BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN CHÂU LONG ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỀ NUÔI CÁ BỐNG BỚP Bostrichthys sinensis Lacepèd
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN CHÂU LONG
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỀ NUÔI CÁ
BỐNG BỚP (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801)
THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Châu Long
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỀ NUÔI CÁ
BỐNG BỚP (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801)
THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số: 60 62 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM XUÂN THỦY
Nha Trang - 2011
Trang 3i
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặc điểm sinh học cá bống bớp (B.sinensis) 4
1.1.1 Hình thái và phân loại 4
1.1.1.1 Phân loại 4
1.1.1.2 Hình thái và đặc điểm nhận dạng 4
1.1.2 Phân bố 5
1.1.2.1 Phân bố theo địa lý 5
1.1.2.2 Phân bố theo vùng sinh thái 6
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 7
1.1.4 Đặc điểm về sinh trưởng và phát triển 8
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 14
1.1.5.1 Sự phân biệt đực cái và chuyển đổi giới tính 14
1.1.5.2 Tuổi và kích thước thành thục sinh dục 16
1.1.5.3 Mùa vụ di cư và tập tính sinh sản 16
1.1.5.4 Sức sinh sản 17
1.1.5.5 Phát triển phôi 17
1.1.5.6 Cá bột 20
1.1.6 Khả năng thích ứng với một số yếu tố môi trường 20
1.2 Những nghiên cứu về cá bống bớp ở Việt nam 21
1.3 Tình hình nuôi cá bống bớp tại Việt Nam 23
1.3.1 Các hình thức nuôi cá bống bớp tại Việt Nam 24
1.3.2 Một số bệnh thường gặp trên cá bống bớp 24
1.4 Điều kiện tự nhiên và sự phát triển thủy sản tại tỉnh Nam Định 25
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 25
1.4.2 Sự phát triển ngành thủy sản tại tỉnh Nam Định 26
1.4.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội về nuôi trồng thủy sản tỉnh Nam Định 28
Trang 4ii
CHƯƠNG 2 29
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp luận 29
2.3 Thu thập số liệu 29
2.3.1 Số liệu thứ cấp 29
2.3.2 Số liệu điều tra 29
2.4 Xử lý và phân tích số liệu 30
2.4.1 Xử lý số liệu 30
2.4.2 Phân tích số liệu 31
2.5 Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất 31
2.6 Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế 32
CHƯƠNG 3 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi cá bống bớp tại Nam Định 34
3.1.1 Những thông tin về chủ hộ nuôi cá bống bớp 34
3.1.1.1 Tuổi của chủ hộ 34
3.1.1.2 Giới tính của chủ hộ nuôi cá bống bớp 34
3.1.1.3 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi cá 35
3.1.1.4 Trình độ chuyên môn của chủ hộ 35
3.1.1.5 Số lượng chủ hộ có sử dụng điện thoại di động 36
3.1.2 Thông tin về chủ hộ nuôi cá bống bớp 36
3.1.2.1 Số nhân khẩu và lao động của chủ hộ nuôi 36
3.1.2.2 Đất đai của chủ hộ nuôi cá bống bớp 36
3.2 Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm tại Nam Định 37 3.2.1 Đặc điểm ao nuôi 37
3.2.1.1 Diện tích 37
3.2.1.2 Độ sâu ao nuôi cá 37
3.2.1.3 Hệ thống cấp thoát nước 37
3.2.1.4 Chất đáy ao nuôi cá 37
Trang 5iii
3.2.1.5 Kỹ thuật cải tạo ao nuôi 38
3.2.2 Con giống 41
3.2.3 Thời vụ nuôi cá 41
3.2.4 Thức ăn và phương pháp cho ăn 41
3.2.5 Trang thiết bị dùng cho ao nuôi cá bống Bớp thương phẩm 42
3.2.6 Quản lý chăm sóc 43
3.2.7 Các loại bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị 44
3.3 Kết quả và hiệu quả kinh tế xã hội 47
3.3.1 Kết quả và hiệu quả của các mô hình nuôi cá bống bớp thương phẩm tại Nam Định 47
3.3.2 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kết quả sản xuất 49
3.3.3 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 1 ha ao nuôi cá bống bớp thương phẩm 50
3.3.4 Hiệu quả về mặt xã hội 52
3.4 Kiến nghị và phương hướng phát triển của các chủ hộ nuôi cá bống bớp thương phẩm 53
3.4.1 Các nguồn vốn hộ nuôi cá có thể tiếp cận 53
3.4.2 Các khó khăn cơ bản trong quá trình nuôi cá 54
3.4.3 Hướng phát triển của chủ hộ nuôi cá bống bớp 55
3.4.4 Kiến nghị của hộ nuôi cá bống bớp thương phẩm 55
CHƯƠNG 4 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 56
4.1 Kết Luận 56
4.2 Đề xuất ý kiến 57
TẠI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC
Trang 61
LỜI CẢM ƠN
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Xuân Thủy – Viện trưởng viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản, trường Đại học Nha Trang, là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lại Văn Hùng, PGS.TS Nguyễn Đình Mão, PGS.TS Đỗ Thị Hòa, TS Ngô Anh Tuấn, trường Đại học Nha Trang, đã giúp đỡ tôi trong việc xây dựng và hoàn thiện đề cương nghiên cứu
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi nhận được sự đồng tình và giúp đỡ rất nhiều
từ gia đình, bố mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, các ban ngành: khoa Nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nha Trang, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nam Định, Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư tỉnh Nam Định, Chi cục bảo vệ và phát triển nguồn lợi tỉnh Nam Định, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Hải Hậu – tỉnh Nam Định đã giúp cho sự thành công của đề tài này
Xin trân trọng cảm ơn !
Nha trang ngày 5 tháng 3 năm 2011
Tác giả Nguyễn Châu Long
Trang 72
LỜI MỞ ĐẦU
Cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801) là một trong những loài cá
kinh tế có giá trị cao ở vùng nước lợ, nhờ thịt thơm ngon, bổ dưỡng, giá cả hấp dẫn, đồng thời cá có khả năng sống rất lâu khi ra khỏi môi trường nước nên được thị trường nội địa và rất nhiều thị trường khác ưa chuộng như: Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc Do việc chặt phá rừng ngập mặn ngày càng gia tăng để đắp đầm nuôi tôm, lạm dụngthuốc và hoá chất độc hại trong các khu vực nuôi trồng thuỷ sản cùng với việc khai thác triệt để con giống đã làm cho nguồn lợi tự nhiên của cá bống bớp ngày càng giảm sút nghiêm trọng
Cá bống bớp là đối tượng dễ nuôi, có sức chịu đựng cao với sự thay đổi môi trường, cá sống được ở độ mặn từ 2 – 32‰ và có thể nuôi được ở tất cả các vùng nước lợ ven biển Cá bống bớp là loàidễ tiêu thụ cả ở thị trường trong và ngoài nước, giá cả khá
ổn định (trên 170.000đ/kg) do đó mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho người nuôi Trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, nghề nuôi tôm, cua biển và nhiều đối tượng khác đang gặp nhiều khó khăn về dịch bệnh, nghề nuôi cá bớp cần phát triển để bù đắp phần diện tích nuôi tôm đang nhiễm bệnh Phát triển nuôi cá bống bớp cần có nguồn giống đảm bảo số lượng, chất lượng, kích cỡ và chủ động về thời gian Hiện nay, nghề nuôi cá bống Bớp tập trung chủ yếu ở các tỉnh ven biển Bắc Bộ như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình nhưng tỉnh Nam Định là nơi có diện tích nuôi và sản lượng cao nhất Những năm gần đây, sản lượng nuôi cá bống bớp của Nam Định tăng trưởng rất nhanh: năm 2009 diện tích nuôi là 163 ha, sản lượng đạt 715 tấn, bằng 100,2% so với năm 2008 [35]) Hiện nay nhiều vùng ven biển trong cả nước người ta quan tâm và mong muốn được nuôi đói tượng này Theo ghi nhận của Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư tỉnh Nam Định thì riêng trong năm 2008 có 5 đoàn khách từ Trung tâm khuyên nông – khuyến ngư Quốc gia, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa đến Nam Định để thăm quan và học hỏi kinh nghiệm nuôi loài cá bớp một trong những loài cá có giá trị kinh tế cao này Vì vậy
Trang 83
cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ hiện trạng kỹ thuật cũng như hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm tại Nam Định
Được sự đồng ý của khoa Nuôi trồng Thủy sản - trường Đại học Nha Trang, tôi
thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
nghề nuôi cá bống Bớp (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801) thương phẩm tại tỉnh
Nam Định”
ĐỀ TÀI GỒM CÁC NỘI DUNG CHỦ YẾU SAU:
1 Điều tra và đánh giá hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi cá bống bớp
a Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm
b Hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi cá bống bớp
c Hiệu quả xã hội của các hộ nuôi cá bống bớp
2 Kết quả và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá bống Bớp thương phẩm
Thực hiện đề tài này, với mục đích nghiên cứu các thông số kỹ thuật chủ yếu của
ao nuôi cá bống bớp thương phẩm ở tỉnh Nam Định, các giải pháp kỹ thuật nuôi và đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi Những kết quả thu được của đề tài mong rằng
sẽ giúp ích cho việc quy hoạch và phát triển nghề nuôi cá bống Bớp thương phẩm đúng hướng, đồng thời tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản trị kinh
tế cho người nuôi
Đây là một trong những đề tài đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về các vấn đề kỹ thuật và các khía cạnh kinh tế của nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm Đề tài còn nhằm mục đích bổ sung, hoàn thiện phương pháp điều tra và xử lý các số liệu trong thống kê kinh tế và đánh giá hiệu quả kinh tế –xã hội cho một vùng nuôi trồng thủy sản
Trang 94
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BỚP (Bostrichthys sinensis Lecépède, 1801) 1.1.1 Hình thái và phân loại
- Vị trí phân loại của cá bống Bớp Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801
Giới Animalia
Ngành Chordata Lớp Actinopterygii
Bộ Perciformes
Họ Eleotridae Chi Bostrichthys
Loài Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801
1.1.1.2 Hình thái và đặc điểm nhận dạng
Lacépède (1801) mô tả cá bống Bớp có thân tròn, dài, hơi dẹt hai bên Toàn thân phủ vảy nhỏ, vẩy ở đầu thoái hoá nhiều Đầu rộng và dẹt, mõm tù, mắt bé Miệng rộng, dài đến viền sau của mắt, hàm dưới không nhô ra Xương lá mía, xương khẩu cái có răng, xương nắp mang dưới không có gai Hai vây bụng cách xa Toàn thân cá có màu xám, mặt lưng sẫm, mặt bụng nhạt hơn Phía trên gốc vây đuôi có một chấm đen lớn, rìa ngoài chấm có viền màu trắng nhạt Công thức vây: D1I-6, D2I-9, A.I.19, P.17, C.17, V.I.5
Trang 10Bảng 1.1 Phân bố cá bống bớp ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, năm 1997-1998
Đặc điểm môi trường Địa điểm
pH Độ muối Chất đáy
Tần suất bắt gặp
1 Tiên Yên ( Quảng Ninh ) 7,27,8 20 30 Cát sét +
2 Đồ Sơn ( Hải Phòng ) 7,07,5 15 22 Bùn cát +++
3 Tiền Hải ( Thái Bình ) 7,17,8 10 20 Cát bùn +++
4 Nghĩa Hưng ( Nam Định ) 7,07,6 10 22 Cát bùn +++
5 Hoàng Hóa ( Thanh Hoá ) 6,97,8 18 27 Cát bùn ++
Trang 116
Cá bống bớp phân bố ở các bãi triều ven biển và vùng cửa sông Độ sâu từ 0,2 - 1,5m, nơi có chất đáy là bùn cát, cát bùn và sét pha Độ muối dao động từ 0,3 - 250/00 Quan sát dọc theo bờ biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình cho thấy vùng phân bố tập trung lớn nhất của cá bớp từ cửa Nam Triệu đến cửa sông Ba Lạt, nơi có rừng ngập mặn Kết quả điều tra thực tế được trình bày ở bảng 1.1
Số liệu bảng 1.1 cho thấy cá bớp phân bố ở hầu hết các khu vực miền Bắc nước ta Tuy nhiên, có thể nhận thấy cá bớp tập trung nhiều nhất tại khu vực Hải Phòng, Thái Bình
và Nam Định, các khu vực khác mức độ tập trung ít hơn
1.1.2.2 Phân bố theo vùng sinh thái
Ở miền bắc nước ta, cá bống Bớp phân bố từ Quảng Ninh đến Quảng Bình Theo kết quả khảo sát của tác giả Trần Văn Đan, “Đặc điểm tự nhiên ở các vùng có cá bống bớp phân bố” (2004)
- Nhiệt độ nước: Kết quả điều tra tổng hợp vùng biển ven bờ Hải Phòng - Quảng
Ninh cho thấy, từ tháng 11 đến tháng 3 là thời kỳ có nhiệt độ nước biển ổn định dưới
20oC Từ tháng 5 đến tháng 9 là thời kỳ có nhiệt độ nước biển ổn định trên 25oC [15]
- Độ muối (S0/00): Kết quả khảo sát từ 1971 đến năm 1991 ở vùng biển ven bờ Hải Phòng cho thấy, ở khu vực từ cửa Lạch Huyện đổ lên phía Bắc, nước thường xuyên có độ mặn cao và ổn định Độ muối trong năm giao động trong khoảng 20-31 ‰ Khu vực từ cửa Nam Triệu xuống Phía Nam, nước có độ muối thấp và biến động mạnh từ 5-21‰ Mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) độ mặn của nước khá cao và ổn định 20-31‰ Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), độ muối ở vùng ven biển Hải Phòng thường thấp và biến động mạnh, sự phân tầng của nước khá rõ Biến động theo ngày của độ muối cũng khá lớn, trung bình đạt đến 10-15 ‰ [10]
- Độ pH: Kết quả điều tra tổng hợp Vịnh Bắc Bộ năm 1962 cho thấy ở khu vực ven
bờ phía Bắc vịnh, tháng 8 có trị số pH cao nhất trong năm (pH: 8,34) và tháng 12 có trị số thấp nhất (pH: 8,2), sự chênh lệch về trị số pH trong năm là 0,14 Khu vực ven bờ phía Tây vịnh, trị số pH ổn định và tương đối thấp (pH < 8,25) vào mùa đông và đầu xuân Trị
số pH tăng lên rất nhanh vào cuối xuân và mùa hè (pH> 8,3) Riêng vùng ven biển Hải Phòng, trị số pH nằm trong khoảng 7,8 – 8,35 [10]
Trang 127
- Ô xy hoà tan: Theo kết quả điều tra tổng hợp biển Vịnh Bắc Bộ năm 1962 thấy rằng, ở khu vực ven bờ phía Bắc vịnh, hàm lượng oxy tầng mặt cao nhất vào tháng một (5,5 mg/l) và thấp nhất vào tháng 7 (4,5 mg/l), biên độ biến đổi trong năm là 1,0 mg/l Xu thế biến động hàm lượng oxy trong tầng đáy giống với tầng mặt nhưng thời gian có trị số thấp nhất muộn hơn một tháng Ở ven bờ phía tây vịnh, hàm lượng oxy có trị số cao nhất vào tháng 2 (5,4 mg/l), từ tháng 7 đến tháng 9, hàm lượng oxy đều thấp (4,6 mg/l), biên
độ biến đổi trong năm 0,8 mg/L [9] Các số liệu quan trắc gần đây (1995-1998) cho thấy, hàm lượng oxy hoà tan trung bình tại các trạm quan trắc ven bờ phía Bắc (cửa Lục, Đồ Sơn, Ba Lạt, Sầm Sơn và Cửa Lò) thấp nhất là 6,28 mg/l (1998) và cao nhất là 7,53 mg/l (1995)
- Sinh vật phù du: Vùng bãi triều ở vùng rừng ngập mặn thuộc Liên Vị (Quảng Ninh) năm 1994 có 85 loài thực vật phù du (TVPD), động vật phù du (ĐVPD) có thành phần nhiều nhất là Copepoda có 33 giống Số lượng thực vật phù du có 518.800 tb/m3 và ĐVPD là 6.004 cá thể/m3 Đỉnh cao nhất về số lượng TVPD là tháng 8, 9 và thấp nhất là tháng 4 Với ĐVPD thì chỉ có tháng 7 là có số lượng cao nhất (7) Sinh vật phù du cũng thay đổi theo mùa Điều tra sự biến động của sinh vật phù du theo mùa ở ven bờ Vịnh Bắc
Bộ cho kết quả: Sinh vật lượng ĐVPD vào mùa đông là 69,51 mg/m3 và TVPD là 2.694.103 tb/m3, mùa xuân là 58,92 mg/m3 và TVPD là 1.149.103 tb/m3; mùa hạ là 93,28 mg/m3 và 1.654.103 tb/m3 TVPD; mùa thu là 63,61 mg/m3 ĐVPD và 2.207.103 tb/m3 TVPD [14]
- Động vật đáy: Đến nay đã phát hiện 541 loài động vật đáy ở vùng triều ven biển phí Bắc nước ta Vùng bãi triều thuộc các cửa sông Ba Lạt, Ninh Cơ, Đáy và cửa Càn có
số lượng sinh vật đáy cao, từ 31÷142 mg/m2 (mùa khô), từ 65,4 ÷152,3 mg/m2 (mùa mưa) Sông Trà Lý và Sông mã đạt thấp nhất từ 10÷12,5 g/m2 (mùa khô) [18] Động vật đáy làm thức ăn chủ yếu cho cá là giáp xác, giun nhiều tơ (Polychaeta) Khu hệ động vật đáy trong vùng chủ yếu là những loài rộng nhiệt và rộng muối [17]
Việc quan tâm đầy đủ các đặc điểm tự nhiên cũng như điều kiện sinh sống là cơ sở khoa học cho việc đánh giá hiện trạng nuôi cá bống Bớp thương phẩm tại Nam Định
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Trang 138
- Nghiên cứu về thức ăn và tính ăn: Li Huimei, Zhang Dan, Phi Pin Hua (1987) mô
tả cá bống Bớp là loại ăn thịt động vật, cá chỉ ăn những con mồi còn sống hoặc mới chết, đôi khi ăn thịt cả đồng loại; Was, (1984); Wi và Kwok, (1999) khi nghiên cứu về dinh dưỡng của cá bớp thấy chúng có phổ thức ăn rộng: Từ động vật phù du đến giáp xác và một số loài cá nhỏ Phân tích trong dạ dày cá bớp ngoài tự nhiên cho thấy ngoài các loại
cá nhỏ, còn có cả các loại giáp xác như tôm, cua và rạm, chúng chiếm tới 25% và tính ăn của cá bớp thay đổi theo cá thể
1.1.4 Đặc điểm về sinh trưởng và phát triển
a Xác định tuổi của cá
Để xác định tuổi cá có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Sử dụng vảy, đốt sống thân và xương nắp mang Đối với cá bống bớp, lấy vẩy cá để nghiên cứu tuổi bởi các vòng sáng tối của vân sinh trưởng ở vẩy thể hiện khá rõ ràng
- Vảy cá bớp: Cá bớp thuộc loài có vảy tròn, chia làm ba phần khác nhau Vảy cá
bớp nhỏ, có hình bầu dục, tâm vảy lệch về phần trước vảy Các vân xương mỏng, những vân xương gần tâm được sắp xếp thành các vòng tròn đồng tâm, những vân xương xa tâm sắp xếp thành hình bầu dục Đường phóng xạ thẳng ở phần trước vảy và hơi cong về phía sau vảy
Hình 1.2 Vảy cá ở tuổi 1+ (x 50) L: 145mm; W:34g
Vòng tu i
Trang 149
Các nước vùng ôn đới, có sự phân biệt rõ rệt giữa các mùa Ở mùa Xuân và mùa Hạ, thức ăn tự nhiên phong phú, cá sinh trưởng nhanh nên các vân xương xếp thưa tạo thành vòng sáng Mùa đông nhiệt độ thấp, cá sinh trưởng chậm, các vân xương sắp xếp sít nhau tạo thành vòng tối Hiện tượng này cứ lặp đi lặp lại hàng năm Khi tính tuổi cá, cứ hai vòng sáng tối liền kề được coi như một năm tuổi
- Vòng tuổi hình thành do các vòng sinh trưởng sắp xếp sít nhau tạo thành vòng xẫm màu hơn so với các phần vảy phát triển bình thường
Hình 1.3 Dạng vòng tuổi do các vân xếp xít nhau
- Vòng tuổi hình thành do sự rạn nứt của rãnh phóng xạ, tạo ra vòng sáng nhỏ liên tục trên vảy Tại chỗ rạn nứt các vân xương sắp xếp sít nhau Các phần vảy phía trong và
ngoài vòng tuổi phát triển bình thường
Hình 1.4 Vòng tuổi do rãnh phóng xạ đứt gãy
Vòng
tu i
Trang 1510
Vòng tu i
Hình 1.5 Vẩy cá ở tuổi 3 +Phân biệt vòng tuổi với vòng phụ : Vòng phụ hình thành do kết quả thay đổi đột ngột, ngẫu nhiên không mang tính chất chu kỳ của điều kiện môi trường, dinh dưỡng kém hoặc do bệnh tật Dấu hiệu thể hiện vòng phụ trên vảy không rõ ràng, không liên tục trên các phần vảy
Phân biệt vòng tuổi với vòng non: Vòng non còn gọi là vòng phụ, vòng cá giống, xuất hiện do thay đổi thức ăn khi cá chuyển giai đoạn Vòng non nằm ở phần giữa tâm vảy
và vòng năm thứ nhất nên dễ nhầm lẫn với vòng năm thứ nhất Để phân biệt được vòng này, chúng tôi tính chiều dài cá thể và đối chiếu với chiều dài cỡ cá giống
b Sinh trưởng chiều dài của cá ở các độ tuổi
- Trong suốt thời gian nghiên cứu, số mẫu thu được dùng để xác định tuổi gồm :
655 cá thể, trong đó chủ yếu các cá thể tuổi 1+, tuổi 2+ và 3+ Dựa vào kết quả xác định tuổi trên vảy cá, chúng tôi dùng phương pháp tính của Elea (1910) [61;68] để xác định chiều dài của cá ở từng lứa tuổi khác nhau Kết quả được trình bày ở bảng 1.2
Trang 1611
Bảng 1.2 Chiều dài của cá bống bớp ở các độ tuổi
Chiều dài trung bình ( mm ) Tuổi Giới tính Số mẫu
Cá 1 tuổi Cá 2 tuổi Cá 3 tuổi Đực 120 118,2 1,18
cá thể đực và 108 115,4 mm đối với cá thể cái Số liệu về chiều dài cá hàng năm được dẫn ra ở bảng 1 của phần phụ lục và thể hiện ở hình 1.6 và hình 1.7 Trong đó, hình 6 biểu thị tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài và hình 1.7 biểu thị tốc độ tăng trưởng tương đối của chỉ số đo
Hình 1.6 Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của cá bống bớp
0 20 40 60 80 100 120
L (mm)
1 tuæi 2 tuæi 3 tuæi
Tuæi
§ùc C¸i
Trang 1712
Hình 1.7 Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối của cá bống bớp Kết quả ở hình 1.6 và hình 1.7 cho thấy: Tăng trưởng chiều dài của cá bống bớp nhanh nhất ở năm thứ nhất sau đó giảm dần từ năm thứ 2
c Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá bống bớp
Mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng của cá được trình bày ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá
Số mẫu L (cm) W (g) Phương trình tương
quan Hệ số tương quan
320 7,825,6 5,2172,1 W=0,0076L3,154 R = 0,970
Hệ số mũ n = 3,154 nằm trong khoảng ( 2,5 3,5 ), kết quả này của chúng tôi trùng với kết quả của một số tác giả trước đây: Lagler (1956 ); Carlander (1969 ); Weatherly (1972 ); Ricker (1975 ); Pauly (1984 ) [38;56] Hệ số R = 0,970 thể hiện tương quan thuận cao giữa chiều dài và khối lượng tìm thấy ở nhiều loài cá Cá bống bớp nằm trong qui luật phổ biến này
0 5 10 15 20 25 30
Trang 1813
Hình 1.8 Đồ thị tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống bớp
d Mối quan hệ chiều dài, khối lượng và độ béo
- Sinh trưởng chiều dài cá liên hệ chặt chẽ với biến động mỡ và độ béo của chúng Mối quan hệ giữa chiều dài, khối lượng và độ béo của cá bớp được thể hiện qua bảng 2
của phần phụ lục và hình 1.9
Hình 1.9 Mối quan hệ chiều dài, khối lượng và độ béo của cá bống bớp
0 0,5 1 1,5 2 2,5
ĐỘ BÉO (%)
Nhãm kÝch thíc, khèi lîng
Fulton Clark
Trang 19- Nghiên cứu về sinh sản: Li Huimei, Zhang Dan, Shi Pin Hua, (1988) cho rằng bãi
đẻ tự nhiên của cá bống bớp không nằm trong vùng nước ngọt Davis (1985) Gareff và Russell (1982) cho rằng đối với cá thì dòng chảy của thuỷ triều, pH, oxy, nhiệt độ nước
và độ mặn là những yếu tố quan trọng, trong đó nhiệt độ và phổ thức ăn ban đầu tại khu vực sinh sản quan trọng hơn cả, thậm chí đóng vai trò quyết định; họ khẳng định rằng vị trí bãi đẻ tự nhiên của cá bớp thường là các vùng cửa sông, nơi tiếp giáp giữa môi trường nước mặn và nước ngọt Kungvankij et all (1984), lại cho rằng ở Trung Quốc cá bống bớp thường đẻ theo chu kỳ trăng được thể hiện ở chế độ thuỷ triều, điều này có liên quan mật thiết đến phổ thức ăn của cá do bãi đẻ chính của chúng là vùng cửa sông Điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đáng kể đến thời gian nở của trứng Đi đầu trong nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá bớp phải kể đến một số nhà khoa học Trung Quốc như: Lei, 1979; Sha et
al, 1966; Chen et al, 1982; và Zhang et al, 1981 các tác giả trên đã nghiên cứu về phôi và
ấu trùng cá bớp Tuy nhiên, phải đến năm 1984, lần đầu tiên tại Viện Nghiên cứu động vật Trung Quốc, Li Huimei, Zhang Dan và Shi Pinhua mới theo dõi được tương đối đầy
đủ quá trình phát triển của phôi, ấu trùng của cá bống bớp, mở ra một hướng mới cho những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo và sản xuất giống của cá bống bớp Tuy nhiên, những tài liệu về sản xuất đại trà và ổn định giống cá bống bớp cho đến nay vẫn chưa thấy công bố
1.1.5.1 Sự phân biệt đực cái và chuyển đổi giới tính
Cá bống bớp khi còn bé rất khó phân biệt đực/cái; khi trưởng thành việc phân biệt
cá đực, cá cái khá dễ dàng
Dấu hiệu đặc trưng:
+ Cơ quan sinh dục đực: Là một gai nhọn mềm nằm phía sau hậu môn, khi cá thành thục gai có màu hồng ở điểm mút nhọn
Trang 2015
+ Cơ quan sinh dục cái: Còn gọi là huyệt sinh dục, nằm phía sau hậu môn có hình bầu tròn, hơi nhọn về phía vòi trứng Khi cá thành thục, huyệt phồng lên, có màu phớt hồng
Hình 1.10 Hình thái của cơ quan sinh dục cá bống bớp
- Đặc điểm cấu tạo tuyến sinh dục cá bống bớp
Hình 1.11 Buồng trứng và dải tinh của cá bống bớp
Cơ quan
sinh dục
Cá cái
Cơ quan sinh dục
Cá đực
Buồng trứng
Dải tinh
Trang 2116
Khi giải phẫu cá để quan sát, có thể thấy tuyến sinh dục của cá bống bớp gồm hai dải nằm sát thành cơ thể, dọc hai bên sống lưng, dưới bóng hơi Phía cuối của 2 dải đổ chung vào một ống và thông ra ngoài theo lỗ sinh dục Giai đoạn đầu khó phân biệt đực, cái Từ giai đoạn II trở đi, phân biệt noãn sào và tinh sào dễ hơn: Noãn sào dày, có nhiều mạch máu tương đối lớn phân bố Từ giai đoạn III trở đi mắt thường có thể trông thấy hạt trứng Kích thước và màu sắc noãn sào thay đổi theo mức độ thành thục, noãn sào ở giai đoạn III có màu vàng cam và giai đoạn IV có màu vàng đậm Hai nhánh của buồng trứng phát triển đồng đều
ít chênh lệch nhau về kích thước Các giai đoạn sau, độ lớn và mức độ phân bố mạch máu gia tăng Tinh sào của cá đực chưa trưởng thành mỏng và trong Ở cá thành thục, tinh sào màu trắng đục, phân thuỳ, có nếp gấp và có các mạch máu nhỏ phân bố
1.1.5.2 Tuổi và kích thước thành thục sinh dục
Mỗi loài cá đều phải trải qua những giai đoạn phát triển nhất định để đạt tới độ thành thục và tham gia sinh sản lần đầu tiên Kết quả nghiên cứu trên cá bớp cho thấy : Nhiều cá thể cái ở tuổi 1+ có buồng trứng đạt đến giai đoạn IV và thậm chí ở cuối giai đoạn IV, khi ấn nhẹ vào bụng, trứng có thể đi theo lỗ niệu sinh dục thoát ra ngoài Trong khi đó cá bớp đực tuổi 1+ chưa bắt gặp tuyến sinh dục ở giai đoạn IV Thực tế cho thấy cá giống cỡ 10 - 20g tiếp tục nuôi sau 8 đến 12 tháng thì buồng trứng có thể đạt tới giai đoạn
IV Từ đó có thể kết luận : Cá bớp cái thành thục sinh dục ở tuổi 0+ Do tuổi và kích thước của cá đực và cá cái khi đạt thành thục khác nhau, vấn đề chọn cá để thực hiện việc cho cá bớp đẻ nhân tạo cần lưu ý đến cá đực để tránh chọn nhầm các cá thể còn non
1.1.5.3 Mùa vụ di cư và tập tính sinh sản
Khi điều tra và quan sát các vùng phân bố tự nhiên của cá bớp ở các tỉnh ven biển phía Bắc, chúng tôi thấy : Mùa vụ sinh sản của cá kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7 trong năm, lúc này thời tiết ấm áp (22-28 0C), độ muối thấp từ 100/00 đến 200/00, thức ăn tự nhiên phong phú Cá bớp sinh sản bằng hình thức thụ tinh ngoài, đẻ trong hang, trứng dính Cá cái 46 gam và chiều dài 17,5cm có khoảng 10.000 trứng (đường kính trứng 0,5 - 0,6mm), các ngư dân cũng thường nhận xét rằng mùa vụ sinh sản của cá bớp diễn ra suốt thời gian có gió mùa Tây - Nam Điều này được chứng minh vì cá bớp con (1cm) xuất hiện ngoài tự nhiên từ tháng 5 đến tháng 8
Trang 2217
1.1.5.4 Sức sinh sản
Cá bống Bớp sinh sản bằng hình thức thụ tinh ngoài, đẻ trong hang, trứng dính Sức sinh sản tuyệt đối của cá đạt 10.000 trứng/cá thể (đường kính trứng 0,5 - 0,6mm) (Trần Văn Đan, 2002) Trong một số nghiên cứu của Trần Văn Đan tại Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình 2005-2007, đã chỉ ra rằng sức sinh sản thực tế của cá bống Bớp cái nằm trong khoảng 15.400 – 62.000 trứng/cá thể
Bảng 1.4 Một số đặc điểm chính của sự phát triển phôi cá bống Bớp ở nhiệt độ 22–260C [30] Thời gian sau
2 0 5
Đường kính trứng dao động từ 0,82- 1,00mm Màng trứng trương lên, các sợi kéo dài thành cụm phía dưới mặt dính, kéo dài màng bao trứng
ở vị trí cuối
3 0 10 Màng trứng kéo dài tới chiều dài nhất định Trứng có hình quả lê, đầu
nhỏ được gắn với các sợi kết dính
4 0 35 Giai đoạn 2 tb : Đĩa phôi hình thành, phân chia thành 2 phôi bào với cỡ
bằng nhau
5 0 55 4 phôi bào ( Blastomere )
6 4 23 8 phôi bào : Được phân chia tại góc phải tới ranh giới thứ nhất và thứ
hai
Trang 239 5 15 Giai đoạn phôi nang ( Blastula ), đĩa phôi giảm về kích thước
10 6 20 Thời kỳ phôi nang cao, phôi nang vẫn tiếp tục phát triển
11 7 50
Thời kỳ phôi nang thấp, phôi có hình chóp mũ phủ trên phần noãn hoàng chiếm khoảng 1/3 toàn bộ phôi, phôi tiến gần về phía cuối và gắn bởi các sợi sơ dính
12 9 05 Giai đoạn phôi vị : Các tb màng phôi khép quanh khối noãn hoàng tạo
thành vòng phôi
10 25 Vòng phôi bao 2/5 khối noãn hoàng
11 35 Màng chắn phôi xuất hiện, có hình lưỡi dài
12 40 Vòng phôi bao 3/4 khối noãn hoàng
13 20 Giai đoạn tấm thần kinh bắt đầu xuất hiện
14 25 Khối noãn hoàng có thể quay tự do trong màng trứng
13 15 15 Thời kỳ này có thêm túi thị giác, toàn khối noãn hoàng và cơ thể có
màu vàng nhạt
24 10 Thị giác có 3 phần: trước, giữa và sau, phôi chiếm 1/2 chu vi và nó gần
như nâng noãn hoàng lên trên
26 30 Giai đoạn xuất hiện đốt cơ thể, noãn hoàng chiếm 3/5 chu vi, có 4 đốt
cơ
28 5 Phôi đã có 14 đốt, não và khứu giác xuất hiện
35 Giai đoạn xuất hiện tấm khứu giác : Chiều dài của phần cuối đuôi
chiếm 1/4 chiều dài phôi Gò thính giác bắt đầu xuất hiện
14 42 30
Chiều dài của phần cuối đuôi bằng 1/3 chiều dài phôi, phần cuối thẳng
& đuôi thỉnh thoảng lắc lư về phía khối noãn hoàng, các đoạn ruột xếp thành hình ổ, có thể nhìn thấy hậu môn, tim sơ khai có dạng hình ống
và bắt đầu đập
54 10 Sắc tố màu nâu xuất hiện dày đặc hơn, Hệ tuần hoàn máu hoạt động trở
nên nhanh hơn, phần cuối đuôi cũng hẹp dần
Trang 2419
68
Vòng thị giác hình thành, các hốc phía dưới của mắt với vết nứt thị giác Mắt sơ khai có màu nâu đen và có các điểm chấm tinh thể Bên rìa của phôi xuất hiện các dây chéo tập trung thành hạt nhỏ nằm giữa hậu môn và đuôi Từ lúc này toàn bộ phôi có thể hoạt động trong màng trứng
79 20
Mắt gần hoàn chỉnh có màu đen, vết nứt thị giác biến mất, tim đập mạnh khoảng 106 - 112 lần/phút Máu lưu thông có màu đỏ cam Cơ thể đã hình thành rõ ràng và có các đường viền bao quanh
98 05
Miệng hình thành, ống tiêu hoá đã hoàn thiện, có thể quan sát được dạ dày Bóng hơi sơ đẳng xuất hiện giữa cơ thể, có dạng ô van mỏng và màu vàng nhạt
15 105 30
Thời kỳ tiền kỳ nở : Vị trí của miệng hơi nghiêng về phía trước Khe mang hình thành, có một vài túi khí có kích thước khác nhau nằm ở bề mặt trước bụng Các đoạn ruột lớn dần lên
16 110 30
Trứng bắt đầu nở : Phôi chuyển động mạnh trong trứng ( nhất là phần đuôi) Khi nở đuôi ra ngoài trước, sau đó ấu trùng thoát ra ngoài theo tần số chuyển động của đuôi
Noãn hoàng nhỏ dần và có hình oval ( 0,52-0,43mm ), bụng thon dần,
cá chuyển dần sang bơi ngang, chiều dài cá là 6mm, khẩu độ miệng cá
Trang 2520
- Quá trình biến thái của phôi cá bớp kéo dài từ 3 - 4 ngày ở điều kiện nhiệt độ từ
26 - 310C
- Khi mới nở cá bột có chiều dài là 5mm, đường kính noãn hoàng là 0,87mm
- Cá 3 ngày tuổi có chiều dài 6mm, noãn hoàng hình oval (0,52 - 0,43mm) và khẩu
- Khi mới nở cá bột có chiều dài là 5mm, đường kính noãn hoàng là 0,87mm
- Cá 3 ngày tuổi có chiều dài 6mm, noãn hoàng hình oval (0,52 - 0,43mm) và khẩu
độ miệng là 0,22mm (Trần Văn Đan, 2002)
Hình 1.12 cá bột mới nở và cá bột 2 ngày tuổi
1.1.6 Khả năng thích ứng với một số yếu tố môi trường
Hiện chưa có nhiều nghiên cứu sâu về cá bống Bớp nên những số liệu đưa ra dưới đây chỉ là những dẫn liệu và còn rất sơ lược
Trang 2621
- Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của cá bống bớp từ 25-30oC, tuy nhiên
cá có thể chịu được nhiệt độ dưới 10 oC
- Độ mặn: Cá có thể phát triển tốt ở độ mặn 5-25o/oo, đôi khi thấy cá xuất hiện ở những nơi có độ mặn xấp xỉ 0, và ở những nơi trên 25o/oo.
- Oxy: cá có thể chịu được ngưỡng oxy thấp lên tới 1 mg/l, khoảng tối ưu cho cá phát triển là 3mg/l, không nên quá 8mg/l Ở nhiệt độ 28 – 30oC, 50% cá bống Bớp bột chết ở hàm lượng oxy hoà tan 2,0 mg/L và 90 - 95% cá bống Bớp bột chết ở hàm lượng 1,83 mg/L.[35]
- pH: Cá có khả năng thích nghi với pH rộng, nhưng tốt nhất là từ 7-8.[67]
1.2 Những nghiên cứu về cá bống Bớp ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có một số công trình lẻ tẻ về điều tra cá bớp trong tự nhiên, nghiên cứu chúng về mặt hình thái và một số nét sinh học, do cá bống bớp được coi là một đối tượng mới trong nghề nuôi biển Theo thông tin của tạp chí "Đa dạng các loài thuỷ sản Việt Nam" (Bảo tàng động vật, Trường Đại học Michigan, Canada) một số nhà khoa học như W J Rainboth, M.Smith, Du, Nhiep (1974) đã khảo sát mức độ xuất hiện của cá bống Bớp tại một số tỉnh như: Mỹ Tho, Vĩnh Long và đề nghị đưa cá bớp vào "Sách Đỏ" xem các loài có nguy cơ bị diệt vong Từ năm 1992 cá bống bớp chính thức được đưa vào
“Sách đỏ Việt Nam”[1]
- Nghiên cứu về hình thái phân loại: Nguyễn Nhật Thi (1991) mô tả cá bớp ở Việt Nam có những đặc điểm cũng giống với mô tả của tác giả Lacépède (1801); Đỗ Văn Khương (1997) mô tả cá bống bớp có thân dạng hình trụ hơi dẹt bên, khoẻ, đầu hơi dẹt bằng, miệng rộng chếch Cỡ cá trưởng thành: Dài 7-20cm; nặng 30-200g
- Nghiên cứu về dinh dưỡng: Nguyễn Nhật Thi, (1978) và Đỗ Văn Khương (1997) xác định cá bớp ăn thịt động vật như tôm cá nhỏ và động vật giáp xác; Trần Văn Đan, (1995) nhận xét cá bớp là cá dữ, ăn mồi sống hoặc chết nhưng thịt còn tươi.[8;27]
- Nghiên cứu về sinh sản: Đỗ Văn Khương (1997) xác định mùa vụ đẻ tập trung của
cá bống bớp tự nhiên là vào vụ xuân hè [8] Tiến thêm một bước nữa Đỗ Đoàn Hiệp và ctv (1996) thử dùng kích dục tố dục cá bống bớp đẻ và bước đầu đã thu được cá bột (tạp chí khoa học công nghệ, 1998) nhưng thí nghiệm đã không được triển khai tiếp theo
Trang 2722
- Nghiên cứu của Trần Văn Đan, viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng:
+ Năm 1995, Trần Văn Đan & ctv thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm và thăm dò khả năng sản giống tự nhiên cá bống bớp
(Bostrichys sinensis, Lacépède 1801)”[27]
+ Năm 1998, Trần Văn Đan tiếp tục thực hiện đề tài: “Một số đặc điểm sinh học
của cá bống bớp (Bostrichys sinensis, Lacépède 1801) ở Hải Phòng”[28]
+ Cũng trong năm 1998, Trần Văn Đan và Đỗ Hoàn Hiệp (1998) tiến hành nghiên
cứu sự phát triển của phôi cá Bống bớp (Bostrichthys sinensis) vùng nước lợ Đồ Sơn Hải
Phòng [26]
+ Năm 2000, đề tài“ bước đầu tìm hiểu khả năng sử dụng thức ăn tổng hợp của cá
Bống bớp (Bostrichys sinensis)” được thực hiện và cho kết quả thành công.[29]
+ Trần Văn Đan & ctv (2004) Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu thực nghiệm hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá bống bớp (Bostrichys sinensis, Lacépède 1801) tại Hải Phòng”
Từ năm 1995 đến 2004 tác giả Trần Văn Đan đã nghiên cứu xây dựng hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá bớp và quy trình công nghệ này đã được áp dụng vào thực tế sản xuất tại Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình đạt các chỉ tiêu kỹ thuật sau: Tỷ lệ
cá cái thành thục 90,4%, tỷ lệ cá đẻ trứng 64,5%, tỷ lệ trứng thụ tinh 82,5%, tỷ lệ nở 92,2%, tỷ lệ sống của cá giống 21,9%
Bảng 1.5 Kết quả cho cá đẻ và ấp nở tại các cơ sở chuyển giao công nghệ
Địa điểm
Số cá nuôi vỗ (con)
Tỷ lệ thành thục (%)
Tỷ lệ
đẻ (%)
Lượng trứng (vạn)
Tỷ lệ
nở (%)
Tỷ lệ thụ tinh (%)
1 Thái Bình 186 91,3 63,5 182 95,5 80,2
2 Nam Định 180 90,0 65,0 390,6 91,1 82,9
3 Ninh Bình 200 90,0 65,1 810 90,0 84,5
Trang 2823
Bảng 1.6 Kết quả ương cá bột lên cá giống tại các cơ sở chuyển giao công nghệ
- Tháng 12 năm 2006, Nguyễn Văn Quyền thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ứng dụng
kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Bống Bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801) tại
Trại thực nghiệm NTTS Yên Hưng- Quảng Ninh” và thu được những kết quả như sau:
Bảng 1.7 Kết quả sinh sản nhân tạo tại trại Yên Hưng – Quảng Ninh
Liều lượng tiêm Tỷ lệ sống
từ bột lên hương (%)
Tốc độ sinh trưởng TB ấu trùng trong bể (cm/ngày)
Tổng số lượng cá giống 3cm (con)
75-91 85-97
10µg LRH-A2 + 1500
UI HCG/kg cá cái; cá đực = ½ cá cái
22,6 – 25,3 3,25 – 3,3 110.000
1.3 Tình hình nuôi cá bống bớp tại Việt Nam
Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới, có thành phần sinh vật phong phú, việc đa dạng hoá đối tượng nuôi là rất cần thiết Cá bống Bớp đã được xác định là loài cá kinh tế với tỷ lệ thịt nhiều, vị thơm ngon Theo kết quả phân tích của Viện Nghiên cứu hải sản, các chất có trong thịt cá bớp tươi là: Protit 19,2%; Lipit 0,74%, khoáng 1,51% và nước 78,55% Cá bớp (B.sinensis) được dân chúng coi là loài cá có thịt lành, bổ và được dùng làm món ăn bồi dưỡng sức khoẻ cho phụ nữ mới sinh hoặc những người vừa mới ốm dậy Người Trung Quốc đặc biệt ưa thích loài cá này, họ coi đây là đặc sản Hiện tại cá bống Bớp là một trong những loài cá đắt giá, được sử dụng rộng rãi không chỉ ở thị trường
Địa điểm Cá bột 3 ngày
tuổi (con)
Số lượng cá giống (con)
Chiều dài trung bình (mm)
Tỷ lệ sống (%)
Trang 2924
trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị ra thị trường Trung Quốc, Hồng Kông
và một số nước khác thuốc Châu Á cho nên cá bống Bớp có thể trở thành đối tượng nuôi
có triển vọng
1.3.1 Các hình thức nuôi cá bống bớp tại Việt Nam
Hiện nay trong thực tế tồn tại trong dân 2 dạng cơ bản là nuôi gom và nuôi tăng trọng
- Nuôi gom: Cá thường được thu gom khi đã có kích thước tương đối lớn và đưa vào nuôi trong các ao nhỏ từ vài mét vuông đến vài chục mét vuông hoặc nuôi nhốt trong giai, bể, rào, với mục đích nuôi chờ tập trung đủ số lượng để bán ra thị trường, chủ yếu là xuất khẩu tiểu ngạch Thức ăn sử dụng cho cá là tôm cá nhỏ và cho ăn tươi Thời gian nuôi ngắn, mùa vụ nuôi không rõ rệt, hình thức nuôi này tăng trưởng của cá chậm, việc thu lời chủ yếu dựa vào sự chênh lệch giá [30]
- Nuôi tăng trọng (thương phẩm): Gồm hai kiểu nuôi lồng và nuôi ao
Lồng nuôi thường làm bằng các loại vật liệu như lưới nilon, đăng tre, lưới sắt bọc nhựa có khung Hình dáng lồng tương đối đa dạng (hình vuông, hình chữ nhật, hình trụ…
và có nắp đậy) để thao tác cho cá ăn hàng ngày Mật độ nuôi dày từ 70-100con/m3, cỡ cá thả 25-30g/con Vị trí đặt lồng thường sát đáy ao, nơi có dòng nước chảy nhẹ [27]
Nuôi cá bớp trong ao: Thường có diện tích không lớn (50-1000m2) thả cá giống với mật độ từ 3-4con/m2, cỡ cá thả từ 30-40g/con, xung quanh bờ thường có rào chắn bằng xăm cước, phên nứa, lát gạch, pro xi măng …để chống cá đào bờ Sau 4 tháng nuôi cá thường đạt 140gr/con và cho tỷ lệ sống trên 90% Ở những nuôi không có rào chắn không có hiệu quả vì cá đào bờ ao chui ra ngoài [30]
1.3.2 Một số bệnh thường gặp trên cá bống bớp
- Bệnh rận cá (Caligus): bệnh xuất hiện ở cá bớp nuôi bằng lồng đặt trong ao, tại
Trạm nghiên cứu Thuỷ sản nước lợ
Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá bị rận ký sinh với mức độ cảm nhiễm cao có dầu hiệu bệnh lý như sau:
+ Giai đoạn đầu cá có trạng thái bất an, thường bơi lợi lung tung, khả năng bắt mồi giảm Nếu cá ở trong lồng thì có hiện tượng có xát vào thành lồng, cá bị xây xát, chảy máu
+ Toàn thân cá xuất hiện các đốm xuất huyết nhỏ
Trang 3025
+ Cá bị mất máu nên gầy yếu, bắt đầu chết rải rác
Tác nhân gây bệnh Caligus Miller, 1785 thuộc họ Caligoida, phân lớp Copepoda
và lớp Crustacea Cơ thể có kích thước khá lớn, con đực thường lớn hơn con cái (Supranee Chinabut, 1996), chiều dài con đực có kích thước từ 6-8mm, con cái khoảng
5mm Rận trưởng thành có màu vàng nhạt hay trắng đục
Khi Caligus ký sinh trên cá nuôi trong lồng, chúng bám vào bề mặt cơ thể ký chủ, dùng anten nhọn để làm rách tế bào biểu mô và lớp màng dưới da của cá, gây hỏng da, làm vết thương mở rộng gây mất cân bằng thẩm thấu và tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn gây bệnh xâm nhập [13]
- Phân bố lan truyền: Caligus gây bệnh làm cá chết ở tất cả các giai đoạn (cá giống,
cá thịt) Trên thế giới, nhất là khu vực Đông Nam Á hay xuất hiện loại ký sinh trùng này, với 28 loài khác nhau gây khó khăn cho nghề nuôi
- Phòng bệnh: Việc quyết định dùng thuốc nào tuỳ thuộc vào rất nhiều giai đoạn phát triển của chúng (giai đoạn ấu trùng hay giai đoạn trưởng thành) Theo Supranee Chinabut (1996), thuốc Trichlophon có tác dụng tiêu diệt ấu trùng nhưng không diệt được rận trưởng thành
Dùng KMnO4 10ppm hoặc Formalin nồng độ 150ppm để tắm cho cá nuôi thương phẩm, thời gian tắm là 15-30 phút thấy có tác dụng cá không mắc bệnh trong suốt quá trình nuôi [30]
1.4 Điều kiện tự nhiên và sự phát triển thủy sản tại tỉnh Nam Định
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Nam Định là một tỉnh đồng bằng ven biển, thuộc phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng Phần đất liền kéo dài từ vĩ tuyến 19055’Bắc đến 20016’Bắc và từ 106000 Đông đến 106033 Đông Phía bắc Nam Định tiếp giáp Hà Nam, phía đông bắc giáp Thái Bình, phía tây giáp Ninh Bình, phía đông và đông nam trông ra vịnh Bắc Bộ, vùng biển lớn giàu tiềm năng kinh tế của đất nước Nam Định ở vào vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía nam đồng bằng sông Hồng và các tỉnh Bắc Trung Bộ Bên cạnh đó, Nam Định có 3 cửa sông lớn thông ra biển là cửa Ba Lạt, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy, có 3 cồn lớn là cồn
Lu, cồn Ngạn, cồn Xanh Với vị trí địa lý như vậy, rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế-văn
Trang 3126
hóa của cả miền Bắc và cả nước Nam Định còn là vùng lõi khu bảo tồn Ramsa vùng rừng ngập nước Xuân Thủy Nam Định có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế thuỷ sản.[33]
(Nguồn: http://khudothimoi.comdulieuban-do-quy-hoach1163-ban-do-nam-dinh-ban-do-tinh-nam-di.jpg)
Hình 1.13 Bản đồ địa lý tỉnh Nam Định
1.4.2 Sự phát triển ngành thủy sản tại tỉnh Nam Định
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chính phủ, UBND tỉnh, nuôi trồng thuỷ sản ven biển có bước phát triển mạnh mẽ Diện tích nuôi mặn lợ năm 2009 là 6.152 ha Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ven biển năm 2009 đạt 19.739 tấn.[34]
Năm 2009, tổng sản lượng giống hải sản đạt 544,8 triệu con, trong đó có 244,8 triệu con được sản xuất nhân tạo; 300 triệu con khai thác tự nhiên Các bãi giống tự nhiên được bảo tồn và khai thác hợp lý Năm 2009, đã khai thác được 100 tấn ngao Dầu (khoảng 300 triệu con), đáp ứng được 30- 40% nhu cầu về giống trong nuôi ngao của
Trang 3227
tỉnh Toàn tỉnh có 24 trại sản xuất giống mặn lợ đang hoạt động, năm 2009 đã sản xuất được 164 triệu tôm sú P15; 16 triệu tôm thẻ Chân Trắng P15; 11,7 triệu cua C1; 30 triệu ngao Bến Tre và 15,5 triệu cá bống Bớp Năm 2009, công ty TNHH Đài Hải đã cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá Song và đã ương được 6 vạn cá giống cỡ 3-4cm, trung tâm giống hải sản Nghĩa Hưng sản xuất được 5 triệu Tu hài giống.[35]
Ngoài số lượng giống sản xuất được trong tỉnh Năm 2009 toàn tỉnh đã nhập về gần 219,5 triệu tôm sú P15; 164,75 triệu tôm chân trắng P15; 107 vạn cá vược; 76 vạn cá song, gần 01 tỷ ngao Dầu…[35]
Bảng 1.8 Tình hình phát triển thủy sản của Nam Định, năm 2000-2009 [16;35;36]
ăn Năm 2009 diện tích nuôi là 163 ha, sản lượng đạt 715tấn, bằng 100,2 % so với năm
2008 Đây là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, có thị trường ổn định trong nước và xuất khẩu Đến nay đã hình thành các vùng nuôi tập trung ở các xã như Nghĩa Thắng,
Trang 3328
Nam Điền huyện Nghĩa Hưng với năng suất bình quân 5 tấn/ha Vì vậy nuôi cá bống Bớp cần được nhân rộng ra các vùng nuôi khác [35]
1.4.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội về nuôi trồng thủy sản tỉnh Nam Định
Số lao động, doanh nghiệp, HTX NTTS, trang trại:
- Về lao động: trong NTTS có 31.513 hộ với 39.929 lao động: trong đó lao động trong nuôi mặn lợ là 15.805 người.[16]
- Về doanh nghiệp: toàn tỉnh hiện có 10 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực NTTS: trong đó có 02 doanh nghiệp nhà nước; 06 doanh nghiệp tư nhân; 02 doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Toàn tỉnh có 03 hợp tác xã NTTS, 2 hiệp hội nuôi nhuyễn thể
và NTTS ở 2 huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng Ngoài ra còn nhiều tổ đội hoạt động theo
mô hình quản lý cộng đồng.[16]
- Về trang trại: qua số liệu của điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, theo tiêu chí những trang trại có quy mô từ 2 ha trở lên, trang trại nuôi thâm canh từ 1,5 ha trở lên và các trang trại có thu nhập trên 60 triệu trở lên, năm 2009 đã có 588 trang trại Nhìn chung, các trang trại hoạt động tốt đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được nhiều việc làm.[35]
Từ thực trạng sản xuất giống và nuôi cá bống bớp ở Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng cho thấy nghề nuôi cá bống Bớp ở Việt Nam rất có tiềm năng Để định hướng phát triển nghề nuôi cá bống Bớp thương phẩm, ngoài việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy trình sản xuất giống nhân tạo, nghiên cứu các vấn đề về dinh dưỡng và bệnh, thì cần tập trung nghiên cứu sâu hơn và có hệ thống hơn về các thông số kỹ thuật chủ yếu đối với ao nuôi cá bống bớp, đồng thời phải đánh giá được hiệu quả kinh tế của từng giải pháp kỹ thuật, từng mô hình nuôi như: sử dụng loại thức ăn nào, loại trang thiết
bị nào tiết kiệm được chi phí sản xuất nhất và mô hình nuôi cá bống Bớp nào đạt hiệu quả kinh tế cao nhất… Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu có thể đề xuất các biện pháp nhằm phát triển nghề nuôi cá bống bớp một cách bền vững và đạt hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm chuyển đổi kinh tế các vùng nông thôn ven biển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho nông, ngư dân; góp phần xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn, vùng biển, biên giới, hải đảo [35]
Trang 3429
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 2/2010 đến tháng 10/2010
- Địa điểm: tỉnh Nam Định
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3 Thu thập số liệu
2.3.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu đã được công bố của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Định, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Nghĩa Hưng, Cục thống kê Nam Định và các sách báo xuất bản có liên quan
Các chỉ tiêu thu thập:
- Các chỉ tiêu kinh tế xã hội: Dân số, trình độ văn hoá, lao động…
- Chỉ tiêu về nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích đất đai mặt nước nuôi thương phẩm
cá bống bớp, hình thức nuôi, năng suất, sản lượng
2.3.2 Số liệu điều tra
Thông tin được thu thập qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp tất cả các hộ nuôi cá bống Bớp, dựa trên bộ câu hỏi đã được chuẩn hoá (phụ lục)
Nội dung điều tra đánh giá bao gồm:
Nội dung nghiên cứu
Hiệu quả kinh tế Hiện trạng kỹ thuật và kết
quả nuôi cá bống Bớp
Hiệu quả xã hội
Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế-xã hội của nghề nuôi cá bống Bớp
Trang 35Số mẫu điều tra được dẫn ra ở bảng 9:
Bảng 2.1 Số hộ điều tra trên tổng số hộ nuôi
2 Số hộ điều tra đủ dữ liệu 116 96,7
Trong 120 hộ chúng tôi điều tra tại tỉnh Nam Định, tất cả họ đều có nuôi đối tượng cá bống Bớp nhưng chi có 116 hộ có đủ các dữ liệu để có thể phân tích và xử lý
vì vậy tác giả chỉ sử dụng dữ liệu của 116 này chiếm 96,7% tổng số hộ đã điều tra
2.4 Xử lý và phân tích số liệu
2.4.1 Xử lý số liệu
Số liệu thu được được mã hoá và được xử lý theo từng chuyên đề riêng dựa theo bộ câu hỏi (phụ lục)
- Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm tại Nam Định:
+ Chủ hộ: Trình độ học vấn, số lao động sử dụng, số lao động gia đình, diện tích mặt nước hiện có, hình thức sở hữu mặt nước…
+ Đặc điểm ao nuôi: Diện tích, hình dạng, độ sâu, chất đáy…
+ Cải tạo ao nuôi: Thời gian cải tạo, các loại hoá chất sử dụng…
+ Con giống: Số lượng, nguồn gốc, chất lượng giống, mật độ nuôi… + Thức ăn: các loại thức ăn thường dùng, số lần cho ăn trong ngày, thời gian và phương pháp cho ăn…
+ Mùa vụ: Số vụ nuôi, thời gian nuôi
+ Quản lý môi trường ao nuôi: Hình thức thay nước, thời gian định kỳ thay nước, màu nước ao trong quá trình nuôi…
+ Kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế: Năng suất, sản lượng, chi phí, doanh thu, lãi suất, lợi nhuận…
Trang 3631
- Những khó khăn gặp phải của các nông hộ nuôi cá bống bớp thương phẩm (thị trường, vốn, kỹ thuật, chất lượng con giống…) và phương hướng phát triển trang trại (nâng cấp thêm, mở rộng diện tích…)
Việc sắp xếp và xử lý này tạo điều kiện thuận lợi cho sự so sánh, đối chiếu và rút ra nhận xét cần thiết
Phương tiện xử lý: sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010 và các phương pháp thống kê kinh tế
2.4.2 Phân tích số liệu
Số liệu thu thập sau khi mã hoá và nhập vào máy tính sẽ được phân tích dựa vào các hàm thống kê như hàm Sum, Average, Min, Max .Các chỉ số thống kê được dùng để mô tả các thông số kỹ thuật các đặc trưng kinh tế xã hội của nông trại… và dựa vào các chỉ số này để rút ra nhận xét sau khi đã tiến hành phân tích so sánh
2.5 Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất
1Trong đó: GO là giá trị sản xuất
Qi là khối lượng sản phẩm thứ i
Pi là giá trị của sản phẩm i tương ứng
- Giá trị gia tăng (VA):
IC GO
Trong đó: VA là giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm
IC là chi phí trung gian
- Thu nhập hỗn hợp (MI):
A VA
Trang 3732
2.6 Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế
- Lợi nhuận (Pr) :
Pr = MI-CL Trong đó: CL là tiền công lao động gia đình (trực tiếp và quản lý tính theo giá lao động)
- Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng chi phí trung gian; cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất và cho 1 lao động:
+ Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng chi phí trung gian :
100
IC GO
+ Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất:
GO
+ Giá trị sản xuất tính cho 1 lao động:
+ Giá trị gia tăng tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất:
100
GO VA
+ Giá trị gia tăng tính cho một lao động:
LD VA
Trang 38+ Thu nhập hỗn hợp tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất:
100
GO MI
+ Thu nhập hỗn hợp tính cho 1 lao động:
LD MI
Trang 3934
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi cá bống bớp tại Nam Định
3.1.1 Những thông tin về chủ hộ nuôi cá bống bớp
3.1.1.1 Tuổi của chủ hộ
Tuổi trung bình của các hộ nuôi cá bống Bớp là: 40,2 tuổi, dao động từ 23÷63, trong đó dưới 30 tuổi (7,8%), từ 30÷50 tuổi (74,1%) trên 50 tuổi (18,1%) Qua điều tra cho thấy tuổi tác thể hiện kinh nghiệm sống cũng như thâm niên trong nghề nghiệp Nhưng tuổi tác nằm trong tuổi lao động thể hiện sức khoẻ tốt trong làm việc cũng như
sự nhanh nhạy trong sản xuất kinh doanh, trong việc tiếp nhận các thông tin khoa học
kỹ thuật và các công nghệ mới
Chủ hộ nuôi cá bống Bớp nhỏ hơn 30 tuổi chiếm 7,8% cho thấy lớp thanh niên trẻ ở Nam Định ít tham gia vào nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm Vì đây là một nghề đòi hỏi nhiều vốn, nhiều kinh nghiệm và sự kiên trì chịu khó trong công việc Tuy nhiên chính lớp trẻ mới là đối tượng tiếp nhận nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiến tiến và đưa công nghệ mới vào sản xuất Lớp người ở lứa tuổi trung niên chiếm 74,1% đây là lực lượng nòng cốt trong nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm Họ vừa có kinh nghiệm sống vừa có thâm niên nghề nghiệp ít nhiều,
họ đã tích luỹ được một số vốn nhất định trong nuôi cá bống bớp thương phẩm
Bảng 3.1 Phân bố tuổi của các chủ hộ nuôi cá bống bớp thương phẩm
3.1.1.2 Giới tính của chủ hộ nuôi cá bống bớp
Phần lớn chủ hộ nuôi cá là nam giới 99,1%, nữ giới chỉ có 0,9% Do nam giới
là người chủ gia đình (theo quan niệm của người phương đông) Hơn nữa nghề nuôi cá mang tính chất nặng nhọc, vất vả cần sức khỏe và sức chịu đựng dẻo dai trong điều
Trang 4035
kiện lao động khắc nghiệt nên phụ nữ cũng ít tham gia Tuy nhiên, thực tế phân công lao động trong nông hộ người phụ nữ cũng tham gia vào một số khâu nhất định trong sản xuất
3.1.1.3 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi cá
Đa số chủ hộ nuôi cá có trình độ văn hoá cấp 2 (68,1%); cấp 3 (26,7%); cấp 1 (5,2%), trình độ văn hoá ảnh hưởng đến khả năng tư duy, nhận thức và sự tiếp nhận kỹ thuật nuôi cá Trong điều kiện cá bống Bớp là đối tượng nuôi thương phẩm mới, các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi cá chưa nhiều thì trình độ văn hoá góp phần quan trọng trong việc tiếp nhận khoa học kỹ thuật mới giúp người nuôi làm chủ quy trình nuôi cá trong điều kiện môi trường nuôi ngày càng có nhiều biến đổi phức tạp
Bảng 3.2 Trình độ văn hoá của chủ hộ nuôi cá
3.1.1.4 Trình độ chuyên môn của chủ hộ
Số chủ hộ có trình độ trung cấp và đại học rất ít, trong khi số chủ hộ không được đào tạo chiếm chủ yếu (89,7%) Tỷ lệ này có ý nghĩa trong công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật nuôi cá cho người dân
Bảng 3.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ