giá trị trung bình; độ lệch chuẩn; sai số chuẩn; giới hạn

và khoảng tin cậy 95%; và hệ số biến thiên theo phương pháp thống kê mô tả:

+ Trung bình:

N

X X

N

i i

) (

N

i i

j

1 1

Catch là tổng sản lượng đánh bắt của mẻ lưới thứ j

- Kiểm định đánh giá trị các trung bình của vàng câu cải tiến so với vàng câu đối chứng theo phương pháp t-Test với  =0,05

Trang 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa-Phú Yên

3.1.1 Cơ cấu nghề nghiệp nghề khai thác hải sản tỉnh Phú Yên

Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản tỉnh Phú Yên

Số tàu theo nghề và nhóm cống suất Nhóm công

Tỷ lệ (%)

Kết quả bảng 3.1 cho thấy:

- Số tàu thuyền lắp máy có công suất nhỏ hơn 20cv chiếm tỷ lệ lớn: 62,04% và máy có công suất từ 20-49cv chiếm 20,79%; công suất máy từ 50-89cv chiếm 8,60% còn lại khối tàu có công suất máy chính >90cv chỉ chiếm có 8,57% tổng số tàu thuyền trong toàn tỉnh

- Cơ cấu nghề nghiệp gồm có 04 nhóm nghề chính là nghề lưới rê, nghề lưới kéo, nghề lưới vây và nghề câu vàng cá ngừ đại dương Trong đó, nghề lưới rê chiếm

tỷ lệ cao nhất 63,19%; nghề lưới kéo chiếm 8,98%; nghề lưới vây chiếm 5,02% và nghề câu vàng cá ngừ đại dương có 6,57% tổng số tàu thuyền tỉnh Phú Yên

- Mặc dù đội tàu làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số tàu thuyền toàn tỉnh nhưng lại là đội tàu có công suất lớn Đội tàu này tập trung chủ yếu ở thành phố Tuy Hòa

- Kết cấu vỏ tàu các loại tàu khai thác thuỷ sản trong tỉnh Phú Yên chủ yếu là

vỏ gỗ Kích thước vỏ tàu cho thấy nhóm tàu có chiều dài từ 8m đến dưới 15m chiếm tỷ

lệ khoảng 71,1%, nhóm tàu có chiều dài dưới 8m chiếm khoảng 26,5% và nhóm tàu có chiều dài từ 15m đến dưới 20m chiếm tỷ lệ 2,4% trong tổng số tàu thuyền tỉnh Phú Yên Đội tàu câu vàng cá ngừ đại dương có chiều dài lớn chiếm tỷ lệ cao hơn cả

Trang 37

- Tổng số tàu làm nghề câu cá ngừ đại dương là 475 chiếc, trong đó tập trung chủ yếu ở thành phố Tuy Hòa: 398 chiếc, còn lại là ở huyện Tuy An có: 77 chiếc

Bảng 3.2: Biến động tỷ lệ ngành nghề khai thác theo kích thước vỏ tàu tại tỉnh Phú

3.1.2 Đối tượng, mùa vụ và ngư trường khai thác

Đối tượng khai thác chính của nghề câu vàng cá ngừ đại dương là: cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá cờ, cá mập… Trong đó, cá ngừ đại dương chiếm khoảng 80% tổng sản lượng cá đánh bắt được

Mùa vụ khai thác chính của nghề câu vàng cá ngừ đại dương bắt đầu từ tháng

11 đến tháng 6 âm lịch và những tháng đánh bắt sản lượng thấp từ tháng 7 đến tháng

10 âm lịch

Đầu vụ đánh bắt ở ngư trường có vĩ độ từ 150-190N và kinh độ từ 1100- 1170E

Về cuối vụ, ngư trường dịch chuyển dần xuống phía Nam ở vĩ độ từ 70-100N Ngư trường đánh bắt của nghề câu vàng cá ngừ đại dương tập trung chủ yếu ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi có độ sâu từ 500 – 4000m

3.1.3 Đặc tính kỹ thuật tàu thuyền làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương

3.1.3.1 Thông số cơ bản vỏ tàu:

Bảng 3.3: Thông số cơ bản vỏ tàu làm nghề lưới câu vàng cá ngừ đại dương

Nhóm công

Chiều dài (m)

Chiều rộng (m)

Chiều cao (m)

Ngày đăng: 15/08/2014, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Long; 2006; Nghiên cứu cải tiến ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ; Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cải tiến ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ
Tác giả: Nguyễn Long
Nhà XB: Báo cáo tổng kết đề tài
Năm: 2006
9. Đinh Văn Ưu (2004), Xây dựng mô hình dự báo khai thác cá và cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam, Báo cáo tổng kết Đề tài, 1iện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình dự báo khai thác cá và cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ưu
Nhà XB: Báo cáo tổng kết Đề tài
Năm: 2004
12. Dagorn L., K.N. Holland, J-P. Hallier, M. Taquet, G. Moreno, G. Sancho, D. G. Itano, R. Aumeeruddy, C. Girard, J. Million and A. Fonteneau, (2006); Deep diving behavior observed in yellowfin tuna (Thunnus albacares); Aquat. Living Resour.19, 85–88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Deep diving behavior observed in yellowfin tuna (Thunnus albacares)
Tác giả: Dagorn L., K.N. Holland, J-P. Hallier, M. Taquet, G. Moreno, G. Sancho, D. G. Itano, R. Aumeeruddy, C. Girard, J. Million, A. Fonteneau
Nhà XB: Aquat. Living Resour.
Năm: 2006
20. Kitty Simonds and William L. Robinson; 2006; Management measures for Pacific Bigeye Tuna and Western and Central Pacific Yellowfin Tuna; Wes- tern Pacific Regional Fishery management Concil- Honolulu-Hawaii Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management measures for Pacific Bigeye Tuna and Western and Central Pacific Yellowfin Tuna
Tác giả: Kitty Simonds, William L. Robinson
Nhà XB: Western Pacific Regional Fishery Management Council
Năm: 2006
1. Nguyễn Tiến Cảnh (2004), Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi trường vùng biển quần đảo Trường Sa, Báo cáo tổng kết dự án, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
2. Bùi Đình Chung và CTV (1997), Kết quả nghiên cứu nguồn lợi và công cụ khai thác hải sản ở quần đảo Trường Sa, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
3. Trần Định, Phạm Quốc Huy (2002), Đặc điểm sinh học cá ngừ mắt to (Thunnus obesus - Lowe, 1839) và cá ngừ vây vàng (Thunnus anbacares - Bonnaterre, 1788) ở vùng biển Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
4. Trần Định, Đào Mạnh Sơn (1999), Dẫn liệu ban đầu về tình hình nguồn lợi cá vùng biển quần đảo Trường Sa, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
6. Nguyễn Công Rương 1987), Mối liên quan của một số yếu tố môi trường đến sự phân bố và biến động của các bãi cá chính vùng biển miền Nam Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
7. Đào Mạnh Sơn (2003), Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp Phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt nam, Tài liệu Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
8. Đào Mạnh Sơn (6/2005), Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi (chủ yếu là cá ngừ vằn, ngừ vây vàng, ngừ mắt to) và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
10. Chu Tiến Vĩnh, Trần Định (1993), Đặc điểm sinh học, phân bố, di cư cá ngừ ở biển Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài KN04.01, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
11. Brill, R.; 1994; A review of temperature and oxygen tolerance studies of tunas pertinent to fisheries oceanography, movements models and stock assessments;Fish. Oceanogr., 3 (3): 204-216 Khác
13. Hanamoto, E. 1987. Effect of oceanographic environment on bigeye tuna distribution. Bulletin of the Japanese Society of Fishery Oceanography 51:203-2 Khác
14. John Hampton and Kevin (1993), Fishing for Tuna associated with Floating object, A review of the western pacific fishery, Tuna and billfish Assessment Programe, Technical Report No 31, Noumea Caledonia Khác
15. John Hampton; 2002; Stock assessment of yellowfin tuna in the western and central Pacific Ocean; Oceanic Fisheries Pogramme Secretariat of the Pacific Community, Noumea, New Caledonia Khác
16. Hisada ;1979; Relationship between water temperature and maturity of bigeye tuna caught by longline in the central and eastern tropical Pacific Ocean Khác
17. Magnuson, J.J., 1978. Locomotion by scombrid fishes: hydrodynamics, morphology, and behavior. Fish Physiol., 7: 239-313 Khác
18. Mark N. Maunder and Shelton J. Harley; 2002; Status of bigeye tuna in the eastern Pacific Ocean in 2001 and outlook for 2002; Inter-American Tropical Tuna Commission (IATTC), La Jolla, CA, USA Khác
19. Miyabe. N; 1994; Japanese yellowfin tuna fisheries in the western and central Pacific and updated CPUE from those fisheries; Paper presented at the 4th Meeting of the Western Pacific Yellowfin Tuna Research Group, Koror, Palau, 9-11 August 1994. S. Pac. Comm. 12 p Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 1.1 Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) (Trang 15)
Hình 2.1: Bản vẽ tổng thể vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 2.1 Bản vẽ tổng thể vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng (Trang 28)
Hình 2.2: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 2.2 Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng (Trang 29)
Bảng 2.2: Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Bảng 2.2 Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến (Trang 30)
Hình 2.5: Tàu PY92979TS nghiên cứu thử nghiệm vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến  2.2.2.4 - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 2.5 Tàu PY92979TS nghiên cứu thử nghiệm vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 2.2.2.4 (Trang 33)
Hình 2.6: Vị trí nghiên cứu thử nghiệm - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 2.6 Vị trí nghiên cứu thử nghiệm (Trang 34)
Bảng 3.4: Thống kê máy chính và máy phụ trang bị trên tàu - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Bảng 3.4 Thống kê máy chính và máy phụ trang bị trên tàu (Trang 38)
Hình 3.2: Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 3.2 Bản vẽ lắp ráp chi tiết vàng câu cá ngừ đại dương (Trang 41)
Bảng 3.9:  Tổng hợp các mẻ câu thí nghiệm vàng câu đối chứng của tàu PY92979TS - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Bảng 3.9 Tổng hợp các mẻ câu thí nghiệm vàng câu đối chứng của tàu PY92979TS (Trang 46)
Hình 3.3: Năng suất khai thác vàng câu cải tiến và vàng câu đối chứng - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Hình 3.3 Năng suất khai thác vàng câu cải tiến và vàng câu đối chứng (Trang 51)
Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế của 1 số tàu câu cá ngừ đại dương - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế của 1 số tàu câu cá ngừ đại dương (Trang 52)
BẢNG GHI KẾT QUẢ TỪNG MẺ CÂU VÀNG CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG THÍ NGHIỆM - Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố tuy hòa tỉnh phú yên
BẢNG GHI KẾT QUẢ TỪNG MẺ CÂU VÀNG CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG THÍ NGHIỆM (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w