Hệ thống VAC được bắt đầu ở Trung Quốc, là mô hình hấp dẫn nhất của hệ thống canh tác nông nghiệp–thủy sản kết hợp vì chúng có khả năng đa dạng hóa cao, tập trung và khả năng kết hợp bền
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trần Văn Hà
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KĨ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ VƯỜN–AO–CHUỒNG (VAC) Ở HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thuỷ sản
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gởi đến Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang sự kính trọng, lòng tự hào đã được làm việc, học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy hướng dẫn TS Phạm Xuân Thuỷ đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quí thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập ở lớp cao học Nuôi trồng Thuỷ sản khoá 2009 – 2011
Xin cảm ơn tất cả bạn bè và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành đề tài!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Trần Văn Hà
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình phát triển mô hình VAC ở Việt Nam 6
1.2 Vai trò của mô hình kinh tế VAC 10
1.2.1 Mô hình VAC dinh dưỡng 12
1.2.2 Mô hình VAC kinh tế 13
1.2.3 Phát triển VAC trang trại góp phần phát triển nông nghiệp hàng hoá 15
1.2.4 Hoạt động mô hình VAC góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm 16
1.3 Sự hình thành và phát triển hệ thống VAC 17
1.4 Phổ biến và nhân rộng mô hình VAC 19
1.5 Các hệ thống VAC tại Việt Nam 20
1.5.1 Hệ thống VAC miền núi 20
1.5.2 Hệ thống VAC vùng đồng bằng 22
1.5.3 Mô hình VAC vùng ven biển 25
1.6 Một số kết quả từ mô hình VAC do VACVINA thực hiện 27
1.6.1 Mô hình VAC trên vùng sinh thái cát ven biển 27
1.6.2 Mô hình VAC ở miền núi 28
1.6.3 Mô hình VAC trên vùng đất đồi núi mới khai hoang 28
CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 30
2.4 Thu thập và xử lí số liệu 31
Trang 52.4.1 Thu thập số liệu 31
2.4.2 Xử lí và phân tích số liệu 32
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế – xã hội khu vực nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36
3.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội huyện Yên Lạc 39
3.2 Hiện trạng kĩ thuật trong mô hình VAC 41
3.2.1 Trình độ văn hoá và chuyên môn của chủ hộ nuôi 42
3.2.2 Nghề nghiệp và vai trò của chủ hộ nuôi 43
3.2.3 Hoạt động tham gia tập huấn 44
3.2.4 Hiện trạng kĩ thuật NTTS trong mô hình VAC 46
3.2.5 Hoạt động chăn nuôi 57
3.2.6 Hoạt động làm vườn 57
3.2.7 Nhận thức về vai trò NTTS trong mô hình VAC 58
3.3 Khó khăn, hướng phát triển và kiến nghị của người nuôi 59
3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của NTTS trong mô hình VAC 60
3.4.1 Đánh giá doanh thu và tổng chi phí năm 2008, 2009 và sơ bộ 2010 của các hộ nuôi trong mô hình VAC 61
3.4.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế của NTTS trong mô hình kinh tế VAC ở huyện Yên Lạc 64
3.4.3 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kết quả sản xuất của 1ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 66
3.4.4 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 67
3.5 Một số giải pháp góp phần làm tốt mô hình kinh tế VAC 68
3.5.1 Phát triển nhiều hơn nữa mô hình kinh tế VAC tại các điểm NTTS ở hai cấp xã và thôn gắn với các đối tượng vật nuôi và cây trồng có giá trị kinh tế cao 70
3.5.2 Xác định rõ mô hình kinh tế VAC, lựa chọn giống vật nuôi, cây trồng có giá trị phù hợp với địa phương 70
3.5.3 Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản 71
3.5.4 Giải quyết tốt nguồn vốn cho người nuôi 71
Trang 63.5.5 Nâng cao trình độ của cán bộ khuyến nông và người nuôi 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 73
I KẾT LUẬN 73
II ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: So sánh giữa các mô hình NTTS kết hợp theo sản lượng lúa 9
Bảng 1.2: Điểm đặc trưng cơ bản của hệ thống VAC tại miền Bắc Việt Nam 23
Bảng 2.1: Chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra 31
Bảng 3.1: Lượng mưa trung bình của tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2000 – 2009 37
Bảng 3.3: Diện tích đất nông nghiệp và đất NTTS 37
Bảng 3.4: Diện tích, dân số và mật độ dân số trung bình tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Yên Lạc, năm 2009 39
Bảng 3.5: Dân số trung bình của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Yên Lạc, 40
Bảng 3.6: Số trang trại tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Yên Lạc, năm 2006 – 2009 40
Bảng 3.7: Số trang trang trại phân theo ngành của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Yên Lạc, năm 2009 41
Bảng 3.8: Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Yên Lạc, năm 2006–2009 41
Bảng 3.9: Trình độ văn hoá của chủ hộ nuôi 42
Bảng 3.10: Nghề nghiệp và vai trò của chủ hộ nuôi 43
Bảng 3.11: Số hộ và người tham gia tập huấn 44
Bảng 3.12: Đơn vị tổ chức tập huấn 45
Bảng 3.13: Nội dung và hiệu quả của các lớp tập huấn 45
Bảng 3.14: Diện tích, số lượng và độ sâu ao nuôi trung bình trên một hộ 47
Bảng 3.15: Loại chất đáy ao nuôi 47
Bảng 3.16: Nguồn nước và ảnh hưởng của chất thải 48
Bảng 3.17: Các hoạt động cải tạo ao nuôi 49
Bảng 3.18: Nguồn cung cấp và chất lượng giống 50
Bảng 3.19: Tỉ lệ và mật độ cá giống thả trong ao nuôi 51
Bảng 3.20: Tỉ lệ các loại thức ăn và hình thức cho cá ăn 52
Trang 7Bảng 3.21: Chăm sóc và quản lí ao nuôi 53
Bảng 3.22: Công tác phòng bệnh cá 53
Bảng 3.23: Xu hướng dịch bệnh ở cá 54
Bảng 3.24: Công tác trị bệnh và thiệt hại do dịch bệnh ở cá 55
Bảng 3.25: Tỉ lệ sống, số lượng và sản lượng cá thu 56
Bảng 3.26: Diện tích chuồng và số lượng vật nuôi trung bình trên một hộ 57
Bảng 3.27: Diện tích và một số cây trồng trong vườn 57
Bảng 3.28: Nhận thức của hộ nuôi về các yếu tố trong mô hình VAC 58
Bảng 3.29: Khó khăn của hộ nuôi cá 59
Bảng 3.30: Kiến nghị của hộ nuôi 59
Bảng 3.31: Hướng phát triển của hộ nuôi 60
Bảng 3.32: Bảng doanh thu, tổng chi phí trung bình của hộ nuôi 61
Bảng 3.33: Mức độ đầu tư và kết quả thu được của tổng các hộ NTTS trong mô hình VAC ở huyện Yên Lạc, năm 2009 64
Bảng 3.34: Một số chỉ tiêu kinh tế của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 65
Bảng 3.35: Chi phí và kết cấu chi phí sản xuất của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC ở huyện Yên Lạc, năm 2009 65
Bảng 3.36: Chi phí và kết quả sản xuất của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 67
Bảng 3.37 Hiệu quả kinh tế của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 67
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình1.1: Mô tả chuỗi thức ăn trong hệ thống ao cá kết hợp ở miền Bắc 7
Hình 1.2: Mối quan hệ tương tác qua lại trong hệ thống ao VAC 12
Hình 1.3: Mô hình VAC miền núi 21
Hình 1.4: Hoạt động làm vườn và chăn nuôi bên cạnh ao cá 24
Hình 1.5: Hệ thống kết hợp Lợn–vịt–cá–rau 25
Hình 1.6: Một số cây trồng trong vườn trong hệ thống VAC miền núi 28
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 30
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Yên Lạc 35
Hình 3.2: Phân bố lợi nhuận của các hộ nuôi 63
Hình 3.3: Biểu đồ lợi nhuận trung bình của các hộ nuôi 63
Hình 3.4 Ma trận SWOT của mô hình VAC tại huyện Yên Lạc 69
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
trồng thuỷ sản tốt
Trang 9MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, hệ thống nuôi kết hợp Vườn–Ao–Chuồng (VAC) được tiến hành bởi một số lượng lớn các trang trại nhỏ ở đồng bằng sông Hồng Hệ thống VAC được bắt đầu ở Trung Quốc, là mô hình hấp dẫn nhất của hệ thống canh tác nông nghiệp–thủy sản kết hợp vì chúng có khả năng đa dạng hóa cao, tập trung và khả năng kết hợp bền vững.[22]
Hệ thống VAC là một mô hình thể hiện chiến lược tái sinh: tái sinh nguồn năng lượng mặt trời thông qua quang hợp của cây trồng, tái sinh các chất thải (vật thải của công đoạn sản xuất này là nguyên liệu sản xuất cho quy trình sản xuất khác) Chiến lược tái sinh này còn làm thanh sạch môi trường.[8]
Người nông dân quen gọi kinh tế VAC là “kinh tế vườn” có vai trò to lớn trong cung cấp dinh dưỡng cho nông hộ, tạo thêm công ăn việc làm, tạo thêm của cải cho xã hội Làm vườn theo cách này tạo đã tạo ra những hệ sinh thái bền vững, cảnh quan trong lành, góp phần cải thiện và giữ gìn môi trường.[8]
Thực chất của mỗi quan hệ tương tác giữa các thành phần, các yếu tố trong mô hình VAC là sự luân chuyển, quay vòng của các dòng vật chất và năng lượng giữa Vườn–Ao–Chuồng thông qua hành vi có ý thức của con người nhằm:[8]
+ Tận dụng không gian sinh thái ba chiều của vùng nhiệt đới giàu ánh sáng, độ
Chúng ta đều biết trong hơn hai thập kỉ qua, nền kinh tế thủy sản của Việt Nam
đã có sự tiến bộ rõ ràng tập trung ở con tôm sú, tôm he chân trắng, rô phi, cá tra phát triển với mô hình công nghiệp Tuy nhiên, những đối tượng trên chủ yếu phát triển ở miền Nam và nó chưa thể hiện được tính bền vững và gây rủi ro lớn cho người nuôi Việt Nam với 74% là nông dân nên việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo và tăng thu nhập thì nuôi trồng thủy sản kết hợp theo mô hình VAC tỏ ra là ưu việt và bền vững cho đại đa số hộ nông dân, đặc biệt là nông dân vùng nông thôn, ven biển và miền núi của Việt Nam
Trang 10Vĩnh Phúc là tỉnh có ngành thủy sản chuyên về nước ngọt, không có điều kiện phát triển thủy sản nước mặn và nuôi cá nước ngọt theo quy mô công nghiệp lớn như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, mặt khác, tỉnh thuộc vùng đồng bằng – trung du miền núi nên phát triển kinh tế thủy sản–nông nghiệp ở nông hộ là cần thiết để giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân Mô hình kinh tế VAC ở Vĩnh Phúc phát triển rộng khắp, đặc biệt ở huyện Yên Lạc và huyện Vĩnh Tường Theo Niên giám thống kê nông nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009, cả tỉnh có 688 trang trại nông nghiệp kinh doanh tổng hợp, trong đó số trang trại ở huyện Yên Lạc có 553 trang trại, chiếm tới 80,38% tổng số trang trại nông nghiệp kinh doanh tổng hợp của toàn tỉnh[3] Kinh tế trang trại kết hợp đã góp phần làm cho kinh tế của các hộ nông dân được cải thiện rõ ràng
Tuy nhiên, mô hình nuôi VAC ở huyện Yên Lạc còn nhiều vấn đề bất cập như:
kĩ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho vật nuôi còn kém, đối tượng vật nuôi cây trồng chưa thích hợp, khả năng thâm canh còn hạn chế… dẫn tới hiệu quả kinh tế chưa cao
Vì vậy, đề tài được thực hiện góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của người nông dân làm kinh tế theo mô hình VAC bằng việc đánh giá hiện trạng kĩ thuật, đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả Từ đó, rút ra những kinh nghiệm và đưa tiến bộ khoa học để nhân rộng và phát triển mô hình kinh
tế ở huyện Yên Lạc nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung
Được sự đồng ý của khoa NTTS – trường Đại học Nha Trang, phòng Đào tạo Đại học & Sau đại học, Hội đồng xét duyệt đề cương cao học và thầy giáo hướng dẫn,
tôi được phép thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng kĩ thuật và hiệu quả của mô
hình kinh tế Vườn–Ao–Chuồng (VAC) ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc”
Mục đích đề tài: trên cơ sở điều tra hiện trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi với
mô hình VAC
Nôi dung:
+ Đặc điểm tự nhiên – kinh tế – xã hội huyện Yên Lạc có ảnh hưởng đến
mô hình kinh tế VAC
+ Hiện trạng về NTTS trong mô hình VAC + Hiện trạng về chăn nuôi và trồng trọt + Kết quả và hiệu quả kinh tế của NTTS trong mô hình VAC
Trang 11Thực hiện đề tài này, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Phạm Xuân Thuỷ Tôi chân thành cảm ơn
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới
Hệ thống kết hợp Nông nghiệp và Thuỷ sản (NN&TS) mà phổ biến là mô hình VAC: trong đó, chất thải của đối tượng này là nguồn cung cấp dinh dưỡng tốt cho đối tượng khác [24],[19] Hệ thống trang trại kết hợp bao gồm Nuôi trồng Thuỷ sản (NTTS) thể hiện là sự đồng quy hay liên kết liên tục giữa hai hay nhiều hoạt động của chúng với NTTS [23]
Khái niệm về NTTS kết hợp không phải là mới, có thể bắt đầu đầu tiên ở cộng đồng dân cư đông đúc ở châu Á, vùng trung tâm châu Âu và đã được chấp nhận là có khả năng phát triển cho những người nông dân nghèo.[24]
NTTS kết hợp cũng có thể được định nghĩa như: cá nuôi kết hợp kín trong dòng năng lượng, dinh dưỡng của hệ thống trang trại thông thường và rộng rãi hơn để liên kết NTTS với hoạt động khác của con người hơn nông nghiệp (nông học và động vật trong nông nghiệp) như quản lí về tài nguyên nước, công nghiệp, và hệ thống xử lí nước.[22]
Trang trại kết hợp mà bao gồm NTTS có thể định nghĩa rộng như sự liên tục giữa hai hay nhiều hơn các hoạt động của chúng ít nhất một yếu tố là NTTS [27] Mục đích của sự kết hợp là làm tăng sự đa dạng hóa, nâng cao hiệu quả, làm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên tự nhiên, tăng năng suất và tăng khả năng chịu đựng ]29]
Phạm vi rộng lớn của hệ thống kết hợp NN&TS được tiến nhiều ở Bắc và Đông Bắc châu Á, ví dụ như Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam.[30]
Hệ thống cá kết hợp sử dụng cỏ và thực vật dưới nước như là thức ăn cho cá, được tìm thấy ở nhiều vùng của Trung Quốc [36], ở Trung Quốc: hệ thống kết hợp NN&TS theo khái niệm của Nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh mối quan hệ giữa môi trường nông nghiệp với môi trường tự nhiên và xã hội của chúng [25], ở châu Phi: trang trại kết hợp có thể được tìm thấy ở Ghana và Malawi [29], ở châu Âu, hệ thống kết hợp NN&TS được tiến hành ở các nước như Hungary và Đức [13], [32]
Trang 13Các loại hệ thống kết hợp NN&TS xếp loại từ hình thức đơn giản như hệ thống cá–lúa, đến phức tạp như hệ thống cây trồng–vật nuôi–cá (crop–livestock–fish) Hệ thống kết hợp NN&TS hở truyền thống bao gồm cây trồng, vật nuôi và cá được tiến hành ở Trung Quốc trước thế kỷ IX [25], [17] Ở Malaysia, trang trại được tiến hành từ những năm 1930, với sản lượng cá trong ruộng lúa và trong ao nuôi lợn–cá (Ahmad, 2001) Ở Ấn Độ, việc kết hợp hoa màu và rau quả trong ao nuôi cá đã thu được kết quả tốt [33] từ thế kỷ XIV – XVI Việc kết hợp cá với vật nuôi trong trong trang trại và sự phức tạp của hệ thống công trình kết hợp với trại cá được phát triển [26]
Sự kết hợp vật nuôi–cá nhận được sự quan tâm đáng kể ở trong quá khứ, hầu hết chương trình quản lí về việc nuôi kết hợp cá–lúa đã thất bại và được đưa vào bản báo cáo hệ thống trang trại hiện hành Ví dụ: nơi nuôi béo gia súc, vật nuôi–cá, gia cầm–
cá, hay lợn–cá kết hợp thường xuyên được xúc tiến không có sự chứng minh để cải tiến sự chăm sóc tài nguyên trong trang trại sản xuất nghèo và nhỏ ở châu Á [23] gần như các hệ thống dựa vào công thức thức ăn không có lợi và vì thế hiếm khi thành công trong các trang trại nhỏ và nghèo [18], mặt khác, chất thải của vật nuôi từ nơi không nuôi béo súc vật trong hệ thống trang trại truyền thống thường không được sử dụng thành công cho ao nuôi như nông dân thường sử dụng phân gia súc cho việc xây nhà, chất đốt và để bón cho cây trồng [23] Sự gom chất thải cũng có thể không tiện lợi, đặc biệt nếu động vật nuôi một cách tự do, thiếu một chỗ để thu gom chất thải của chúng [29], [23]
Tuy nhiên, giữa tất cả hệ thống kết hợp, thệ thống thủy sản–vườn (lúa–cá, ao–mương, cá–cỏ, cây trồng trong nước, ao cá–đồng nổi…) hầu như tất cả hệ thống hoạt động phổ biến ở châu Á Có sự quan tâm đáng kể về việc nuôi cá–lúa trong hai thập kỷ
đã qua [15], [20], dù nhiều kết quả đã thu được không như ý muốn bởi con giống có kích thước quá lớn và nhân công không đủ.[26]
Hutanuwatr (1988) đưa ra danh sách khá dài về số lượng hệ thống NN&TS hoạt động ở cả châu Á, trong khi các loại và kết cấu của hệ thống truyền thống này ảnh hưởng lớn bởi kinh tế–xã hội và môi trường sinh lí Tuy nhiên, hệ thống bò/heo–cá–cây trồng và hệ thống gia cầm–cá–cây trồng là hai yếu tố quan trọng của hệ thống kết hợp NN&TS ở châu Á.[28]
Hệ thống kết hợp NN&TS đã từng phát triển ở hầu hết các vùng của Trung Quốc,
các loại hình khác nhau của hệ thống kết hợp “hệ thống ao cá – đồng nổi” đã được tiến
Trang 14hành bởi một số lượng lớn nông dân ở đồng bằng sông Châu của Trung Quốc Delinondo (1980) lo lắng rằng tài nguyên đất và nước ở Trung Quốc, nhận ra vai trò của ao nuôi cá trong trang trại truyền thống, đã giúp cho cơ quan phát triển NTTS tính toán đến một chương trình đầy đủ về sự phát triển nông nghiệp cho nhiều năm [16] [26]
Trong ao, nuôi kết hợp một số loài cá ăn cỏ và cá ăn tạp là phổ biến, trong khi một lượng lớn cây trồng (hoa màu, rau, quả, cỏ) được trồng ở vùng nổi của ao có thể cung cấp lợi ích khác nhau cho trang trại trong sự thêm vào để nuôi cá như nước và quản lí sự màu mỡ của đất Ao có thể được sử dụng để xử lí rất nhiều dạng chất thải nông nghiệp, bao gồm phân của vật nuôi và con người, biến chúng thành phân bón với hàm lượng protein cao cho cá Ao và cây trồng có thể được kết hợp sử dụng cây trồng
và phần còn lại của cây trồng như thức ăn là phân bón cho cá; và sử dụng đất ao, nước như phân bón cho cây trồng và tưới nước [31] [24]
1.1.2 Tình hình phát triển mô hình VAC ở Việt Nam
Ở Việt Nam hệ thống Vườn–Ao–Chuồng (VAC) kết hợp đã được hoạt động bởi một lượng lớn các trang trại sản xuất nhỏ ở đồng bằng sông Hồng trong một thời gian dài [14] Hệ thống VAC này, gần như chắc chắn bắt đầu ở Trung Quốc, chúng lôi cuốn
mô hình kết giữa NN&TS truyền thống, vì chúng có tính đa dạng hóa cao, thâm canh
Hệ thống VAC là một phương pháp thâm canh cao của trang trại nhỏ nơi mà nghề làm vườn, nuôi cá và chăn nuôi được phát triển kết hợp trong từ nghề làm vườn truyền thống ở Đồng bằng sông Hồng màu mỡ Chúng là một vùng diện tích trồng lúa chủ yếu [34]
Trang 15Hình1.1: Mô tả chuỗi thức ăn trong hệ thống ao cá kết hợp ở miền Bắc
Hiện nay trang trại VAC được thực hiện ở hầu hết các vùng của Việt Nam Năm 1986, sự kết hợp của những nhà nông Việt Nam, Hội nhà nông Việt Nam (VACVINA) được thành lập để đẩy mạnh sự phát triển của hệ thống này Trong những thập kỉ chiến tranh, nông nghiệp Việt Nam bị thiệt hại nặng nề Sự thiếu dinh dưỡng lan rộng khắp trong các khu vực nông thôn Rất nhiều gia đình chỉ có cây lúa nhưng không đủ ăn Vì thế, hệ thống VAC dễ dàng cung cấp một nguồn dinh dưỡng đa dạng
từ rau, quả và nguồn protein động vật, vì vậy nó là một cách hoàn hảo để chống lại sự thiếu dinh dưỡng và làm gia tăng thu nhập Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng: trong nhiều địa phương ở đồng bằng sông Hồng nơi trang trại VAC được tiến hành, việc tăng thu nhập do VAC mang lại từ 50 – 70% thu nhập của người dân Thu nhập hàng năm từ trang trại VAC cao hơn 3 lần so với việc trồng lúa trong cùng một diện tích như nhau trong năm Vì vậy, VACVINA được sự ủng hộ cao của chính phủ và các cơ quan quốc tế như UNICEP.[34]
Ở đồng bằng sông Hồng: có một sự đa dạng về ao nuôi cá gia đình, vì đồng bằng
có diện tích ruộng lúa lớn thuận lợi cho NTTS trong mùa nắng Hầu hết NTTS ngày nay bao gồm hệ thống VAC 65% năng suất, khoảng từ 50 – 80% các hộ ở đồng bằng Sông Hồng có một ao nuôi cá gắn bó với trại nhà [14].[28]
Thực vật phù du
Động vật phù du
Con Người (chủ yếu)
Muối dinh dưỡng
Động vật đáy
nhồng măng
Cá chép, cá trắm đen, cá rô phi
Trang 16Trong hệ thống VAC, người dân có thể chủ động về loại cây trồng họ thích, lúa gạo nói chung – trong khi thêm vào tiền mặt hay cây trồng–cá, tôm, rau quả – để sản xuất chúng Hầu hết mô hình NTTS, Nông nghiệp phổ biến và có hiệu quả là mô hình kết hợp VAC, theo sau là mô hình nuôi trồng lúa–cá, sau nuôi trồng/chuồng và cuối cùng là nuôi trồng/vườn Nghề VAC cho thấy là mô hình nông nghiệp–thủy sản tốt nhất VAC giúp người nông dân quay vòng vốn nhanh và sử dụng tốt nguồn nguyên liệu đầu vào, giảm bớt sự lệ thuộc của họ vào việc mua bán và duy trì tài nguyên sử dụng của trang trại Trong hệ thống kết hợp này, NTTS đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến thu nhập của trang trại, sử dụng đầu vào và tạo ra việc làm, giảm bớt rủi
ro cho chủ trang trại.[34]
FAO chỉ ra rằng hệ thống VAC tạo ra nguồn thực phẩm cho nhu cầu tiêu thụ nội địa, ước đoán rằng toàn quốc từ 26 – 61% sản phẩm của cá, 43 – 95% của rau quả, 52 – 100% của trứng và 23 – 82% sản phẩm từ gia cầm được sản xuất cho tiêu thụ gia đình và được bán ra để lấy tiền Nhìn chung, sự đa dạng của sản phẩm trong mô hình VAC có thể tạo nên yếu tố cung cấp cho địa phương và tới các khu công nghiệp gần
kề Người dân ở gần các nhà máy có thể cung cấp một lượng công nhân cho nhà máy, mặt khác, những người công nhân của nhà máy được người dân địa phương cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào từ mô hình VAC, với FAO gọi “đường thức ăn trung tâm– Street Food Centrers” [10]
Thuận lợi của VAC lên trên các hình thức của sự kết hợp là các sản phẩm được đánh giá lạc quan trong khu vực của nó Cá được nuôi lớn trong ao và cho phép lớn theo nhịp điệu của chúng Trong khi, kể cả nuôi cá và trồng lúa, cá cần được thu hoạch khi lúa chín
Người nuôi phải tính toán chi phí của các sản phẩm, cái mà có thể cao, đưa ra vị trí cho đất trồng trọt trong khu vực trang trại Khái niệm chi phí sản xuất là xa lạ đối với nông dân Việt Nam Đại học Hà Nội chỉ ra rằng: “(F) hay thời gian dài, mục tiêu quan trọng hơn của sự tự cung cấp trong sản xuất lúa đã chỉ ra rằng tất cả đất là dành cho việc trồng lúa thiếu cân nhắc về chi phí sản xuất của các sự lựa chọn việc sử dụng đất” [11]
Trang 17Bảng 1.1: So sánh giữa các mô hình NTTS kết hợp theo sản lượng lúa
I Vụ xuân VAC NTTS–Chăn nuôi NTTS–Trồng trọt Cá – Lúa
Nguồn: Đại học Nông nhiệp Hà Nội, 1997
Sản lượng lúa trong hệ thống VAC là cao hơn đáng kể trong mùa vụ Xuân và tương tự các hệ thống trang trại kết hợp khác trong mùa Hè Trong điều kiện bờ rộng,
kể cả lúa và cá là cạnh tranh nhau trong mùa hè, trong khi mùa xuân VAC làm tốt hơn tất cả các hệ thống Hơn nữa trong mô hình VAC, nhu cầu công việc của một người/ha
là thấp nhất Điều này giúp người lao động tạo thêm việc làm ở trang trại của mình để tăng thu nhập như vậy, công việc đa dạng hóa là có thể thực hiện được Trong các khu vực khác, nó chấp nhận thời gian dài cho việc làm khác trong trang trại, không ngạc nhiên, kể cả cá và lúa phụ thuộc ít nhiều vào thuốc trừ sâu, vì sự kết hợp liên quan đến việc quản lí khả năng xâm hại của cá đến cây lúa.[11]
Sản lượng cá cũng đạt năng suất cao trong hệ thống VAC Tối đa 15 tấn sản phẩm có thể được thu hoạch trên ha ở một trang trại VAC tốt nhất Một sản lượng tốt hơn so với sự kết hợp cá–lúa, bởi vì, cá được thả cùng với gieo mạ, được sinh trưởng trong ao để đạt kích thước tối đa Chúng cũng có thể được bán khi có giá tốt nhất [34] Đầu vào ao nuôi cá là thuận lợi cho cá sinh trưởng tốt hơn so với cây lúa Theo quan điểm môi trường, VAC có ưu điểm lớn về nước thải của trang trại vì việc tái sử dụng và chuyển đổi chúng trước khi thải ra môi trường Ví dụ, phân động vật được đưa
Trang 18xuống ao nuôi cá và sau đó, bùn đáy ao được bón cho hoa màu trong vườn hơn là loại
bỏ thẳng ra kênh [34]
VAC thích hợp tốt để thu lợi nhuận từ NTTS Trong khi hầu hết các loài tôm không sống tốt trong ruộng lúa, chúng có thể sinh trưởng trong ao gần sát với ruộng lúa Tuy nhiên, việc nuôi tôm không cho phép một chu trình tái sử dụng nước thải, vì con tôm là động vật ăn thịt và cần ăn những thứ khác hơn là tảo mà người dân có thể cung cấp xuống ao nuôi cá từ phân của động vật nuôi Dù vậy, FAO giới thiệu mô hình VAC nhiều hơn so với sự lựa chọn có thể được vượt qua sự nuôi tôm độc canh Ước lượng rằng 1/3 khu vực cây đước ở ĐBSCL được chuyển sang ao nuôi tôm cố định [10]
Việc đưa ra giá thương phẩm cho cá và tôm phụ thuộc vào giá gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác, nó không phải là điều ngạc nhiên, năm 1997 một nghiên cứu của Đại học Hà Nội về kích thước ao và thu nhập trang trại cho biết một sự tương quan Hơn nữa, số lượng lợn nuôi có tương quan chặt chẽ với thu nhập từ trại cá Phân lợn là loại phân bón chủ yếu cho ao Mặt khác, diện tích trồng dưới lúa và rau màu tương quan nghịch với năng suất cá Hoạt động trồng cây gây nên sự cạnh tranh với ao
cá về phân bón và khoảng trống, trong khi chỉ mang lại chút bóng dâm cho ao Nghiên cứu cũng gián tiếp đưa ra thủ tục cho việc huấn luyện trong quản lí cao hơn yếu tố khác của nghề nông Vì giáo dục và số lượng giờ giới hạn nhận được có một ảnh hưởng trong sự thuận lợi của hoạt động nông nghiệp cao hơn hoạt động trồng lúa tốt nhất.[11]
Những chỉ thị này gián tiếp chỉ ra khả năng cho sự phát triển kinh tế từ nông nghiệp VAC Những người nông dân tiến chậm đến một tỉ lệ thu lợi nhuận cao hơn, trong khi vẫn luôn có một sự suy giảm nghề trồng lúa, trong tính toán, chịu lợi nhuận đến từ phế phẩm của lúa (vỏ thóc cho cá, thóc làm thức ăn cho động vật nuôi) và lúa được nuôi dưỡng bằng những sản phẩm khác (phân bón, chất đáy ao, phân cá cá như nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho lúa).[11]
1.2 Vai trò của mô hình kinh tế VAC
VAC là các chữ đầu viết tắt của hệ sinh thái Vườn – Ao – Chuồng Ở miền núi
và trung du, đôi khi người ta còn gắn thêm chữ R là Rừng vào tổ hợp từ viết tắt này, thành hệ sinh thái RVAC Vườn chỉ các hoạt động trồng trọt; Ao chỉ các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản; Chuồng chỉ các hoạt động chăn nuôi trên cạn Đây là các hoạt
Trang 19động kết hợp với nhau trong một hệ sinh thái khép kín, trong đó có cả con người Các sản phẩm của V (rau, đậu, củ, quả), của A (cá, tôm, cua), của C (thịt, trứng, sữa) được
sử dụng để nuôi người hoặc để bán; và các chất thải của hệ phụ nọ sẽ được sử dụng như nguồn dinh dưỡng của hệ phụ kia
Thực ra thì hệ sinh thái VAC vốn là truyền thống canh tác lâu đời của người nông dân Việt Nam Cụ Tam Nguyên Yên đã mô tả bức tranh về làng quê Việt Nam trên cơ sở hệ sinh thái VAC trong một bài thơ thất ngôn bát cú nổi tiếng với những ao sâu,vườn rộng của cụ.[8]
Nhân dân ta đã khai thác vườn, ao theo chiều sâu, tận dụng tối đa tài nguyên đất, ánh sáng, nhiều tầng, nhiều loài, mô phỏng theo kiểu của hệ sinh thái rừng nhiệt đới Vườn, ao, chuồng lại đều ở gần nhà nên tận dụng được lao động, tiện quản lí và chăm sóc; thế nên “nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền”.[8]
Hệ sinh thái VAC là một mô hình hiệu quả thể hiện chiến lược tái sinh: tái sinh nguồn năng lượng mặt trời qua quang hợp của cây trồng, tái sinh các chất thải (vật thải của công đoạn sản xuất này là nguyên liệu cho quy trình sản xuất khác) Chiến lược tái sinh này còn làm trong sạch môi trường.[8]
Người nông dân quen gọi kinh tế VAC là “kinh tế vườn” có vai trò to lớn trong cung cấp dinh dưỡng cho nông hộ, tạo thêm công ăn việc làm, tạo thêm của cải cho xã hội Làm vườn theo cách này đã tạo ra những hệ sinh thái bền vững, cảnh quan trong lành, góp phần gìn giữ và cải thiện môi trường Nhiều gia đình nông dân đã có trang trại gia đình dựa trên các nguyên lí của VAC.[8]
Từ những điều đã nói ở trên có thể thấy, thực chất của mối quan hệ tương tác giữa các thành phần, các yếu tố trong hệ sinh thái VAC là sự luân chuyển, quay vòng (recycle) của các dòng vật chất và năng lượng giữa Vườn–Ao–Chuồng thông qua hành
vi có ý thức của con người, nhằm:
- Tận dụng không gian sinh thái ba chiều của vùng nhiệt đới giầu ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm
- Khai thác các nguồn tài nguyên tái sinh và tái sử dụng các chất thải của cây trồng, vật nuôi đưa vào chu trình sản xuất mới
- Hạn chế sự suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo (chủ yếu là sự xói mòn của đất)
Trang 20- Làm ra sản phẩm nhiều hơn, đa dạng hơn, có chất lượng tốt hơn trên cùng một đơn vị diện tích canh tác
Hình 1.2: Mối quan hệ tương tác qua lại trong hệ thống ao VAC
1.2.1 Mô hình VAC dinh dưỡng
VAC dinh dưỡng mở đường đi trước một bước, đây là quyết định đúng đắn của VACVINA áp dụng cho người dân trong điệu kiện còn thiếu thốn về thực phẩm thời kì những năm 1980 Do quá trình chiến tranh gian khổ đã gây nên nạn suy dinh dưỡng trầm trọng trong cả nước, VACVINA đã đưa ra mô hình VAC dinh dưỡng góp phần tham gia chiến lược chống suy dinh dưỡng mà đối tượng trước mắt là trẻ em, người già, phụ nữ mang thai rồi sau đó đến các tầng lớp lao động của xã hội
Mục tiêu của VAC dinh dưỡng bước đầu là tự giải quyết thực phẩm để cải thiện bữa ăn, tiến tới ăn no, ăn đủ chất rồi ăn ngon, ăn cân đối khoa học, văn minh Hình thức VAC đi từ đơn giản, dễ làm Ban đầu là mấy luống rau ngắn ngày (rau dền, rau ngót, rau cải, mồng tơi ) Vài cây ăn quả dễ trồng (khóm chuối, cây đu đủ), vuông ao nhỏ để nuôi, đánh tỉa cá lớn và thả bù cá nhỏ (rô phi, chép ) Chăn nuôi vài con gà mái cho trứng hàng ngày và cứ nâng dần, có nhiều rau, củ, quả và thực phẩm chất lượng cao hơn để bữa ăn phong phú, nhiều nhất bồi dưỡng sức khoẻ Mô hình VAC dinh dưỡng bước đầu làm một số gia đình, một số điểm, rồi nhân rộng ra xóm, làng, tiến tới mở rộng ra các vùng, miền
Chương trình VAC dinh dưỡng phối hợp giữa VACVINA với UNICEF chỉ đạo qua 3 năm làm thử (1988 – 1999 – 1990) và 10 năm chính thức (1991 – 2001) lúc đầu chỉ có 4 xã điểm với trên 20 hộ, khi chương trình kết thúc đã có hàng vạn hộ có mô hình.[9]
Trang 21Thành công và hiệu quả của phong trào VAC dinh dưỡng của thập kỷ trước không những được nhân dân ta khen ngợi mà được bạn bè quốc tế cũng khâm phục cho đây là một hình thức độc đáo của dân tộc Việt Nam
1.2.2 Mô hình VAC kinh tế
Bên cạnh mô hình VAC dinh dưỡng, thì mô hình VAC kinh tế, là nguồn cơ bản giúp cho mọi người, mọi nhà có thu nhập để trang trải các nhu cầu cuộc sống Làm VAC không chỉ là nông dân mà tất cả mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ công nhân viên, cựu chiến binh, mọi người, mọi nhà có điều kiện và ham thích nghề làm vườn
a Trên mọi miền đất nước, vườn, ao, hồ và đất hoang hóa chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng diện tích đất nông nghiệp, nhưng là vườn tạp, ao hoang, kém hiệu quả, trong khi đó nhân dân ta thừa lao động, thiếu việc làm, tiền không có để tiêu
Chỉ thị 35 của Ban Bí thư TW Đảng cuối năm 1985 về phát triển kinh tế gia đình là cơ sở để phát động phong trào cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng trống được quần chúng hưởng ứng càng ngày càng mạnh Mỗi năm cải tạo hàng nghìn ha Đến nay, ở nhiều tỉnh thành, vườn tạp đã được cải tạo cơ bản 70 – 80% [34]
b Về chăn nuôi, do lượng lương thực tăng nhanh, việc nuôi gia cầm, gia súc phát triển mạnh Phong trào phát triển, các yếu tố V – A – C được nhân rộng, nhân dân
áp dụng với tốc độ rất nhanh Tùy theo tính chất địa lí sinh thái của từng vùng mà nhân dân thực hiện VAC – VA – AC – VC hoặc sáng tạo thêm VAC–Rừng, VAC–Biogas… chủ yếu là cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng chăn nuôi, tăng cường sản xuất sản phẩm VAC, tăng thu nhập để xóa đói giảm nghèo, đi lên làm giàu chỉ sau thời gian ngắn, ở địa phương nào cũng có hiệu quả rõ rệt [9]
Như vậy có thể nói làm kinh tế VAC là con đường để mọi gia đình nhanh chóng đi lên xóa đói, giảm nghèo hữu hiệu nhất
Trong phong trào cải tạo vườn tạp, xóa đói giảm nghèo, những nông dân trong VACVINA đã hỗ trợ nhau vốn, giống cây, con và kinh nghiệm
c Thực hiện vốn ít, lấy ngắn nuôi dài, hiệu quả cao, chóng cho thu nhập Những hộ đối tượng chính sách, những gia đình đối tượng xã hội đã được giúp đỡ dưới hình thức VAC tình nghĩa, VAC tình thương Hàng trăm ngàn VAC mang tính nhân đạo như vậy được thực hiện ở khắp các vùng, tạo nguồn thu nhập bền vững cho các gia đình đối tượng chính sách, đối tượng xã hội nghèo
Trang 22d Từ năm 1990, chiến lược quốc gia khai thác 10 triệu ha đất trống đồi trọc, Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng cho dân quản lí; VACVINA kêu gọi hội viên đi vào phủ xanh đất trống đồi trọc, một hệ thống vườn đồi, vườn rừng nhanh chóng mọc lên Các vùng đất ven biển từ Bắc chí Nam cũng sôi động đưa vào khai thác; vùng đồng bằng tuy đất chật người đông có phong trào đấu thầu, giao khoán các loại đất thùng đào, thùng đấu, đất trũng lầy thụt, đất ven đê, ven sông, các cơ sở vật chất của hợp tác xã bỏ hóa; qua sức lao động, hội viên đã biến thành các mô hình VAC
có hiệu quả gấp nhiều lần Diện tích canh tác trước đây manh mún, nay do yêu cầu tập trung để tiện canh tác và phát triển VAC dẫn đến nhu cầu dồn điền đổi thửa cho nhau Phong trào mở ra từ huyện Đan Phượng (Hà Nội) rồi loang dần ra các tỉnh do đó mô hình gia trại, nông trại gia đình liền khoảnh, nông trại đã đi theo hướng sản xuất hàng hóa tuy quy mô nhỏ nhưng cũng đã áp dụng khoa học công nghệ cao và tạo ra một lượng sản phẩm đáng kể cho xã hội [9]
e Thông qua phong trào phát triển kinh tế VAC Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đánh giá, phát triển kinh tế VAC là một trong những giải pháp quan trọng để chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tăng nhanh giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích, hướng tới mục tiêu đạt 50 triệu đồng/hộ/năm và 50 triệu đồng ha/năm Hiện nay giá trị thu nhập trên đơn vị canh tác ở nước ta bình quân mới đạt 29,2 triệu đồng/ha trong đó đồng bằng Sông Hồng là 8,9 triêụ đồng/ha, đồng bằng Sông Cửu Long 6 triệu đồng/ ha, đông Nam Bộ 27,6 triệu đồng/ ha Duyên Hải miền Trung 2,5 triệu đồng ha
và thấp nhất là Tây Bắc 1,09 triệu đồng/ha Nhưng khi chuyển đổi sang làm VAC thì 1
ha cây ăn quả thu tới 70 triệu đồng/ha/năm (Cây đặc sản đạt 150 – 200 triệu đồng/ha) một vụ lúa và một vụ tôm thu 40 – 50 triệu đồng/ha, chuyên nuôi cá, thu 300 – 500 triệu đồng/ha/năm.[9]
Do thu nhập từ VAC tăng nhanh, các hộ nông dân ở mọi miền đất nước đã tích cực dồn điền đổi thửa (Số thửa bình quân của một hộ giảm từ 6 thửa xuống còn 4 thửa), thuê, mượn thêm đất canh tác hoặc đấu thầu canh tác, khai khẩn đồi trọc ruộng trũng, ao hoang thùng đào, thùng đấu để phát triển kinh tế VAC Nhiều hộ nông dân có kinh nghiệm sản xuất giỏi đã đầu tư công của mở rộng quy mô sản xuất VAC trở thành trang trại VAC Bình quân trong 5 năm qua diện tích vườn mới trồng và cải tạo vườn tạp ở một tỉnh là 10.905 ha, diện tích ao hồ cải tạo và ao mới được xây dựng để nuôi trồng thuỷ sản là 4.811ha.[9]
Trang 23f Có thể nói rằng phong trào làm VAC do VACVINA đề xướng và vận động
đã chuyển động liên tục từ phát triển VAC từ cấp tự túc sang VAC kinh tế; Từ VAC
kinh tế giản đơn là: “Để có thêm đồng ra đồng vào” để trang trải cho sinh hoạt gia
đình đã chuyển sang phát triển VAC hàng hoá, VAC trang trại hướng đến khách hàng Rất nhiều hộ nông dân nhờ làm VAC hàng hoá mà trở nên giàu có, từ làm VAC mà điều kiện sinh hoạt của hộ gia đình được cải thiện, nhất là về nhà ở, mua sắm vật dụng lâu bền, phương tiện đi lại và các vật dụng đắt tiền khác.[9]
1.2.3 Phát triển VAC trang trại góp phần phát triển nông nghiệp hàng hoá
Năm 1999 Bộ chính trị Trung ương Đảng có Nghị quyết về kinh tế trang trại, Chính phủ có Nghị quyết 03 đầu năm 2000 về phát triển kinh tế trang trại Từ đây nhân dân yên tâm đi vào làm trang trại mạnh mẽ
a Theo tiêu chí kinh tế trang trại với quy mô sản xuất ở một hộ từ 2 ha trở lên gọi là kinh tế trang trại (KTTT) Phát triển kinh tế trang trại sẽ thúc đẩy việc khai thác đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá ven sông, ven biển thúc đẩy việc chuyển đổi vùng úng trũng cấy lúa bấp bênh sang làm kinh tế VAC, thúc đẩy việc khai thác tận dụng diện tích mặt nước ao hồ đầm vạc nuôi thuỷ sản để tăng thu nhập Phát triển kinh tế trang trại chính là bước đi thích hợp để chuyển nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang nền sản xuất hàng hoá, là động lực của quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Theo tài liệu của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay cả nước có 110.000 trang trại, bình quân một trang trại có 4,5 ha, vốn 240 triệu đồng, 4 lao động/trang trại Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế trang trại VACVINA đã tiến hành nhiều hoạt động tham gia vận động phát triển kinh
tế trang trại Hoạt động đáng kể mang tính chiến lược là thành lập Câu lạc bộ trang trại Việt Nam Đến nay số hội viên của Câu lạc bộ trang trại này đã lên tới 500 chủ trang trại.[9]
b Câu lạc bộ trang trại Việt Nam đã có nhiều hoạt động thiết thực giúp đỡ các chủ trang trại Trong 5 năm qua Câu lạc bộ đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt giúp chủ trang trại nắm bắt được mọi thông tin cần thiết và trao đổi trực tiếp với lãnh đạo và chuyên gia của các Bộ ngành liên quan về các chủ đề thích hợp, có liên quan đến trang trại như: xác định tiêu chí trang trại, phổ biến chính sách tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế trang trại, chính sách chế độ với người lao động trong các trang trại Câu lạc bộ trang trại Việt Nam đã phối hợp với các tổ chức cơ quan liên quan tổ chức đào tạo
Trang 24nâng cao nghiệp vụ cho các chủ trang trại Trong 5 năm qua đã mở 25 lớp tập huấn cho 2000 lượt chủ trang trại Tổ chức hàng chục chuyến tham quan học tập thực tế ở Trung Quốc, Thái Lan và một số vùng miền cho các chủ trang trại Câu lạc bộ trang trại Việt Nam đã cùng Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn ký kết cho các chủ trang trại vay vốn và thành lập tờ vay vốn trang trại, giúp cho các chủ trang trại được vay vốn thuận lợi đầy đủ và kịp thời.[9]
c Câu lạc bộ trang trại Việt Nam đã hướng dẫn thủ tục lập Câu lạc bộ trang trại địa phương và tham gia hướng dẫn thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Cho đến nay các Tỉnh đã tổ chức cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6511 chủ trang trại; Có 2 tỉnh về cơ bản đã cấp xong giấy chứng nhận KTTT cho các chủ trang trại là Trà Vinh và Cà Mau, Tỉnh Bắc Giang đã cấp được 76%, Tỉnh Lào Cai 81% Hải Dương 62,7%.[9]
d Để tuyên truyền phổ biến hoạt động trang trại, Câu lạc bộ trang trại Việt Nam
đã xuất bản thông tin chuyên đề trang trại và lập trang chuyên đề trang trại trên Báo
“Thông tin thị trường” sau này ở Báo kinh tế nông thôn đồng thời kết hợp với Đài truyền hình VTV1, VTV2 xây dựng các chuyên đề như “Những vấn đề cơ bản về trang trại, làm thế nào để trang trại bền vững” “Xử lí ô nhiễm môi trường ở trang trại”
Và đã phát sóng nhiều lần trên Đài truyền hình Trung ương và địa phương
1.2.4 Hoạt động mô hình VAC góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
VAC (vườn, ao, chuồng) là một hệ sinh thái khép kín, có sự kết hợp chặt chẽ
giữa 3 yếu tố Tất cả các loài sinh vật sống (cây trồng, cá dưới ao, gia súc ở chuồng trại) cùng sống trên địa bàn, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, có tác dụng qua lại với nhau thông qua hoạt động của con người và với môi trường xung quanh Phát triển trồng trọt ở các loại vườn (vườn quanh nhà, vườn bờ ao, ruộng vườn chậu, vườn dàn trên không, vườn treo ) là khai thác quá trình quang hợp của cây (chất diệp lục của cây xanh) lấy năng lượng mặt trời tổng hợp thành chất đường bột nuôi sống con người
và sinh vật Ao cá cung cấp nước cho cây trồng và để nuôi cá Chất thải của người, gia súc, phế phụ phẩm thuỷ sản đưa vào hầm ủ sinh khí metan (CH4) là năng lượng tái sinh có thể sử dụng để thắp sáng, đun nấu (1m3 metan khi đốt cháy thu được 5.200 – 5.800 kcal).[9]
Để thực hiện mục tiêu trên, VACVINA đề xuất chủ trương và vận động phát triển VAC là nhằm 2 mục đích:
Trang 25– Phát triển sản xuất tăng thu nhập cho hộ gia đình, xoá đói giảm nghèo
– Phát triển năng lượng tái sinh bằng kĩ thuật xây hầm sản xuất khí sinh học cải tiến, đề xuất công nghệ Biogas VACVINA cải tiến
Những cơ sở chăn nuôi tập trung, những hộ chăn nuôi quy mô lớn đều đã nhận thức được tiện ích của hầm Biogas VACVINA cải tiến, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường sống, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tạo điều kiện sử dụng phân hữu cơ thông qua chế biến thúc đẩy quá trình sản xuất sản phẩm an toàn sinh học
1.3 Sự hình thành và phát triển hệ thống VAC
Đầu tiên, một cái hố được đào trên mặt đất Đất từ hố được sử dụng tạo nền đất vững chắc, nơi mà ngôi nhà và nơi ở của vật nuôi được xây dựng và để trồng các loại cây tốt nhât Nhà và vườn cần được bảo vệ khỏi sự dâng lên của nước, vì Đồng bằng sông Hồng bị lũ lụt vào mùa hè Nước mưa và nước ngầm chảy xuống hố và tự nó tạo thành ao Theo cách này một khu vực nhỏ được tạo nên, nơi mà hoạt động chăn nuôi, làm vườn và nuôi cá có thể được kết hợp gần nhà Ao nuôi thường được chỉ định xây dựng vào vùng trung tâm của trang trại để thuận lợi nhất cho việc quản lí Diện tích ao dao động trong khoảng 100 –1.500 m2, với độ sâu khoảng 1 m Các ao thường được tát cạn vào cuối mùa, thông thường vào tháng hai hàng năm Phần đáy ao được giữ khô và phơi nắng từ 1– 3 tuần; sau đó chúng được dọn sạch, bón vôi, bón phân và sau đó được lấy nước vào để tái thả giống.[34]
Cây trồng được trồng trong vườn theo một hướng thâm canh sinh học mà không cần tới sử dụng hóa chất Các loài cây khác nhau được trồng xen kẽ và luân phiên để tận dụng hết độ ẩm, ánh sáng và dinh dưỡng của đất Cây ăn quả được trồng xen kẽ với các loại rau, cây đậu và củ được trồng theo vụ, chúng phát triển trong bóng dâm Các cây họ đậu được trồng dọc theo bờ của vườn, cây gỗ và cây mây được trồng để tạo thành hàng rào.[34]
Những loại cá được nuôi trong ao để tận dụng một cách hiệu quả nguồn dinh dưỡng trong ao ở các tầng nước khác nhau Khoai nước được trồng xung quanh ao và cây đậu nước bao phủ phần bề mặt thoáng Cây bầu, bí, gấc được trồng trên giàn phía trên mặt nước ao gần bờ Chuồng lợn và chuồng gia cầm được xây dựng sát ao Phân lợn được sử dụng bón cho cây và làm thức ăn cho cá, các sản phẩm khác trong vườn được sử dụng làm thức ăn cho các vật nuôi và cá Nước thải trong gia đình và nhà bếp được dẫn xuống ao hàng ngày Phân của vật nuôi trong gia đình, trang trại cũng được
Trang 26thải hai lần một tháng với liều lượng từ 0,05 – 0,15 kg/m2 ao Trong mùa khô, ao cung cấp lượng nước giàu dinh dưỡng và bùn để tưới và bón cho vườn Toàn bộ hệ thống VAC được quản lí bởi chính những người trong gia đình.[25]
Sau ba tháng nuôi, chủ trang trại bắt đầu thu hoạch hàng tuần dựa vào việc sử dụng lưới nhỏ và tiếp tục thả lại và thu hoạch ao (đánh tỉa thả bù) [25] Việc tiêu thụ hay bán các sản phẩm và tái sử dụng, chúng đóng góp nguồn chất thải hữu cơ cho hệ thống Hệ thống VAC đòi hỏi nhiều lao động, nó cung cấp việc làm cho con người ở mọi lứa tuổi Trang trại VAC cho phép phụ nữ làm việc trong điều kiện tốt cho sức khỏe và gần gia đình, con cái họ, thay vì phải tới những ruộng lúa xa xôi hay đến các công trình xây dựng.[34]
Mô hình VAC truyền thống đã được chuyển đổi thích hợp với ba vùng sinh thái chính của Việt Nam: vùng bờ biển, đồng bằng, và đồi thấp và miền núi Hơn nữa, sự thay đổi đang thích hợp cho việc chuyển đổi các điều kiện khác nhau, như trên những diện tích bị phủ bởi cát
Ở vùng bờ biển, một mô hình VAC truyền thống được tiếp giáp với một hàng phi lao, chúng giữ vai trò như vật cản để chắn gió, ngăn sự di truyển của cát và sự nhiễm mặn Những loại cây khác và cây mây được trồng dày đặc xung quanh nhà và vườn để bảo vệ Phía trong vườn, các loại cây khác nhau được trồng Cá và tôm được nuôi trong ao và kênh nước mặn.[34]
Ở vùng đồng bằng, đặc biệt ở vùng ĐBSCL, người ta đào kênh vòng quanh và giữa vườn để dẫn nước tốt hơn cho việc rửa muối khỏi đất Cây trồng ở đây được chọn theo điều kiện thíc hợp về chất lượng nước và từng loại đất Ở vùng đất gần với biển, cây dừa được trồng xen kẽ với chôm chôm, soài, chuối, cam quýt, ổi, dứa Một số ít vùng nội địa, các loài cam quýt được trồng chủ yếu và trồng xen kẽ với cây cà phê, ca cao và hồ tiêu.[34]
Ở vùng đồi thấp và vùng núi thì nơi cao và sườn dốc được trồng bởi những cây lấy gỗ xen kẽ với cây cố định đạm và những cây khác Vùng thấp hơn của sườn đồi núi, cây lấy gỗ được trồng lẫn lộn với cây cà phê hay cây trè hay cây ăn quả ví dụ như cây mơ, mận, đào và cây nhãn Cây đậu phộng, cây đậu lăng, cây thảo mộc và các cây lấy củ được trồng bên dưới Một loạt các mương nhỏ và bờ xung quanh được tạo dọc theo sườn để ngăn chặn sự sói mòn Cây dứa thường được trồng dọc theo các bờ Gần dưới chân đồi, vườn rau, động vật nuôi và ao cá được đặt ở vị trí gần ngôi nhà.[34]
Trang 271.4 Phổ biến và nhân rộng mô hình VAC
Để tận dụng những thuận lợi của VAC, VACVINA áp dụng kế hoạch “từ
những trang trại hiện đại đến những cánh đồng thâm canh” Chúng được bắt đầu từ
lợi ích kinh nghiệm trong những trang trại tiêu biểu đã đặt ở vùng có đặc điểm sinh thái đặc trưng Đầu tiên, những gia đình mẫu được chọn, sau đó kĩ thuật VAC được đưa vào những lớp tại chức, hội thảo chuyên đề, ao thực nghiệm và những câu lạc bộ thực hành VAC Về thông tin cơ bản của những gia đình mẫu thiết kế hệ thống VAC của họ Với sự giúp đỡ của nhân viên kĩ thuật và tài trợ (trang thiết bị, vật nuôi, cá, giống và tài liệu) từ VACVINA họ tự thiết kết mô hình vườn VAC Khi kết quả ban đầu đạt được, một cuộc họp được tổ chức cho những người khác và những nhà quản lí
ở địa phương để đánh giá công việc đã hoàn thành và chuyển giao kinh nghiệm Khi những kết quả và lợi ích là thực tế và được hiểu bởi những người địa phương, việc thực hành VAC được mở rộng ra các khu vực lân cận.[9]
Với chính sách mới của chính phủ Việt Nam khuyến khích sự mạnh dạn của những gia đình và tăng thu nhập Hoạt động VAC đang phát triển nhanh chóng và đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống người dân cũng như trong sự đa dạng hóa nông nghiệp Việt Nam và bảo vệ tài nguyên tự nhiên và môi trường để phát triển bền vững
Trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất VAC nói riêng,
phương châm dùng “Điểm chỉ đạo diện” dùng điểm điển hình để nhân ra diện rộng như: “Vết dầu loang” luôn là phương châm hoạt động của VACVINA VACVINA đã
tập trung sức triển khai xây dựng nhiều mô hình VAC ở các vùng sinh thái Đặc điểm của các mô hình là tập trung vào việc xây dựng mô hình VAC, chuyển giao kĩ thuật cho vùng cây ăn quả đặc sản, vùng có lợi thế so sánh để sản phẩm VAC có sức cạnh tranh ở thị trường trong nước và thế giới Trong 5 năm qua VACVINA đã triển khai xây dựng các mô hình về cải tạo nâng cấp chất lượng vùng vải thiều Lục Ngạn, vùng nhãn Lồng Hưng Yên, vùng cam Vị Xuyên Hà Giang, vùng bưởi Diễn, cam canh Hà Nội, Hà Tây cũ, vùng trái thanh long Bình Thuận, Ninh Thuận Chi nhánh Trung ương Hội Làm vườn Miền Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Hội làm vườn 5 tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Vĩnh Long và Đồng Tháp (vùng đồng bằng sông Cửu Long) đã làm thử 5 mô hình sản xuất cây ăn quả an toàn theo tiêu chuẩn Việt GAP ở 5 hợp tác xã nhằm sản xuất ra trái cây chất lượng cao, mẫu mã đẹp
Trang 28đáp ứng yêu cầu của khách hàng Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu nuôi cá chim trắng, cá
rô phi ở vùng cấy lúa 1 vụ hoặc 2 vụ thu hoạch bấp bênh ở Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng Xúc tiến vận động triển khai xây dựng các mô hình hầm Biogas VACVINA cải tiến và sử dụng phân vi sinh ở Thanh Hoá, Hà Tây, Kiên Giang Những mô hình VAC hoặc mô hình phát triển nông thôn do các đơn vị của VACVINA thực hiện với nguồn vốn mỗi năm khoảng 10 tỉ đồng thuộc ngân sách Nhà nước và tài trợ của các tổ chức Quốc tế, đã thực sự đem lại lợi ích cho nông dân hội viên có sức thuyết phục, góp phần nâng cao vị thế của VACVINA.[9]
Bên cạnh những mô hình do các cấp VACVINA xây dựng, những mô hình VAC tiêu biểu phát hiện và tổng kết từ phong trào quần chúng thì rất nhiều và rất đa dạng Đặc điểm chung của mô hình làm VAC giỏi này là dân tự đầu tư, tự tìm tòi và tự lựa chọn kĩ thuật, không ít mô hình đầu tư thấp mà đạt hiệu quả cao Đặc điểm nổi bật của các mô hình làm VAC giỏi phát hiện từ phong trào quần chúng là: những kĩ thuật mới, những giống cây con mới do nông dân tự tìm tòi sáng tạo ra, chưa có nhà khoa học nào nghĩ tới, chưa có Hội đồng khoa học nào công nhận nhưng vẫn được sản xuất chấp nhận; như một nông dân ở Sơn La đã chọn ra giống ba ba gai giá sản phẩm cao gấp 2 – 3 lần giá ba ba trơn, trên diện tích vườn khoảng 1.000m2 ông đã xây dựng thành cơ sở sản xuất, thu hàng trăm triệu đồng/năm; ông Lê Thế Hơn ở Lục Ngạn Bắc Giang đã nghĩ ra cách ghép nhãn lên gốc vải khắc phục tình trạng sản lượng vải cung vượt cầu, ông Hai Hoá ở Bến Tre sáng tạo ra kĩ thuật điều khiển bưởi ra hoa theo ý muốn và quả không có hạt Đây là những điểm sáng có sức lan toả rộng là tấm gương cho nông dân cả nước làm theo, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh Khoa học xuất phát từ quần chúng rồi trở về với quần chúng Tại Hội nghị tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập VACVINA tổ chức tại Hà Nội tháng
10 năm 2006, những điển hình tiên tiến nói trên ở khắp cả nước đã được báo cáo điển hình và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, đăng tải trong kỷ yếu 20 năm VACVINA thành lập và phát triển Tất nhiên còn rất nhiều điển hình làm VAC giỏi từ phong trào quần chúng chưa được tổng kết, thí dụ vùng trồng Na trên đất núi đá vôi ở Chi Lăng Lạng Sơn, sang nhiệm kỳ tới sẽ phải tiếp tục tổng kết và nhân ra diện rộng.[34]
1.5 Các hệ thống VAC tại Việt Nam
1.5.1 Hệ thống VAC miền núi
Trang 29Hệ thống VAC ở vùng cao (Hình 1.2) thường được tìm thấy ở các vùng miền núi như Hòa Bình, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và các tỉnh khác
Đặc điểm: diện tích đất rộng có điều kiện mở rộng vườn nhưng đất dốc, thường
bị thoái hóa (tuy có nơi đất còn tốt, tầng đất dày); cần chú ý bảo vệ đất
Ít bão nhưng rét hơn đồng bằng, có nơi có sương muối
Nước tưới thường gặp khó khăn, nhưng có khi về mùa mưa lại có lũ lớn
Ao: ao được xây dựng gần nhà để các chất thải trong nước và nhà bếp được xả
vào ao cá này Chuồng chăn nuôi và vườn cũng nằm gần ao Các vườn có diện tích từ 1.000 – 5.000 m2 bao gồm nhiều rau cây hoa màu (khoai lang, xà lách xoong…) và cây ăn quả (chuối, cam, đào, mơ…) và các cây trồng khác, bao gồm chè, mía sắn Điều này cung cấp một hệ thống kết hợp của cây lâu năm và hàng năm.[22]
Hình 1.3: Mô hình VAC miền núi Một phần của phân gia súc được sử dụng để bón phân cây và rau quả Cây ăn quả thì bón phân một hoặc hai lần một năm; rau bón theo nhu cầu của chúng theo mùa Thời gian 3 – 4 năm, bùn ao được vét một lần và được sử dụng làm phân bón Hầu hết các gia đình giữ động vật khác nhau trong trang trại, bao gồm: một hoặc nhiều con trâu, bò, một hoặc nhiều con lợn, và một số vịt và gà Các loài động vật nhai lại được chăn thả hoặc cho ăn các sản phẩm nông nghiệp Những con lợn và gia cầm thường được ăn bằng chất thải nhà bếp, cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác như: sắn, cám gạo, khoai lang, thân cây chuối và lục bình.[22]
Trang 30Các ao nuôi cá thường được xây dựng ở phần trung tâm của các trang trại để quản lí tốt hơn Diện tích ao khoảng 100 – 1.500m2, với độ sâu ao nuôi khoảng 1m Ao thường thoát nước sau khi thu hoạch đợt cuối, thường là vào tháng Hai Đáy ao được phơi khô trong thời gian từ 1 – 3 tuần, sau đó nó được rọn sạch, bón vôi, bón phân và lấy nước lại Nước thải sinh hoạt hàng ngày và chất thải nhà bếp được chuyển vào ao hàng ngày Phân động vật cũng được cho xuống ao hai lần một tháng với lượng phân
từ 0,05 – 0,15 kg/m2 Ba tháng sau khi thả giống, nông dân bắt đầu thu hoạch hàng tuần để bắt những con cá có kích thước lớn, sau đó tái thả giống vào ao.[22]
1.5.2 Hệ thống VAC vùng đồng bằng
Hệ thống VAC vùng đồng bằng thường được tìm thấy ở Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Hà, Nam Định, Hải Phòng và các tỉnh thành khác Trong khu vực đồng bằng Bắc Việt Nam, sự kết hợp giữa gia súc, vườn và nuôi cá cũng phổ biến Thông thường, nhà ở được xây dựng gần các ao Tại các vùng cát, những ngôi nhà thường được xây dựng cách xa ao nuôi vì lí do vệ sinh.[22]
Đặc điểm: đất hẹp (cần tận dụng diện tích, bố trí hợp lí cơ cấu cây trồng vật
Nhà ở và công trình phụ không phủ bóng râm lên cây trồng trong vườn
Trước nhà có giàn cây (đậu ván, thiên lí) vừa mát, vừa có thêm thu hoạch Mép sân có vườn hoa, trên để các chậu hoa cây cảnh.[2]
Vườn: vườn thường là nhỏ, 400 – 500m2 Thường trồng cây ăn quả bao gồm chuối, cam, đu đủ, đào, vải, nhãn, và táo Trong vườn có nhiều gia đình ngoại thành, cây cảnh và hoa được trồng như một nguồn thu nhập chính Rau được trồng bao gồm: hành lá, khoai lang, cải xoong, cà chua, bắp cải và rau muống Cả cây lâu năm và cây
hàng năm được trồng để cung cấp quanh năm cho cho thị trường.[22]
Trang 31Bảng 1.2: Điểm đặc trưng cơ bản của hệ thống VAC tại miền Bắc Việt Nam
Điểm đặc trưng Miền núi Đồng bằng
I Vườn
2 Hoạt động nông nghiệp
– Lúa
3 Bón phân
– Cây hoa màu Phân chuồng + chất thải con người Phân chuồng + chất thải con
người
4 Số lượng và loại vật nuôi
– Trâu và bò Cỏ, rơm, cám gạo, khoai lang Cỏ, rơm, cám gạo, khoai lang
– Lợn, gà, vịt Cám gạo, cám ngô, thức ăn gà,
khoai lang, thân chuối Cám gạo, cám ngô
2 lần/tháng, phân xanh Phân gà, phân chuồng
6 Thu hoạch Đánh tỉa thả bù, sau ba tháng nuôi Đánh tỉa thả bù
7 Sản lượng ước tính 10 – 12 tấn/ha/năm 15 – 20 tấn/ha/năm
Nguồn: Lê Thanh Lưu ,1992
Trang 32Hình 1.4: Hoạt động làm vườn và chăn nuôi bên cạnh ao cá
Ở trước nhà, trong vườn bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp để tận dụng đất đai, năng lượng mặt trời và đáp ứng yêu cầu tiêu thụ Thường có một hay hai loại cây chính trồng xen với nhiều loại cây khác có những yêu cầu về điều kiện sinh thái khác nhau: Tầng trên là cây ưa ánh sáng, tầng dưới là cây chịu bóng (riềng, gừng, mùi tàu ) Có nơi trồng cam quýt, dưới là rau ngót; có nơi trồng táo xen chanh, hoặc khi đốn táo trồng rau đậu; khi cây lưu niên chưa khép tán thì trồng rau đậu, khi cây khép tán trồng cây chịu bóng râm; chuối, đu đủ trồng rải rác quanh vườn, quanh nhà ở nơi ít gió và độ ẩm, đủ ánh sáng Góc vườn cạnh bể chứa nước, trồng một vài luống rau cải,
xà lách, đậu cô ve một số rau gia vị như tía tô, rau thơm, ớt ) và một số cây thuốc thông thường Nếu có khu vườn nhân giống nên đặt gần ao để tiện nước tưới.[2]
Ao: ao sâu 1,5 – 2 m bờ cao đắp kĩ chống rò rỉ (nếu có điều kiện có thể vỉa
gạch) Nên thiết kệ hệ thống dẫn nước và tiêu nước Xung quanh bờ ao trồng chanh, dưới thấp trồng khoai nước; không gian được tận dụng bằng các giàn bầu, bí, mướp; không để ao bị cớm Tùy diện tích ao và điều kiện thức ăn mà xác định cơ cấu các loại
cá nuôi thích hợp Một phần mặt ao thả bèo hoặc rau muống để nước ao đỡ bị nóng
trong mùa hè và lạnh về mùa đông; rau bèo còn được dùng làm chỗ trú cho cá [2]
Hầu hết các gia đình có ao của 50 – 400 m2, với hình dạng khác nhau và độ sâu trung bình 1,0 – 1,2 m Ao được ráo nước sau khi thu hoạch cuối cùng (thường vào tháng Giêng / Hai) Ao sau đó được giữ khô một vài ngày, bón vôi, bón phân và nước
ao được lấy lại bằng nước mưa hoặc bằng máy bơm (mưa sớm có thể bắt đầu vào cuối tháng Ba.) Nước thải sinh hoạt và phế phẩm nhà bếp có thể được chuyển vào ao với một phần nhỏ của phân hữu cơ đến từ các vật nuôi được sử dụng để phân ao (theo kinh
Trang 33nghiệm của nông dân) Lá của cây họ đậu, như đậu phộng, đậu xanh…, cũng được sử dụng để bón phân ao.[22] Hàng năm, bùn đáy ao được lấy ra và sử dụng để bón cho cây ăn quả, phân gia súc được sử dụng để bón cho rau Nước ao được sử dụng để tưới cho khu vườn, đặc biệt là các loại rau quả
Hình 1.5: Hệ thống kết hợp Lợn–vịt–cá–rau
Chuồng: hầu hết các gia đình giữ động vật khác nhau tại nông trại, bao gồm
một hoặc trâu bò, một hoặc nhiều con lợn, và một số vịt và gà Các loài động vật nhai lại lớn được phép chăn thả hoặc được cho ăn bằng các sản phẩm nông nghiệp Chuồng chăn nuôi cho lợn, trâu, bò được xây dựng ở góc gần vườn ao Lợn và gia cầm thường được cho ăn bằng phế phẩm từ nhà bếp, cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác và
các sản phẩm, chẳng hạn như sắn, cám gạo, khoai lang, thân cây chuối và lục bình.[22]
Nuôi gia súc, gia cầm: được đặt cạnh bếp hay nhà kho vào cạnh ao
Chuồng lợn gia đình nếu nuôi ít lợn nên làm hai bậc; bậc cao cho lợn ăn và nằm, bậc thấp để chứa phân Chuồng gà có thể đặt ở phía trên chuồng lợn có ô riêng
để nuôi gà thịt và có ô riêng để nuôi gà đẻ Cạnh chuồng phải có nền ủ phân và hố chứa nước giải, nước phân Nếu ủ phân và hố nước phân phải che mưa nắng.[2]
1.5.3 Mô hình VAC vùng ven biển
Đặc điểm: đất cát thường bị nhiễm mặn hay bị bão gió mạnh làm di chuyển cát
Tưới khó, vì nước ngấm nhanh, nhưng cũng có nơi mức nước ngầm cao
Trang 34Mô hình VAC: ngoài cùng về phía biển, các hộ dân thường trồng một hàng phi lao trồng dày để chắn gió và chắn cát
Vườn: vườn thường được chia thành ô vuông có bờ cát bao quanh, trên trồng
phi lao rất dày kết hợp với trồng mây làm nhiêm vụ phòng hộ Có nơi lấy đất ở trong vườn để đắp bờ bao đồng thời hạ thấp mặt vườn để tăng độ ẩm Có nơi trồng tre làm hàng rào bảo vệ quanh vườn Trong trường hợp này quanh vườn giáp bờ tre đào mương vừa để chứa nước nuôi cá, giữ độ ẩm vừa để hạn chế rễ tre ăn vào trong vườn hút hết chất màu.[2]
Trong vườn trồng cây ăn quả ( táo, na, dứa, xoài ) và dâu tằm xen lạc, vừng,
kê, khoai lang, củ đậu, dưa hấu những cây lưu niên đều được tỉa cành giữ cho tán thấp để hạn chế ảnh hưởng của gió Đậu, lạc vừa là cây phủ đất, giữ độ ẩm vừa góp phần cải tạo đất.[2]
Ao: thường được đào cạnh vườn, nuôi cá, tôm, trên bờ trồng dừa
Chuồng: chuồng lợn, chuồng bò ở cạnh nhà, chuồng vịt trên bờ ao
1.5.4 Mô hình VAC đồng bằng Nam bộ
Đặc điểm: đất thấp mức nước ngầm cao, mùa mưa dễ bị úng Tầng đất mặt mỏng và tầng dưới thường bị nhiễm mặn, nhiễm phèn Khí hậu có hai mùa rõ rệt; mùa mưa dễ bị ngập úng, mùa khô dễ bị thiếu nước
Mô hình VAC:
Vườn: do mặt đất thấp nên việc lập vườn thực hiện bằng cách đào mương lên
liếp Mương đào để lấy đất tôn cao mặt vườn vừa là hệ thống tưới tiêu đồng thời có thể nuôi cá Kích thước của liếp và mương phụ thuộc vào chiều cao của đỉnh lũ, độ dày của tầng đất mặt, độ sâu của tầng đất phèn Loại cây trồng và chế độ canh tác trong
Trong trường hợp tầng đất mặt mỏng, lớp đất dưới không tốt thậm chí có chút ít phèn, thì lớp đất mặt khi đào mương được đắp thành băng hay mô trên liếp, sau đó lớp đất dưới được đắp vào phần còn lại của mặt liếp (thấp hơn mặt băng hay mô đất mặt);
Trang 35lớp đất này được trồng những cây chịu chua phèn ( dứa, so đũa Sau một thời gian khi
đã rửa chua sẽ trồng các loại cây như cam, quýt, nhãn, sầu riêng, măng cụt ).[2] Quanh vườn có đê bao quanh để bảo vệ vườn trong mùa lũ, ngăn mặn và giữ nước ngọt trong mùa nắng Đê bao cũng dùng làm đường giao thông vận chuyển và trồng cây chắn gió Đê bao cần đắp rộng và vững chắc, chiều cao căn cứ vào đỉnh lũ cao nhất trong vùng Đê bao có cống chính để lấy nước vào mương Ngoài những công trình đầu mối, có những công trình nhỏ để điều tiết nước trong các mương.[2]
Cơ cấu cây trồng trong vườn tùy thuộc vào điều kiện đất đai, nguồn nước, chất lượng nước và yêu cầu thị trường Nhiều nơi trồng dừa, dưới dừa là cây ăn quả (cam, quýt, bưởi ) Trồng xen khoai, rau, đậu khi cây chưa khép tán, gần đây do biến động một số nơi đã chặt dừa trồng nhãn và sầu riêng.[2]
Ao: trong hệ sinh thái VAC này mương giữ vai trò của ao nhưng cũng có nơi ngoài mương còn đào ao cạnh nhà
Chuồng: chuồng lợn, bò ở gần nhà Có nơi làm chuồng lợn trong vườn, cạnh
mương Nước rửa chuồng sau khi được xử lí chảy vào mương, có nơi đặt chuồng gà
ngang qua mương, phân gà rơi xuống mương làm thức ăn cho cá
1.6 Một số kết quả từ mô hình VAC do VACVINA thực hiện
1.6.1 Mô hình VAC trên vùng sinh thái cát ven biển
Mô hình đã được VACVINA thực hiện tại vùng cát ven biển xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Kết quả cụ thể [9]
Vườn cam, chanh trồng từ 2004 đến nay đã ra quả cho thu nhập 10 – 15 triệu/năm; chăn nuôi vịt, gà ngoài tăng nguồn trứng, thịt cho gia đình còn cho thu nhập thêm 3 – 5 triệu đồng/năm Đào được ao trữ nước kết hợp nuôi cá cung cấp thêm thực phẩm cho gia đình
- Tạo đa dạng sinh học vùng cát ven biển Miền Trung (rừng phi lao, các hệ thống canh tác VAC)
- Góp phần hạn chế lốc cát lấn đất liền
- Tạo được công ăn việc làm cho các lao động trong nông hộ khi nông nhàn
- Gắn kết giữa các thành viên tham gia trong cộng đồng
- Sức khỏe của các thành viên trong nông hộ được cải thiện do được bổ sung dinh dưỡng trong các bữa ăn
Trang 361.6.2 Mô hình VAC ở miền núi
Mô hình đã được VACVINA thực hiện tại bản Hùn, xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và bản Mún, xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Đây là hai vùng núi phía Bắc với các thành phần dân tộc là người Dao, Nùng, Tày và
Thái
Hình 1.6: Một số cây trồng trong vườn trong hệ thống VAC miền núi
Kết quả cụ thể [9]
- Đa dạng hóa nguồn thu nhập của hơn 100 hộ gia đình tại 02 địa phương;
- Phát triển được 3 vườn ươm cộng đồng, tạo nội lực phát triển cây lâm nghiệp trong địa bàn;
- Giúp hơn 96% số hộ gia đình thoát nghèo nhờ đa dạng hóa canh tác
- Kinh tế hộ gia đình được cải thiện trong thời gian ngắn nhờ các hoạt động chăn nuôi;
- Đa dạng hóa nguồn thu nhập của hộ gia đình xuất phát từ việc đa dạng hóa canh tác như chăn nuôi, trồng cây ăn quả, khai thác lâm sản phụ
- Tạo các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao nhờ lệch mùa vụ, tăng chất lượng và mẫu mã sản phẩm
- Gắn kết các thành viên trong cộng đồng;
- Phát huy nội lực cộng đồng về lao động, vật lực giúp cho cộng đồng phát triển một cách bền vững
1.6.3 Mô hình VAC trên vùng đất đồi núi mới khai hoang
Mô hình do Trung tâm Dân số, Môi trường và Phát triển (PED) thực hiện trong khuôn khổ dự án “Sinh kế bền vững cho đồng bào tái định cư thủy điện Bản Vẽ” do OHK tài trợ
Trang 37 Kết quả cụ thể [9]
- Đã có hơn 260 hộ và 12 nhóm hộ thực hiện mô hình
- Toàn bộ lượng phân chuồng, cỏ rác, sản phẩm phụ từ vườn của các hộ đã được xử lí bằng ủ phân hữu cơ vi sinh trước khi dùng cho cải tạo ao nuôi cá và cải tạo đất mới khai hoang
- Đất mới khai hoang được cải tạo bằng phân hữu cơ vi sinh đã được trồng cây
ăn quả, rau xanh, cỏ voi, cỏ VA06 để phục vụ chăn nuôi
- Ao cá trở thành nguồn nước tưới quan trọng cho cây trồng trên vườn, đặc biệt trong những tháng khô hạn Toàn bộ bùn đáy ao đã được dùng để cải tạo vườn
- Toàn bộ vườn của hơn 1.000 hộ tái định cư đã được cải tạo từ đất mới khai hoang trở thành đất trồng có giá trị; đã trồng cây ăn quả, rau và cỏ cho chăn nuôi
- 13 điểm bán men hữu cơ vi sinh đã được lập tại khu tái định cư và 13 cán bộ khuyến nông bản đã được đào tạo về VAC theo phương thức mới và hoạt động theo cơ chế thị trường
Trang 38CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 15/5/2010 đến 15/3/2011
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu tại các hộ nuôi cá mô hình VAC ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Điều tra hiện trạng kĩ thuật
Hiệu quả kinh tế -
xã hội
Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế Điều kiện tự
nhiên - xã hội
Trang 392.4 Thu thập và xử lí số liệu
2.4.1 Thu thập số liệu
Số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu của của Đề tài được thực hiện theo sơ
đồ khối trên, bao gồm các số liệu sau:
+ Số liệu sơ cấp: thông qua khảo sát thực địa bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (thu thập qua phiếu điều tra) (phụ lục):
Tổng số phiếu điều tra là 66 phiếu: trong đó có 60 phiếu có trả lời đầy đủ các câu hỏi kết quả cũng như hiệu quả kinh tế còn 6 phiếu trả lời thiếu tôi không đưa vào
Trang trại NTTS
Trang trại kinh doanh tổng hợp
Số mẫu được điều tra ngẫu nhiên trong huyện Mặc dù tỉ lệ phần trăm số hộ điều tra còn thấp nhưng số mẫu điều tra đã thoả mãn yêu cầu số mẫu của cuộc điều tra thống kê và kết quả mà tôi thu được đã thể hiện khá rõ hiện trạng kĩ thuật và hiệu quả kinh tế các hộ nuôi cá trong mô hình VAC ở huyện Yên Lạc
Nội dung cần đánh giá bao gồm: Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt động NTTS mô hình VAC: tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, địa hình, sông ngòi…
Điều kiện kinh tế xã hội của vùng nuôi: tìm hiểu về số lao động, trình độ văn hoá…
Phiếu điều tra được thiết kế dựa trên Phiếu điều tra nuôi cá ao của Viện nghiên cứu Thuỷ sản I và sự kiểm tra, bổ sung của thầy giáo hướng dẫn: TS Phạm Xuân Thuỷ
Trang 40+ Số liệu thứ cấp: thu thập số liệu lưu trữ ở Phòng Nông nghiệp huyện Yên Lạc, Chi cục Thủy sản Vĩnh Phúc, trang website của Sở NN&PTNT Vĩnh Phúc, trang website của Tổng cục thống kê Trung ương và các bài báo của các tác giả trong và ngoài nước về mô hình kinh tế kết hợp giữa Nông nghiêp–Thuỷ sản
Các số liệu thứ cấp được sàng lọc và đưa vào làm dữ liệu phân tích của đề tài Các chỉ tiêu cần thu thập:
Chỉ tiêu hiện trạng kĩ thuật nuôi trồng thủy sản: diện tích ao, độ sâu của ao; diện tích vườn–chuồng; đối tượng và số lượng vật nuôi–cây trồng; kĩ thuật cải tạo ao, mật độ cá thả, chăm sóc và cho ăn, phòng trị bệnh cho cá; cách thức sử dụng các sản phẩm của vật nuôi–cây trồng trong mô hình VAC được thu từ chính những chủ trang trại VAC thông qua phiếu điều tra phục vụ cho nôi dung nghiên cứu
Chỉ tiêu về kinh tế–xã hội: Thông tin cần được thu thập từ trang trại VAC về: tuổi, giới tính, số lao động trong NTTS và trình độ học vấn của chủ trang trại, năng suất nuôi, sản lượng, doanh thu, chi phí sản xuất, lợi nhuận trong NTTS
2.4.2 Xử lí và phân tích số liệu
2.4.2.1 Xử lí số liệu
Số liệu được mã hoá và xử lí theo từng chuyên đề riêng dựa theo bộ câu hỏi (phụ lục)
– Hiện trạng kĩ thuật nuôi trồng thuỷ sản mô hình VAC:
+ Đặc điểm ao nuôi: diện tích, độ sâu, số lượng ao, chất đáy…
+ Cải tạo ao nuôi: thời gian cải tạo, các loại hoá chất sử dụng…
+ Con giống: nguồn giống, số lượng, mật độ nuôi, tỉ lệ các loài cá, + Quản lí môi trường ao nuôi: thời gian thay nước, phòng và trị bệnh… + Thức ăn: các loại thức ăn, hình thức cho ăn…
+ Thu hoạch: sản lượng, tỉ lệ sống…
+ Kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế: năng suất, sản lượng, tổng chi phí, thu nhập…
– Hoạt động tập huấn và sự tham gia hoạt động tập huấn của người nuôi
– Hoạt động chăn nuôi: số lượng và loài vật nuôi
– Hoạt động làm vườn: số lượng và loại cây trồng
– Định hướng, khó khăn (vốn, kĩ thuật, con giống, thị trường,…) và kiến nghị của người nuôi