TÓM TẮT Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu khám phá các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa Phú Yên, th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hiển
Nha Trang - năm 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Vỹ
Trang 3Đây là kết quả nghiên cứu đầu tiên của bản thân, vì vậy sự giúp đỡ từ các Thầy cô, bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình là rất lớn Trước tiên tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, quý
thầy cô Trường Đại học Nha Trang, Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Quốc gia TP
HCM, Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và hỗ trợ cho tôi
trong suốt thời gian theo học tại trường Xin cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ
của Lãnh đạo cơ quan BHXH Phú Yên, các anh chị ở Bệnh viện đa khoa Phú Yên đã
hỗ trợ tôi trong thời gian nghiên cứu tại Phú Yên Xin cảm ơn các bệnh nhân đã bỏ ra
chút ít thời gian quý báu của mình để hoàn thành bảng câu hỏi phỏng vấn Xin gởi lời
cảm ơn đến tập thể học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh khóa 2009 và gia đình
đã góp ý và động viên tôi trong quá trình học tập; đặc biệt, tôi muốn gởi lời cảm ơn
đến TS Nguyễn Thị Hiển đã giảng dạy và hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian học tập
và thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn tất cả!
Luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của Quý thầy cô và các bạn
Trang 4LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
TÓM TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài: 4
2 Mục tiêu của đề tài: 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 7
4 Phương pháp nghiên cứu: 7
5 Những kết quả đạt được của đề tài: 7
6 Kết cấu của luận văn: 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Dịch vụ 9
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ 9
1.1.2 Những đặc thù của ngành dịch vụ 9
1.1.2.1 Tính vô hình ( service intangibility) 9
1.1.2.2 Tính bất khả phân (service inseparability) 10
1.1.2.3 Tính khả biến của dịch vụ ( service variability) 10
1.1.2.4 Tính khả hủy của dịch vụ (service perishability) 11
1.2 Chất lượng dịch vụ 11
1.3 Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 13
1.3.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế 13
1.3.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ y tế 14
1.4 Sự hài lòng của khách hàng 15
1.4.1 Khái niệm về hài lòng của khách hàng 15
1.4.2 Sự hài lòng của của bệnh nhân đối với chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe 18 1.5 Các lý thuyết đánh giá quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 19
1.5.1 Mô hình 10 thành phần của chất lượng dịch vụ ( Thompson, 2002): 19
1.5.2 Mô hình chất lượng dịch vụ 5 khoảng cách (Parasuraman, Zeithaml và Berry, 1985; 1988) 20
1.5.3 Mô hình nhân quả giữa sự cảm nhận chất lượng của khách hàng với sự hài lòng (hài lòng) của khách hàng (Zeithaml và Bitner, 2000) 24
1.6 Xây dựng mô hình và giả thuyết quan hệ giữa chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và
Trang 5nhân ở Bệnh viện Phú Yên 27
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Quy trình nghiên cứu 31
2.2 Đo lường các cấu trúc trong mô hình đề xuất 33
2.2.1 Thang đo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 33
2.2.2 Thang đo sự hài lòng của bệnh nhân 36
2.3 Thiết kế nghiên cứu điều tra chính thức 37
2.3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 37
2.3.2 Xác định cỡ mẫu, quy cách chọn mẫu 37
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu và thu thập thông tin 38
2.4 Các phương pháp phân tích dữ liệu 38
2.4.1 Phương pháp phân tích độ tin cậy của thang - Hệ số Cronbach’s Alpha 38
2.4.2 Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) 39
2.4.3 Phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc - Structural Equation Modelling (SEM) 41
2.5 Các bước phân tích dữ liệu 49
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ YÊN 51
3.1 Tổng quan về Bệnh viện Phú Yên 51
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 51
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện đa khoa Phú Yên 52
3.1.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Phú Yên 53
3.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của Bệnh viện 55
3.3 Đánh giá tổng quan một số hoạt động quan trọng của Bệnh viên Đa khoa Phú Yên trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và sự hài lòng của bệnh nhân 60
3.3.1 Những thuận lợi và khó khăn 60
3.3.2 Thực trạng các yếu tố cơ sở của chất lượng dịch vụ y tế tại Bệnh viện 61
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68
4.1 Phân tích các đặc điểm của mẫu: 68
4.2 Các thông số thống kê mô tả của các biến quan sát 69
4.3 Đánh giá mô hình đo lường 71
4.3.1 Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 71
Trang 64.3.1.4 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha cho Thang do “Phương tiện hữu hình”74
4.3.1.5 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha cho Thang do “Chi phí” 75
4.3.1.6 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha cho Thang do “Hài lòng” 76
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo sử dụng 76
4.3.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho từng thang đo 77
4.3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA chung cho tất cả thang đo 80
4.3.3 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường các cấu trúc khái niệm trong mô hình 83
4.3.3.1 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường “Tin cậy” 83
4.3.3.2 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường “Đảm bảo” 84
4.3.3.3 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường “Nhiệt tình” 84
4.3.3.4 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường “Phương tiện hữu hình” 85
4.3.3.5 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường “Chi phí” 86
4.3.3.6 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường “Hài lòng” 86
4.3.4 Đánh giá mô hình đo lường bằng phân tích nhân tố xác định 87
4.3.5 Đánh giá độ tin cậy và độ giá trị hội tụ của các thang đo 89
4.3.6 Kiểm định độ giá trị phân biệt giữa các khái niệm 90
4.4 Đánh giá các quan hệ cấu trúc và kiểm định giả thuyết 91
4.5 Kiểm định sự khác biệt theo đối tượng khám chữa bệnh 93
4.6 Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap 97
CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ CÁC GIẢI PHÁP 100
5.1 Bàn luận kết quả 100
5.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện Phú Yên 102
5.2.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 103
5.2.2 Giải pháp nâng cấp cơ sở vật chất 105
5.2.3 Các giải pháp khác 106
5.2.3.1 Đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh 106
5.2.3.2 Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý và quy chế làm việc 107
5.2.3.3 Tăng cường công tác quản lý kinh tế trong bệnh viện 107
KẾT LUẬN - HẠN CHẾ - KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 115
Phụ lục 1: THANG ĐO SERVPERF VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 115
Trang 7Phụ lục 5: BẢNG KHẢO SÁT Ý KIẾN KHÁCH HÀNG VỀ CHẤT LƯỢNG 122
Phụ lục 6 Kết quả xử lý mô hình đo lường CFA hiệu chỉnh 126
Phụ lục 7 Kết quả xử lý mô hình phương trình cấu trúc 129
Trang 8- BHXH: Bảo hiểm xã hội
- BHYT : Bảo hiểm Y tế
- CFA (Confirmatory Factor Analysis): Phân tích nhân tố xác định
- CKI: Chuyên khoa 1
- CKII: chuyên khoa 2
- PTNS: Phẩu thuật nội soi
- SEM(Structural Equation Modelling): Mô hình hóa phương trình cấu trúc
- SPSS: (Statistical Package for Social Sciences):Phần mềm xử lý thống kê dùng
trong các ngành khoa học xã hội
- WHO: (World Health Organization): Tổ chức Y tế thế giới
Trang 9Bảng 3.1 Báo cáo hoạt động sự nghiệp của Bệnh viện đa khoa Phú Yên 57
Bảng 3.2 Nguồn nhân lực y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên 59
Bảng 4.1 Thông tin các bệnh nhân được phỏng vấn 68
Bảng 4.2 Các thông số thống kê mô tả của các biến quan sát 70
Bảng 4.3 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Tin cậy” 71
Bảng 4.4 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Tin cậy” lần 2 72
Bảng 4.5 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Đảm bảo” 72
Bảng 4.6 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Đảm bảo” lần 2 73
Bảng 4.7 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Nhiệt tình” 73
Bảng 4.8 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Nhiệt tình” lần 2 74
Bảng 4.9 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Phương tiện hữu hình” 74
Bảng 4.10 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Phương tiện hữu hình” 75
Bảng 4.11 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Chi phí” 75
Bảng 4.12 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Chi phí” lần 2 76
Bảng 4.13 Phân tích độ tin cậy cho thang đo “Hài lòng” 76
Bảng 4.14 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo “Tin cậy” 77
Bảng 4.15 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo “Đảm bảo” 77
Bảng 4.16 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo “Nhiệt tình” 78
Bảng 4.17 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo “Phương tiện hữu hình” 79
Bảng 4.18 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo “Chi phí” 79
Bảng 4.19 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo “Hài lòng” 80
Bảng 4.20 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho tất cả các thang đo: 81
Bảng 4.21 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho tất cả các thang đo lần 2: 82
Bảng 4.22 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Tin cậy” 83
Bảng 4.23 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Đảm bảo” 84
Bảng 4.24 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Nhiệt tình” 84
Bảng 4.25 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Phương tiện hữu hình” 85
Bảng 4.26 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Chi phí” 86
Bảng 4.27 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “hài lòng” 86
Bảng 4.28 Các chỉ số thống kê phản ảnh độ phù hợp của mô hình đo lường ban đầu 87
Trang 10Bảng 4.30 Các chỉ số thống kê phản ảnh độ phù hợp của mô hình đo lường điều chỉnh 89
Bảng 4.31 Cấu trúc khái niệm, trọng số nhân tố và độ tin cậy tổng hợp 89
Bảng 4.32 Hệ số tương quan, trung bình và sai số chuẩn của các khái niệm 90
Bảng 4.33 Các chỉ số thống kê phản ảnh độ phù hợp của mô hình phương trình cấu trúc 91
Bảng 4.34 Kiểm định các quan hệ cấu trúc trong mô hình đề xuất 92
Bảng 4.35 Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích (bất biến và khả biến theo đối tượng
khám chữa bệnh) 95
Bảng 4.36 Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến 96
Bảng 4.37 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 500 98
Trang 11Hình 1.2: Mô hình chất lượng dịch vụ 21
Hình 1.3 Mô hình nhân quả giữa sự cảm nhận chất lượng và sự hài lòng của khách hàng (Zeithaml & Bitner, 2000)………26
Hình 1.4 Mô hình đề xuất chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của bệnh nhân 29
Hình 2.1 Trình bày quy trình nghiên cứu (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2003) .32
Hình 4.1: Sơ đồ đường dẫn chuẩn hóa của các quan hệ cấu trúc 93
Hình 4.2: Kết quả SEM khả biến theo nhóm bệnh nhân có thẻ BHYT 94
Hình 4.3: Kết quả SEM khả biến theo nhóm bệnh nhân không có thẻ BHYT 95
Hình 4.4: Kết quả SEM bất biến theo nhóm bệnh nhân có thẻ BHYT 96
Hình 4.5: Kết quả SEM bất biến theo nhóm bệnh nhân không có thẻ BHYT 97
Trang 12TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu khám phá các nhân tố tác động
đến sự thỏa mãn của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại
Bệnh viện đa khoa Phú Yên, thông qua đó để xem xét, tìm hiểu ý kiến đóng góp
thực tế của bệnh nhân đối với dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa Phú
Yên, từ đó sẽ đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ khám chữa bệnh trong tương lai
Kết quả nghiên cứu đã giúp hình thành mô hình nghiên cứu mới phù hợp với
thực tế dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu Ở mô hình nghiên cứu mới
này gồm những thang đo có độ tin cậy giúp đo lường thành phần chất lượng dịch vụ
và sự thỏa mãn của bệnh nhân khi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Phú Yên Tất cả
những kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra được mức độ quan trọng hay thứ tự ưu tiên
của các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng Ngoài ra nghiên cứu
này còn góp phần vào hệ thống thang đo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại
Bệnh viện Phú Yên nói riêng và Việt Nam nói chung
Nghiên cứu đã thực hiện được đầy đủ các nội dung và đi theo trọng tâm các
mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, kết quả phân tích đôi khi còn nhiều chỗ bị trùng lắp vì
phải thực hiện các bước nghiên cứu khác nhau của cùng một nội dung nhưng cũng
đã đưa ra được nội dung cần nghiên cứu, kết luận và chỉ rõ kết quả nghiên cứu Tuy
nhiên, với những hạn chế nhất định, việc đọc – phân tích - kết luận về kết quả
nghiên cứu đôi khi vẫn còn những hàm ý mang tính chủ quan
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
Tổng quan tài liệu về vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới
Các nghiên cứu tại Việt Nam
Có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ
khám chữa bệnh, cũng như sự hài lòng của bệnh nhân liên quan đến việc khám chữa
bệnh tại các cơ sở y tế tại Việt Nam Đề tài này cung cấp một số các nghiên cứu
chính, quan trọng liên quan đến lĩnh vực này trong thời gian gần đây
Lê Nữ Thanh Uyên đã thực hiện một nghiên cứu trên 220 bệnh nhân đến
khám và điều trị tại bệnh viện Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An Nghiên cứu
này đánh giá cảm nhận của bệnh nhân về các khía cạnh chất lượng dịch vụ khám
chữa bệnh như việc theo dõi và điều trị, chăm sóc điều dưỡng, thông tin hướng dẫn,
thủ tục hành chánh, phục vụ ăn uống, vệ sinh bệnh nhân, phòng lưu bệnh, cũng như
sự hài lòng chung của bệnh nhân Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được có một sự
tương quan rất lớn giữa các khía cạnh dịch vụ khám chữa bệnh và mức độ hài lòng
của bệnh nhân Chẳng hạn, khoảng 90.0 % bệnh nhân cho rằng họ hài lòng về bệnh
viện Kết quả này có được là do đa số bệnh nhân đều đánh giá các khía cạnh chất
lượng phục vụ trên là khá cao[27]
Một nghiên cứu tương tự khác được thực hiện bởi Phan Văn Tường tại bệnh
viện Phụ sản – Hải Phòng cho thấy rằng thái độ phục vụ tốt của các nhân viên y tế
là lý do chính giải thích cho việc lựa chọn các dịch vụ y tế của bệnh nhân Thái độ
phục vụ tốt cũng là nguyên nhân chính mang lại sự hài lòng cao và mức độ sẵn sàng
chi trả cao hơn của các bệnh nhân[24]
Một nghiên cứu tại Bệnh viên Hòa Bình do Nguyễn Đức Thành đã tìm thấy
mối tương quan cao giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người bệnh Tác giả
cũng thấy rằng chất lượng dịch vụ được cấu thành bởi các bốn khía cạnh: cơ sở vật
chất và trang thiết bị y tế, giao tiếp và tương tác với bác sỹ, chăm sóc sức khỏe, thời
gian chờ đợi[20]
Trang 14Ngô Thị Ngoãn thực hiện một nghiên cứu tại 5 bệnh viện thuộc khu vực Hà
Nội và các tỉnh phía Bắc đã chỉ ra rằng mức độ hài lòng của bệnh nhân chủ yếu do
các yếu tố tinh thần, thái độ phục vụ của bác sĩ, điều dưỡng; tổ chức đón tiếp bệnh
nhân; giá cả dịch vụ; thời gian chờ đợi mang lại[14]
Một số các nghiên cứu khác cũng cho kết quả khá tương tự về mối quan hệ
chặt chẽ giữa chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh[10,
17, 19]
Dựa vào tổng quan tài liệu trên đây, có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu của
đề tài là không mới Tuy nhiên, tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Yên, vấn đề chất
lượng khám chữa bệnh và làm hài lòng bệnh nhân đang là mục tiêu đặt ra hàng đầu
nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cho người bệnh, nhưng các đánh giá của Bệnh
viện chủ yếu dựa vào các con số thống kê về thành tích đạt được của Bệnh viện chứ
chưa phản ảnh được các quan điểm của bệnh nhân trong đánh giá Vì vậy, đề tài này
sẽ góp phần cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về chất lượng dịch vụ y tế của Bệnh viện
Các nghiên cứu trên Thế giới
Hendriks và ctg cho rằng chất lượng chăm sóc y tế và các chương trình cải
thiện chất lượng là các yếu tố quan trọng mang đến sự hài lòng cho bệnh nhân
Nhân viên y tế cần phải nhận biết sự đánh giá của người bệnh trong thời gian nằm
viện là sự phản ảnh chân thật quan điểm của họ[35]
Nghiên cứu của Tso và ctg thấy rằng sự hài lòng của bệnh nhân có thể được
giải thích bởi 9 nhân tố thuộc chất lượng dịch vụ bao gồm môi trường vật chất,
trang thiết bị và sự thuận tiện, sắp xếp hẹn gặp, thời gian chờ đợi, dịch vụ ở phòng
khám bệnh và cấp thuốc, nhân viên hỗ trợ, bác sỹ khám bệnh, tính chuyên nghiệp
của bác sỹ, sự giải thích của bác sỹ, thời gian tư vấn[49]
Vukmir tìm thấy rằng khía cạnh thuận tiện trong chăm sóc bệnh nhân là một
nhân tố quan trọng giải thích cho sự hài lòng của người bệnh ở bộ phận cấp cứu Cụ
thể, thời gian và mức độ chăm sóc khẩn cấp là hai nhân tố quan trọng trong tình
huống này[51]
Trang 15Vinagre và Neves phát hiện rằng chất lượng dịch vụ và các yếu tố cảm xúc là
các nguyên nhân quan trọng đưa đến sự hài lòng cho bệnh nhân Đặc biệt, trong
nghiên cứu này, các thành phần chất lượng trong thang đo SERVPERF được tác giả
sử dụng để hình thành thang đo chất lượng dịch vụ y tế chung[50]
Tương tự, Akter, Upal và Hani vận dụng mô hình khái niệm chất lượng dịch
vụ 5 khoảng cách của Zeithaml và Berry cũng như ứng dụng thang đo SERVPERF
của Parasuraman, Zeithaml and Berry để nghiên cứu sự hài lòng của bệnh nhân Họ
thấy rằng chất lượng dịch vụ được cấu thành bởi 5 thành phần bao gồm: Đáp ứng,
Sự đảm bảo, Giao tiếp, Cơ sở vật chất và Giá trị khách hàng Đặc biệt cả 5 thành
phần này đều có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của người bệnh[28, 42, 43]
Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Choi, Lee, Kim và Lee đã chỉ ra
rằng chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh về mắt được cấu thành gồm 4 thành phần
Sự quan tâm của bác sỹ nhãn khoa, Sự quan tâm của đội ngũ y tế, Sự thuận tiện của
quá trình khám chữa bệnh và Trang bị cơ sở vật chất Nghiên cứu của họ cũng chỉ
ra rằng chất lượng dịch vụ là biến số chính giải thích cho sự hài lòng của bệnh
nhân[30]
Nói chung, rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến lĩnh vực chất
lượng dịch vụ y tế và sự hài lòng của bệnh nhân đều cho rằng chất lượng dịch vụ là
một cấu trúc đa thành phần, trong đó thang đo SERVPERF thường được sử dụng
như một chuẩn để đo lường Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ cũng là nhân tố quan
trọng nhất giải thích cho sự hài lòng của bệnh nhân Vì vậy, đề tài này vận dụng
thang đo SERVPERF làm cơ sở để đo lường chất lượng dịch vụ y tế tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Phú Yên, cũng như nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần chất
lượng dịch vụ này đến sự hài lòng của người bệnh
1 Lý do chọn đề tài:
Qua hơn 20 năm đổi mới, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Mạng lưới y tế ngày càng được
củng cố, các dịch vụ y tế ngày một đa dạng, nhiều công nghệ mới được nghiên cứu
Trang 16và ứng dụng Nhân dân được chăm sóc tốt hơn Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ
Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2005) “Về công tác bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” (Nghị quyết số 46-NQ/TW,
ngày 23 tháng 02 năm 2005), công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ở nước ta vẫn
còn nhiều bất cập, trong đó có vấn đề về chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của nhân dân, những vi phạm đạo đức nghề nghiệp của một
số cán bộ y tế chậm được khắc phục… Nguyên nhân được nêu lên là do quản lý nhà
nước trong lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập; một số chính sách về y tế không còn phù
hợp nhưng chậm được sửa đổi hoặc bổ sung; việc quản lý hoạt động khám, chữa
bệnh và hành nghề y dược chưa chặt chẽ; đầu tư của Nhà nước cho y tế còn thấp,
phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hợp lý, kém hiệu quả Chưa có những giải pháp
hữu hiệu để huy động các nguồn lực từ cộng đồng và xã hội cho công tác bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe nhân dân[2]
Theo Báo Phú Yên đưa tin số 1108, ngày 5-8-2010, trang 8 “Nhiều cử tri
trong tỉnh kiến nghị: cần chấn chỉnh cách đối xử phân biệt của một số cán bộ y tế
trong việc khám chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế và khám dịch vụ” Về tinh
thần thái độ phục vụ , chỉ định chuyên môn đều bình đẳng cho mọi đối tượng Tuy
nhiên có sự khác biệt khi thực hiện quy trình khám như: đối với người có thẻ
BHYT, ngoài các thủ tục như đóng viện phí còn phải thêm một số thủ tục do bảo
hiểm y tế quy định Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cũng cho
rằng, sở dĩ xảy ra tình trạng quá tải do y tế tuyến dưới chưa đáp ứng yêu cầu khám,
chữa bệnh cho người dân Bên cạnh đó, một phần tâm lý của người dân không tin
vào công tác khám chữa bệnh ở cơ sở
(Nguồn:http://vietbao.vn/Chinh-Tri/Goi-y-giai-quyet-tinh-trang-qua-tai-benh-vien/20730677/73/) Hơn nữa, chính điều kiện
cơ sở vật chất xuống cấp, tình trạng quá tải tại các cơ sở điều trị kéo dài, đã tạo
nhiều áp lực cho cán bộ y tế khi thực hiện nhiệm vụ, nên không loại trừ một số ít
cán bộ y tế khi tiếp xúc với người bệnh thiếu niềm nở, làm cho bệnh nhân và người
nhà bệnh nhân chưa thật sự hài lòng Đây cũng chính là thực trạng chung của toàn
ngành y tế như được chỉ ra bởi các nghiên cứu trước đây (ví dụ, Vũ Văn Quốc và
Trang 17ctg,) rằng bệnh nhân chưa thật sự hài lòng với chất lượng chăm sóc sức khỏe tại các
bệnh viện công lập[17]
Vì vậy, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ, y đức nghề nghiệp được ngành y
xác định là một trong những giải pháp quan trọng, để nâng cao chất lượng điều trị
và hướng đến sự hài lòng của người bệnh Từ thực tế đó, đánh giá chất lượng chất
lượng dịch vụ khám chữa bệnh, nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và
sự thỏa mãn của người bệnh về chất lượng dịch khám chữa bệnh là việc làm rất có ý
nghĩa nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh trong thời gian tới Với
các lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại
Bệnh viện Phú Yên” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu chung của đề tài đánh giá cảm nhận của bệnh nhân về các khía
cạnh chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ở Bệnh viên Đa khoa Tỉnh Phú Yên, và
ảnh hưởng của chúng đến sự hài lòng của người bệnh Để giải quyết mục tiêu chung
này, đề tài hướng đến các mục tiêu cụ thể sau:
- Cung cấp tổng quan tài liệu về lĩnh vực nghiên cứu chất lượng dịch vụ
- Đánh giá tổng quan về thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ khám chữa
bệnh của Bệnh viên Đa khoa Tỉnh Phú yên trong thời gian qua
- Xây dựng mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ khám
chữa bệnh và sự thỏa mãn của khách hàng theo mô hình chất lượng dịch vụ
Servperf
- Điều chỉnh thang đo các thành phần chất lượng dịch vụ theo mô hình
Servperf sao cho phù hợp với dịch vụ khám chữa bệnh
- Kiểm định mô hình giả thuyết và xác định các thành phần tác động đến sự
thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
- Dựa vào kết quả khảo sát, nghiên cứu đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng
cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của Bệnh viện Phú Yên
Trang 183 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh đến khám và điều trị bệnh tại Bệnh viện
Đa khoa Tỉnh Phú Yên, trên 18 tuổi, có đủ năng lực để trả lời các câu hỏi điều tra
Đề tài dự kiến thu thập một mẫu đại diện gồm 200 bệnh nhân làm cơ sở nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Bệnh nhân trên địa bàn tỉnh Phú Yên, thời gian nghiên
cứu: 6 tháng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2 bước chính: Nghiên cứu sơ bộ
thông qua phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức thông qua phương pháp
định lượng
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính
với kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử Mục đích của nghiên cứu này dùng
để điều chỉnh và bổ sung thang đo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định
lượng Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn bệnh nhân
đã hoặc đang điều trị bệnh tại Bệnh viện Phú Yên
Thông tin thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Thang đo
sau khi được đánh giá bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, đánh
giá độ tin cậy dựa vào hệ số Cronbach’s alpha, khẳng định độ tin cậy và giá trị của
các thang đo bằng phân tích CFA, kiểm định mô hình giả thuyết và các giả thuyết
đề xuất dựa vào phương pháp mô hình cấu trúc SEM
5 Những kết quả đạt được của đề tài:
Nghiên cứu các lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách
hàng nói chung, từ đó xây dựng mô hình thang đo chất lượng dịch vụ khám chữa
bệnh và sự thỏa mãn của bệnh nhân được áp dụng tại Bệnh viện Phú Yên nói riêng
và cho các cơ sở khám chữa bệnh nói chung
Trang 19Phân tích thực trạng hoạt động của Bệnh viện trong năm 2009 và năm 2010,
bao gồm những kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn tại Tiếp đến đề tài
phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của Bệnh viện dựa trên
quan điểm đánh giá của bệnh nhân Cuối cùng, đề tài đưa ra một số kiến nghị và
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh trong giai đoạn hiện
nay, góp phần phát triển dịch vụ khám chữa bệnh của Bệnh viện trong tương lai
6 Kết cấu của luận văn:
Kết cấu đề tài bao gồm các phần và chương sau:
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2: Quy trình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa Phú Yên
Chương 4: Phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bàn luận kết quả và các giải pháp
Kết luận - Hạn chế của đề tài - Kiến nghị
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Dịch vụ
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ như:
Theo Kotler cho rằng: “Dịch vụ (service) là một hoạt động hay một lợi ích
mà bên này cống hiến cho bên kia mà, về cơ bản, nó vô hình và không dẫn đến sự
sở hữu bất kỳ thứ gì Sản xuất của nó có thể hoạt không hề gắn liền với một sản
phẩm vật chất” [40]
Theo Bùi Nguyên Hùng cho rằng: “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt
động nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau Mục đích của
việc tương tác này là nhằm hài lòng nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo
cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng”[12]
Theo Fitzsimmons và ctg cho rằng: “Dịch vụ là một hoặc một loạt các hoạt
động ít nhiều có bản chất vô hình xảy ra trong sự tương tác giữa khách hàng và các
nguồn lực của nhà cung cấp dịch vụ mà nguồn lực này được coi như là giải pháp đối
với vấn đề của khách hàng” [32]
1.1.2 Những đặc thù của ngành dịch vụ
Dịch vụ có một số đặc thù mà nhờ đó chúng ta có thể phân biệt với các loại
hàng hóa hữu hình khác Người ta thừa nhận rằng dịch vụ có một số đặc thù sau
(Xem Nguyễn Thượng Thái[18]):
1.1.2.1 Tính vô hình ( service intangibility)
Phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình Dịch vụ không thể cân đo
đong đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua để kiểm tra chất lượng Với lý
do là vô hình nên rất khó cho các nhà quản lý của các công ty tìm hiểu nhận thức
của khách hàng về dịch vụ của họ cũng như việc khách hàng đánh giá chất lượng
dịch vụ như thế nào Do vậy, để giảm thiểu sự bất an, khách hàng mua tìm kiếm
“các dấu hiệu” về chất lượng dịch vụ Họ rút ra kết luận về chất lượng từ các tư liệu
Trang 21nơi chốn, con người, giá cả, thiết bị, truyền thông mà họ có thể thấy Còn nhiệm vụ
của các nhà cung cấp dịch vụ là làm cho dịch vụ trở nên hữu hình bằng cách này
hay cách khác
1.1.2.2 Tính bất khả phân (service inseparability)
Hàng hóa cụ thể được sản xuất, rồi được cất trữ, được buôn bán về sau, và
rồi mới được tiêu thụ về sau nữa Trái lại, dịch vụ được bán trước, rồi mới được sản
xuất và tiêu dùng đồng thời cùng một lúc Tính bất khả phân của dịch vụ, đặc biệt
đối với những dịch vụ có hàm lượng cao về sức lao động của con người, có nghĩa
rằng người ta không thể chia cách dịch vụ với người cung cấp chúng, cho dù người
cung cấp đó là người hay là máy Lý do là hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ
các nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng và chất lượng dịch vụ cung cấp cũng
không như nhau theo từng ngày, tháng và năm kinh doanh Nếu một nhân viên dịch
vụ cung cấp dịch vụ làm công, thì nhân viên đó là một phần của dịch vụ.Việc đòi
hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rất khó đảm bảo Một dịch
vụ được thực hiện tại cùng một công ty, cùng một nhân viên phục vụ nhưng tại thời
điểm khác nhau thì có thể đem lại hiệu quả rất khác nhau Như vậy, dịch vụ có tính
không đồng nhất cao hay nói cách khác việc chuẩn hóa chất lượng dịch vụ rất khó
thực hiện Cả người cung cấp dịch vụ lẫn khách hàng đồng ảnh hưởng đến kết quả
dịch vụ
1.1.2.3 Tính khả biến của dịch vụ ( service variability)
Tính khả biến của dịch vụ (service variability) có nghĩa rằng chất lượng của
dịch vụ phụ thuộc vào ai cung cấp chúng, lẫn khi nào, ở đâu và cách nào chúng
được cung cấp Các công ty dịch vụ có thể thực hiện một số biện pháp để giúp quản
lý tính khả biến của dịch vụ Họ có thể chọn và huấn luyện cẩn thận nhân viên mình
để mang lại sự phục vụ tuyệt hảo Họ có thể cung cấp cho nhân viên những phần
thưởng mang tính nhấn mạnh đến chất lượng, chẳng hạn như giải thưởng nhân viên
trong tháng hay tiền thưởng dựa trên các phản hồi của khách Một công ty có thể
kiểm tra sự hài lòng của khách một cách đều đặn thông qua hệ thống góp ý và khiếu
Trang 22nại, các điều tra khách hàng, và mua sắm so sánh Khi thấy có sự phục vụ tệ, công
ty có thể sửa chữa chúng
1.1.2.4 Tính khả hủy của dịch vụ (service perishability)
Tính khả hủy của dịch vụ có nghĩa rằng người ta không thể cất trữ dịch vụ để
bán hay sử dụng về sau Tính khả hủy của dịch vụ không trở thành vấn đề nếu nhu
cầu bình ổn Nhưng, khi nhu cầu lúc trồi lúc sụt, các công ty dịch vụ thường gặp
nhiều khó khăn Chẳng hạn, các công ty chuyên chở công cộng phải có thêm nhiều
phương tiện hơn so với lúc nhu cầu diễn ra đều đều trong suốt cả ngày
Chính vì vậy dịch vụ có những đặc điểm riêng so với các ngành khác:
(1) Khách hàng là một thành viên trong quá trình dịch vụ
(2) Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời
(3) Khả năng sản xuất sẽ bị mất nếu không sử dụng do dịch vụ không thể tồn trữ
được và do vậy sẽ mất đi nếu không được sử dụng
(4) Việc lựa chọn điểm phục vụ bị ràng buộc bởi khách hàng: khách hàng và nhân
viên nhà cung cấp dịch vụ phải gặp nhau để một dịch vụ có thể thực hiện, do vậy
điểm phục vụ phải gần khách hàng
(5) Sử dụng nhiều lao động
(6) Tính vô hình: Khách hàng không thể nhìn, chạm vào và dùng thử trước khi mua
(7) Khó khăn trong việc đo lường, đánh giá sản phẩm tạo ra; đếm số lượng khách
hàng được phục vụ nhiều không phải là thước đo để đánh giá chất lượng dịch vụ đã
thực hiện
1.2 Chất lượng dịch vụ
Những đặc trưng của dịch vụ đã tạo ra rất nhiều khác biệt trong việc định
nghĩa chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ Trong khi người tiêu dùng có thể
đánh giá chất lượng của sản phẩm hữu hình một cách dễ dàng thông qua hình thức,
kiểu dáng sản phẩm, bao bì đóng gói, giá cả, uy tín thương hiệu,… thông qua việc
Trang 23chạm vào sản phẩm, nắm, ngửi, nhìn trực tiếp sản phẩm để đánh giá thì điều này lại
không thể thực hiện đối với những sản phẩm dịch vụ vô hình vì chúng không đồng
nhất với nhau nhưng lại không thể tách rời nhau Svensson cho rằng chất lượng dịch
vụ sẽ được thể hiện trong suốt quá trình sử dụng dịch vụ, quá trình tương tác giữa
khách hàng và người cung cấp dịch vụ đó [47]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ của nhiều tác giả khác
nhau Ví dụ, Powell cho rằng:“Chất lượng dịch vụ như là sự khác biệt giữa mong
đợi và nhận thức về dịch vụ thật sự nhận được” [44], Parasuraman nói rằng “Chất
lượng dịch vụ là sự đánh giá toàn diện về thái độ hướng tới sự vượt trội của dịch
vụ”[43], còn Zeithaml và Bitner cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là sự cung cấp dịch
vụ vượt trội so với mong đợi khách hàng”[55] Thông qua định nghĩa của hai tác giả
Zeithaml và Bitner, ta có thể thấy rõ có sự phân biệt giữa chất lượng chức năng và
chất lượng kết quả kỹ thuật Trong khi chất lượng chức năng quan tâm tới quá trình
cung cấp dịnh vụ, quá trình này gắn liền với thái độ hay hành vi của nhân viên phục
vụ và tốc độ của dịch vụ, còn chất lượng kết quả kỹ thuật tập trung vào kết quả của
quá trình cung cấp dịch vụ, nghĩa là cái mà khách hàng nhận được Chi tiết hơn,
Parasuraman, Zeithaml và Berry đã cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách
giữa sự mong đợi của khách hàng về những tiện ích mà dịch vụ sẽ mang lại cho họ
và nhận thức, cảm nhận của họ về kết quả họ có được sau khi đã sử dụng qua dịch
vụ đó Đây có thể được xem là một khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý
nghĩa của chất lượng dịch vụ, đồng thời cũng chính xác nhất khi xem xét chất lượng
dịch vụ trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trọng tâm[42]
Vì vậy, chất lượng không có một cách ngẫu nhiên mà là kết quả của ý định
quyết đoán, nỗ lực nghiêm túc, hướng đi thông minh và sự thực thi khéo léo Chất
lượng gắn liền các quy trình, nhiệm vụ và kỳ vọng về kết quả thực hiện Al-Assaf
nói rằng, chất lượng như là các hoạt động, hiện tượng đã được lập kế hoạch, được
nhắm tới và phấn đấu để thực hiện Nó là một quy trình, phải luôn luôn được cải
thiện và lấy khách hàng làm trung tâm, vì vậy việc đáp ứng được nhu cầu và mong
đợi của khách hàng là mục đích chính của chất lượng[9]
Trang 241.3 Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
1.3.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế
Theo WHO cho rằng: Chất lượng chăm sóc y tế là mức độ mà dịch vụ y tế
cho cá nhân và cho công chúng nâng cao khả năng đạt được các mong muốn về sức
khỏe và tương đồng với kiến thức chuyên môn hiện đại[54] Theo định nghĩa này,
chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm cả hai nội dung: sự gắn bó chặt chẽ
giữa những hướng dẫn dựa trên bằng chứng và những khuyến cáo thực hành, hiệu
quả trong việc cải thiện những kết quả về sức khỏe và quá trình chăm sóc y tế
Đối với cá nhân và công chúng, chất lượng chăm sóc liên quan đến những kỳ
vọng và kinh nghiệm của hệ thống y tế và một mức độ nhất định mà một người
được trao quyền để đạt được trạng thái sức khỏe tốt hơn[54] Đối với những dịch vụ
đòi hỏi có sự tham gia ý kiến của người tiêu dùng như dịch vụ khám chữa bệnh thì
đơn vị cung cấp dịch vụ ít thực hiện việc kiểm soát, quản lý về chất lượng vì người
tiêu dùng ảnh hưởng đến quá trình này Trong trường hợp như vậy, ý kiến của bệnh
nhân mô tả các triệu chứng bệnh cho bác sĩ, sự tham gia ý kiến của bệnh nhân trở
nên quan trọng đối với chất lượng của hoạt động dịch vụ
Để nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, ngày nay
các bệnh viện đang thực hiện chăm sóc toàn diện Quy chế bệnh viện nêu rõ: Chăm
sóc toàn diện là sự chăm sóc và điều trị của bác sĩ và điều dưỡng nhằm đáp ứng nhu
cầu cơ bản của người bệnh cả về thể chất tinh thần trong thời gian điều trị tại bệnh
viện Gia đình người bệnh chỉ được tham gia chăm sóc khi được bác sĩ điều trị yêu
cầu và được điều dưỡng hướng dẫn[3] Một định nghĩa khác về chăm sóc toàn diện
dựa theo lý thuyết hệ thống và chủ nghĩa nhân văn là bao gồm các hoạt động điều
trị, theo dõi và chăm sóc nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh về thể
chất và tinh thần trong thời gian điều trị tại bệnh viện Một cách khác, chăm sóc
người bệnh toàn diện là sự kết hợp hài hòa các hoạt động của thầy thuốc, của điều
dưỡng và các hoạt động hỗ trợ khác nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản về vật chất
Trang 25và tinh thần của người bệnh (xem Nguyễn Chí Phi[15]) Có thể mô hình hóa chăm
sóc toàn diện như sau:
Hình 1.1 Chăm sóc toàn diện[13]
Như vậy, kết quả đầu ra của chăm sóc toàn diện ngoài mô hình chăm sóc,
chất lượng chăm sóc, quy trình chăm sóc chuẩn, kỹ thuật, kỹ năng và thái độ chăm
sóc còn có thêm một yếu tố là sự hài lòng của người bệnh
1.3.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ y tế
Institute of Medicine cho rằng, người bệnh hay “khách hàng” theo thuật ngữ
của chiến lược tiếp thị hiện đại ngày càng quan tâm đến chất lượng dịch vụ chăm
sóc sức khỏe, với 3 lý do là: ngày càng có nhiều phương pháp điều trị bệnh khác
nhau; số lượng người bệnh mắc các bệnh mãn tính ngày càng nhiều và tổng chi phí
cho chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng[36] Mặc dù vậy, hệ thống y tế ở các quốc
gia trên thế giới lại ít thay đổi để đáp ứng với những nhu cầu về chất lượng chăm
sóc sức khỏe ngày càng gia tăng của người bệnh[53]
Nghiên cứu về chất lượng chăm sóc sức khỏe do đó là vấn đề quan trọng
trong các hệ thống y tế nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế được cung cấp
cho khách hàng Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về một phương
Đầu vào (Input)
- Nhân lực
- Phương tiện chăm sóc
- Kinh phí
Hoạt động (Activities)
- Tổ chức chăm sóc toàn diện
- Chuẩn hóa kỹ thuật
Trang 26pháp đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Các ý kiến bất đồng, tranh
luận là về những khía cạnh đo lường chất lượng cũng như đối tượng nào để đánh
giá: người nhận dịch vụ hay người cung cấp dịch vụ Đặc biệt là sự khác nhau giữa
chất lượng “chuyên môn” và chất lượng “chức năng”.Theo Gronroos, chất lượng
“chuyên môn” là mức độ tuân thủ các quy định, nguyên tắc, quy trình về chuyên
môn, kỹ thuật, còn chất lượng “chức năng” là cách thức, môi trường mà các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe được cung cấp[34]
Mặc dù thế, nhiều nghiên cứu về quản lý chất lượng thông qua sự hài lòng
của khách hàng là đối tượng chính để đánh giá chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe được cung cấp Ward, Rolland & Patterson nghiên cứu thấy rằng: Vì bệnh
nhân không thể đánh giá được chất lượng chuyên môn do ở vị trí người nhận dịch
vụ, người bệnh cho rằng đa số nhân viên y tế có trình độ chuyên môn như nhau[52]
Như vậy, có nhiều phương thức để đánh giá chất lượng dịch vụ y tế, nhưng ngày
nay, sự hài lòng của người bệnh là một nội dung quan trọng của chất lượng bệnh
viện[22]
Theo Donabedian (1980) có 3 nhóm tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng:
- Nhóm tiêu chuẩn cấu trúc: các tiêu chuẩn tổ chức, mô hình quản lý, trang thiết bị,
cơ sở vật chất cho chăm sóc
- Nhóm tiêu chuẩn quy trình: các tiêu chuẩn thực hành nghề nghiệp
- Nhóm tiêu chuẩn kết quả: tình trạng sức khỏe của người bệnh, những lợi ích mà
người bệnh nhận được từ dịch vụ chăm sóc y tế, sự hài lòng của người bệnh[31]
Ke Ping, Yang, Lillian và Chen cho rằng để đánh giá chất lượng chăm sóc y
tế thì sự hiểu biết của người bệnh là phán quyết chủ quan còn sự hài lòng của người
bệnh là phán quyết khách quan[30]
1.4 Sự hài lòng của khách hàng
1.4.1 Khái niệm về hài lòng của khách hàng
Nói đến chất lượng dịch vụ người ta thường cho rằng đó cũng chính là độ hài
Trang 27lòng của khách hàng Tuy nhiên, có nhiều định nghĩa khác nhau về “Sự hài lòng
khách hàng” cũng như cách thức khác nhau đánh giá về sự hài lòng của khách hàng
Sự hài lòng theo Parasuraman là kết quả tổng hợp của chất lượng dịch vụ,
chất lượng sản phẩm và giá[43] Nói cách khác, sự hài lòng của khách hàng là giá
trị cảm nhận của khách hàng Giá trị ở đây được hiểu là “tôi sẽ nhận được gì ứng
với điều tôi bỏ ra” Theo Zeithaml và Bitner thì “sự hài lòng là quá trình nhận xét,
đánh giá của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ mà sản phẩm hay dịch vụ này có
đáp ứng được các nhu cầu và sự kì vọng của họ hay không”[55] Quan điểm này là
phù hợp cách tiếp cận của Kotler cho rằng sự hài lòng là cảm giác tích cực của một
người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng
của người đó[40] Vì vậy, ta có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng là quá trình như
sau: trước hết, khách hàng hình thành trong suy nghĩ của mình những kỳ vọng về
những yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ mà nhà cung cấp có thể mang lại
cho họ trước khi các khách hàng quyết định mua; sau đó, việc mua dịch vụ và cảm
nhận dịch vụ sẽ làm cho khách hàng cảm nhận được chất lượng thực sự của các dịch
vụ; tiếp theo khách hàng sẽ so sánh hiệu quả mà dịch vụ này mang lại với những gì
mà họ kì vọng trước khi mua dịch vụ Sự thoả mãn của khách hàng chính là kết quả
của sự so sánh này và sẽ có 3 trường hợp: kỳ vọng của khách hàng được xác nhận
nếu hiệu quả của dịch vụ đó hoàn toàn trùng với kỳ vọng của khách hàng; thất vọng
nếu hiệu quả dịch vụ không phù hợp với kỳ vọng của khách hàng; hài lòng nếu
những gì mà họ đã cảm nhận và trải nghiệm sau khi sử dụng dịch vụ vượt quá
những gì mà họ kỳ vọng và mong đợi trước khi mua Vì vậy, sự hài lòng có thể bao
gồm 3 cấp độ khác nhau Nếu mức độ nhận được của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng
thì khách hàng cảm nhận không hài lòng Nếu mức độ nhận được của khách hàng
bằng kỳ vọng thì khách hàng hài lòng Nếu mức độ nhận được của khách hàng lớn
hơn kỳ vọng thì khách hàng sẽ thích thú và phấn khích
Oliver cho rằng: Sự hài lòng cũng được được định nghĩa và đo lường theo
các khung thời gian khác nhau Một số nghiên cứu định nghĩa sự hài lòng gắn liền
với một giao dịch sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, trong khi các nghiên cứu khác định
Trang 28nghĩa sự hài lòng dưới giác độ các trải nghiệm tích cực chung của khách hàng có
tính tích lũy theo thời gian[41] Johnson và ctg cho rằng: Một lợi thế quan trọng của
khái niệm sự hài lòng có tính tích luỹ so với quan điểm sự hài lòng gắn với một giao
dịch cụ thể là nó có khả năng dự báo tốt hơn các hành vi tiếp theo[37]
Một số tác giả khác tiếp cận sự hài lòng như một cấu trúc mang tính chất thái
độ Ví dụ, Bechelet định nghĩa sự hài lòng là phản ứng cảm xúc của khách hàng dựa
trên các kinh nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ[29] Theo Oliver
(1997) cho rằng hài lòng khách hàng là sự phản hồi tích cực của người tiêu dùng
trong chừng mực mà họ cảm thấy thỏa mãn hay không thỏa mãn Một số nghiên
cứu khác tiếp cận sự hài lòng như một cấu trúc nhiều khía cạnh Chẳng hạn, sự hài
lòng có thể bao gồm các đánh giá về tác động tích cực, tiêu cực, phản ứng cảm xúc
tích cực (Mano và Oliver, 1993; Oliver, 1997) Tương tự, Westbrook và Oliver
(1991) đã xác định ba khía cạnh bên dưới sự thỏa mãn: Sự phản đối (tác động tiêu
cực), biểu hiện hài lòng (tác động tích cực) và sự thích thú (thỉnh thoảng được dùng
với thuật ngữ tầm quan trọng hoặc sự quan tâm) Fournier và Mick (1999) cung cấp
một quan điểm mang tính triết học hơn về sự thỏa mãn của người tiêu dùng Họ đề
nghị rằng sự thỏa mãn là một quá trình động và tích cực, nó chứa đựng khía cạnh xã
hội mạnh mẽ, và nó kết hợp ý nghĩa và các cảm xúc vào trong các bộ phận có tính
tích hợp (xem Hồ Huy Tựu, 2006)[25]
Mặc dù có nhiều cách khác nhau được sử dụng để đo lường sự thỏa mãn,
nhưng thông thường những người được phỏng vấn được yêu cầu chọn một điểm
duy nhất trên một thang đo trải dài từ một điểm âm đến một điểm dương với 2 cực:
Hoàn toàn không hài lòng – Hoàn toàn hài lòng Theo Spreng và cđs thì sự hài lòng
chung của khách hàng có thể được hình thành từ sự hài lòng liên quan đến mức độ
thực hiện các khía cạnh thuộc tính khác nhau của sản phẩm hoặc dịch vụ[46] Vì
vậy, đánh giá sự hài lòng có thể dựa vào mức độ hài lòng đối với các thuộc tính sản
phẩm hoặc dịch vụ, hoặc có thể đánh giá như một cấu trúc chung phản ảnh mức độ
hài lòng tổng quát của khách hàng hoặc người tiêu dùng
Trang 29Có thể thấy rằng sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ là hai
khái niệm tách rời nhau Theo Bechelet cho rằng: Sự hài lòng của khách hàng là
một khái niệm tổng quát nói lên mức độ thỏa mãn của họ khi sử dụng một dịch vụ,
còn nói đến chất lượng dịch vụ là họ quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ[29]
1.4.2 Sự hài lòng của của bệnh nhân đối với chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Dựa trên các quan niệm về chất lượng dịch vụ lấy khách hàng làm trung tâm,
thì sự hài lòng của bệnh nhân là trung tâm của dịch vụ chăm sóc sức khỏe Theo
khảo sát của Viện Picker và Trường Đại học Y khoa Harvard trong thập niên 90 đã
phân biệt 7 khía cạnh liên quan để tạo ra trải nghiệm hài lòng của bệnh nhân về
chăm sóc y tế:
- Tôn trọng giá trị, sở thích và nhu cầu tình cảm của người bệnh (bao gồm
tác động của bệnh tật và điều trị trên chất lượng cuộc sống, liên quan đến ra quyết
định, nhân phẩm, nhu cầu và tính tự chủ)
- Sự phối hợp và thống nhất trong chăm sóc (bao gồm chăm sóc lâm sàng,
những dịch vụ phụ thuộc và hỗ trợ, chăm sóc ngay tại cộng đồng)
- Thông tin, truyền thông và giáo dục (bao gồm tình trạng lâm sàng, diễn tiến
và tiên lượng, quá trình chăm sóc, điều kiện tự chủ, tự chăm sóc và nâng cao sức khỏe)
- Hỗ trợ về cơ thể (bao gồm kiểm soát đau, giúp đỡ những hoạt động đời
sống hàng ngày, môi trường xung quanh và môi trường bệnh viện)
- Chia sẽ cảm xúc và làm giảm sự lo sợ (bao gồm tình trạng lâm sàng, điều
trị và tiên lượng, tác động của bệnh tật đối với cá nhân và gia đình, tác động tài
chính của bệnh tật)
- Ảnh hưởng của gia đình và bạn bè (bao gồm những hỗ trợ về xã hội và tình
cảm, ảnh hưởng về những quyết định, hỗ trợ chăm sóc, tác động trên động lực và
nhiệm vụ của gia đình)
- Thời kỳ chuyển tiếp và liên tục (bao gồm thông tin về thuốc, dấu hiệu nguy
hiểm phải để ý sau khi rời bệnh viện, sự hợp tác và những hỗ trợ về kế hoạch chi
trả, lâm sàng, xã hội, cơ thể và tài chính)
Trang 30Năm 2000, WHO đã nêu khái niệm “sự đáp ứng” (responsiveness) nhằm cố
gắng đưa ra đặc điểm sự hài lòng của người dân trong hệ thống y tế “sự đáp ứng”
được định nghĩa là “đo lường những hoạt động của hệ thống không liên quan đến
giá trị về y tế, kỳ vọng của người dân về cư xử của những người cung cấp dịch vụ
dự phòng, chăm sóc và những dịch vụ không liên quan đến con người” WHO đã
nêu 7 đặc điểm của “sự thông cảm” và được liệt kê thành 2 nhóm:
- Tôn trọng con người:
+ Tôn trọng giá trị của con người + Sự bí mật (xác định ai được xem xét hồ sơ y tế của bệnh nhân) + Tự chủ tham gia chọn lựa sức khỏe của chính mình
+ Tự do chọn lựa người (cá nhân hay tổ chức) cung cấp dịch vụ[54]
1.5 Các lý thuyết đánh giá quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của
khách hàng
Hiện nay có nhiều mô hình khác nhau để đánh giá mối quan hệ giữa chất
lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Chúng phù hợp với từng đặc trưng
dịch vụ và tất cả đều có một điểm chung đó là thể hiện được mức độ hài lòng mà
khách hàng cảm nhận được khi họ sử dụng dịch vụ Đề tài này cung cấp một số mô
hình được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay
1.5.1 Mô hình 10 thành phần của chất lượng dịch vụ ( Thompson, 2002):
Theo Thompson, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là
dương, đặc biệt chất lượng dịch vụ được biểu hiện bằng 10 thành phần chính
1 Độ tin cậy: tính chắc chắn của kết quả, có căn cứ, làm đúng ngay từ đầu và những
lời cam kết
Trang 312 Độ phản hồi: luôn sẵn sàng hay sẵn lòng phục vụ khách hàng một cách nhanh
chóng
3 Năng lực: gồm kiến thức, kỹ năng của nhân viên tiếp xúc, nhân viên trợ giúp, khả
năng quản lý, điều hành của tổ chức
4 Tác phong: nhân viên luôn lịch sự, nhã nhặn, ân cần và thân thiện khi giao tiếp
5 Sự tín nhiệm: lòng tin, sự tin tưởng, sự chân thật và chiếm được tình cảm của
khách hàng
6 Sự bảo đảm: không có nguy hiểm, rủi ro hay nghi ngờ
7 Sự tiếp cận: có thể và dễ dàng tiếp cận
- Thời gian hoạt động thuận tiện
- Thời gian chờ dịch vụ không quá lâu
- Vị trí thuận tiện cho phương tiện dịch vụ
8 Truyền đạt thông tin: luôn lắng nghe và thông tin cho khách hàng bằng ngôn ngữ
mà họ có thể hiểu được
- Hướng dẫn khách hàng bằng lời nói ngắn gọn để họ dễ hiểu
- Giải thích dịch vụ cho khách hàng hiểu
- Giải thích giá cả dịch vụ
- Giải thích sự chuyển giao dịch vụ và chi phí
- Bảo đảm với khách hàng các vấn đề sẽ được giải quyết
9 Hiểu rõ khách hàng: luôn cố gắng tìm hiểu nhu cầu khách hàng
- Tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng
- Chú ý tới nhu cầu cá nhân
- Nhận dạng được khách hàng thường xuyên
10 Tính hữu hình: những khía cạnh trông thấy của dịch vụ như là trang thiết bị, văn
phòng, nhân viên phục vụ[48]
1.5.2 Mô hình chất lượng dịch vụ 5 khoảng cách (Parasuraman, Zeithaml và
Berry, 1985; 1988)
Parasuraman, Zeithaml và Berry đã có những nghiên cứu về chất lượng dịch
vụ trong ngành tiếp thị rất chi tiết và cụ thể Họ đã đưa ra mô hình 5 khoảng cách
Trang 32chất lượng dịch vụ (Xem hình 1.2) Trong 5 khoảng cách này, khoảng cách 5 chính
là mục tiêu cần nghiên cứu vì nó xác định được mức độ hài lòng của khách hàng khi
họ nhận biết được mức độ khác nhau giữa kỳ vọng và dịch vụ nhận được Sự khác
biệt này chính là do 4 khoảng cách từ 1 đến 4 tạo ra[42, 43]
Khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách
hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị dịch vụ cảm nhận về kỳ vọng của khách
hàng Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu được hết
những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cũng như cách thức
chuyển giao chúng cho khách hàng để hài lòng nhu cầu của họ
(Nguồn: Parasuraman và ctg, 1985) Hình 1.2: Mô hình chất lượng dịch vụ
Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc
chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính
của chất lượng Trong nhiều trường hợp, công ty có thể nhận thức được kỳ vọng của
Trang 33khách hàng thành nhưng không phải công ty luôn có thể chuyển đổi kỳ vọng này
thành những tiêu chí cụ thể về chất lượng và chuyển giao chúng theo đúng kỳ vọng
cho khách hàng những đặc tính của chất lượng dịch vụ Nguyên nhân chính của vấn
đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động
quá nhiều về cầu dịch vụ Có những lúc cầu dịch vụ quá cao làm cho công ty không
đáp ứng kịp
Khoảng cách thứ ba xuất hiện khi nhân viên phục vụ không chuyển giao dịch
vụ cho những khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định Trong dịch vụ, các
nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng, đóng vai trò quan trọng trong quá
trình tạo ra chất lượng Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhân viên cũng có thể
hoàn thành nhiệm vụ theo tiêu chí đã đề ra
Phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách
hàng về chất lượng dịch vụ Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo
khuyến mãi có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm
chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo
những gì đã hứa hẹn Đây là khoảng cách thứ tư
Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng và kỳ
vọng bởi khách hàng và chất lượng họ cảm nhận được Chất lượng dịch vụ phụ
thuộc vào khoảng cách thứ năm này Một khi khách hàng nhận thấy không có sự
khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng
một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo
Parasuraman và ctg cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách
thứ năm Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó Nghĩa
là các khoảng cách 1, 2, 3, 4 Vì thế, để rút ngắn khoảng cách thứ 5 và gia tăng chất
lượng dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ phải nổ lực rút ngắn các khoảng cách này
Mô hình chất lượng dich vụ của Parasuraman và ctg cho ta bức tranh tổng
thể về chất lượng dịch vụ Parasuraman và ctg cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất
lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành 10 thành phần, đó là:
Trang 341 Tin cậy (Reliability): Nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời
hạn ngay từ lần đầu tiên
2 Đáp ứng (Responsiveness): Nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên
phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng
3 Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch
vụ Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên
trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần
thiết cho việc phục vụ khách hàng
4 Tiếp cận (Access): Liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng
trong việc tiếp cận dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm
phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng
5 Lịch sự (Courtesy): Nói lên tính cách phục vụ niềm nở tôn trọng và thân thiện với
khách hàng
6 Thông tin (Communication): Liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt cho khách
hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những vấn đề liên quan
đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc
7.Tín nhiệm (Credibility): Nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho
khách hàng tin cậy vào công ty Khả năng này thể hiện qua tên tuổi của công ty,
nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng
8 An toàn (Security): Liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng,
thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính cũng như bảo mật thông tin
9 Hiểu biết khách hàng (Understading/Knowing the customer): Thể hiện qua khả
năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của
khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên
10 Phương tiện hữu hình (Tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của
nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ[42]
Cả hai mô hình 10 phần chất lượng dịch vụ (Thompson, 2002) và mô hình
Trang 35chất lượng dịch 5 khoảng cách (Parasuraman, 1985; 1988) nêu trên có ưu điểm là
bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm
là phức tạp trong việc đo lường Hơn nữa mô hình này mang tính lý thuyết, có thể
sẽ có nhiều thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ không đạt được giá trị phân
biệt Chính vì vậy các nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định mô hình này và đi
đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản là:
(1) Tin cậy (Reliability): Liên quan đến khả năng chắc chắn thực hiện dịch vụ theo
đúng cam kết với khách hàng
(2) Đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện qua sự mong muốn, khả năng sẵn sàng đáp
ứng, cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
(3) Năng lực phục vụ (Assurance): Thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách
phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
(4) Đồng cảm (Empathy): Thể hiện sự quan tâm thấu hiểu những ước muốn, mối
quan tâm của từng khách hàng
(5) Phương tiện hữu hình (Tangibles): Liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị
cũng như trang phục, ngoại hình nhân viên phục vụ,…
1.5.3 Mô hình nhân quả giữa sự cảm nhận chất lượng của khách hàng với sự
hài lòng (hài lòng) của khách hàng (Zeithaml và Bitner, 2000)
Zeithaml và Bitner (2000) đã phát triển một mô hình giải thích cho sự hài
lòng của khách hàng dựa trên 5 biến số chính
- Chất lượng dịch vụ: sự đánh giá khách hàng hiện tại về các dịch vụ kết hợp như
dịch vụ khách hàng, các điều kiện thể hiện sản phẩm, lĩnh vực của dịch vụ và sản phẩm
- Chất lượng sản phẩm: đánh giá của người tiêu dùng hiện tại về sản phẩm, dịch vụ
- Giá: giá là số tiền chi trả để nhận được sản phẩm hay dịch vụ Giá được kỳ vọng là
có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hài lòng của khách hàng
Trang 36- Các yếu tố tình huống: bao gồm một số yếu tố không điều khiển được như: kinh
nghiệm tiêu dùng của khách hàng, sự đánh giá của khách hàng về công ty
- Các yếu tố cá nhân như: tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, sự
nhận thức, các yếu tố tâm lý[55]…
1.6 Xây dựng mô hình và giả thuyết quan hệ giữa chất lượng dịch vụ khám
chữa bệnh và sự hài lòng của khách hàng tại Bệnh viện Đa khoa Phú yên
1.6.1 Quan điểm đánh giá chất lượng dịch vụ y tế
Ở Việt Nam, hoạt động y tế chủ yếu phát triển ở khu vực công cộng Nhà
nước thấy rằng lợi ích kinh tế cho thấy chỉ đủ chỗ cho một nhà cung cấp trong thị
trường - độc quyền này được coi là độc quyền tự nhiên Chính phủ có thể ra quyết
định cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí, điều này sẽ gây ra tình trạng quá tải cho
các cơ sở y tế, dẫn đến nhiều vấn đề khác nữa,
Kinh tế y tế (health economics) cũng ứng dụng các lý thuyết, khái niệm,
nguyên lý và kỹ thuật phân tích của kinh tế vào y tế Ở các nước phát triển, kinh tế y
tế đã được biết đến từ lâu, nó xem xét làm thế nào để tính toán giá trị của sức khỏe
tác động đến nền kinh tế Thời gian sau, đi sâu nghiên cứu cách phân bổ nguồn lực
trong y tế một cách hiệu quả nhất, chi tiết hơn nữa là xem xét việc cung cấp và sử
dụng các dịch vụ y tế Tuy nhiên, việc ứng dụng các lý thuyết, khái niệm, kỹ thuật
Hình 1.3 Mô hình nhân quả giữa sự cảm nhận chất lượng và sự hài lòng của
khách hàng (Zeithaml & Bitner, 2000)
Trang 37phân tích kinh tế này vào lĩnh vực y tế cũng không dễ dàng và đơn giản, bởi các đặc
tính rất đặc biệt của "hàng hóa" sức khỏe và các dịch vụ y tế Sức khỏe là "hàng
hóa" khó định nghĩa, định giá trị và đo lường
Trong nền kinh tế thị trường, nhất là lĩnh vực y tế đôi khi lỗ lãi không phải là
thước đo để đánh giá một cơ sở cung cấp, phục vụ các dịch vụ y tế (hay doanh
nghiệp) - dĩ nhiên là ở khu vực công cộng Vậy chúng ta đánh giá nó bằng cách
nào? Cần phải có biện pháp để đánh giá xem những hoạt động đó có hiệu quả hay
không?
Khu vực công cộng là một bộ phận của nền kinh tế, nó sản xuất ra các mặt
hàng công cộng, đó là yếu tố đầu vào quan trọng cho nền kinh tế
Sức khỏe có thể coi là một hàng hóa khuyến dụng, vì xã hội cho rằng tất cả
mọi người cần phải có Còn chǎm sóc sức khỏe không khác với các hàng hóa khác
với nghĩa là nó cũng hiếm hoi, do vậy cần phân bổ và có cơ sở tổ chức phân bổ Đặc
điểm phân biệt chǎm sóc sức khỏe với các loại hàng hóa, dịch vụ khác:
- Chǎm sóc sức khỏe có hai yếu tố tiêu thụ và đầu tư, sức khỏe tốt là kết quả trực
tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi y tế, đồng thời lại là đóng góp cho sản xuất lớn lên và
cho đầu tư
- Chi phí cho chǎm sóc sức khỏe có thể cao so với thu nhập, sức khỏe kém có thể
làm giảm khả nǎng kiếm sống
- Người bệnh tham gia trực tiếp vào "sản xuất, tiêu thụ" dịch vụ chǎm sóc sức khỏe
- Quyết định tiêu thụ hay không tiêu thụ một dịch vụ có thể không phục hồi được
(có nghĩa quyết định đó dẫn đến hậu quả tử vong hoặc tàn phế vĩnh viễn)
Trong một vài trường hợp, chǎm sóc sức khỏe giống như một mặt hàng ban
ơn do nhà nước phân phối vì nó sẽ bị sử dụng dưới mức nếu để nó phụ thuộc vào
tính tự nguyện trả tiền của các cá nhân, mà yêu cầu của họ không phải lúc nào cũng
hợp lý cho sức khỏe Một số dịch vụ chǎm sóc sức khỏe có đặc điểm giống như
hàng hóa công cộng, như việc khống chế bệnh sốt rét thông qua việc xử lý môi
trường (làm sạch ao hồ, phun thuốc ), sự tiêu thụ dịch vụ của người này không cản
Trang 38trở sự tiêu thụ dịch vụ của người kia Nhu cầu sức khỏe là một nhu cầu rất khó dự
đoán, còn chi phí cho việc khắc phục ốm đau, điều trị bệnh thường không cố định
và tốn kém, do vậy các hình thức bảo hiểm có thể đối phó với nguy cơ này
1.6.2 Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng
của bệnh nhân ở Bệnh viện Phú Yên
Dựa trên những tiêu chí của Viện Picker, WHO (2007) và những nghiên cứu
về sự hài lòng của khách hàng (Parasuraman và ctg, 1985; 1988; Spreng và ctg,
1996), cũng như liên quan đến dịch vụ khám chữa bệnh (Nguyễn Thị Thanh Hồng,
2005; Ngô Thị Ngoãn và ctg, 2002; Vũ Văn Quốc, 2005; Phan Văn Tường, 2002;
Lê Nữ Thanh Uyên và Trương Phi Hùng, 2006; Akter, Upal và Hani; 2008;
Hendriks và ctg, 2006; Tso và ctg, 2006), đề tài này đưa ra các tiêu chí đánh giá sự
hài lòng của bệnh nhân theo 5 vấn đề như sau:
- Sự hài lòng của người bệnh khi tiếp cận dịch vụ: Người bệnh được nhận
các dịch vụ chấp nhận được về thời gian như: Lịch hẹn, thời gian chờ đợi
- Sự hài lòng về giá cả: phù hợp thu nhập; Thủ tục thanh toán nhanh chóng
- Sự hài lòng của người bệnh khi giao tiếp và tương tác với điều dưỡng viên,
kỹ thuật viên cận lâm sàng, nhân viên hướng dẫn và đối với các giáo sư, bác sỹ:
Người bệnh được khám và điều trị, chăm sóc, thông tin và tư vấn với thái độ hòa
nhã, thân thiện Người bệnh được cảm thông và sẵn sàng được giúp đỡ
- Sự hài lòng của người bệnh về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế: sự hài
lòng của bệnh nhân đối với cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, y dụng cụ mà bệnh nhân
được sử dụng
- Sự hài lòng của người bệnh đối với kết quả khám, chữa bệnh: bệnh nhân
hài lòng với kết quả về khám và phát hiện bệnh
Để đánh giá chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, đề tài này tiếp cận chất
lượng dịch vụ y tế là một cấu trúc đa chiều dựa trên thang đo Servperf về chất lượng
dịch vụ (Parasuraman và ctg, 1985; 1988), cũng như các ứng dụng gần đây trong
Trang 39nghiên cứu về chất lượng dịch vụ y tế ở Việt nam (Nguyễn Thị Thanh Hồng, 2005;
Ngô Thị Ngoãn và ctg, 2002; Vũ Văn Quốc, 2005; Nguyễn Huỳnh Thái Tâm, 2009;
Phan Văn Tường, 2002; Lê Nữ Thanh Uyên và Trương Phi Hùng, 2006; Akter,
Upal và Hani; 2008; Hendriks và ctg, 2006; Tso và ctg, 2006) Cụ thể, chất lượng
dịch vụ y tế được cấu thành bởi 5 yếu tố chính
- Sự tin cậy (Reliability): thể hiện qua trình độ chuyên môn của Bác sỹ, kết quả xét
nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, khả năng điều trị của bệnh viện là phù hợp với Bệnh
viện tuyến tỉnh
- Sự đảm bảo (Assurance): thể hiện qua trình độ giao tiếp của nhân viên y tế của
bệnh viện, thời gian khám và điều trị của bệnh viện là hợp lý, tính liên hoàn của các
khoa điều trị là thuận lợi
- Thái độ nhiệt tình, cảm thông (Empathy): thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, chia
sẻ đến bệnh nhân;
- Phương tiện hữu hình (Tangibility): thể hiện qua thiết bị y tế và các công nghệ
áp dụng, trang phục của nhân viên;
- Chi phí khám chữa bệnh (Price): Giá phù hợp với chất lượng dịch vụ khách hàng
cảm nhận;
Cũng dựa vào các nghiên cứu trước trên (Nguyễn Thị Thanh Hồng, 2005;
Ngô Thị Ngoãn và ctg, 2002; Vũ Văn Quốc, 2005; Nguyễn Huỳnh Thái Tâm, 2009;
Phan Văn Tường, 2002; Lê Nữ Thanh Uyên và Trương Phi Hùng, 2006; Akter,
Upal và Hani; 2008; Hendriks và ctg, 2006; Tso và ctg, 2006), các giả thuyết nghiên
cứu dưới đây được đề nghị để kiểm định:
H1: Mức độ Tin cậy của chất lượng khám chữa bệnh cao hơn làm tăng sự hài lòng
Trang 40tăng sự hài lòng của bệnh nhân
H4: Mức độ trang bị Phương tiện hữu hình phục vụ việc khám chữa bệnh tốt hơn
mang lại sự hài lòng cao hơn cho bệnh nhân
H5: Chi phí khám chữa bệnh càng hợp lý, mức độ hài lòng bệnh nhân càng cao
Biến phụ thuộc: HL - Sự hài lòng của bệnh nhân
Biến độc lập bao gồm 5 biến thành phần chất lượng trong thang đo SERVPERF
TC - Tin cậy; ĐB - Đảm bảo; NTCT - Nhiệt tình cảm thông; PTHH – Phương tiện
hữu hình; CFKCB – Chi phí khám chữa bệnh
Βi (i = 1-5): Các hệ số hồi quy thể hiện mức độ tác động của các thành phần chất
lượng lên Sự hài lòng của bệnh nhân