Đối với diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt vẫn chủ yếu sử dụng hình thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và các loài thủy sản được nuôi chủ yếu là các loài cá truyền thống có giá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VƯƠNG VĂN OANH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ RÔ PHI Ở TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số : 60 62 70
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Anh Tuấn
Nha Trang - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo TS Phạm Anh Tuấn Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng vào bất
cứ mục đích nào
Tác giả
Vương Văn Oanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tới ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, Khoa Nuôi trồng Thuỷ sản, trường cao đẳng thuỷ sản cùng quý các thầy cô trong và ngoài Trường đã giảng dạy và tạo điều kiện
để tôi được học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cám ơn Chương trình hỗ trợ phát triển ngành Thủy sản giai đoạn II (FSPSII), Chi cục Nuôi trồng Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ nuôi trồng thủy sản!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Phạm Anh Tuấn, người đã định hướng và tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Lời cảm ơn xin được gửi tới các Phòng Kinh tế, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn các huyện, thị, thành phố: Đông triều, Uông Bí, Yên Hưng, Đầm Hà, móng Cái và Ủy Ban nhân dân các xã, phường tại các huyện, thị, thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập Xin được gửi lời cảm ơn tới các hộ gia đình đã sắp xếp thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này!
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình cùng các bạn đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến chia sẻ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua
Tác giả luận văn
Vương Văn Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi 3
1.1.1 Đặc điểm dinh dưỡng 3
1.1.2 Một số đặc điểm sinh thái của cá rô phi 3
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 4
1.1.4 Đặc điểm sinh sản 5
1.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống 5
1.2.1 Nghiên cứu sản xuất giống cá rô phi trên thế giới 5
1.2.2 Nghiên cứu, sản xuất cá giống cá rô phi ở Việt Nam 8
1.3 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và Việt Nam .10
1.3.1.Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới .10
1.3.2 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam 13
1.3.3 Thị trường tiêu thụ cá rô phi 14
1.3.4.Tình hình nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 16
Chương II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 19
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 19
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 19
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu và xử lý số liệu 20
Chương III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh 21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
Trang 53.1.2 Các tài nguyên 24
3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 25
3.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh 26
3.2.1 Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản 26
3.2.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi tại tỉnh Quảng Ninh 29
3.2.3 Hiện trạng về công tác quản lý 42
3.3 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh .43
3.3.1 Thuận lợi 43
3.3.2 Khó khăn 44
3.4 Định hướng phát triển nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 45
3.4.1 Quan điểm 45
3.4.2 Định hướng 46
3.4.3 Sản xuất giống 49
3.4.4 Công nghệ nuôi 49
3.5 Giải pháp phát triển nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh .49
3.5.1.Giải pháp vốn đầu tư 49
3.5.2.Giải pháp sản xuất giống 50
3.5.3 Giải pháp mô hình tổ chức quản lý sản xuất 50
3.5.4 Giải pháp khoa học công nghệ 51
3.5.5 Giải pháp thức ăn 51
3.5.6 Giải pháp quản lý 51
3.5.7 Giải pháp thị trường 52
3.5.8 Giải pháp dịch vụ và khuyến ngư 52
3.5.9 Giải pháp về cơ chế chính sách 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53
1 Kết luận 53
2 Đề xuất 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Sản lượng nuôi cá rô phi của một số nước sản xuất lớn 11
Bảng 1.2 Hiện trạng diện tích nuôi cá rô phi ở các vùng trong cả nước năm 2005 14
Bảng 1.3 Sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào thị trường Mỹ 16
Bảng 3.1 Tiềm năng diện tích phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở các huyện/thị 27
Bảng 3.2 Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005-2010 28
Bảng 3.3 Hiện trạng sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt năm 2009 29
Bảng 3.4 Độ tuổi và trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi cá rô phi 30
Bảng 3.5 Ao nuôi cá rô phi quy mô hộ ở Quảng Ninh 31
Bảng 3.6 Sản lượng nuôi cá rô phi được điều tra năm 2010 31
Bảng 3.7 Một số thông số kỹ thuật nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh 32
Bảng 3.8 Tỉ lệ nguồn cung cấp giống cho các hộ nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 34
Bảng 3.9 Tỷ lệ các loại thức ăn sử dụng nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 35
Bảng 3.10 Kết quả điều tra người nuôi về dịch bệnh và biện pháp phòng trừ 37
Bảng 3.11 Hạch toán mô hình nuôi cá rô phi thương phẩm/vụ (5000m2) 38
Bảng 3.12 Khả năng tiếp cận nguồn cung cấp cá rô phi thương phẩm 39
Bảng 3.13 Kích cỡ và giá cá rô phi mua vào, bán ra ở các vùng tiêu thụ 40
Bảng 3.14 Diện tích các loại hình mặt nước chưa nuôi trồng thuỷ sản 47
Bảng 3.15 Cơ cấu sử dụng diện tích mặt nước nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 47
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sản lượng nuôi cá rô phi trên thế giới giai đoạn 1990 - 2007 10
Hình 1.2 Sản lượng nuôi cá rô phi 11
Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu tình hình nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh 19
Hình 3.1 Tỷ lệ nguồn giống cung cấp cho các hộ nuôi 34
Hình 3.2 Tỷ lệ các loại thức ăn sử dụng nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 35
Hình 3.3 Sơ đồ kênh tiêu thụ cá rô phi thương phẩm tại Quảng Ninh 39
Hình 3.4 Phân loại cá rô phi xuất khẩu tại Quảng Ninh 41
Trang 8MỞ ĐẦU
Sự cần thiết nghiên cứu
Quảng Ninh là tỉnh ven biển phía đông bắc của tổ quốc, có vị trí thuận lợi và tiềm năng lớn về diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại hình mặt nước (nước ngọt, nước lợ và nước mặn) Với trên 250 km bờ biển chạy dài từ Yên Hưng đến Móng Cái, vùng ven bờ biển chủ yếu là các bãi triều, trương cát, bãi bồi rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ Đồng thời, tỉnh cũng có diện tích vùng nội thuỷ rộng trên 6.000 km2, hệ thống sông, suối dày đặc, có nhiều đồi núi tạo nên những thung lũng và hệ thống hồ chứa nước rất lớn bao gồm hàng ngàn ha diện tích chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
Qua số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh năm 2009 cho thấy có khoảng 1/4 diện tích tiềm năng được đưa vào sử dụng Đối với diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt vẫn chủ yếu sử dụng hình thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và các loài thủy sản được nuôi chủ yếu là các loài cá truyền thống có giá trị kinh tế thấp Đối với diện tích nuôi thuỷ sản nước lợ tập trung chủ yếu nuôi tôm sú, tôm chân trắng bán thâm canh và thâm canh, tuy nhiên hiệu quả kinh tế của mô hình này không ổn định, rủi ro cao cho người nuôi
Đứng trước thực trạng trên, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh có chủ trương và chỉ đạo ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từng bước quy hoạch và đưa vào khai thác
có hiệu quả diện tích đất đai mặt nước, quy hoạch và xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung
Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã xác định phát triển thủy sản như một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong đó phát triển đồng đều trên cả phương diện khai thác và nuôi trồng thủy sản để tận dụng tối đa tiềm năng sẵn có Đối với nuôi trồng thủy sản, cá rô phi được xác định là đối tượng kinh tế chủ lực được đưa vào nuôi trong các vùng nước ngọt và một phần nước lợ Nhiều mô hình, dự án nuôi
cá rô phi đã được thực hiện để nhân rộng và cho hiệu quả kinh tế cao, năng suất nuôi đạt 10- 15 tấn/ha, lợi nhuận 40-60 triệu đồng/ha Hiện nay phong trào nuôi cá rô phi đơn tính đang có chiều hướng phát triển mạnh ở Quảng Ninh Tuy nhiên, khi sản xuất đại trà do khả năng sản xuất và cung ứng con giống còn hạn chế, chất lượng con
Trang 9giống chưa đảm bảo, công nghệ nuôi chưa hoàn thiện, dịch vụ hậu cần còn hạn chế dẫn đến cá nuôi chậm lớn, kích cỡ thương phẩm nhỏ, dịch bệnh phát sinh, giá thành sản xuất cao dẫn đến hiệu quả nuôi thấp, chưa thúc đẩy được sản xuất Do đó, vấn đề đặt ra là Quảng Ninh nên phát triển nuôi cá rô phi như thế nào cho hợp lý và mang tính bền vững
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và được sự đồng ý của trường đại học Nha
Trang, chúng tôi triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nuôi cá rô phi ở tỉnh Quảng Ninh” Kết quả của đề tài là nguồn dữ
liệu quan trọng làm cơ sở định hướng phát triển nuôi cá rô phi của tỉnh Quảng Ninh
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Góp phần trong việc định hướng phát triển nuôi cá rô phi của tỉnh Quảng Ninh
Mục tiêu cụ thể:
• Đánh giá được hiện trạng nuôi cá rô phi ở tỉnh Quảng Ninh
• Đề xuất được một số giải pháp, định hướng phát triển nuôi cá rô phi ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
Trang 10Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi
Cá rô phi (Oreochromis niloticus) thuộc họ Cichlidae, bộ Perciformes, là loài cá
có nguồn gốc Châu Phi, đến nay chúng được phân bố trên 100 quốc gia trên thế giới [15] Cá rô phi là tên gọi chung khoảng 80 loài, nhưng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị trong nuôi trồng thủy sản (Schoenen 1982: Pullin, 1983: Pillay 1988) Theo FAO (2002) [19], trong mấy thập kỷ gần đây có 3 loài cá rô phi được nuôi phổ biến là cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus), cá rô phi xanh (O.aureus) và cá rô phi đen (O
mosambicus) Sản lượng cá rô phi thế giới của 3 loài này chiếm chủ yếu, trong đó sản
lượng rô phi vằn chiếm tới 83% tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới Cá rô phi vằn được coi là loài có nhiều ưu điểm bởi chúng có khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường nước khác nhau chịu được chất lượng môi trường nước kém, ít bị bệnh dịch, chất lượng thịt thơm ngon [15], [32], [35] Đặc biệt, chúng có khả năng chịu điều kiện môi trường oxy hoà tan thấp [17]
1.1.1 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá rô phi là loài ăn tạp, thức ăn của chúng chủ yếu thực vật phù du (tảo lục và tảo lam), động vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng côn trùng, động vật đáy [24], [37] Trong quá trình nuôi, người ta bổ dùng thức ăn nhân tạo; ngô, cám gạo bột cá và thức
ăn công nghiệp Tuy nhiên, ở từng giai đoạn phát triển của cá việc sử dụng thức ăn khác nhau
Ở giai đoạn cá hương chúng ăn sinh vật phù du, chủ yếu là động vật phù du và một ít thực vật phù du
Ở giai đoạn cá giống đến cá trưởng thành chúng chủ yếu ăn mùn bã hữu cơ và thực vật phù du Đặc biệt cá rô phi có khả năng hấp thụ 70-80% tảo lục, tảo lam mà các loài cá khác khó có khả năng tiêu hoá [3], [8], [11]
1.1.2 Một số đặc điểm sinh thái của cá rô phi
1.1.2.1 Nhu cầu oxy hoà tan (DO)
Cá rô phi có thể chịu được mức oxy hoà tan 0,1mg/lít [15] Khi hàm lượng oxy hoà tan trong nước dưới 1mg/lít chúng có thể sử dụng oxy trong không khí [18] Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá giảm sẽ phụ thuộc thời gian kéo dài trong tình trạng oxy hoà
Trang 11tan trong nước thấp Cá rô phi sống được trong bể nước có hàm lượng oxy hòa tan 1,2mg/l trong thời gian 36 giờ nếu nước được duy trì chất lượng tốt [15]
1.1.2.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động trao đổi chất trong cơ thể cá, tăng trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý khác của cá, nhiệt độ giới hạn cá rô phi
từ 11- 42oC Nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng của cá trong khoảng 20 -35oC, nhiệt
độ tối ưu cho sự sinh trưởng, phát triển của cá khoảng 28- 30oC [15]
1.1.2.3 Giá trị pH
Giá trị pH ảnh hưởng tính độc của amonia, nitrit và Hydrogen sulfphile pH quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới sức khoẻ cá và quá trình trao đổi chất trong thủy vực Ngưỡng pH giới hạn của cá rô phi từ 4- 11 đối với cá rô vằn [18], ngưỡng pH thích hợp 6,5 - 9 [36]
1.1.2.4 Độ muối
Cá rô phi có thể sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước ngọt, nước lợ
và có thể phát triển ở nước biển có độ mặn 32‰ Cá phát triển tối ưu ở độ mặn dưới 5‰ (15) Tuy nhiên, khả năng thích ứng với nồng độ muối còn phụ thuộc vào kích cỡ, tuổi, điều kiện khí hậu Cá càng nhỏ thì ngưỡng độ mặn càng thấp
1.1.2.5 Ammonia và Nitrite
Trong nước ammonia tồn tại 2 dạng NH3 và NH4+ và được gọi là ammonia Nitrogen tổng số Sự chuyển hoá ammonia ở 2 dạng NH3 và NH4+phụ thuộc độ pH và nhiệt độ của nước, hàm lượng NH3 tăng cao khi pH và nhiệt độ nước tăng cao Ammonia ở dạng NH4+ không gây độc cho thuỷ sinh vật, trừ khi hàm lượng quá cao Ammonia ở dạng NH3 gây độc cho cá, tôm Nồng độ ammonia gây độc cho cá phụ thuộc hàm lượng oxy hòa tan và tình trạng sức cá, khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp thì NH3 gây độc cho cá với nồng độ thấp, cá có thể chết ở nông độ ammonia 0,5mg/l [15]
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô phi lớn nhanh, tuy nhiên tốc độ lớn của cá phụ thuộc vào nhiệt độ, thức ăn, mật độ nuôi và loài cá Cá rô phi vằn sau một tháng tuổi đạt 2-3 gam /con Sau hai tháng tuổi cá đạt 15-20gam/con Nuôi cá thương phẩm sau 5-6 tháng nuôi cá đực có thể đạt 400-500gam/con [3], [5], [8]
Trang 121.1.4 Đặc điểm sinh sản
Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường ao nuôi
mà không cần tác nhân kích thích sản Cá rô phi O niloticus đực đào hố ở đáy ao, cá
cái đẻ trứng vào hố cùng thời điểm đó cá đực tưới tinh dịch vào trứng của cá cái Sau khi trứng đã thụ tinh cá cái nhặt trứng vào miệng và ấp trứng trong miệng Mỗi cá cái trung bình đẻ từ vài trăm đến 2.000 trứng/lứa Thời gian ấp tính từ khi cá cái nhặt trứng từ ổ để ấp trong miệng đến khi thành cá bột khoảng 10 ngày Thời gian ấp đến khi nở tuỳ thuộc nhiệt độ nước, ở nhiệt độ 20oC thời gian ấp kéo dài tới 6 ngày, ở nhiệt
độ 30oC thời gian kéo dài khoảng 3 ngày Sau khi nở cá bột tiếp tực đựơc cá mẹ bảo vệ đến khi cá con tiêu hết noãn hoàng thì chúng sống độc lập [25]
Tóm lại, cá rô phi là một đối tượng dễ nuôi, thích nghi với môi trường sinh thái rộng là nước ngọt, lợ và mặn, phát triển tốt trong môi trường nước ngọt, nước lợ, phổ thức ăn rộng, khả năng chịu đựng tốt với các yếu tố bất lợi của môi trường Tốc độ sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon Vì vậy, cá rô phi là đối tượng nuôi kinh
tế, thích hợp phát triển ở nước ta
1.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống
1.2.1 Nghiên cứu sản xuất giống cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường ao nuôi
mà không cần tác nhân kích thích sinh sản Ban đầu nguồn cá rô phi giống cung cấp cho nuôi thương phẩm được lấy từ tự nhiên [25] Do nhu cầu về giống cá rô phi ngày càng cao nên người ta đã tiến hành sản xuất giống Có 2 phương pháp sản xuất giống
cá rô phi là sản xuất giống cá rô phi trong ao và sản xuất giống trong giai
Pillay (1990) [30] đã mô tả kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi trong ao đất Cá bố
mẹ đã thành thục được thả chung trong một ao đã được chuẩn bị sẵn và cho ăn hàng ngày Trong thời gian này cá tự sinh sản trong ao, sang tháng thứ 2 chuyển cá bố mẹ sang ao khác và dùng ngay ao cho đẻ làm ao ương cá bột Quá trình nuôi vỗ, cho đẻ tiếp tục được lặp lại ở ao kế tiếp Nhược điểm phương pháp này là kích cỡ cá giống không đồng đều, mặt khác do kích cỡ cá ương không đều nên có hiện tượng những con lớn tấn công con nhỏ hơn Để hạn chế nhược điểm này hàng ngày người ta tiến hành vớt cá bột khi thấy chúng bơi thành đàn trong ao rồi chuyển sang ao khác ương riêng Phương pháp cho sinh sản cá rô phi trong ao đất dễ áp dụng, giá thành sản xuất rẻ nên được áp dụng ở nhiều nước như ở Trung Quốc, Thái Lan, Phillipines [25], [30].
Trang 13Phương pháp sản xuất giống trong giai, lồng được áp dụng trong ao đất, các mặt nước hở Giai được làm bằng lưới nylon 10 x 2 x 1 m Mật độ thả cá bố mẹ 4 con/m2,
tỷ lệ đực cái là 1:3 Khi thấy cá bột xuất hiện tiến hành thu cá bột đưa sang ương trong giai có kích cỡ 10 x 2 x 1,5 m, mật độ ương khoảng 1000 con/m2 Phương pháp này ưu điểm quản lý tốt sự sinh sản đàn cá bố mẹ được áp dụng trong chọn giống và tạo ra con lai toàn đực ở nhiều nước trong đó có Việt Nam [25], [30]
Nuôi cá rô phi thương phẩm bằng con giống lấy từ tự nhiên và cá thuần để nuôi thường chậm lớn và không kiểm soát được mật độ do thành thục sớm, dễ sinh sản tự nhiên trong ao nuôi Trong quá trình ấp trứng trong miệng cá cái thường ngừng tăng trưởng [22], [25], [30] Để nâng cao tốc độ lớn của cá nuôi và việc kiểm soát mật độ thả dễ dàng người nuôi cá rất quan tâm đến sử dụng các đàn cá rô phi đơn tính đực Nuôi cá rô phi đơn tính do cá không có khả năng sinh sản, giúp kiểm soát được quần đàn cá trong ao, cá có thể tận dụng tốt dinh dưỡng cho sinh trưởng Để tạo quần đàn cá
rô phi đơn tính đực có nhiều phương pháp khác nhau: (a) Chọn cá đực, cá cái riêng biệt dựa vào khác biệt hình thái bên ngoài giữa cá đực và cá cái, (b) chuyển giới tính bằng hormone, (c) phương pháp lai xa và tạo cá siêu đực [25], [27], [28], [29], [30]
Tạo ra đàn cá đơn tính đực bằng cách loại bỏ cá cái dựa vào quan sát bộ phận sinh dục ngoài bằng mắt thường là phương pháp sơ khai, đơn giản, tốn nhiều nhân công và chỉ thực hiện khi đã phân biệt rõ cá đực, cái bằng hình thái ngoài (khi cá đạt
cỡ 5-10 g/con) Sự chính xác phương pháp này thấp và phụ thuộc tay nghề của người chọn [31] Theo Mire (1995) đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Israel trong những năm 1970 Tuy nhiên, hiện nay rất ít cơ sở sản xuất giống sử dụng phương pháp này để sản xuất cá rô phi đơn tính [29]
Sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng cho ăn hormone được áp dụng rộng rãi trên thế giới trong vòng 20 năm gần đây, cá rô phi 5-7 ngày tuổi sau khi tiêu hết noãn hoàng được cho ăn thức ăn có trộn hormone (thường dùng 17α-Methyltestosterone, liều lượng 60mg/kg thức ăn, trong khoảng thời gian từ 21 ngày) Công nghệ tương đối đơn giản, kết quả ổn định, tạo đàn cá có tỷ lệ đực khá cao đạt 92-100%, dễ áp dụng và đầu tư thấp hơn so với phương pháp lai xa và chọn cá đực bằng tay Hiện công nghệ này được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất cá rô phi đơn tính đực ở Thái Lan, Phillippines, Brazil, Israel, Trung Quốc [25], [34] Tuy nhiên những lo ngại về ảnh
Trang 14hưởng của hormone sử dụng đến môi trường và sức khỏe con người đã thúc đẩy việc tìm kiếm các công nghệ khác tạo cá rô phi đơn tính đực [25]
Năm 1994-1997, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I áp dụng thành công nghệ chuyển giới tính cá rô phi bằng hormone từ Học viện Công nghệ Châu Á (AIT) Trứng cá rô phi được thu từ khi cá mẹ đang ấp trong miệng đưa vào ấp nhân tạo trong
hệ thống khay ấp Cá sau khi tiêu hết noãn hoàng được đưa ra giai cắm trong ao để ương, cá được cho ăn thức ăn bằng bột cá nghiền mịn trộn với 17α- Methyltestosteron với liều lượng 60mg/kg thức ăn, vitamin C được bổ sung 10g/1kg thức ăn Sau 21 ngày xử lý cá đạt tỷ lệ sống 72,2%, tỷ lệ đực đạt trên 95% [6] Đến nay công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính được áp dụng rộng rãi trên cả nước
Công nghệ lai xa và công nghệ cá siêu đực được xây dựng trên cơ sở khoa học
di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi Hicking (1960) (trích bởi Pillay,1990) cho
lai 2 loài O urolepis, O hurnorum với O mossambicus tạo ra thế hệ con đơn tính đực, các nghiên cứu sau này được tiến hành trên nhiều loài khác nhau: T nilotica x T
nornorum (Pruginin and Kanyike, 1960), T nilotica X T aurea (Fishelson, 1962), T nilotica X T variabilis, T spilurus niger X T hornorum, T vulcani X T hornorum, T vulcani X T aurea, T nilotica X T macrochir (Lessent, 1968) Công nghệ lai xa ngoài
việc tạo thế hệ con lai toàn đực còn cải thiện tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh
[30] Tuy nhiên, tỷ lệ đực ở đàn con lai dao động từ 70-100% và phụ thuộc vào mức
độ “thuần chủng” cá bố mẹ Tỷ lệ cá đực còn có sự khác biệt khi sử dụng các loài khác nhau Do vậy, ngay ở Trung Quốc, Đài Loan và Israel công nghệ lai xa mới sử dụng ở một phạm vi nhất định Để có đàn cá toàn đực thường vẫn phải kết hợp lai xa với công nghệ chuyển giới tính bằng hormone có điều chỉnh về thời gian và hàm lượng hormone trong thức ăn hoặc tiến hành chọn cá đực bằng tay ở đàn cá lai khi cá giống đạt tới kích cỡ 10-20 g/con Các nước áp dụng công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính bằng lai xa gồm: Đài Loan, Israel, Trung Quốc [23], [27, [28], [33]
Gần đây, dựa trên cơ chế di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi bằng việc tạo
ra các cá cái giả (XY) và kỹ thuật lai phân tích hướng tới tạo hàng loạt cá rô phi đực có kiểu gen giới tính (YY) Khi sử dụng cá siêu đực (YY) sinh sản với cá cái thường (XX) tạo đàn cá toàn đực (XY) Dựa trên cơ chế di truyền điều khiển giới tính người ta
đã tạo ra đàn cá rô phi siêu đực O niloticus dòng Egypt- Swansea lai các dòng cá rô phi vằn O niloticus để tạo ra cá rô phi đơn tính Tuy nhiên, tỷ lệ cá đực tạo ra không
Trang 15ổn định, khác nhau trên từng cá cái Công nghệ vẫn được áp dụng trong phạm vi nghiên cứu, chưa được áp dụng phổ biến trong sản xuất [12]
Trong vòng 20 năm gần đây, nhiều nước đã tiến hành những nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giống cá rô phi, đặc biệt nâng cao tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh và khả năng chịu mặn của cá thông qua chọn giống Dự án cải thiện chất lượng di truyền cá rô phi (GIFT) được tiến hành từ năm 1988 dưới sự hợp tác của 4 tổ chức: Trung tâm quốc tế quản lý nguồn lợi động vật thuỷ sản (ICLARM), Cục thuỷ sản và nguồn lợi thuỷ sản Phillipines (BFAR), Trung tâm nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt/Trường đại học miền trung Luzon (FAC/CLSU) và Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản Nauy (AKVAFORSK) bằng nguồn kinh phí Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Chương trình phát triển Liên hiệp Quốc(UNDP) Từ năm 1988-1995, dự án
đã tiến hành chương trình chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng cá rô phi vằn dựa trên chọn lọc gia đình đã tạo cá rô phi vằn dòng GIFT Cá rô phi vằn dòng GIFT đã được nuôi thử nghiệm và được dùng làm giống nuôi ở nhiều nước trên thế giới Kết quả thử nghiệm đã khẳng định cá rô phi dòng GIFT có tốc độ sinh trưởng vượt trội so với các dòng cá rô phi hiện có ở một số nước Châu Á và Châu Phi Trong vòng 5 năm
từ năm 1992- 1997 mục tiêu Chương trình chọn giống là chọn lọc tính trạng tăng trưởng Tuy nhiên, các tính trạng khác cũng được chọn lọc như: tỷ lệ sống, khả năng kháng bệnh và tuổi thành thục muộn Thành công dự án đã mở ra cơ hội chọn giống cá
rô phi tại nhiều quốc gia, đàn cá rô phi tạo ra từ dự án GIFT đã cung cấp cho nhiều nước để tiếp tục chọn giống như ở Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Fiji, Thái Lan, Bangladesh và Philippines [16]
1.2.2 Nghiên cứu, sản xuất cá giống cá rô phi ở Việt Nam
Năm 1951, lần đầu tiên cá rô phi đen (O mossambicus) được nhập vào Việt Nam từ Thái Lan [12] Năm 1973, cá rô phi vằn (O niloticus) đã được di nhập vào
miền Nam nước ta từ Đài Loan, đến năm 1977 chúng được chuyển ra miền Bắc nuôi
Tuy nhiên, do không quản lý tốt dẫn đến sự lai tạp với loài cá rô phi đen (O
mossambicus) khiến cho chất lượng di truyền của loài cá rô phi vằn này đã bị thoái
hoá, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 bị giảm sút nghiêm trọng [2]
Từ năm 1993- 1994, một số dòng cá rô phi đã được nhập nội:
Trang 16- Cá rô phi vằn dòng Thái và cá rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 nhập
từ Thái Lan
- Cá rô phi vằn dòng Swansea và cá rô phi xanh O.aureus nhập từ Philippines
- Cá rô phi hồng Oreochromis sp nhập từ Đài Loan và Thái Lan
Qua nuôi thử nghiệm tại một số địa phương cho thấy cá rô phi dòng GIFT thể hiện sự vượt trội về sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá ở nước ta [2] Sức tăng sinh trưởng cá dòng GIFT cao hơn các dòng cá khác hiện có ở Việt Nam từ 15- 20% [4] Hiện nay, cá rô phi dòng GIFT được người nuôi quan tâm và nuôi phổ biến ở nước ta Để ổn định và nâng cao phẩm giống của dòng rô phi (GIFT) mới nhập, từ năm 1998 đến nay, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 (Viện 1) đã tiến hành chương trình chọn giống cá rô phi dòng GIFT với 2 tính trạng là tăng trưởng và khả năng chịu lạnh Năm 2000, đã chọn được dòng cá rô phi thế hệ thứ 4 có sức sinh trưởng cao hơn 16,6 % so với đàn cá GIFT ban đầu [4] Chương trình chọn giống này vẫn tiếp tục được tiến hành ở Viện 1 với nguồn kinh phí của dự án NORAD Cá rô phi chọn giống thể hiện tính ưu việt tăng trưởng nhanh, thích ứng với điều kiện khí hậu Việt Nam Từ năm 2002 đến nay cá rô phi dòng GIFT đã phát tán 2,5 triệu cá rô thuộc thế hệ chọn giống thứ 3, 4, 5 trong hầu hết các địa phương trong cả nước
Bên cạnh những nghiên cứu chọn giống và thuần hoá cá rô phi trong điều kiện khí hậu Việt Nam, các nghiên cứu về sản xuất giống cũng được tiến hành hiện nay việc áp dụng sản xuất cá rô phi đơn tính tại nước ta
Năm 1997, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã tiến hành nghiên cứu lai
xa: O niloticus dòng Egypt- AIT lai với O aureus, Cá siêu đực O niloticus dòng Egypt- Swansea lai với O aureus và cá siêu đực O niloticus dòng Egypt- Swansea lai với cá cái đực O niloticus nhằm tạo ra đàn cá đơn tính tỷ lệ đực trung bình 65,3-
83,2% [13] Do tỷ lệ cá đực tạo ra không ổn định nên kỹ thuật này không được áp dụng phổ biến tại nước ta
Theo Phạm Anh Tuấn (2006), số cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính nước ta tăng liên tục trong mấy năm qua Năm 2002, cả nước có 10 cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính, đến năm 2004 đã có tới 57 cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính Đáng chú ý tại miền Nam, Trại cá giống Công ty thương mại quốc tế Việt Long với quy mô 20 ha tại Bến Tre áp dụng công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính bằng hormone, năm 2004 công ty sản xuất được 60 triệu cá rô phi đơn tính 21 ngày tuổi Công ty TNHH Hải Thanh tại
Trang 17Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2004 đã sản xuất 82 triệu cá rô phi giống, trong đó có
71 triệu cá rô phi hương và giống bằng công nghệ chuyển giới tính bằng hormone, 7 triệu cá giống hỗn hợp tính [14]
Mấy năm gần đây một số cơ sở tại các địa phương miền Bắc đã nhập công nghệ sản xuất cá rô phi lai xa/khác loài từ Trung Quốc, Đài Loan xong sản lượng cá hương tạo ra còn hạn chế về chất lượng, mặt khác chất lượng, tỷ lệ đực chưa được các cơ quan có chức năng kiểm tra
Do các cơ sở sản xuất giống thường không đáp ứng được số lượng cá giống đúng vụ ở miền Bắc mặc dù đã áp dụng công nghệ lưu cá giống qua đông và sản xuất
cá giống trong vụ đông xuân tại các nguồn nước ấm [13] Vì thế, hàng năm một lượng
cá giống chuyển từ miền Nam ra và cá từ Trung Quốc, Đài Loan sang đáp ứng nhu cầu con giống tại các tỉnh miền Bắc Tuy nhiên, cá nhập từ Trung Quốc hiện chưa có cơ quan quản lý đánh giá chất lượng, theo nhận xét của người nuôi về chất lượng nguồn
cá này trái ngược nhau [13]
1.3 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và Việt Nam
1.3.1.Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi ngày càng trở nên quan trọng đối với nuôi trồng thủy sản của nhiều nước trên thế giới Tổng sản lượng rô phi năm 2010 ước tính sẽ lên tới trên 3 triệu tấn, cá rô phi trở thành loài thuỷ sản phổ biến, một sản phẩm toàn cầu thực sự, phù hợp cả với nuôi quy
mô nhỏ lẫn công nghiệp đa quốc gia, tăng trưởng nhanh và hiệu quả, thích hợp với cả với thức ăn giàu đạm lẫn thức ăn tự nhiên và người giàu cũng như người nghèo đều ưa chuộng Thêm vào đó, FAO dự báo tổng nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới sẽ tăng gần 50 triệu tấn, từ 133 triệu tấn năm 1999/2000 lên đạt 183 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm
0 500
Trang 18Theo thống kê của FAO, tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới đang tiếp tục tăng một cách ngoạn mục, trong đó sản lượng nuôi chiếm 70% Trong giai đoạn 5 năm từ 2003-2007, sản lượng cá nuôi tăng đến 60% Theo báo cáo sơ bộ của FAO, sản lượng cá rô phi nuôi năm 2009 đã vượt quá 3 triệu tấn
Nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất thế giới là Trung Quốc, chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn cầu Các nhà sản xuất lớn khác đáng chú ý như Ai-cập, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Braxin, Đài Loan, Honđurat, Côlômbia,
Êcuađo, Sản lượng cá rô phi vằn (O niloticus) chiếm đến 85% sản lượng cá rô phi
Sản lượng cá rô phi khai thác tự nhiên năm 2007 đạt 769.900 tấn, tăng khá mạnh
so với 689.700 tấn năm 2003
Bảng 1.1 Sản lượng nuôi cá rô phi của một số nước sản xuất lớn
Hình 1.2 Sản lượng nuôi cá rô phi
1.2.a Sản lượng cá rô phi nuôi và khai thác trên thế giới;1.2.b Sản lượng nuôi cá rô
phi theo từng nước và khu vực
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi và tiêu thụ cá rô phi Các hình thức nuôi rất đa dạng, từ những ao nhỏ, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Hầu hết sản lượng cá rô phi của Trung Quốc
Trang 19là giống lai, có xuất xứ từ cá rô phi sông Nile, được coi là loài cá rô phi to và khoẻ mạnh nhất [7]
Cá rô phi của Đài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh và phi lê Các công ty nuôi cá rô phi ở Đài Loan đang có xu hướng chuyển sang đầu tư vào Trung Quốc do các điều kiện trong đại lục thuận lợi hơn nên giá thành sản xuất sẽ thấp hơn [9] Ở Philippine có hai hình thức nuôi chủ yếu là nuôi cá rô phi trong ao hồ và lồng, nuôi cá trong cả vùng nước ngọt và lợ, sản lượng cá rô phi nuôi ao nước ngọt chiếm khoảng 56%, nuôi lồng nước ngọt là 37% và nuôi ao nước lợ là 7% tổng sản lượng cá rô phi nuôi [14]
Thái Lan là nước nuôi cá rô phi mạnh ở khu vực Đông Nam Á Nuôi cá rô phi trong lồng ở Thái Lan phát triển rộng khắp đến Miền Bắc và Miền Trung [14], [20]
Trong những năm gần đây, các nước Châu Mỹ bắt đầu quan tâm đến cá rô phi, đặc biệt sau các rủi ro của nghề nuôi tôm do dịch bệnh gây ra Quốc gia sản xuất cá rô phi nhiều nhất châu Mỹ là Mêhicô, kế đến là Brazil Do tình hình sản xuất tôm trong những năm gần đây gặp nhiều rủi ro thất bại vì bệnh dịch (chủ yếu là bệnh đốm trắng) nên Ecuado đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm Chu kỳ nuôi xen
kẽ tôm – cá đã chứng tỏ được hiệu quả [9]
Nghề nuôi cá rô phi chỉ mới bắt đầu phát triển ở Châu Phi Ai Cập là nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất ở Châu Phi, năm 2003 đạt sản lượng 200.000 tấn, chiếm 90% sản lượng cá rô phi nuôi của châu lục Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự nhiên Các quốc gia Ghana, Nigiênia, Kenia, Uganda, Tanzania, Môzămbic, Nanibia, Botswana, Angola đều có sản sản lượng cá rô phi nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát triển nuôi cá
rô phi [14], [20]
Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất ít do khu vực này có nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng
300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thuỵ Sỹ, Tây Ban Nha, Đức, Pháp
và Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và các hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho bộ phận dân cư
có nguồn gốc từ Châu Á [9], [14]
Trang 20Các nước Trung đông như Ả Rập Xê út, Cô oét và Lebanon chủ yếu nuôi cá rô
phi trong môi trường nước mặn nên loài nuôi phổ biến là O.spiluris Do thiếu nguồn
nước nên các hoạt động nuôi thường bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao [9]
1.3.2 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam
Nuôi cá rô phi ở nước ta có lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ và ngày càng được nuôi phổ biến, cá rô phi được coi là đối tượng nuôi thích hợp với nhiều vùng nước khác nhau, cá dễ nuôi Gần đây, sự quan tâm của người nuôi đến cá rô phi đã tăng rõ rệt, cá rô phi đã được nuôi khá phổ biến ở nhiều địa phương, người tiêu dùng sản phẩm cá rô phi cũng nhiều hơn Tuy nhiên, vùng nuôi cá rô phi phần lớn còn phân tán, quy mô nhỏ
Hiện nay phần lớn diện tích nuôi cá rô phi của cả nước đang ở hình thức thả ghép Diện tích nuôi đơn, thâm canh còn rất ít, ước tính ít hơn 10% diện tích nuôi cá [1], [14] Hình thức nuôi cá rô phi ở nước ta khá đa dạng, chia theo mức độ đầu tư gồm nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh, theo vị trí gồm nuôi cá rô phi trong ao, đầm và trong lồng bè, theo đối tượng nuôi gồm nuôi đơn cá rô phi, nuôi ghép
cá rô phi với các loài cá truyền thống và nuôi ghép cá rô phi với tôm nước lợ.(h) Phần lớn diện tích và sản lượng cá rô phi nuôi ở nước ta là từ các vùng nước ngọt, nuôi cá rô phi vùng nước lợ, mặn đã bắt đầu được quan tâm
Theo thống kê năm 2005 diện tích nuôi cá rô phi của cả nước là 29.717 ha chiếm 3% tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản, trong đó nuôi nước lợ, mặn là 5.184 ha
và nuôi nước ngọt là 24.533 ha (xem bảng 1.2)
Trang 21Bảng 1.2 Hiện trạng diện tích nuôi cá rô phi ở các vùng trong cả nước năm 2005
Diện tích nuôi cá rô phi (ha)
(Nguồn: Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, 2006)
Các tỉnh phía Bắc loài cá rô phi được ưa thích nuôi là rô phi vằn (O niloticus), trong khi đó ở các tỉnh phía Nam ngoài rô phi vằn thì cá rô phi hồng (Oreochromis sp.)
cũng được sử dụng để nuôi ở nhiều nơi, đặc biệt là nuôi trong lồng bè ở Đông Nam Bộ
Các tỉnh phía Nam điều kiện thời tiết thuận lợi nên có thể nuôi quanh năm Các tỉnh phía Bắc do ảnh hưởng gió mùa đông bắc, mùa đông lạnh nên hầu như chỉ tập trung nuôi từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm
1.3.3 Thị trường tiêu thụ cá rô phi
Cá rô phi nuôi ở nước ta hiện nay đang được tiêu thụ nội địa là chủ yếu Trước hết, sự phát triển của phong trào nuôi cá rô phi trong những năm gần đây đã tạo ra một lượng sản phẩm hàng hoá đáng kể Bên cạnh đó, nền kinh tế của nước ta những năm qua có sự tăng trưởng tương đối ổn định, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao, nhu cầu sử dụng sản phẩm thuỷ sản nói chung, cá rô phi nói riêng ngày càng tăng; trong khi đó các nguồn cung cấp thực phẩm khác gặp khó khăn như dịch cúm H5N1 ở gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc Vì vậy, thị trường tiêu thụ nội địa cá rô phi
có điều kiện phát triển mở rộng
Các quốc gia sản xuất cá rô phi đều là những quốc gia tiêu thụ nhiều cá rô phi Chính nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia sản xuất cá rô phi đã thúc đẩy nghề nuôi cá phát triển, làm cho cá rô phi trở thành sản phẩm thiết yếu, cung cấp dưỡng chất cho người dân, đảm bảo an ninh thực phẩm và góp phần xoá đói giảm nghèo [9]
Trang 22Năm 2010 mức tiêu thụ thuỷ sản là 26 kg/đầu người thì lượng tiêu thụ thuỷ sản trong nước năm 2010 sẽ là 2,18 triệu tấn [10] Theo dự báo thị trường nội địa sẽ có những bước phát triển mới, đạt mức tăng từ 20 - 30%, do các nguyên nhân sau:
- Tình hình chính trị ở Việt Nam ổn định, thu hút khách du lịch và các hoạt động quốc tế
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của thị trường nội địa Đồng thời, nhiều mặt hàng thuỷ sản đã từng bước chiếm lĩnh được lòng tin của người tiêu thụ trong nước
Ở nước ta cá rô phi nuôi phần lớn được tiêu thụ ngay tại địa phương, tập trung
ở các chợ trung tâm thành phố, thị xã, thị tứ Các siêu thị ở các thành phố lớn Hà Nội,
Hồ Chí Minh sản phẩm cá rô phi tươi sống được tiêu thụ khá mạnh với giá từ 35.000 - 40.000 đ/kg Cá rô phi có kích cỡ từ 400 g/con trở lên rất được người tiêu dùng ưa thích và có giá cao hơn 5.000 – 7.000 đ/kg so với kích cỡ nhỏ hơn Giá cá bán ở các thành phố lớn cũng cao hơn ở các vùng khác Giá cá còn biến động theo các tháng trong năm, thời điểm trước và sau tết ở các tỉnh phía Bắc giá cao hơn các thời điểm khác, vùng nông thôn thời điểm vào ngày mùa giá cao hơn, vùng ven biển các ngày động trời khi nguồn khai thác cá biển hạn chế cá rô phi có giá bán cao hơn các thời
Mỹ nhập khẩu 183.295 tấn sản phẩm cá rô phi, trị giá 696,1 triệu USD Trung Quốc
là nhà cung cấp số 1 cho thị trường này, năm 2009 xuất khẩu 129.871 tấn, trị giá 407,6 triệu USD
Các nhà xuất khẩu lớn khác cho thị trường Mỹ gồm Êcuađo, Honđurat, Côxtarica và Inđônêxia tuy thị phần của các nước này chỉ ở mức khiêm tốn Sản phẩm chính nhập khẩu vào Mỹ là philê tươi ướp đá và đông lạnh, cá nguyên con tươi ướp đá
và đông lạnh
Theo Globefish, cá rô phi nhập khẩu vào Mĩ năm 2010 sẽ giảm do sản lượng cung cấp giảm và giá sẽ tăng khoảng 20% Tuy nhiên, thực tế tổng nhập khẩu cá
Trang 23rô phi vào Mỹ trong quý I/2010 vẫn tăng, đạt 8.600 tấn, tăng 4.400 tấn so với cùng kỳ năm 2009, với sản phẩm nhập khẩu nhiều nhất là đông lạnh.
Bảng 1.3 Sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào thị trường Mỹ
Nhập khẩu cá Rô phi của Mỹ theo sản phẩm (1000 tấn)
EU là một thị trường tiêu thụ cá rô phi mới nổi, sự phát triển của thị trường còn rất chậm Các nước nhập khẩu chính là Pháp, Anh, Đức, Bỉ và Ba Lan, trong đó Pháp
có bước chuyển biến khá rõ, nhập khẩu 2.900 tấn cá rô phi của Trung Quốc trong năm 2009, trong khi vài năm trước chưa hề có Nhìn chung, EU đang mở rộng dần thị trường tiêu thụ cá rô phi và theo dự đoán đến cuối năm 2010 tổng nhập khẩu cá rô phi
EU có thể đạt 20.000 tấn
1.3.4.Tình hình nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh có tiềm năng về phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại hình mặt nước: nước ngọt, lợ, mặn Cá rô phi tại Quảng Ninh được nuôi chủ yếu ở môi trường nước ngọt và nước lợ Nghề nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh bắt đầu phát triển từ những năm 2000 Hình thức nuôi lúc đó chủ yếu là nuôi ghép với các loài cá truyền thống đối với các ao nuôi nước ngọt, còn các đầm nước lợ chủ yếu là nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến vì vậy năng suất nuôi rất thấp
Trước tình hình trên, năm 2002 Sở thuỷ sản tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo Trung tâm Khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thuỷ sản chuẩn bị con giống cá rô phi đơn tính và triển khai thực hiện 123 mô hình nuôi cá rô phi tại các huyện, thị trong tỉnh
Trang 24Thông qua mô hình đã chuyển tải khoa học kỹ thuật tới bà con nông dân và được bà con nhiệt tình hưởng ứng
Những năm gần đây, ngành thuỷ sản Quảng Ninh luôn quan tâm chỉ đạo Trung tâm Khuyến nông, khuyến ngư; Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thuỷ sản xây dựng các mô hình nuôi cá rô phi đơn tính tại các địa phương, vì vậy phong trào nuôi cá rô phi đã tăng rõ rệt cả về diện tích nuôi, năng suất và sản lượng
Đặc biệt năm 2009, 2010 Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt dự
án: “Xây dựng tiểu vùng nuôi cá Rôphi tập trung tại các vùng chuyển đổi đất nông
nghiệp cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản”.
Dự án thực hiện với mục tiêu:
- Xây dựng mô hình nuôi cá rô phi tập trung theo phương pháp thâm canh nhằm phát huy hiệu quả cơ sở hạ tầng vùng chuyển đổi đất nông nghiệp năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, tạo việc làm có thu nhập cao, ổn định cho nông dân ở vùng đất chuyển đổi
- Nhằm sản xuất sản phẩm thuỷ sản có chất lượng, trước mắt cung cấp nhu cầu tiêu dùng trong nước, tiến tới nhân rộng mô hình ra toàn bộ các diện tích chuyển đổi đất nông nghiệp năng suất thấp trên địa bàn toàn tỉnh để sản xuất một lượng sản phẩm hàng hoá lớn cung cấp làm nguyên liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu
Kết quả dự án cho thấy: Năng suất nuôi trung bình đạt 12,5 tấn /ha, lợi nhuận 50-60 triệu đồng/ ha, đặc biệt là sự hào hứng nhiệt tình vào cuộc của nông ngư dân
Qua kết quả đánh giá của Chi cục nuôi trồng thuỷ sản cho thấy: Bên cạnh
những kết quả đạt được, nghề nuôi thuỷ sản nước ngọt nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng còn nhiều tồn tại, khó khăn đó là:
- Việc phối hợp thực hiện quản lý nhà nước giữa các ngành và địa phương về quản
lý qui hoạch, vùng nuôi, lịch thời vụ… còn nhiều hạn chế, chưa gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn lợi Môi trường nuôi có biểu hiện ngày càng ô nhiễm Bên cạnh đó ý thức của người dân trong việc bảo vệ nguồn lợi chưa cao, hệ thống thuỷ lợi không đủ tiêu, thoát nước, mầm bệnh ngày càng lan rộng, nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, thời gian nuôi kéo dài, chi phí cho một vụ nuôi tăng và hiệu quả kinh tế giảm
- Sản xuất giống cá rô phi đáp ứng cho nhu cầu của các địa phương còn hạn chế về
số lượng cũng như chất lượng, mầm bệnh trên con giống chưa kiểm soát được Việc sản
Trang 25xuất cung ứng giống thuỷ sản còn nhiều bất cập, qui hoạch các trại sản xuất trên toàn tỉnh chưa đồng đều, chưa phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương, dẫn đến rất nhiều cá rô phi bột hoặc giống được nhập từ Trung Quốc vào tỉnh theo con đường tiểu ngạch Điều này gây nhiều trăn trở cho các nhà chức trách trong việc quản lý chất lượng cũng như duy trì và phát huy những giống tốt đã nghiên cứu thành công
- Vùng nuôi cá rô phi phần lớn còn phân tán, quy mô nhỏ, chưa thực sự tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tạo nguyên liệu xuất khẩu, hình thức nuôi gồm nuôi đơn và nuôi ghép, nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và nuôi thâm canh, Nuôi ghép và nuôi bán thâm canh là các hình thức nuôi phổ biến hơn cả.Nuôi thâm canh cá
rô phi còn chiếm tỷ lệ nhỏ, công nghệ nuôi còn lạc hậu Đầu tư cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất chưa tương xứng với yêu cầu của tiềm năng, việc tiếp thu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật còn hạn chế Kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất không đồng đều ở các vùng, phần lớn hộ nông dân có thu nhập khá, song vẫn còn một số hộ, một số vùng còn gặp khó khăn, nên còn nhiều ý kiến khác nhau khi nhìn nhận tình hình và kết quả
chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang nuôi thuỷ sản
Trang 26Chương II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 5/2010 đến hết tháng 3/2011
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
Tại các huyện Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng và Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
Những đối tượng nuôi, tiêu thụ cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu tình hình nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh
Hoạt động thu thập thông tin
Sản xuất và cung ứng con giống
Tiêu thụ sản phẩm
Quy hoạch vùng nuôi
Các chính sách hiện hành
Đánh giá hiện trạng nuôi cá rô phi
Kết luận và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh
Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá rô phi
Hiện trạng công tác quản lý
Trang 272.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
nuôi cá rô phi của ngành và tỉnh
2.2.2.2 Điều tra, thu thập các số liệu sơ cấp
- Tình hình nuôi cá rô phi trong những năm gần đây: diện tích, mật độ nuôi, sản
lượng, năng suất nuôi, hình thức nuôi và quản lý vùng nuôi được điều tra, khảo sát từ người nuôi thông qua hình thức phỏng vấn bằng những bộ câu hỏi Thu thập số liệu nuôi cá rô phi tại 4 huyện của tỉnh Quảng Ninh Trong mỗi huyện chọn 03 xã nghiên cứu
- Tình hình sản xuất, cung ứng giống được khảo sát, thu thập số liệu tại trại sản xuất giống nước ngọt của tỉnh, các cơ sở dịch vụ giống và người dân nuôi cá rô phi tại vùng nghiên cứu thông qua bộ câu hỏi Điều tra, thu thập số liệu sản xuất giống cá rô phi tại các trại sản xuất giống và ương nuôi cá nước ngọt trên địa bàn tỉnh
- Tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá rô phi; thuốc hoá chất được sử dụng trong nuôi cá rô phi, cải tạo và xử lý môi trường nuôi cá rô phi được điều tra, khảo sát tại vùng nuôi, cơ sở nuôi
- Tình hình tiêu thụ cá rô phi thương phẩm được khảo sát tại 4 công ty chế biến
xuất khẩu thủy sản trong tỉnh Quảng Ninh, các hộ nuôi (120 mẫu), và người thu mua
cá rô phi thương phẩm tại vùng nghiên cứu Ngoài ra còn nghiên cứu thu mẫu tại các chợ tiêu thụ cá: mỗi xã nghiên cứu thu mẫu tại 01 chợ
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu và xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS trên máy vi tính
Trang 28
Chương III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có toạ độ địa lý
106026’ đến 108031’ kinh độ đông và từ 200 40’ đến 210 40’ vĩ độ bắc Hình dạng địa lý của Quảng Ninh có dạng hình dải dài, một bên áp lưng vào dãy núi theo cánh cung Đông Triều- Móng Cái, một phía tiếp xúc với biển
Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp nước cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Trên đất liền, phía Bắc của tỉnh có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thành phố Móng Cái giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; Phía đông là vịnh Bắc Bộ; Phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương; phía nam giáp Hải phòng
So với các tỉnh Bắc Bộ, Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió đông bắc mạnh hơn Đây là nơi "đầu sóng ngọn gió" Gió thổi mạnh và so với các nơi cùng vĩ độ thường lạnh hơn từ 1 đến 30C
Trong những ngày gió mùa đông bắc, ở vùng núi cao Bình Liêu, Hải Hà, Đầm
Hà nhiệt độ có khi xuống dưới 00C Quảng Ninh cũng chịu ảnh hưởng lớn của bão tố Bão thường đến sớm (các tháng 6, 7, 8) và có cường độ khá mạnh, nhất là ở vùng đảo
và ven biển
Trang 29Tuy nhiên, do diện tích lớn lại nhiều vùng địa hình nên khí hậu giữa các vùng lại khác nhau Huyện địa đầu Móng Cái lạnh hơn lại mưa nhiều: nhiệt độ trung bình năm là 22 0C, lượng mưa trung bình năm tới 2.751 mm Huyện Yên Hưng ở tận cùng phía nam, nhiệt độ trung bình năm là 240C, lượng mưa trung bình năm là 1.700 mm Vùng núi cao của Hoành Bồ, Ba Chẽ khí hậu khá khắc nghiệt, mỗi năm thường có 20 ngày sương muối và lượng mưa hàng năm thấp Cũng là miền núi nhưng Bình Liêu lại
có mưa lớn (2.400 mm), mùa đông kéo dài tới 6 tháng Vùng hải đảo lại không phải là nơi mưa nhiều nhất, chỉ từ 1.700 đến 1.800 mm/ năm, nhưng lại là nơi rất nhiều sương
mù về mùa đông
3.1.1.3 Địa hình và đất đai
Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải Hơn 80% đất đai là đồi núi Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp
Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m
Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn
Trang 30Quảng Ninh có diện tích tự nhiên 611.081,3 ha chiếm 1,85% diện tích đất tự nhiên toàn quốc Quảng Ninh là một tỉnh gồm cả vùng núi và hải đảo, có bờ biển dài
250 km, diện tích các hải đảo 980 km2 , diện tích vùng nội thuỷ rộng trên 6.000 km2;
có vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long
Vị trí địa lý thuận lợi với nguồn lợi tự nhiên phong phú và đa dạng để Quảng Ninh phát triển kinh tế- xã hội; trong đó có phát triển kinh tế thuỷ sản Gắn với Thủ đô
Hà Nội và các thành phố lớn của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc bộ như Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh là “cửa ngõ” của vùng Đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc ra biển và nối vùng duyên hải Nam Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái
3.1.1.4 Hệ thống sông ngòi và chế độ thuỷ văn
Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Mỗi sông hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh Các nhánh đa số đều vuông góc với sông chính Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh
Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 – 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân bố dọc theo bờ biển, gồm sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Đồng Cái Xương, sông
Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sông Man, sông Trới
Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần
Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường
Trang 313.1.2.2 Tài nguyên nước ngọt
Quảng Ninh có tài nguyên nước khá phong phú và đặc sắc Nước mặt chủ yếu
là nước sông hồ, các sông lớn là sông Ka Long (đoạn chủ yếu là đường biên giới quốc gia giáp Trung Quốc), sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Tiên Yên, sông Phố Cũ, sông
Ba Chẽ, sông Diễn Vọng, sông Trới, sông Míp, sông Uông, sông Đạm, sông Cầm và ranh giới phía Nam tỉnh là sông Kinh Thầy nối với sông Đá Bạc chảy ra sông Bạch Đằng Tổng trữ lượng tĩnh các sông ước tính bằng 175.000.000 m3 nước
3.1.2.3 Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là 295.553 ha Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, chống sói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp gỗ trụ mỏ chống lò cho ngành than góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế – xã hội của tỉnh Trước đây Quảng Ninh có nhiều giống gỗ tốt, nhiều nhất là lim, táu, đến nay diện tích lớn nhất là trồng thông vừa lấy nhựa vừa lấy gỗ Rừng bạch đàn, keo cũng đang mở rộng để vừa che phủ kín đất trồng, vừa lấy gỗ cho công nghiệp mỏ (chống lò) Vùng núi Quảng Ninh đang phục hồi và phát triển những giống cây đặc sản như quế, hồi, trẩu, sở và những cây dược liệu Với 3/4 diện tích tự nhiên là rừng và
ít rừng, nếu được bảo vệ và trồng thêm nhiều, rừng Quảng Ninh sẽ phát huy thế mạnh
và một nguồn lợi lớn của Quảng Ninh
3.1.2.4 Tài nguyên du lịch
Có nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng như: vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, bãi biển Trà Cổ, bãi biển Cô Tô, bãi Dài Vân Ðồn , cùng các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tạo khả năng mở các tuyến du lịch cả ở biển, trên đất liền và trên các đảo
Trang 323.1.2.5 Tài nguyên biển
Với bờ biển dài 250 km, Quảng Ninh có nhiều ngư trường khai thác hải sản Hầu hết các bãi cá chính có sản lượng cao, ổn định, đều phân bố gần bờ và quanh các đảo, rất thuận tiện cho việc khai thác Ngoài ra, Quảng Ninh còn có trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng vạn ha các vũng nông ven bờ, là môi trường thuận lợi để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu Ven biển Quảng Ninh có nhiều khu vực nước sâu, kín gió là lợi thế đặc biệt quan trọng và thuận lợi cho việc xây dựng, phát triển hệ thống cảng biển, nhất là ở thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện Tiên Yên, thành phố Móng Cái và huyện Hải Hà
3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số Quảng Ninh hiện nay có 1.144.381 người, mật độ dân số của Quảng Ninh hiện
là 188 người/km2, nhưng phân bố không đều, vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành phố Hạ Long 739 người/km2 , trong khi đó ở huyện Ba Chẽ chỉ có 30 người/km2 Dân số Quảng Ninh là “dân số trẻ”, tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 37,6% Người già trên 60 tuổi( với nam) và trên 55 tuổi (với nữ) là 7,1% Các huyện miền núi
tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động còn lên tới 45% Quảng Ninh có tỷ lệ nam giới đông hơn nữ giới( nam chiếm 50,9%, nữ chiếm 49,1%) Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nói riêng ngành thuỷ sản nói chung
Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân tộc rõ nét
Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa Tiếp đến là hai dân tộc có dân số hàng trăm người là Nùng và Mường Mười bốn dân tộc còn lại có số dân dưới 100 người trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh dân tộc kinh chiếm 89,23% tổng số dân Hộ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh’ đông nhất là vùng đồng bằng bắc bộ Họ sống đông đảo nhất ở các khu đô thị, khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông ven biển
Tăng trưởng kinh tế tăng 10,3% so với năm 2008, trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,8%.GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 1.273 USD/ người/ năm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực: Khu vực nông nghiệp 6,2%; công nghiệp và xây dựng 52,7%; dịch vụ 41% Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch
Trang 33theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp
Quảng Ninh có 20.633 người lao động trong lĩnh vực thuỷ sản Giá trị sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản tăng khá mạnh trong những năm gần đây
Về tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản Quảng Ninh là tỉnh có tiềm năng về phát triển du lịch, mặt khác Quảng Ninh là tỉnh có ngành công nghiệp phát triển, có cửa khẩu quốc
tế Móng cái vì vậy Quảng Ninh là tỉnh có sức tiêu thụ lớn sản phẩm thuỷ sản
Về cơ sở hạ tầng: Quảng Ninh có cơ sở hạ tầng khá hoàn thiện, là một đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, mạng lưới giao thông phát triển đa dạng, có đường sắt, đường bộ, đường sông, cảng biển được hình thành, phân bố khá hợp lý theo các vùng dân cư và các trung tâm hành chính, kinh tế
3.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh
3.2.1 Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản
ha bằng 20,9 % diện tích tiềm năng nuôi thuỷ sản nước mặn, lợ Như vậy, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đưa vào khai thác trong toàn tỉnh còn rất thấp Diện tích nước ngọt tập trung chủ yếu ở các vùng chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản và một số diện tích ao hồ nhỏ; Diện tích nước mặn, lợ tập trung chủ yếu
là diện tích nuôi tôm theo hình thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh
Trang 34Bảng 3.1 Tiềm năng diện tích phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở các huyện/thị
TT Địa phương
Tổng cộng
(ha)
Tôm nước lợ
(ha)
Chương bãi
(ha)
Nuôi biển
(ha)
Nước ngọt
(ha)
Thực hiện
2009
(ha)
Hiện trạng/Tiềm năng (tỷ lệ %)
(Nguồn: Chi cục nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Quảng Ninh)
Tổng diện tích nuôi cá nước ngọt ở Quảng Ninh năm 2009 là 3.174 ha với sản lượng là 5.199 tấn, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh cải tiến và bán thâm canh, nuôi theo mô hình kết hợp vườn-ao-chuồng, đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá truyền thống như trắm cỏ, trôi, mè, chép…và nuôi ghép với cá rô phi Tuy nhiên, với hình thức nuôi này năng suất thấp đạt khoảng 1,6 tấn/ha/năm, sản lượng cá nuôi không cao, không tập trung, do đó sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu của gia đình và thị trường lân cận ngay khu vực đó Gần đây dự án xây dựng tiểu vùng nuôi cá rô phi tập trung tại các vùng chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản
đã cho thấy năng suất nuôi đạt 12 tấn/ha và cho hiệu quả kinh tế rõ rệt
Trang 35Với lợi thế với 250 km bờ biển đã tạo cho Quảng Ninh một vùng nước mặn, lợ rộng lớn với diện tích nuôi là 16.599 ha với những đối tượng nuôi đa dạng như: Cá biển, nhuyễn thể, giáp xác, tổng sản lượng nuôi thuỷ sản nước mặn, lợ của Quảng Ninh năm 2009 đạt 22.123 tấn, trong đó diện tích nuôi tôm đạt 9.812 ha với sản lượng đạt 6.368 tấn Nghề nuôi tôm nước lợ ở Quảng Ninh bắt đầu phát triển nhanh từ những thập kỷ 90 đến nay Trong 2 năm gần đây thì sự phát triển đã bắt đầu chậm lại và đang
có chiều hướng giảm Một số địa phương nuôi tôm nước lợ phát triển khá nhanh trong các năm qua, trong khi đó một số khác thì không phát triển, thậm chí còn giảm nguyên nhân gặp rủi ro lớn trong quá trình sản xuất do tôm bị dịch bệnh, thiên tai, giông bão, các rào cản kỹ thuật, dư lượng kháng sinh Hiện nay mô hình nuôi luân canh tôm- rô phi đang được khuyến khích để tránh thiệt hại cho người nuôi tôm và đảm bảo bền vững môi trường
Nhìn chung sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây có chiều hướng tăng (Xem bảng 3.2)
Bảng 3.2 Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005-2010
(Nguồn: Sở Nông nghiệp & PTNT Quảng Ninh, 2010)
3.2.1.2 Tình hình sản xuất giống cá nước ngọt
Về sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt, hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
có 4 trại sản xuất giống cá nước ngọt trong đó có 3 trại sản xuất của Trung tâm khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thủy sản Quảng Ninh thuộc nhà nước là Trại sản xuất giống cá nước ngọt Đông Mai - Yên Hưng, Trại lưu giữ cá qua đông Uông Bí và Cơ
sở Hợp doanh sản xuất cá rô phi Đài Loan - Đông Thái, 01 trại sản xuất giống cá nước ngọt tư nhân là Cơ sở sản xuất giống cá nước ngọt Thành Đạt - huyện Đông Triều và
Trang 36có khoảng gần 20 hộ cá nhân nhỏ lẻ ương giống tại một số huyện thị trong tỉnh Đối tượng cá giống sản xuất chủ yếu là cá rô phi và một số loài cá như: Cá mè, cá trắm, cá chép
Bảng 3.3 Hiện trạng sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt năm 2009
Diện tích
(ha)
Công suất thiết
kế (Tr con)
Thực tế sản xuất (Tr
con)
1
Trại SX thực nghiệm giống cá
nước ngọt Đông Mai và Trại
SX và lưu giữ giống qua đông
Uông Bí
2
Cơ sở Hợp doanh sản xuất cá
rô phi lai xa Đài Loan – Đông
3.2.1.2 Dịch vụ giống
Đây là hình thức khá phổ biến hiện nay, kết quả điều tra khoảng gần 20 hộ làm dịch vụ con giống trên địa bàn toàn tỉnh, loại cá dịch vụ chủ yếu là cá rô phi và một số loài cá khác, nguồn giống dịch vụ khá đa dạng trong đó chủ yếu từ Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Trung Quốc Qua kết quả điều tra nhận thấy chất lượng con giống không được kiểm soát Qua đánh giá của các hộ dịch vụ sản lượng cung ứng từ nguồn này chiếm 35,83% tổng lượng giống sản xuất được trong tỉnh
3.2.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi tại tỉnh Quảng Ninh
Đề tài đã khảo sát tại 4 huyện nuôi cá rô phi của Quảng Ninh, nhìn chung trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi không quan tâm nhiều đến các yếu tố xã hội mà tập chung vào các yếu tố kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển nuôi cá rô phi của tỉnh Quảng Ninh
Trang 37Mặc dù không được quan tâm nhiều, nhưng chúng tôi đã khảo sát về độ tuổi của chủ hộ và trình độ chuyên môn nuôi cá rô phi Kết quả khảo sát cho thấy độ tuổi trung bình của chủ hộ là 41,47 ± 1,27 đến 45,80 ± 1,12 tuổi, độ tuổi trung bình trẻ nhất
ở huyện Đông Triều và lớn nhất ở huyện Đầm Hà trong đó chủ hộ nuôi cá rô phi trẻ nhất là 21 tuổi và già nhất là 60 tuổi Nhìn chung độ tuổi của chủ hộ nuôi cá rô phi ở các huyện được khảo sát đều nằm trong độ tuổi lao động (Bảng 3.4)
Kết quả khảo sát về trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi cá rô phi cho thấy tất
cả chưa qua đào tạo đại học và cao đẳng về chuyên môn Trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật chiếm tỉ lệ rất thấp và chỉ xuất hiện ở các huyện Đông Triều và Uông Bí, các huyện Yên Hưng và huyện Đầm Hà không có trường hợp nào Tuy nhiên đa số các chủ hộ đều được đi tập huấn các lớp kỹ thuật ngắn ngày để trang bị các kiến thức sơ bộ
về nuôi thủy sản (bảng 3.4)
Bảng 3.4 Độ tuổi và trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi cá rô phi
Huyện
Tuổi trung bình (tuổi) 44,57 ± 1,30 45,80 ± 1,12 41,47 ± 1,27 42,93 ± 1,50
Cá rô phi hiện được nuôi chủ yếu ở vùng nước ngọt, vùng chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi cá rô phi trong nước lợ ít và tập trung ở các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ và Đầm Hà
Theo khảo sát của chúng tôi với tổng số 120 hộ được điều tra tại 4 huyện của tỉnh Quảng Ninh cho thấy tổng diện tích nuôi cá rô phi được điều tra là 464.410 m2 Diện tích nuôi cá rô phi trung bình/hộ từ 1590,00 ± 207,02 m2 đến 6611,00 ± 838,38
Trang 38m2 trong đó diện tích nuôi cá rô phi trung bình/hộ nhỏ nhất tại Đầm Hà là 400 m2 và lớn nhất ở Yên Hưng là 20.000 m2 (Bảng 3.5)
Bảng 3.5 Ao nuôi cá rô phi quy mô hộ ở Quảng Ninh
3.2.2.2 Sản lượng nuôi cá rô phi
Theo số liệu tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, tổng sản lượng nuôi cá nước ngọt toàn tỉnh Quảng Ninh năm 2010 là 6277 tấn trong đó sản lượng nuôi rô phi ước tính 4700 tấn chiếm khoảng 74,88% sản lượng nuôi cá nước ngọt
Khảo sát của chúng tôi với tổng số 120 hộ được điều tra tại 4 huyện của tỉnh Quảng Ninh cho thấy tổng sản lượng của các hộ được điều tra là 298,29 tấn trong đó sản lượng trung bình/hộ từ 0,79 ± 0,14 tấn ở Đầm Hà đến 4,07 ± 0,39 tấn ở Đông Triều Sản lượng/hộ thấp nhất ở Đầm Hà là 0,1 tấn và sản lượng/hộ cao nhất ở Đông Triều là 13,00 tấn (Bảng 3.6)
Bảng 3.6 Sản lượng nuôi cá rô phi được điều tra năm 2010
Trang 39phí, công nghệ nuôi vào các vùng này Tại Uông Bí diện tích nuôi thủy sản nói chung và diện tích nuôi cá rô phi nói riêng bị thu hẹp do việc phát triển khu công nghiệp và dịch vụ
vì vậy sản lượng nuôi cá rô phi đạt thấp, tại huyện Đầm Hà do diện tích ao nuôi nhỏ lẻ, nguồn nước phụ thuộc vào thời tiết bởi vậy sản lượng nuôi rất thấp
3.2.2.3 Một số thông số kỹ thuật nuôi
Bảng 3.7 Một số thông số kỹ thuật nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh
(TB ± S.E.; Các chỉ số mũ giống nhau là có sự sai khác có ý nghĩa giữa các nhân tố, các chỉ
số mũ giống nhau là không khác nhau có ý nghĩa)
* Mật độ thả
Theo kết quả điều tra, mật độ thả tại các ao nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh từ 1-
3 con/m2, mật độ thả trung bình tại các ao nuôi đạt 1,84 ± 0.03 con/m2, trong đó mật
độ giống thả tại Đông Triều cao nhất với 2,27c ± 0,07 con/m2 khác biệt với mật độ thả giống ở các huyện nghiên cứu khác (a=0,05) Mật độ thả giống thấp nhất ở Đầm Hà (1,48a ± 0,09 con/m2) và Yên Hưng (1,71a ± 0,05 con/m2) khác biệt so với mật độ thả giống ở Uông Bí (1,88b ± 0,05 con/m2) Thông qua mật độ thả giống cá rô phi tại các huyện thị điều tra phần nào đánh giá công nghệ nuôi tại các huyện thị
* Kích cỡ giống thả
Qua số liệu điều tra cho thấy các hộ nuôi cá rô phi thả giống cỡ từ 3-7 cm/con, phổ biến từ 4-6 cm/con, kích cỡ thả trung bình là 5,21 ± 0,42 cm/con Qua so sánh trung bình kích cỡ giống thả ở các huyện nghiên cứu cho thấy kích cỡ giống thả ở huyện Đầm Hà lớn nhất (6,20b ± 0,37 cm/con) khác biệt so với kích cỡ giống thả ở huyện Yên Hưng (4,93a ± 0,28cm/con), Uông Bí (4,47a ± 1,16 cm/con) và Đông Triều (5,24a ± 0,15 cm/con) ở mức ý nghĩa 0,05