Đứng trước những thách thức đó, là một cán bộ trẻ đang công tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tôi muốn đem khả năng và kiến thức đã học được từ nhà trường cũng như kinh nghiệm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành phố của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc khu vực tam giác châu hệ thống sông Tiền, hợp thành bởi 3 cù lao (Cù lao An Hoá, cù lao Bảo và cù lao Minh) trên 4 nhánh sông lớn (Sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên) Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.356,85km2, chiếm 5,84% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long với đường bờ biển kéo dài trên 65km
và gần 20.000km2 vùng biển đặc quyền, trữ lượng thủy sản khu vực ven bờ ước từ 19.000 tấn đến 24.000 tấn, trữ lượng thủy sản xa bờ (khu vực biển Đông Nam bộ) từ 1 triệu đến 1,2 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác từ 540.000 đến 630.000 tấn/năm [20] Vì vậy, trong nhữ ng năm qua Tỉnh ủy Bến Tre đã xác định kinh tế thủy sản
là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Trong đó, nguồn khai thác từ biển đóng vai trò quan trọng
Trong 5 năm qua nghề khai thác thủy sản có bước chuyển biến rõ rệt, cơ cấu ngành nghề dịch chuyển theo hướng xa bờ, số lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ tăng nhanh đáng kể Hoạt động khai thác thủy sản đã góp phần cho ngành kinh tế thủy sản tỉnh nhà phát triển khá mạnh, trong giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt trên 10%/năm, chiếm 42% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp Kinh
tế thủy sản đã vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhà [20]
Theo thống kê đến 31 tháng 12 năm 2008, tỉnh Bến Tre có 4.422 tàu đã đăng ký và
có hồ sơ tại Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Trong đó, tàu có công suất máy từ 90CV trở lên là 1.226 chiếc; với sản lượng khai thác đạt 175.000 tấn/năm
Tuy nhiên hiện nay, việc tổ chức khai thác thuỷ sản tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như của nhiều tỉnh ven biển khác trên cả nước còn chưa hợp lý, chưa có nhiều phương
án mở rộng các ngư trường để vừa nhằm cải thiện kết quả sản xuất vừa giảm mâu thuẫn giữa các nghề nghiệp khai thác cũng như giảm mức độ rủi ro vốn khá cao đối với nghề khai thác hải sản nói chung Nguồn lợi thuỷ sản ven bờ ở trong tình trạng báo động về mức độ cạn kiệt cũng góp phần làm gia tăng lượng tàu vươn khơi đánh bắt xa
bờ, việc phát triển đầu tư tàu đánh bắt xa bờ chỉ mang tính tự phát Cho đến nay, Tỉnh Bến Tre chưa có công trình nghiên cứu cũng như chính sách định hướng dài hạn cho ngư dân đầu tư phát triển nghề khai thác xa bờ nào đạt kết quả kinh tế
Đội tàu đánh bắt xa bờ tại Bến Tre tập trung vào 3 nhóm nghề chính: cào đơn, cào
Trang 2đôi, và lưới vây ánh sáng; với các mức công suất tàu thuyền khai thác khác nhau và từ 90CV trở lên
Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về chiến lược biển đến năm 2020, Tỉnh Ủy Bến Tre đã
cụ thể bằng chương trình hành động số 11-CTr/TU ngày 19 tháng 4 năm 2007 Mục tiêu là đầu tư khai thác có kết quả tiềm năng kinh tế biển, chủ yếu là kinh tế thủy sản, kết hợp với phát triển kinh tế lâm nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản gắn phát triển nuôi trồng với nâng cao kết quả kinh tế khai thác, đánh bắt; tăng nhanh các ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển kinh tế biển bền vững với đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng biển, nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho ngư dân và nhân dân vùng biển Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển thực sự trở thành ngành kinh tế chủ lực của tỉnh; giá trị gia tăng từ kinh tế biển chiếm 30% GDP của tỉnh [16]
Định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển theo các ngành, lĩnh vực cơ bản như: Kinh tế hàng hải; du lịch biển đảo và vùng ven biển; hải sản; dầu khí; sản xuất muối biển; nông lâm nghiệp ven biển; khai thác khoáng sản ở vùng ven biển; các ngành dịch
vụ Đối chiếu với thực tiễn vị trí địa lý, nguồn lợi và truyền thống ngành nghề thì Bến Tre có thể phát triển kinh tế biển tập trung vào lĩnh vực hải sản là chính Xác định được vấn đề này, tỉnh Bến Tre đã có định hướng tập trung phát triển kinh tế biển dựa vào phát triển các đội tàu đánh bắt xa bờ, phát huy thế mạnh mô hình tổ đội trên biển Đối với nghề đánh bắt xa bờ, trong bối cảnh giá nhiên liêu biến động bất thường, trữ lượng khai thác có xu hướng giảm, lãi suất tăng cao, thì kết quả kinh tế khi phát triển đánh bắt xa bờ sẽ như thế nào?
Mặt khác, các đội tàu đánh bắt xa bờ tập trung ở các bến cá thuộc hai huyện Bình Đại và Ba Tri Ngư trường đánh bắt không cố định, các cảng cá của Bến Tre chưa thật
sự mạnh để thu hút tàu thuyền cập cảng để tiêu thụ sản phẩm, do đó việc tiêu thụ sản phẩm khai thác được ở các địa phương khác nằm ngoài khu vực quản lý hành chính tỉnh là phổ biến, chính vì thế việc thu thập dữ liệu phục vụ cho việc xác định các kết quả kinh tế cho việc quản lý gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, sự tăng trưởng nhanh
số lượng và công suất tàu thuyền khai thác đánh bắt xa bờ ảnh hưởng đáng kể đến các
Trang 3chỉ số kinh tế của ngành khai thác Do vậy, việc cung cấp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế của một nghề khai thác hải sản thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nghề cá
Đứng trước những thách thức đó, là một cán bộ trẻ đang công tại Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tôi muốn đem khả năng và kiến thức đã học được từ nhà trường cũng như kinh nghiệm thực tiễn để góp phần hoàn thiện công tác quản lý nghề
cá, đề tài được chọn cho luận văn tốt nghiệp là: “Đánh giá kết quả kinh tế của đội
và doanh thu của sản phẩm khai thác và qua đó xác định các nhân tố chính có ảnh hưởng đến kết quả kinh tế đội tàu đánh bắt xa bờ của tỉnh Trên cơ sở này, nghiên cứu
sẽ đề xuất các gợi ý chính sách để có thể khuyến khích gia tăng kết quả kinh tế của hoạt động sản xuất này đồng thời định hướng phát triển ngành đánh bắt xa bờ của tỉnh một cách bền vững
2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là nhằm điều tra kết quả kinh tế (doanh thu, chi phí, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận) và phân tích những nhân tố tác động đến doanh thu của loại hình đánh bắt xa bờ, cụ thể là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá kết quả kinh tế hoạt động đánh bắt hải sản
- Đánh giá kết quả kinh tế hoạt động khai thác đội tàu đánh bắt xa bờ tại Bến Tre
- Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết một số nhân tố tác động đến doanh thu của nghề khai thác xa bờ
Trang 4- Đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao kết quả kinh tế của đội tàu đánh bắt
xa bờ tỉnh Bến Tre
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hiện trạng về đầu tư và kết quả kinh tế (chi phí, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận) của đội tàu đánh bắt xa bờ tại tỉnh Bến Tre như thế nào?
- Doanh thu các loại nghề đánh bắt xa bờ tại Bến Tre chịu tác động bởi những nhân
tố chủ yếu nào?
4 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi điều tra trực tiếp ngư dân ngư dân Quy trình nghiên cứu được mô tả như sau:
Trang 51 Lý thuyết về kết quả kinh tế hoạt động đánh bắt hải sản
2 Mô hình kinh tế lượng về sự tác động của các nhân tố đến doanh thu khai thác
Thiết kế nghiên cứu
1 Nguồn số liệu
2 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp xử lý số liệu
1 Phương pháp thống kê mô tả
2 Phương pháp phân tích hồi quy đa biến (OLS)
Báo cáo kết quả - khuyến nghị
1 Đánh giá kết quả kinh tế loại hình đánh bắt xa bờ tại tỉnh Bến Tre
2 Kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu khai thác
3 Kết luận và Khuyến nghị
Trang 64.1 Phương pháp thu thập số liệu
4.1.1 Nguồn số liệu
Số liệu thứ cấp: Thu thập và cập nhật từ Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, các trang Web Trung tâm thông tin thủy sản, web Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê,
từ các bài báo trong và ngoài nước, từ các báo cáo khoa học có liên quan, các tài liệu
và giáo trình chuyên ngành thủy sản
Số liệu sơ cấp: Được thu thập qua mẫu điều tra trực tiếp đối với các hộ ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ ở các huyện như Bình Đại, Ba Tri
4.1.2 Phương pháp thu thập thông tin
Bảng điều tra kết quả kinh tế của loại hình đánh bắt xa bờ được thiết kế như sau:
Nội dung bảng câu hỏi phỏng vấn
- Thông tin chung: Gồm những thông tin liên quan đến thời gian phỏng vấn, tên người phỏng vấn và địa chỉ người phỏng vấn
- Thông tin về tàu: bao gồm số đăng ký tàu thuyền, họ tên chủ tàu, chiều dài, công suất máy, số thuyền viên
- Thông tin về danh mục đầu tư tài sản cố định: bao gồm các nhóm thông tin về vỏ tàu, máy tàu, thiết bị cơ khí, thiết bị điện tử, ngư cụ, thiết bị bảo quản và thiết bị khác
- Thông tin về chi phí sửa chữa lớn
- Thông tin ngư dân mua bảo hiểm cho tàu và thuyền viên
- Thông tin về nguồn vốn vay và lãi vay: vay ngân hàng, vay tư nhân, vay vốn của
- Thông tin về doanh thu trung bình cho 1 chuyến biển
- Thông tin lương thuỷ thủ cho một tháng biển trong mùa chính, mùa phụ
- Thông tin về kinh nghiệm quản lý của chủ tàu, thuyền trưởng và thuyền viên trên tàu
- Một số thông tin khác từ sự đóng góp ý kiến của ngư dân
Trang 7Quy trình thực hiện điều tra
- Xác định đối tượng điều tra: Liên hệ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Bến Tre (trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bến Tre), thu thập dữ liệu
về số lượng tàu đang hoạt đánh bắt xa bờ tại tỉnh Bến Tre
- Tiến hành phân loại danh sách, địa chỉ hộ gia đình có tàu khai thác hoạt động đánh bắt xa bờ
- Chọn địa bàn tiến hành điều tra: Căn cứ vào số lượng tàu đánh bắt xa bờ phân bố theo từng huyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tác giả nhận thấy mặc dù trong tỉnh có rải rác các bến cá truyền thống ở khắp 3 huyện biển, nhưng các đội tàu khai thác đánh bắt
xa bờ chủ yếu tập trung ở 3 xã: An Thủy (huyện Ba Tri); Tân Thủy (huyện Ba Tri) và Bình Thắng (huyện Bình Đại) Vì vậy, việc điều tra được thực hiện chủ yếu trên địa bàn 3 xã nêu trên
Phương pháp chọn mẫu
Dùng mẫu thuận tiện, dựa trên thông tin thu thập từ 3 địa điểm: xã An Thủy, Tân Thủy của huyện Ba Tri, xã Bình Thắng của huyện Bình Đại Mẫu được điều tra một cách thuận tiện ở những hộ gia đình chủ tàu có địa chỉ biết trước (từ danh sách tàu thuyền đã đăng ký và có lưu hồ sơ tại Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre), dễ tìm và sẵn lòng cung cấp thông tin, không quan tâm hoàn cảnh gia đình, thu nhập, kết quả khai thác của ngư dân
Tuy nhiên, việc điều tra vẫn chú ý đến sự phân bố địa bàn ngư dân theo những khu vực khác nhau: khu vực Cảng cá Bình Thắng thuộc xã Bình Thắng huyện Bình Đại, khu vực Cảng Ba Tri (Tiệm Tôm) thuộc xã An Thủy, khu vực Bãi Ngao thuộc xã An Thủy, khu vực Đường Tắt thuộc xã Tân Thủy của huyện Ba Tri Do vậy, mẫu điều tra xét đến sự phân bố của tổng thể
Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng những câu hỏi mở để thu thập thông tin từ ngư dân
Trang 84.2 Phương pháp xử lý số liệu
Trong nghiên cứu kết quả kinh tế của loại hình đánh bắt xa bờ, tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel XP để nhập số liệu và xử lý Kết quả phân tích sẽ cho những kết quả về hoạt động của các nhóm tàu khác nhau bao gồm: doanh thu, chi phí biến đổi, chi phí cố định và lợi nhuận các nhóm tàu
Trong nghiên cứu mô hình nhân tố kỹ thuật tác động đến kết quả hoạt động đội tàu đánh bắt xa bờ , tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel XP để nhập dữ liệu điều tra và xử lý số liệu thô Sau đó dữ liệu được chuyển sang phần mềm Eview 5.0 để thực hiện kiểm định White và sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để xử lý phân tích hồi quy các nhân tố kỹ thuật tác động đến doanh thu đánh bắt xa bờ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng kết quả kinh tế đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre Tập trung ở các nghề: cào đơn, cào đôi và lưới vây ánh sáng
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài được giới hạn bởi những khía cạnh sau:
Số liệu điều tra: số liệu điều tra năm 2007 và năm 2008 của đội tàu đánh bắt xa bờ Đối tượng nghiên cứu: là các hộ ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ tại tỉnh Bến Tre
6 Kết cấu đề tài
Đề tài được chia thành phần mở đầu và 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản
Chương 2: Kết quả kinh tế của đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre
Chương 3: Phân tích các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế đội tàu đánh bắt xa
Trang 9• Khai thác/đánh bắt hải sản: hoạt động của con người sử dụng tàu thuyền và lưới, … và các trang thiết bị hàng hải khác để bắt các loại thuỷ sản biển
• Ngư trường: vùng mặt nước các tàu thuyền của các ngư dân tập trung khai thác thuỷ sản
• Đội tàu: là tất cả các tàu thuyền cùng loại nghề nghiệp khai thác, cùng nhóm công suất; các đội tàu cũng có thể được chia theo các đơn vị hành chính như quốc gia, tỉnh, huyện…
• Công suất: ở đây được hiểu là công suất máy của tàu được sử dụng cho tàu khai thác thuỷ sản, đơn vị tính là mã lực.
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾT QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN
1.1 Kết quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản
Chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế đầu tiên là lợi nhuận và là chỉ tiêu đánh giá chung đối với ngành khai thác hải sản cũng như mọi ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí cũng thường được xem xét để đánh giá quy mô sản xuất Chỉ tiêu về vốn bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn vay cũng cần được xem xét nhằm đánh giá khả năng đầu tư mỏ rộng của ngành sản xuất này Chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận trước lãi trên vốn đầu tư được xem xét nhằm đánh giá tính kết quả của đầu tư và qua đó cho thấy tầm quan trọng của vốn vay
Ngành khai thác hải sản Việt Nam với đặc thù là nghề cá nhân dân, quy mô nhỏ, cách thức tổ chức sản xuất rất không nhất quán, cách thức phân bổ thu nhập, chi phí cũng hết sức khác nhau giữa các vùng, các nghề làm cho việc đánh giá kết quả kinh tế gặp khá nhiều khó khăn Với thực tế như vậy, đánh giá kết quả kinh tế khai thác hải sản Việt Nam nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng cần phải thực hiện dựa trên các
số liệu điều tra và thống kê theo từng nghề (ngư cụ) với từng loại công suất cụ thể và theo từng địa phương
Mục đích của sản xuất là thõa mãn tốt nhất các nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người và cho xã hội Mục đích đó được thực hiện khi nền sản xuất xã hội tạo ra những kết quả hữu ích ngày càng cao, sản xuất đạt mục tiêu về kết quả kinh tế khi có một khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng hữu ích ngày càng lớn
Kết quả kinh tế là một chỉ tiêu để đánh giá xem kết quả hữu ích được tạo ra như thế nào, từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong các điều kiện cụ thể nào Như vậy kết quả kinh
tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và việc sử dụng nó tạo ra các yếu tố đầu
ra của quá trình sản xuất
Bản chất của kết quả kinh tế là xác định các chi phí bỏ ra để tạo ra các kết quả đạt được trong điều kiện nguồn tài nguyên hữu hạn nhằm đạt được lợi nhuận cao trong quá trình sản xuất Điều đó chính là kết quả của lao động sản xuất, được xác định thông qua các đại lượng được đo lường bằng hiện vật hay giá trị
Trang 11Trong lĩnh vực khai thác hải sản, xác định kết quả kinh tế là việc xác định những yếu tố đầu vào nào cần cho quá trình khai thác và những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào đó Vận dụng những tương quan so sánh giữa các kết quả đạt được và những yếu tố đầu vào để phân tích toàn bộ quá trình hoạt động khai thác Các yếu tố đầu vào cụ thể của hoạt động khai thác hải sản gồm: vốn đầu tư cho tàu (bao gồm vỏ tàu và máy tàu), vốn đầu tư cho ngư cụ, vốn đầu tư trang thiết bị trên tàu, nhiên liệu, các chất bảo quản sản phẩm sau khai thác (đá cây, muối), lương thực thực phẩm phục vụ ăn uống và sinh hoạt của thủy thủ, lương của thủy thủ và vốn bằng tiền khác (dùng để sửa chữa tàu, đóng bảo hiểm, nộp thuế nhà nước, trả lãi vay và các chi phí khác) Kết quả đạt được chủ yếu là các sản phẩm thu hoạch được trong hoạt động khai thác sau khi được đem đi tiêu thụ như cá, tôm, mực, cua … [17].
Tóm lại, xác định kết quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản là xác định những chi phí bỏ ra cho những yếu tố đầu vào gồm: chi phí khấu hao của giá trị đầu tư (đầu
tư cho tàu, ngư cụ và trang thiết bị), chi phí nhiên liệu, chi phí tiền lương thủy thủ, chi phí bảo quản, chi phí lương thực thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí lãi vay; đồng thời xác định kết quả thu được mà chủ yếu là doanh thu của sản phẩm sau khai thác Cuối cùng, việc xác định lợi nhuận bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí cũng như sử dụng những chỉ tiêu này
để xác định tỷ suất sinh lợi của hoạt động khai thác hải sản mang lại cao hay thấp
Quá trình khai thác hải sản phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khác nhau như tiền vốn, máy móc, trang thiết bị, lao động, dầu, dụng cụ đánh bắt Do vậy, đánh giá kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản trước tiên được xác định bằng kết quả thu được trên một tàu Đồng thời, để đảm bảo tính toàn diện khi đánh giá kết quả kinh tế cần xét đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào khác nhau để tạo ra kết quả đó [17]
Kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan bên ngoài như thời tiết, khí hậu, sự biến động của trữ lượng cá … do vậy để đánh giá đúng và đủ cần phải tiến hành trong một thời gian đủ dài
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động khai thác hải sản
Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào xác định kết quả kinh tế đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre, nên tác giả chủ yếu tập trung xây dựng các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế dựa trên sự so sánh giữa mức độ biến động của doanh thu
Trang 12và mức độ biến động của chi phí Từ cơ sở trên các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá kết quả kinh tế loại hình đánh bắt xa bờ được trình bày trong đề tài này bao gồm:
- Doanh thu hoạt động khai thác
- Chi phí hoạt động khai thác
- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
1.2.1 Doanh thu khai thác
Doanh thu từ khai thác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà các thủy thủ tham gia hoạt động đánh bắt trên tàu thu được từ việc khai thác và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản Trong một năm, doanh thu bao gồm tổng doanh thu khai thác trong mùa chính và trong mùa phụ Doanh thu khai thác các nghề nói chung và loại hình đánh bắt xa bờ nói riêng không bao gồm phần thu nhập do cá nhân thủy thủ làm thêm trong quá trình tham gia đánh bắt và cũng như không bao gồm phần sản phẩm khai thác được chia cho các thủy thủ để làm thức ăn cho gia đình Doanh thu khai thác cũng được hiểu là doanh thu thuần và nó cũng đã được trừ đi phần phí trả cho các nậu vựa giúp chủ tàu bán sản phẩm khai thác, trừ phí bến cảng khi tàu cập cảng tiêu thụ sản phẩm và các khoản giảm trừ doanh thu khác [24]
1.2.2 Chi phí khai thác
Chi phí khai thác là tổng các khoản tiền chi ra phục vụ cho hoạt động khai thác hải sản của tàu và các khoản khấu trừ tài sản thông qua khấu hao Trong lĩnh vực khai thác hải sản, chi phí có thể được phân loại gồm: chi phí cố định, chi phí biến đổi (chi phí cho chuyến biển và chi phí tiền lương) [24]
Để làm rõ các khoản mục chi phí trong khai thác hải sản, ta tiến hành phân loại chi phí khai thác như sau:
- Chi phí cố định: Là những khoản chi phí thường không biến đổi hoặc biến đổi rất
ít khi mức độ hoạt động thay đổi Các khoản chi phí này thường do chủ tàu gánh chịu
và được bù đắp bằng phần thu nhập sau khi đã trừ chi phí biến đổi Chi phí cố định trong lĩnh vực khai thác hải sản bao gồm: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa lớn, chi phí lãi vay, thuế phải nộp nhà nước
+ Chi phí khấu hao: là khoản chi phí bù đắp sự giảm dần giá trị của tài sản cố định
do quá trình sử dụng, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của kỹ thuật … Chi phí khấu hao là giá trị phân bổ của nguyên giá tài sản cố định qua thời gian sử dụng Đối
Trang 13với nghề khai thác hải sản nói chung và loại hình đánh bắt xa bờ nói riêng, chi phí khấu hao bao gồm các khoản khấu hao: vỏ tàu, máy tàu, thiết bị cơ khí, thiết bị điện tử, ngư cụ, thiết bị bảo quản, thiết bị khác
+ Chi phí sửa chữa lớn: là những khoản chi phí sửa chữa phục hồi, thay thế những
bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng tài sản cố định Những khoản chi phí này chủ yếu phát sinh trong khi tàu ngưng hoạt động và bao gồm: chi phí sửa chữa
vỏ tàu, sửa chữa ngư cụ, sửa chữa lớn máy tàu và trang thiết bị trên tàu
+ Chi phí lãi vay: là khoản chi trả cho chi phí sử dụng vốn vay dài hạn Ngư dân
thường được vay vốn đầu tư cho tài sản cố định, nên các khoản vốn vay này thường là vay dài hạn, do vậy các khoản chi phí lãi vay được xem là chi phí cố định
+ Thuế phải nộp nhà nước: là những khoản đóng góp ngân sách nhà nước, bao
gồm: thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp Các khoản thuế trên đối với hoạt động khai thác hải sản chủ yếu là thuế khoán, ngư dân thường đóng một khoản nhất định cho dù hoạt động khai thác có thay đổi
- Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về
mức độ hoạt động Khoản chi phí này phát sinh trong quá trình hoạt động và bằng 0 khi tàu không tham gia khai thác Trong khai thác hải sản loại hình đánh bắt xa bờ, chi
phí biến đổi bao gồm chi phí chuyến biển và chi phí tiền lương
+ Chi phí chuyến biển: Trong khai thác hải sản chi phí chuyến biển thường được
tính bằng khoản chi phí bỏ ra để mua nhiên liệu, bảo quản, lương thực, các chi phí sửa chữa nhỏ tàu…chi phí này được bù đắp bằng doanh thu trước khi chia lương cho thủy thủ Chi phí chuyến biển bao gồm:
Chi phí nhiên liệu: gồm chi phí dầu diesel, nhớt phục vụ cho hoạt động của máy tàu
Chi phí bảo quản: chủ yếu chi phí mua đá, muối dùng để bảo quản sản phẩm khai
thác
Chi phí lương thực, thực phẩm: bao gồm những chi phí phục vụ ăn uống trong quá
trình khai thác
Các loại phí phải trả và chi phí khác: bao gồm phí neo đậu tàu thuyền, phí cập
cảng thực hiện một số dịch vụ hậu cần trước khi ra khơi và một số khoản phí khác
Trang 14Chi phí sửa chữa nhỏ: là những khoản chi phí sửa chữa tàu, ngư cụ, trang thiết bị
trên tàu phát sinh trong khi tàu đang hoạt động khai thác hải sản Chi phí này thường nhỏ và xảy ra thường xuyên và được tính vào chi phí của chuyến biển
+ Chi phí tiền lương: Là số tiền mà chủ tàu trả công làm việc cho thuỷ thủ tham gia
khai thác Trong hoạt động khai thác hải sản tại Việt Nam, chi phí tiền lương được chi trả bằng nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo từng loại nghề và tuỳ theo từng địa phương mà hình thức chi trả có khác nhau Nhưng chung nhất vẫn là hình thức trả bằng tỷ lệ phần trăm của doanh thu trừ chi phí biến đổi chưa có lương (chi phí nhiên liệu, chi phí bảo quản, chi phí lương thực, chi phí sửa chữa nhỏ và chi phí khác) hoặc doanh thu trừ tổng chi phí hoạt động (chi phí biến đổi chưa có lương và chi phí sửa chữa lớn tàu), hoặc là tỷ lệ phần trăm so với doanh thu Do chủ tàu thuê lao động thường không có hợp đồng lao động, không đăng ký lao động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND xã phường, đồn biên phòng), nên không đóng các khoản bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế cho ngư dân, do vậy, chi phí tiền lương không bao gồm các khoản trích trên
1.2.3 Lợi nhuận khai thác và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận ròng: được tính bằng doanh thu trừ tổng chi phí biến đổi và tổng chi phí
cố định Trong lĩnh vực khai thác tại một số quốc gia Châu Âu, chỉ tiêu này thường được tính bằng doanh thu trừ biến phí và các chi phí cố định (gồm chi phí sửa chữa, thuế và bảo hiểm, chi phí khấu hao, chi phí lãi vay)
Doanh thu
- Biến phí (Chi phí nhiên liệu, Chi phí bảo quản, Chi phí lương thực-thực phẩm, Chi phí sửa chữa nhỏ, Các chi phí khác và Chi phí tiền lương)
= Giá trị gia tăng
- Chi phí sửa chữa lớn
- Chi phí bảo hiểm, thuế
= Dòng tiền thu được
- Khấu hao
- Lãi vay
= Lợi nhuận khai thác
Primary Industries and Resource South Australia [34]
Trang 15Tỷ suất lợi nhuận/Vốn chủ sở hữu-Return on equity ratio (ROE): là chỉ tiêu phổ biến dùng để đánh giá kết quả hoạt động của người chủ doanh nghiệp, nó được tính bằng lợi nhuận chia cho vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu ROE có ý nghĩa quan trọng đối với người chủ doanh nghiệp trong đánh giá kết quả kinh tế là do nó đo lường kết quả của đồng vốn do chủ sở hữu bỏ ra Nó xem xét lợi nhuận trên mỗi đồng tiền vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư hay nói cách khác, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của người chủ trên vốn đầu tư của mình Tóm lại, nó đo lường tiền lời của mỗi đồng tiền vốn bỏ
ra [1]
1.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt nam hiện nay, các cuộc điều tra chủ yếu xoay quanh vấn đề xác định nguồn lợi và đa dạng sinh học biển Giai đoạn đầu của Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển (ALMRV-I) được thực hiện từ năm 1996, đã xây dựng được một cơ sở dữ liệu
có giá trị về sinh học cá, hoạt động và kết quả khai thác hải sản, số liệu kinh tế đội tàu Tuy nhiên, về số liệu kinh tế, mới chỉ thu thập được các dữ liệu về chi phí biến đổi (chi phí chuyến biển và chi phí tiền lương) cho đội tàu chứ chưa thu thập dữ liệu về chi phí
cố định Do vậy, kết thúc giai đoạn đầu Dự án chưa thể đánh giá kết quả kinh tế cuối cùng cho một đội tàu khai thác thuỷ sản
Giai đoạn 2 của dự án ALMRV-II bắt đầu từ năm 2001, yêu cầu phải đưa ra được các tư vấn cho các nhà quản lý của địa phương cũng như Bộ Thuỷ sản về hoạt động của ngành khai thác hải sản, đồng thời tiến hành xây dựng hồ sơ dữ liệu nghề khai thác hải sản cho các tỉnh ven biển Vì vậy, cuối năm 2001, Dự án đã phối hợp với Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản thực hiện xây dựng bộ chỉ số cho việc đánh giá kết quả kinh tế đội tàu và chương trình thu mẫu chi phí cố định để bổ sung cho cơ sở dữ liệu Cho đến hôm nay, các số liệu về kết quả kinh tế đội tàu khai thác tại các địa phương (28 tỉnh/thành phố) mang tính vay mượn từ các nguồn dữ liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản và Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng Dữ liệu về kết quả kinh
tế của các đội tàu được thực hiện bằng cách: lấy dữ liệu về doanh thu và chi phí hoạt động (gồm biến phí, chi phí sửa chữa, thuế bảo hiểm và lãi vay) từ kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, lấy dữ liệu về đầu tư và chi phí khấu hao từ các đội tàu tương đương về công suất và nghề hoạt động do Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản thu thập, do vậy chưa đảm bảo được tính thống nhất giữa các đội tàu Nhìn
Trang 16chung, các nghiên cứu còn mang tính chất tổng quát, chưa đi sâu vào phân tích doanh thu, chi phí và đánh giá kết quả kinh tế của từng đội tàu ở một địa phương cụ thể như Bến Tre [21]
“Tổng quan nghề cá Bến Tre do Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản, Viện Nghiên
cứu Hải sản thực hiện đã khái quát sơ lược những nét cơ bản về đặc điểm kinh tế xã hội cũng như thực trạng nghề cá Bến Tre Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập một cách chi tiết đến từng nghề cá trên từng địa bàn cụ thể
Điều tra quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ và xa bờ tỉnh Bến Tre do Sở Thủy Sản Bến Tre (trước khi sát nhập về Sở Nông nghiệp và
PTNT) và Viện Hải Dương Học Nha Trang thực hiện Đề tài chủ yếu đi theo hướng điều tra hiện trạng, cơ cấu của từng loại hình khai thác; thống kê và dự báo nguồn lợi thủy sản gần bờ và xa bờ của tỉnh Bến Tre Từ đó đề xuất các giải pháp về bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ và xa bờ [13]
Quy hoạch tổng thể khai thác, cơ khí và hậu cần dịch vụ thủy sản tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 do Sở Thủy Sản Bến Tre (trước khi sát nhập về Sở Nông
nghiệp và PTNT) phối hợp cùng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản thực hiện Quy hoạch tổng thể ngành thuỷ sản, đây là một công trình nghiên cứu do Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản thực hiện Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khá công phu để đánh giá hiện trạng và xác định tiềm năng phát triển của ngành thuỷ sản ở Bến Tre Dựa vào kết quả đánh giá về hiện trạng ngành thuỷ sản các lĩnh vực khai thác gần bờ, khai thác
xa bờ, nuôi trồng, chế biến hải sản , nhóm nghiên cứu đã xây dựng các mục tiêu và định hướng phát triển ngành thuỷ sản Bến Tre đến năm 2010 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chưa đánh giá kết quả kinh tế trong khai thác hải sản và đề cập các giải pháp nâng cao kết quả kinh tế của các nghề khai thác ở Bến Tre [20].
1.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Một trong những nghiên cứu kinh tế đầu tiên trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản là của tác giả Huvanandana được thực hiện vào năm 1973 Ông đã nghiên cứu và so sánh doanh thu chi phí của 2 đội tàu lưới vây rút chì (purse seine) và lưới vây nổi (encirling) của Thái Lan và Trung Quốc khai thác cá thu ở vùng biển Ấn Độ Dương Kết quả cho thấy ngư cụ nghề vây nổi mang lại lợi nhuận cao hơn nghề vây rút chì [29]
Domingo và Baun đã nghiên cứu doanh thu chi phí của tàu lưới kéo và lưới vây ở ven biển phía bắc Java, Indonesia Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận của hai tác giả
Trang 17khác nhau Domingo thu thập dữ liệu trong tháng 5 năm 1978, và xem như tháng 5 là tháng có hoạt động và sản lượng khai thác trung bình trong năm, từ đó ngoại suy doanh thu và chi phí của năm Trong khi đó, Baun lại chủ yếu sử dụng nguồn thông tin thứ cấp để làm cơ sở tính doanh thu chi phí cho hai đội tàu này Bên cạnh đó cách tính khấu hao, tính chi phí cơ hội khác nhau dẫn đến kết quả phân tích khác nhau Theo Baun, lợi nhuận ở cả hai đội tàu lưới vây và lưới kéo thấp hơn nhiều so với kết quả của Domingo Nhưng cả hai tác giả đều kết luận rằng lợi nhuận mà nghề lưới vây mang lại cao hơn so với nghề lưới kéo Đồng thời nghiên cứu này đã chỉ ra những khác biệt trong việc xác định lợi nhuận khai thác giữa các nghề khác nhau Sự khác biệt này do nguyên nhân của việc tính toán khác nhau về chi phí cố định cũng như phương pháp
ăn chia giữa chủ tàu và thủy thủ [25]
Kumpa đã phân tích cấu trúc chi phí và khả năng sinh lợi của các đội tàu khai thác quy mô nhỏ ở thành phố Chumphon Tác giả thấy rằng các loại ngư cụ tầng nổi như lưới vây, lưới rê thường đem lại kết quả cao hơn so với các loại ngư cụ tầng đáy như lưới kéo [30]
Ola Flaaten, Knut Heen, và Kjell G Salvanes đã so sánh sự khác biệt lợi nhuận của đội tàu khai thác lưới vây sử dụng giấy phép miễn phí và đội tàu khai thác lưới vây mua giấy phép theo giá thị trường tại Nauy Các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS để phân tích những nhân tố tác động đến doanh thu và chi phí của 2 đội tàu khai thác lưới vây nhằm chỉ ra những khác biệt về doanh thu và chi phí của 2 đội tàu,
từ đó xác định sự khác biệt về lợi nhuận, làm cơ sở tìm ra giá trị thật của giấy phép trên thị trường chuyển nhượng [27]
Nauy cũng như một số nước Châu Âu (Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Anh) đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về doanh thu, chi phí của các đội tàu khai thác hải sản Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào nghề cá đơn loài, kỹ thuật khai thác mang tính công nghiệp hóa rất cao và hoạt động khai thác được quản lý giám sát rất chặt chẽ [24]
Báo cáo của FAO về thành tựu kinh tế kỹ thuật nghề cá đã tóm tắt những kết quả kinh tế tài chính trong hoạt động khai thác hải sản của 15 nước thực hiện trong năm
1999 và 2000 Nghiên cứu này dựa trên kết quả điều tra đã được thực hiện từ năm
1995 đến năm 1997 và được xuất bản trên tạp chí FAO Fisheries Technical Paper số
377 Nghiên cứu cho thấy, trong 108 nghề được nghiên cứu tại 15 nước ở Nam Mỹ,
Trang 18Châu Âu, Châu Phi và Châu Á có 105 nghề đạt dòng tiền dương (positive gross cash flow) (dòng tiền = doanh thu thuần - chi phí hoạt động) chiếm 97% Chỉ có 3 nghề gồm: stow-netters ở Trung Quốc, nghề semi- industrial và industrial shrimp và nghề bottom fish trawlers ở Trinidad và Tobago cho thấy dòng tiền âm Nghiên cứu cũng cho thấy khi xem xét chi phí sử dụng vốn như: chi phí khấu hao và chi phí lãi vay thì
có 92 nghề đạt lợi nhuận khai thác dương, chiếm 85% tổng số nghề nghiên cứu Trong
số 10 quốc gia tham gia vào các nghiên cứu từ trước đến nay, chỉ hai trường hợp của Pháp và Tây Ban Nha đạt được sự cải thiện đáng kể trong tỉ suất lợi nhuận của hoạt động đánh bắt, còn nghề cá Trung Quốc và Đức lại chứng kiến sự giảm sút của chỉ số trên Trong khi đó, tỉ suất lợi nhuận của nghề cá 6 quốc gia còn lại bao gồm Hàn quốc, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Argentina và Peru lại giữ nguyên so với giai đoạn nghiên cứu 1995-1997 Nhìn chung, những kết quả khả quan trên có được là do giá sản phẩm tăng cao Cũng có một vài dấu hiệu cho thấy mức nỗ lực khai thác giảm sút và trữ lượng được phục hồi Một số đội tàu đã tự thay đổi cách thức hoạt động để thích nghi với điều kiện mới như nguồn lợi đang có chiều hướng cạn kiệt và biến động khó lường cũng như phương thức xâm nhập thị trường thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa Trường hợp một số tàu đã qua nhiều năm sử dụng tuy trước đây hoạt động kết quả nhưng giờ đây chịu thua lỗ chủ yếu là vì vẫn tiếp tục đánh bắt trên nguồn lợi vốn đã bị khai thác quá mức [17]
Theo báo cáo của Bộ Thủy Sản Eritrea cho thấy sản lượng khai thác bền vững trong năm 2000 là 70.000 tấn, nhưng thực tế khai thác chỉ đạt 13.000 tấn, Michael Habteyonas Z và Frank Scrimgeour đã nghiên cứu những nhóm nhân tố tác động đến sản lượng khai thác, từ đó đưa ra những khuyến nghị quản lý đối với Bộ Thủy sản Eritrea trong việc phát triển nghề khai thác hải sản, nâng cao sản lượng khai thác, đồng thời bảo vệ nguồn lợi thủy sản đảm bảo phát triển bến vững Những nhóm nhân tố được tác giả dùng phân tích gồm: nỗ lực khai thác (fishing effort), vốn lao động (human capital), tình hình kinh tế xã hội (socio-economic situation), đồng thời tác giả
sử dụng mô hình phân tích hồi quy theo phương pháp OLS để nghiên cứu tác động các nhóm nhân tố trên Kết quả nghiên cứu cho thấy, giới hạn trong nỗ lực khai thác như
sử dụng tàu có công suất nhỏ, sử dụng ngư cụ không kết quả, thiếu hụt yếu tố đầu vào, thiếu kinh nghiệm khai thác của ngư dân là những nhân tố làm cho sản lượng khai thác không đạt kết quả như mong muốn Hơn nữa, kết quả chỉ rỏ đặc điểm tình hình kinh tế
Trang 19xã hội như sử dụng vốn không hợp lý, thiếu thị trường đầu ra và lao động có trình độ đào tạo thấp cũng ảnh hưởng đến sản lượng khai thác Từ đó tác giả đã đưa ra những khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu để nâng cao sản lượng khai thác đạt mức sản lượng bền vững, các khuyến nghị gồm: đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị nghề cá, cho vay vốn đầu tư tàu và ngư cụ, đào tạo nghề cho lao động nghề cá, phổ biến luật khai thác và quản lý thủy sản để giúp ngư dân sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững [28]
Sbrana Mario, Sartor Paolo và Belcari Paola đã nghiên cứu xác định những nhân tố chính ảnh hưởng đến sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực (CPUE) (kg/ngày/tàu) của nghề lưới kéo tại vùng biển Bắc Tyrrhenian Sea (Phía Tây Mediterranean) Dữ liệu sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực của một số loài tôm và cá (deep water rose shrimp, Parapenaeus longirostris, Norway lobster, Nephrops norvegicus, and red shrimps, Aristaemorpha foliacea and Aristeus antennatus) được thu thập hàng tháng từ năm 1991 đến 1999 tại trung tâm đấu giá Porto Santo Stefano, nơi mà hầu hết sản lượng đánh bắt được quyết định bởi hoạt động khai thác của đội tàu lưới kéo truyền thống Tác giả sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát để xác định những nhân tố ảnh hưởng sản lượng khai thác của các loài tôm và cá được nghiên cứu trên một đơn vị cường lực bao gồm: tháng hoạt động, năm hoạt động
và số tàu hoạt động Kết quả nghiên cứu cho thấy, tháng hoạt động ảnh hưởng đáng kể đến sự khác biệt sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực của loài tôm (deep water rose shrimp), năm hoạt động ảnh hưởng đáng kể đến hầu hết các loài nghiên cứu, đặc biệt là loài cá Parapenaeus longirostris Số tàu hoạt động ảnh hưởng đến CPUE của loài Parapenaeus longirostris và đặc biệt loài Nephrops norvegicus Đồng thời kết quả nghiên cứu cho thấy không có 1 nhân tố đơn lẻ nào về đặc điểm của tàu như chiều dài, trọng tải, công suất tàu có thể giải thích tốt hơn sự khác biệt của CPUE như số tàu hoạt động nói chung [31]
Tại Úc, một số công trình nghiên cứu về các chỉ số kinh tế cho một số nghề phục
vụ cho mục đích nghiên cứu tối đa hóa lợi ích do tài nguyên mang lại (resource rent) là nhân tố làm cơ sở xác định thuế tài nguyên mà các đội tàu phải trả khi hưởng lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia [39]
Các công trình nghiên cứu của Pascoe, Đại học Portsmouth - Anh, chủ yếu liên quan đến kết quả kinh tế nghề khai thác hải sản, đồng thời phân tích các nhân tố tác
Trang 20động đến kết quả kinh tế và kết quả kỹ thuật các đội tàu khai thác tại một số quốc gia châu Âu Các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện bằng kỹ thuật phân tích hồi quy, kỹ thuật phân tích DEA (Data Envelopement Analysis) và kỹ thuật SPF [37]
1.4 Lý thuyết xây dựng mô hình kinh tế lượng
Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để tìm ra những nhân tố tác động thực
sự đến việc thay đổi doanh thu đội tàu đánh bắt xa bờ Từ các mô hình nghiên cứu sẽ rút ra kết luận về sự phù hợp của mỗi mô hình, từ đó phục vụ cho việc gợi ý các khuyến nghị nhằm tăng doanh thu cho đội tàu, góp phần nâng cao thu nhập cho ngư dân Mô hình nghiên cứu là mô hình mũ xác định các nhân tố kỹ thuật tác động đến doanh thu Xây dựng các biến cụ thể đưa vào mô hình kinh tế lượng dựa trên những lý thuyết cơ bản về các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế hoạt động khai thác của đội tàu như sau:
Có 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh tế hoạt động đánh bắt của tàu khai thác hải sản [38]
Nhóm nhân tố về đặc điểm kĩ thuật của tàu
- Đặc điểm về vỏ tàu
- Đặc điểm máy tàu
- Đặc điểm trang thiết bị trên tàu
- Tuổi tàu
Nhóm nhân tố về đặc điểm ngư cụ
- Loại ngư cụ tham gia khai thác
Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm về trữ lượng và sinh học
- Đặc điểm về ngư trường
- Đặc điểm về thời tiết
- Đặc điểm về mùa vụ
Trang 21Nhóm nhân tố về lao động và quản lý
- Đặc điểm về chủ tàu
- Đặc điểm về thuyền trưởng
- Đặc điểm về nhân công
Nhóm nhân tố về thị trường
- Thị trường đầu vào
- Thị trường đầu ra
Từ những nhân tố ảnh hưởng trên ta có mô hình tổng quát sự tác động của các nhân
tố đến kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản
Hình 3.1 Mô hình tổng quát mối quan hệ của các nhân tố tác động đến
kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản
Ola Flaaten, Knut Heen và Kjell G Salvanes đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy OLS để phân tích những nhân tố tác động đến kết quả hoạt động khai thác đội tàu lưới vây sử dụng giấy phép miễn phí và đội tàu lưới vây sử dụng giấy phép được chuyển nhượng trên thị trường Các tác giả đã đưa ra 4 mô hình phân tích các nhân tố
Kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản
Lao động và quản lý
- Đặc điểm về chủ tàu
- Đặc điểm về thuyền trưởng
- Đặc điểm về nhân công
Đặc điểm kĩ thuật của tàu
Điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm trữ lượng và sinh học
- Đặc điểm về ngư trường
- Đặc điểm về thời tiết
Trang 22tác động đến kết quả hoạt động khai thác của 2 đội tàu trên Mô hình cụ thể gồm các nhân tố tuổi của tàu, trọng tải tàu, nhân tố đội tàu có giấy phép miễn phí hay chuyển nhượng trên thị trường và nhân tố năm khai thác tác động lần lượt đến doanh thu, chi phí, khấu hao, lãi suất [27]
Pascoe và Coglan đã sử dụng phương pháp phân tích SPF nghiên cứu các nhân tố
kỹ thuật tác động đến sản lượng đầu ra trên một đơn vị nỗ lực (CPUE); cụ thể nghiên cứu các nhân tố chiều dài tàu, chiều rộng tàu, công suất tàu, trọng tải tàu, số lượng thủy thủ và năm đóng tàu tác động đến sản lượng khai thác mỗi ngày của nghề lưới kéo tại vùng eo biển Anh (English Channel) [35]
Theo Sean Pascoe, Parastoo Hassaszahed và Jesper Anderson, các nhân tố tác động đến sản lượng khai thác các đội tàu gồm: trọng tải tàu, công suất tàu, vốn và nhiên liệu [36]
Sean Pascoe và Ines Herrero đã sử dụng phương pháp DEA nghiên cứu các nhân tố trọng tải, công suất tàu và số chuyến biển tác động đến kết quả nỗ lực (CPUE) nghề khai thác bạch tuộc (octopus fishery) và nghề khai thác tôm (multi-species shrimp fishery) [36]
Diana Tinley, Sean Pascoe, Louisa Coglan đã sử dụng phương pháp SPF và phương pháp DEA nghiên cứu các nhân tố tác động đến sản lượng khai thác, các nhân
tố gồm: số ngày khai thác, công suất tàu, tuổi chủ tàu, kinh nghiệm thuyền trưởng, đặc trưng mùa vụ, loại nghề khai thác và một số trang thiết bị khai thác [42]
Mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu này được xây dựng trên giả định kết quả kinh tế đội tàu đánh bắt xa bờ Bến Tre chịu tác động bởi các yếu tố là nhân tố chiều dài tàu, nhân tố về công suất máy, nhân tố về ngư cụ, nhân tố về trang thiết bị, nhân tố
về kinh nghiệm của thuyền trưởng, nhân tố về kinh nghiệm của máy trưởng, nhân tố
về mô hình tổ chức sản xuất trên biển và nhân tố tuổi của tàu
Trên cơ sở là mô hình lý thuyết với 6 nhóm nhân tố tác động, tác giả đề nghị mô hình kinh tế lượng cụ thể như sau:
Trang 23Hình 3.2 Mô hình mối quan hệ của các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản
Kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản
Giá trị đầu tư ngư cụ
Kinh nghiệm thuyền trưởng
Kinh nghiệm của máy trưởng
Trang thiết bị trên tàu
Công suất máy
Chiều dài tàu
Hình thức tổ chức sản xuất
Tuổi của tàu
Trang 24Chương 2
KẾT QUẢ KINH TẾ CỦA ĐỘI TÀU ĐÁNH BẮT XA BỜ TỈNH BẾN TRE
2.1 Giới thiệu khái quát về ngành khai thác hải sản tỉnh Bến Tre
Phía Bắc: giáp tỉnh Tiền Giang
Phía Tây và Tây Nam: giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh
Phía Đông và Đông Nam: giáp Biển Đông [20]
2.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Đặc điểm khí tượng: thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của biển với đặc điểm như sau:
Trang 25Nhiệt độ cao và ổn định, bình quân 27,30C, nóng nhất vào tháng 5: 29,20C, mát nhất vào tháng 12: 25,10C
Độ ẩm bình quân khoảng 81 – 82% Về mùa mưa vùng ven biển có nơi đạt tới 91% [20]
90-2.1.1.3 Tiềm năng nguồn lợi thuỷ hải sản ở tỉnh Bến Tre
Vùng biển xa bờ thuộc tỉnh Bến Tre không thể tính toán được một cách riêng rẽ Quá trình phân tích và đánh giá phải gắn với vùng xa bờ của khu vực biển Đông thuộc Bến Tre và vùng phụ cận
Phân bố và ước tính trữ lượng một số chủng loại hải sản xa bờ: Tổng trữ lượng hải sản xa bờ (không kể Trường Sa) là 1.0650.000 – 1.195.000 tấn, khả năng khai thác là 543.000 – 631.000 tấn/năm; trong đó ngư trường miền Trung (không kể cá nổi vùng khơi) là trên 180.000 tấn, khả năng khai thác trên 71.000 tấn/năm; ngư trường Đông Nam Bộ (không kể cá nổi vùng khơi) là 710.000 – 840.000 tấn, khả năng khai thác 412.000 – 500.000 tấn/năm Trữ lượng cá nổi vùng khơi Trung Bộ và Đông Nam Bộ trên 175.000 tấn, khả năng khai thác là 60.000 tấn/năm
Bảng 2.1: Bảng ước trữ lượng và khả năng khai thác một số chủng loài hải sản ở
ngư trường xa bờ
Đvt: 1.000 tấn
Nội dung
Vùng biển Trung
Bộ
Vùng biển Đông Nam Bộ
Vùng biển Trường
bờ có tập tính di
cư thẳng đứng theo độ sâu Có thể đánh bắt bằng lưới giã và lưới vây)
Trang 265 Trữ lượng cá nổi vùng khơi 175 (mật độ cá 0,1-
0,5 tấn/km2)
98 (mật
độ 1 tấn/km2)
6 Khả năng khai thác cá nổi vùng
Diện tích ước tính trữ lượng cá thay đổi đối với từng loài
Nguồn: Điều tra qui hoạch khai thác và BVNLTS ven bờ và xa bờ tỉnh Bến Tre[13]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội và lao động nghề cá tỉnh Bến Tre
2.1.2.1 Dân số và nguồn lực
Dân số Tỉnh Bến Tre tăng chậm từ 1.278.113 người năm 1995 lên 1.305.445 người năm 2000, tăng bình quân 0,42% năm; tăng lên 1.351.472 người năm 2005 tốc độ tăng bình quân 0,70% năm
Trong khi tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm khá nhanh từ 1,49% năm 1995 còn 1,04% năm 2000 và 0,97% năm 2005, nhưng với tốc độ tăng dân số nêu trên cho thấy Tỉnh Bến Tre bị tác động rất lớn của việc di dân cơ học Số di dân cơ học đi làm ăn ở nơi khác giảm dần từ 11.903 người năm 1995 còn 9.918 người năm 2000 và 5.406 người năm 2005, cho thấy tình trạng xuất cư rất mạnh trong những năm trước năm
2000 và giảm bớt trong năm năm qua
Dân số đô thị có khuynh hướng tăng nhanh, vào khoảng 2,5% năm trong giai đoạn 1996-2000 và 2,42% năm trong giai đoạn 2001-2005 do dân từ nông thôn đổ về thành thị Năm 2005, dân số đô thị bằng 1,28 lần năm 1995
Dân số nông thôn tăng chậm, bình quân 0,23% năm trong giai đoạn 1996-2000 và 0,52% năm trong giai đoạn 2001-2005 Năm 2005 dân số nông thôn bằng 1,04 lần năm
00 (%)
TĐT 01-
05 (%)
Dân số tỉnh 1.278.113 1.305.445 1.308.216 1.319.020 1.337.872 1.345.637 1.351.472 0,42 0,70 Dân số nông
thôn 1.174.894 1.188.621 1.187.182 1.195.125 1.208.334 1.215.110 1.219.819 0,23 0,52 Dân số thành thị 103.219 116.824 121.034 123.895 129.538 130.527 131.653 2,51 2,42 Dân số NN 1.090.778 1.034.100 1.032.203 1.030.309 1.028.419 1.026.532 1.024.648 -1,06 -0,18 Dân số PNN 187.335 271.345 276.013 288.711 309.454 319.105 326.824 7,69 3,79
Nguồn:Báo cáo tổng hợp KT-XH Bến Tre [20]
Trang 27- Cơ cấu dân số đô thị - nông thôn tăng từ 8,08% - 91,2% năm 1995 tăng lên 8,95% - 91,05% năm 2000 và 9,74% - 90,26% năm 2005 cho thấy tốc độ đô thị hoá chậm và tỷ lệ đô thị hoá còn rất thấp so với bình quân cả nước (27%-73%) và bình quân của vùng đồng bằng sông Cửu Long (20,7% - 79,3%)
- Cơ cấu dân số phi nông nghiệp - nông nghiệp tăng từ 14,66% - 85,34% năm
1995 tăng lên 18,05% - 81,95% năm 2000 và 27,79% - 72,21% năm 2005, cho thấy nông thôn đã chuyển hoạt động nông nhiệp sang công thương nghiệp khá nhanh, đặc biệt trong giai đoạn 5 năm gần đây Tuy nhiên nông nghiệp – nông thôn vẫn còn giữ vai trò đáng kể trong nền kinh tế xã hội
Bảng 2.3 Cơ cấu dân số năm 1995, 2000-2005
Nguồn:Báo cáo tổng hợp KT-XH Bến Tre [20]
- Mật độ dân số trung bình giảm từ 568 người/km2 năm 1995, 564 người/km2 năm
2000 do di dân cơ học nhiều và tăng nhẹ lên 573 người/km2 năm 2005 do di dân cơ
- Tuổi thọ bình quân của dân Bến tre tăng rất nhanh, từ 59 tuổi năm 1995 lên 64 tuổi năm 2000 và 70,5 tuổi năm 2005 Tuy nhiên với tỷ lệ chết hàng năm vẫn còn ở mức cao (0,57% năm 1995, 0,51% năm 2000 và 0,55% năm 2005) là một thách thức đối với chất lượng dân số [4]
Trang 28Bảng 2.4: Lao động và cơ cấu lao động năm 1995, 2000 – 2005
TĐT 95-00 (%)
TĐT 01-05 (%)
Nguồn:Báo cáo tổng hợp KT-XH Bến Tre [20]
- Cơ cấu lao động trong khu vực 1 giảm từ 73,84% năm 1995 còn 67,79% năm
2000 và 61,76% năm 2005; trong khi đó khu vực 2 giảm từ 5,82% còn 5,23% và tăng lên 5,88%; khu vực 3 tăng từ 9,60% lên 9,63% và 10,97% lao động trong độ tuổi cho thấy tiến độ chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp dịch
vụ còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu làm việc của lao động gia tăng, dẫn đến lao động trong độ tuổi đi tìm việc ở các thành phố khác rất đông Lao động trong độ tuổi tăng bình quân trong kỳ 1996-2005 là 17,26 người/năm, hầu hết đều có công ăn việc làm, tỷ lệ lao động không có công ăn việc làm chưa vững chắc giảm từ 7,40% năm
Trang 292.1.2.2 Đặc điểm lao động nghề cá tại các vùng ven biển tỉnh Bến Tre
Bến Tre có lực lượng lao động trong nghề cá dồi dào Tuy nhiên, lực lượng lao động này có trình độ văn hóa không cao, chuyên môn nghiệp vụ chưa được đào tạo bài
bản Một bộ phận lao động nghề cá phát sinh theo mùa vụ do nông nhàn
2.1.3 Hiện trạng ngành khai thác hải sản tỉnh Bến Tre
2.1.3.1 Hiện trạng khai thác tại 3 huyện Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú giai đoạn 2001 – 2008
Bảng 2.5: Hiện trạng về khai thác thủy sản sản giai đoạn 2001 – 2008
Hiện trạng khai thác 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
TĐBQ 2001-
2008 Tổng số tàu (chiếc) 1.605 1.589 1.685 1.773 2.368 2.606 2.698 3.644 12,42
Tổng sản lượng (tấn) 53.328 59.101 55.678 64.563 67.266 72.283 74.360 85.555 6,98
Ba Tri 21.713 23.546 23.252 27.785 31.256 32.978 33.498 43.254 10,34 Bình Đại 25.061 29.396 27.603 33.015 33.689 36.572 37.838 38.383 6,28 Thạnh Phú 6.554 6.158 4.823 3.764 2.322 2.732 3.024 3.918 -7,08
Nguồn:Chi cục Khai thác và BVNLTS Tỉnh Bến Tre [2&3]
Tổng số tàu thuyền tăng khá nhanh trong giai đoạn 2001 – 2008, tăng bình quân 12,42%/năm (bảng 2.5); đến năm 2008 tổng số tàu thuyền của 3 huyện ven biển là 3.644 chiếc, chiếm 82,41% tổng số tàu thuyền toàn tỉnh Số lượng tàu thuyền tăng nhanh nhất là huyện Thạnh Phú với tốc độ tăng bình quân 26,58%/năm
2.1.3.1.1 Diễn biến số lượng, công suất, sản lượng khai thác
Trang 30Bảng 2.6: Diễn biến về số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng, cơ cấu nghề
khai thác thủy sản 3 huyện biển
TĐTT
BQ
2001 /2008
1 Phương tiện khai
Nguồn:Chi cục Khai thác và BVNLTS Tỉnh Bến Tre [2&3]
Bảng trên cho thấy trong giai đoạn 2001 – 2008 tổng số tàu khai thác xa bờ tăng bình quân 67,84%/năm Điều đáng chú là nhóm tàu có công suất từ 20CV- 50CV lại tăng 24,66%/năm, sự tăng trưởng này không phải là do nguồn lợi khai thác gần bờ được cải thiện mà là do chính sách hỗ trợ giá dầu của chính phủ làm cho lượng tàu thuyền trước nay chưa đăng ký nay đến Chi cục BVNL TS đăng ký đột biến Ngư dân đóng mới tàu để hưởng hỗ trợ dầu cũng tăng mạnh (Đầu tư một vỏ tàu khoảng 10-15 tấn và một động cơ D22 của Trung Quốc chỉ khoảng 25 triệu đồng Trong khi tiền dầu được chính phủ hỗ trợ cho đối tượng này lên đến gần 20 triệu) [15]
Sản lượng khai thác tăng 7,76%/năm, trong khi đó tổng số tàu tăng 12,42%/năm, cho thấy năng suất khai thác ngày càng giảm
Để làm rõ hơn về diễn biến số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng, cơ cấu nghề khai thác thủy sản, ta phân tích hiện trạng nghề khai thác của từng huyện
Trang 31Bảng 2.7: Diễn biến về số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng, cơ cấu nghề
khai thác thủy sản huyện Ba Tri
Nguồn:Chi cục Khai thác và BVNLTS Tỉnh Bến Tre [2&3]
Qua bảng 2.7 cho thấy diễn biến về số lượng tàu thuyền, tổng công suất và sản lượng khai thác của huyện Ba Tri phù hợp với diễn biến chung của tỉnh Tuy nhiên, đến năm 2008, tại Ba Tri tàu có công suất 90CV - <400CV chiếm tỷ lệ cao nhất (40,83%), trong khi đó phương tiện chiếm tỷ lệ cao nhất của 3 huyện biển là tàu có công suất 20 - <50CV (52,80%)
TĐTT
BQ 2001/
Trang 32Bảng 2.8: Diễn biến về số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng, cơ cấu nghề
khai thác thủy sản huyện Bình Đại
Hiện trạng ĐVT 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
TĐTTBQ 2001/
Nguồn:Chi cục Khai thác và BVNLTS Tỉnh Bến Tre [2&3]
Tại huyện Bình Đại, tàu có công suất <20CV tăng hàng năm 5,34%, có thể do nguồn lợi gần bờ tại Bình Đại vẫn còn hấp dẫn đối với ngư dân, điều này cũng thể hiện
là sản lượng khai thác các loài thủy sản khác của Bình Đại tăng hàng năm 8,48%/năm trong khi đó tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của 3 huyện biển là 7,76%/năm
Trang 33Bảng 2.9: Diễn biến về số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng, cơ cấu nghề
khai thác sản huyện Thạnh Phú
TĐT TBQ 2001/
Nguồn: Chi cục Khai thác và BVNLTS Tỉnh Bến Tre [2&3]
Tổng số tàu khai thác của huyện Thạnh Phú tăng 26,58%/năm, trong đó tàu khai thác xa bờ tăng 11,50%/năm, công suất bình quân giảm 8,14%/năm Sản lượng khai thác của huyện Thạnh Phú giảm 7,08%/năm
2.1.3.1.2 Diễn biến về số lượng tàu thuyền theo loại nghề khai thác
Bảng 2.10: Hiện trạng về số lượng tàu thuyền theo loại nghề khai thác giai đoạn
2001 - 2008
Loại nghề ĐVT 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
TĐTTBQ 2001/
2008
Lưới kéo chiếc 722 747 796 1.047 1.542 1.725 1.853 2.929 22,14
Trang 34Nghề lưới kéo và lưới rê của các huyện tăng trung bình hàng năm tương ứng là 22,14%/năm và 20,87%/năm, ngược lại nghề câu và các nghề khác có xu hướng ổn định hàng năm Nghề câu có dấu hiệu phục hồi nhưng không đáng kể Nghề lưới vây huyện Ba Tri có xu hướng tăng, tuy nhiên huyện Bình Đại và Thạnh Phú có xu hướng giảm
2.1.3.1.3 Về hậu cần, dịch vụ khai thác thủy sản
- Về Cảng cá, chợ cá: Hiện có 2 cảng cá trên địa bàn 2 huyện Bình Đại và Ba Tri đang hoạt động có kết quả, cảng cá An Nhơn huyện Thạnh Phú đang trong giai đoạn thi công
- Các dịch vụ khác: như cửa hàng vật tư, lưới sợi; trạm xăng dầu; vựa nước đá cũng đang trên đà phát triển mạnh; hiện tại chưa có phân xưởng chế tạo và lắp ráp lưới, việc lắp ráp lưới do các hộ gia đình đảm nhận
2.2 Giới thiệu các nghề khai thác của đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre
2.2.1 Nghề cào (Lưới kéo)
2.2.1.1 Giới thiệu lịch sử nghề cào
Lưới kéo ra đời vào khoảng giữa thế kỷ 19, nhưng được áp dụng phổ biến vào những năm 1950 khi những ngư dân vùng St.Abbs biết dùng lưới kéo khung viền để khai thác tôm vùng ven bờ ở Na Uy Hiện nay, nghề lưới kéo khai thác tôm được áp dụng phổ biến ở đây [8]
Lưới kéo có thể bắt cả cá đi phân tán hoặc đi tập trung thành đàn, có thể đánh cá ở tầng đáy, tầng giữa và tầng mặt
Đối với ngư dân Bến Tre, nghề cào chủ yếu là cào tầng đáy Cào được thiết kế để đánh bắt những loài sinh vật ăn đáy
Cào có cấu trúc dạng túi với hai cánh lưới mở rộng ra hai bên, cánh lưới bắt đầu từ miệng lưới và kéo dài ra đụng tới ván lưới Phần chân của cánh lưới và miệng lưới được trang bị chì để rà sát nền đáy mềm và phần trên của cánh và miệng được trang bị với các phao để miệng lưới mở ra khi lưới hoạt động
Lưới được thả ra từ đuôi tàu, khi đó hai ván lưới hạ thấp dần vào trong nước khi cáp kéo được thả ra dưới sức ghì của lưới trong nước Từ khi cáp được thả đủ để lưới làm việc ổn định dưới nền đáy thì việc dắt lưới bắt đầu Thời gian dắt lưới kéo dài khoảng một vài giờ Tôm thường rời khỏi rãnh nền đáy của chúng để kiếm ăn và bị bắt khi viền chì của lưới quét qua chúng Cá bơi trước miệng lưới phải đến khi chúng bị lùa vào phía trong lưới và bị bắt ở đụt lưới
Trang 352.2.1.2 Phân loại nghề cào (lưới kéo)
Nếu căn cứ vào số lượng tàu kéo cào (lưới) thì nghề cào được chia thành 2 loại nghề là cào đơn và cào đôi Cào đơn thường chỉ có 1 tàu kéo lưới, có hai loại đơn là đơn mạn và đơn đuôi Cào đôi là dạng cào phải có hai tàu kéo hai đầu của lưới
Hình 2.2: Tàu cào đơn
Hình 2.3: Tàu cào đôi
Trang 362.2.1.3 Cấu tạo:
Cấu tạo miệng cào bao gồm: Áo lưới, các dây viền và các trang thiết bị hỗ trợ
- Áo lưới bao gồm 4 phần chính: Cánh lưới, lưới chắn, thân lưới và đụt lưới
- Các trang thiết bị của cào: Phao, các dây viền trong lưới, que ngáng, dây cáp kéo, dây đỏi và ván lưới
2.2.1.4 Các bước đánh bắt:
2.2.2 Lưới vây
2.2.2.1 Giới thiệu khái quát:
Nghề khai thác lưới vây là một trong những nghề khai thác quan trọng được áp dụng rộng rãi ở nước ta cũng như trên thế giới Lưới vây là loại lưới đánh bắt chủ động
và có sản lượng cao Lưới vây đã được phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Vào năm 1860 Mỹ ứng dụng lưới vây để khai thác cá ven bờ Đại Tây Dương, năm
1866 phát triển mạnh ở Thái Bình Dương vì lúc này tàu cơ giới đã phát triển Ở Bắc
Âu nghề lưới vây được phát triển ở Thụy Điển từ năm 1903, Na Uy và Đan Mạch năm
1914 Ở Việt Nam nghề lưới vây phát triển vào thập kỷ 60 [9]
Ưu điểm của nghề lưới vây là đánh bắt được nhiều loại cá kinh tế Đánh bắt đạt kết quả cao đặc biệt là đối với các loài cá nổi đi theo đàn Có thể mở rộng ngư trường khai thác ra các đại dương
Trang 37Nguyên tắc thiết kế độ cao lưới vây dựa vào độ lặn sâu của cá nên lưới vây không nhất thiết phải thiết kế bao vây toàn bộ vùng nước tầng mặt và tầng đáy
2.2.2.3 Cấu tạo của lưới vây:
- Vòng khuyên và dây tam giác;
- Các phần phụ khác như lưới chao, xuồng hoặc phao tiêu, quả xoay
Hình 2.4: Tàu lưới vây ánh sáng
Trang 382.3 Kết quả kinh tế của đội tàu đánh bắt xa bờ tỉnh Bến Tre
2.3.1 Nghề cào đơn (Lưới kéo đơn)
2.3.1.1 Chi phí cố định
Bảng 2.11: Chi phí cố định bình quân/tàu năm 2007 và năm 2008
Công suất Số lượng Sửa chữa
Công suất Số lượng Sửa chữa
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả
Chi phí cố định bình quân/tàu gia tăng từ 129.143.000 đồng năm 2007 lên 131.862.000 đồng năm 2008 do sự gia tăng của chi phí lãi vay và chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hiểm có tăng nhưng không đáng kể Sở dĩ lãi vay tăng là do trong năm
2008 do ảnh hưởng của lạm phát đẩy lãi suất ngân hàng tăng lên đến 20,40%/năm nếu ngư dân vay vốn từ ngân hàng, còn một số ngư dân vay từ nguồn tư nhân (tức là vay mượn từ người quen, từ các cá nhân chuyên cho vay nóng) thì lãi suất còn lên tới 36% Chi phí khấu hao trong năm 2007 và 2008 luôn là khoản chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí cố định Chi phí bảo hiểm chỉ chiếm 2,27% trong tổng chi phí
cố định năm 2007 và chiếm 2,39% trong tổng chi phí cố định năm 2008
Trang 39Chi phí cố định gia tăng theo các nhóm công suất, trong năm 2008 nếu nhóm tàu có công suất từ 90CV - <150CV có chi phí cố định là 71.982.000 đồng thì nhóm tàu có công suất từ 400CV - < 700CV là 179.688.000 đồng tăng gấp 2,49 lần Nguyên nhân
là do trong quá trình đầu tư cho nghề hầu hết ngư dân đều có kinh nghiệm trong việc đầu tư một cách hợp lý giữa vỏ tàu và máy tàu Do đó, tàu có công suất càng lớn thì giá trị tàu càng cao chính vì thế chi phí khấu hao cho tàu thuộc nhóm này chiếm tỷ trọng lớn
2.3.1.2 Chi phí biến đổi:
Bảng 2.12: Chi phí biến đổi bình quân/tàu năm 2007 và 2008:
Công suất Số
lượng
Nhiên liệu
Bảo quản
Lương thực
Sửa chữa nhỏ
Bảo quản
Lương thực
Sửa chữa nhỏ
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả
Trong cơ cấu chi phí biến đổi, chiếm tỷ trọng cao nhất là chi phí nhiên liệu, kế tiếp
là chi phí tiền lương Thấp nhất là chi phí bảo quản, sửa chữa nhỏ và các khoản chi phí
Trang 40khác Chi phí biến đổi trung bình/tàu năm 2007 là 997.242.000 đồng, năm 2008 là 1.165.390.000 đồng, tăng 14,42% do:
- Chi phí nhiên liệu bình quân/tàu năm 2008 là 693.779.000 đồng, tăng 17,20 % so với năm 2007, chi phí nhiên liệu tăng ở đây chủ yếu là do giá dầu diesel năm 2008 tăng cao hơn so với năm 2007 Nhiên liệu chủ yếu tiêu hao cho việc di chuyển của tàu trong suốt hành trình của chuyến biển
- Chi phí lương thực và bảo quản bình quân/tàu trong năm 2008 đều tăng với tỷ lệ lần lượt là 16,16% và 19,42% so với năm 2007 Sự gia tăng này là do: chỉ số lạm phát tăng cao dẫn tới sự gia tăng về chỉ số giá cả, đứng đầu là sự gia tăng chỉ số giá từ các mặt hàng lương thực, nhu yếu phẩm Đối với chi phí bảo quản cũng do tác động của
“cơn bão giá” mà các khoản chi phí như nước đá dùng để bảo quản sản phẩm đánh bắt trên biển cũng tăng theo
- Chi phí sửa chữa nhỏ cũng gia tăng nhưng không đáng kể Sửa chữa nhỏ gồm sửa chữa thường xuyên các thiết bị điện tử, cơ khí, máy tàu, vỏ tàu và ngư cụ
- Chi phí lương là nhóm chi phí chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong tổng chi phí biến đổi Nếu bình quân chi phí lương năm 2007 là 232.685.000 đồng/tàu thì năm 2008 là 262.221.000 đồng/tàu Trong nhóm nghề cào đơn, hình thức chi trả lương của chủ tàu đối với thuyền viên trên tàu theo hình thức ăn chia theo từng chuyến biển Cụ thể: chủ tàu lấy doanh thu 1 chuyến biển trừ đi từ khoản chi phí từ 20% – 25% trên doanh thu đạt được (chủ tàu cho đó là chi phí khấu hao tàu thuyền), phần còn lại chủ tàu 80% và 20% còn lại cho tất cả các thành viên trên tàu Toàn bộ chi phí cho chuyến biển chủ tàu chi trả Theo hình thức này, sau mỗi chuyến biển dù lãi hay lỗ thì thuyền viên trên tàu vẫn có thu nhập để đảm bảo cuộc sống
Nếu so sánh theo từng nhóm công suất thì chi phí biến đổi cũng tăng lên từ nhóm tàu có công suất nhỏ đến nhóm tàu có công suất lớn Nhóm tàu có công suất máy lớn hơn thì tiêu hao nhiên liệu nhiều hơn, cụ thể: nhóm tàu 90CV - <150CV tiêu hao nhiên liệu bình quân năm 2007 là 378.000.000 đồng, năm 2008 là 444.670.000 đồng, nhóm tàu có công suất máy từ 400CV - <700CV năm 2007 chi phí tiêu hao nhiên liệu bình quân là 881.600.000 đồng, năm 2008 là 1.025.000.000 đồng Chi phí lương cũng tăng theo từng nhóm tàu, sự gia tăng này là do số thuyền viên tăng lên theo từng nhóm tàu
có nhóm công suất máy lớn hơn Như trên đã trình bày, chủ tàu trả lương cho thuyền