Do vậy, việc nghiên cứu để đánh giá mức độ và chủng loại virus cảm nhiễm ở đàn tôm mẹ trong các trại tôm giống tại Quảng Nam và thử nghiệm các biện pháp nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm viru
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CẢM NHIỄM MỘT SỐ LOẠI VIRUT Ở ĐÀN TÔM SÚ( Penaeus monodon fabricius, 1978) BỐ MẸ TẠI QUẢNG NAM VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIÊN PHÁP NHẰM NGĂN CHẶN SỰ LÂY NHIỄM VIRUT TỪ TÔM MẸ SANG ĐÀN ẤU TRÙNG
Học viên thực hiện: Hoàng Thị Kim yến
GVHD: PGS TS Đỗ Thị Hòa
Nha trang, năm
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi thực hiện trong khoá học cao học Nuôi trồng thuỷ sản 2004-2008 Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoàng Thị Kim Yến
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô, các anh chị trường Đại học Nha trang, Sở Thuỷ sản (Nay là Sở NN&PTNT Quảng Nam), Chi cục Thuỷ sản, các trại sản xuất tôm sú giống tại Quảng Nam đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia khoá học và thực hiện đề tài này
Sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được dành cho cô giáo, Tiến sĩ Đỗ Thị Hoà đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng gửi lời cám ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian vừa qua, đặc biệt là sự chia sẻ từ gia đình nhỏ của tôi
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Thuật ngữ và các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Phần 1 TỔNG QUAN I Tình hình nghiên cứu bệnh virus ở tôm he (Penaeus.sp) trên thế giới 3
1 Bệnh MBV 3
2 Bệnh virus đốm trắng 5
3 Bệnh gan tụy do Parvovirus 8
4 Bệnh đầu vàng (YHD) 9
II Nghề nuôi tôm sú, bệnh và nghiên cứu bệnh virus trên tôm sú ở Việt Nam 10
1.Nghề sản xuất tôm sú giống và nuôi tôm thương phẩm ở Việt Nam 10
1.1 Nghề sản xuất tôm sú giống ở Việt Nam 10
1.2 Nuôi tôm thương phẩm tại Việt Nam 11
2 Nuôi tôm thương phẩm tại Quảng Nam 12
3 Các nghiên cứu về bệnh ở tôm sú nuôi tại Việt Nam………13
III Một số nghiên cứu về biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm mầm bệnh từ tôm bố mẹ sang đàn ấu trùng 16
Phần 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 18
1 Đối tượng nghiên cứu 18
2 Thời gian nghiên cứu 18
3 Địa điểm nghiên cứu 18
II Sơ đồ khối nghiên cứu 19
III Phương pháp nghiên cứu 20
Trang 6III.1 Thu mẫu và các thông tin có liên quan 20
III.1.1 Thu mẫu 20
III.1.2 Thu thập các thông tin có liên quan đến hiện trạng nghề sản xuất tôm sú giống ở Quảng Nam 20
III.1.3 Cố định mẫu 20
III.2 Các phương pháp nghiên cứu đã áp dụng 21
III.2.1 Phương pháp kiểm tra nhanh 21
III.2.2 Phương pháp kiểm tra phân tôm bố mẹ 21
III.2.3 Phương pháp mô bệnh học 21
III.2.4 Phương pháp PCR 23
III.3 Các phương pháp bố trí thí nghiệm áp dụng biện pháp ngăn chặn sự lây nhiễm virus từ tôm mẹ sang đàn ấu trùng 25
III.4 Bố trí thí nghiệm để kiểm tra khả năng lây nhiễm virus MBV của các tôm sú đực và cái khi nhốt chung nhau trong một dụng cụ 29
III.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
III.5.1 Xác định tỷ lệ cảm nhiễm virus 30
III 5.2 Xác định cường độ nhiễm 30
III.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I Hiện trạng nghề sản xuất tôm sú giống và mức độ cảm nhiễm virus ở đàn postlarvae tôm sú sản xuất tại Quảng Nam 32
I.1 Hiện trạng nghề sản xuất tôm sú giống tại Quảng Nam 32
I.1.1 Thông tin chung 32
I.1.2 Tình hình sản xuất tôm sú giống tại Quảng Nam trong 10 năm 32
I.2 Mức độ cảm nhiễm các loại virus ở đàn postlarvae của tôm sú sản xuất tại Quảng Nam 34
II Mức độ cảm nhiễm virus WSSV, MBV, HPV ở đàn tôm sú bố mẹ tại Quảng Nam 36
III Kiểm tra mức độ cảm nhiễm virus MBV ở tôm sú bố mẹ bằng các phương pháp khác nhau 39
Trang 7IV Kết quả thực nghiệm áp dụng các biện pháp ngăn ngừa sự lây nhiễm virus
từ mẹ sang đàn ấu trùng 44 IV.1 Đánh giá hiệu quả của biện pháp kiểm tra WSSV ở tôm mẹ trước khi cho tham gia sinh sản nhằm sản xuất ra đàn postlarvae không nhiễm virus WSSV 44 IV.2 Hiệu quả các biện pháp ngăn ngừa sự lây nhiễm MBV từ tôm mẹ sang đàn ấu trùng 44 IV.3 Thí nghiệm kiểm tra khả năng lây nhiễm virus MBV từ con tôm sú bố,
mẹ khi nhốt chung nhau trong một dụng cụ 50
Phần 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
I Kết luận 52
II Đề xuất ý kiến 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Số trại sản xuất tôm giống ở Việt Nam từ năm 2000 – 2006 11
2 Diện tích, sản lượng nuôi tôm ở Việt Nam 2000-2006 12
3 Diện tích, sản lượng nuôi tôm tại Quảng Nam từ 2000-2006 12
4 Tình hình sản xuất tôm sú giống tại Quảng Nam 33
5 Mức độ cảm nhiễm các loại virus ở đàn postlarvae của tôm
sú sản xuất tại Quảng Nam
34
6 Tần số gặp nhiễm virus ở tôm ♂ và tôm ♀ đưa vào kiểm tra 37
7 Tỷ lệ cảm nhiễm (%) virus WSSV, MBV, HPV ở tôm sú bố
mẹ tại Quảng Nam
37
8 So sánh tỷ lệ nhiễm MBV trên tôm sú bố mẹ tại Quảng Nam
với hai phương pháp: mô bệnh học và soi phân
40
9 Sự cảm nhiễm WSSV của postlarvae ở các bể thí nghiệm 44
10 Kết quả của phương pháp kiểm tra phân tôm mẹ trước khi
cho tham gia sinh sản
45
11 Mức độ nhiễm MBV của postlarvae trong thí nghiệm rửa
Nauplius bằng hóa chất
47
12 Kết quả thí nghiệm theo dõi sự lây nhiễm MBV theo trục
ngang giữa những con tôm sú bố, mẹ
50
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
2 Các bước tiến hành của phương pháp mô bệnh học 23
4 Thí nghiệm kiểm tra WSSV trên tôm sú bố mẹ trước khi cho
tham gia sinh sản
26
5 Thí nghiệm kiểm tra MBV trong phân tôm mẹ trước khi cho
tham gia sinh sản
27
6 Thí nghiệm rửa nauplius trước khi đưa vào ương nuôi 28
7 Thí nghiệm kiểm tra khả năng lây lan MBV theo trục ngang
giữa các con tôm bố, mẹ được nuôi chung trong một dụng cụ
14 Gan postlarvae của tôm sú bị nhiễm MBV (Mẫu gan được
nhuộm bằng MG và quan sát dưới kính hiển vi ở độ phóng
đại 400X)
49
Trang 11MỞ ĐẦU
Ngành NTTS đang ngày càng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Quốc gia, nó không chỉ mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước mà còn góp phần đáng kể vào sự thành công của công tác giảm nghèo, làm thay đổi đời sống dân cư các vùng miền núi và ven biển Trong nuôi thuỷ sản, nuôi tôm là một trong những nghề phát triển mạnh nhất Khâu đầu tiên quyết định
sự tồn tại và phát triển của nghề nuôi tôm công nghiệp là sản xuất nhân tạo tôm sú giống Bắt đầu từ năm 1998, khi các nhà khoa học cho tôm sú đẻ nhân tạo thành công tại miền Trung, thì nghề nuôi tôm mới thật sự phát triển và phát triển rất nhanh Hàng nghìn trại sản xuất tôm sú giống đã được xây dựng dọc bờ biển miền Trung, nhiều hecta mặt nước ven biển được đưa vào nuôi tôm thương phẩm Tuy nhiên, dịch bệnh liên tiếp xảy ra đã làm cho năng suất, sản lượng tôm giống và tôm thịt ở khu vực này giảm sút mạnh trong những năm gần đây
Yếu tố đầu tiên và quan trọng gây bệnh cho động vật thủy sản là sự có mặt của tác nhân gây bệnh trong hệ thống nuôi thủy sản Trong các trại giống
và ao nuôi thương phẩm, tác nhân gây bệnh là virus gây nhiều loại bệnh nguy hiểm khác nhau Có những virus gây tác hại cho ấu trùng tôm như virus MBV, BMN, nhưng cũng có nhiều virus nhiễm vào tôm từ giai đoạn ấu trùng,
do lây nhiễm theo trục dọc – từ mẹ sang con, nhưng lại phát bệnh ở giai đoạn tôm sú nuôi thương phẩm, như virus WSSV, YHV, HPV,… Hầu hết các virus gây bệnh ở tôm sú đều có thể lây nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp từ tôm
mẹ sang con Do vậy, việc nghiên cứu để đánh giá mức độ và chủng loại virus cảm nhiễm ở đàn tôm mẹ trong các trại tôm giống tại Quảng Nam và thử nghiệm các biện pháp nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm virus này từ mẹ sang con, là giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng tôm sú giống sản xuất tại địa phương và góp phần hạn chế dịch bệnh do virus gây ra ở các ao nuôi thương phẩm
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ ngành nuôi trồng thủy sản, chúng tôi được nhà trường và khoa nuôi
Trang 12trồng thủy sản cho phép thực hiện đề tài: “ Đánh giá mức độ cảm nhiễm một
số loại virus ở đàn tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) bố mẹ tại
Quảng Nam và thử nghiệm một số biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm virus từ tôm mẹ sang đàn ấu trùng” Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:
1 Tìm hiểu hiện trạng nghề sản xuất tôm sú và các loài virus cảm nhiễm ở đàn postlarvae tôm sú sản xuất tại Quảng Nam
2 Nghiên cứu sự cảm nhiễm virus WSSV, MBV, HPV trên đàn tôm sú
bố mẹ tại Quảng Nam
3 Thử nghiệm một số biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm virus từ tôm mẹ sang đàn ấu trùng
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng rằng kết quả thu được sẽ là cơ sở khoa học cho các biện pháp kỹ thuật để các trại sản xuất tôm
sú giống của Quảng Nam có thể đưa ra thị trường đàn tôm sú giống khỏe mạnh, không hoặc ít mang tác nhân gây bệnh nguy hiểm như virus, góp phần giảm thiểu các bệnh dịch trong nuôi thương phẩm
Trang 13Phần 1 TỔNG LUẬN
I Tình hình nghiên cứu bệnh virus ở tôm sú (Penaeus
Monodon ) trên thế giới:
Tôm sú (Penaeus monodon) được nuôi phổ biến ở rất nhiều quốc gia
trên thế giới, tập trung nhiều ở khu vực Châu Á và Nam Mỹ Đây chính là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao Trên tôm sú nuôi có thể bị nhiễm nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau: virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng Trong đó virus luôn là tác nhân có thể gây ra nhiều loại bệnh nguy hiểm khác nhau Một số bệnh virus thường gặp trên tôm sú:
1 Bệnh Monodon Type baculovirus (MBV):
Khi nói đến bệnh do virus gây ra cho tôm he nuôi, không thể không nói đến bệnh MBV Bệnh MBV có thể tìm thấy trong hầu hết các thông báo bệnh tôm ở các nước trên thế giới MBV có mặt trong phần lớn các trang trại nuôi tôm ở Châu Á như: Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Singapore, Thái Lan,
Indonesia … và có thể cảm nhiễm trên nhiều loài tôm khác nhau: P monodon, P merguiensis, P indicus, P semisulcatus, P penicillatus, P.vanamei… Tuy nhiên chỉ có tôm sú (P.monodon) thường bị nhiễm cao và
phổ biến nhất
Virus MBV có thể cảm nhiễm ở các giai đoạn khác nhau của tôm nuôi
và bắt đầu từ giai đoạn zoea 2 Dấu hiệu chính của bệnh thể hiện đặc thù nhất
ở giai đoạn postlarvae, khi tôm bị nhiễm MBV nhẹ, các dấu hiệu lâm sàng không rõ ràng, khi bị nhiễm nặng, tôm có dấu hiệu yếu, bỏ ăn, bơi lội lờ đờ,
cơ thể đổi màu xanh lơ hay xanh đen, sinh trưởng chậm, chuyển giai đoạn không đồng đều [23]
Tôm thịt khi bị nhiễm MBV, thường chết rải rác, cơ thể có màu đen tối, kém ăn, còi cọc, chậm lớn, chu kì lột xác kéo dài, mang và bề mặt cơ thể bị cảm nhiễm rất nhiều các tác nhân cơ hội như: vi khuẩn dạng sợi, động vật đơn
Trang 14bào (protozoa), tảo đơn hay đa bào và các tác nhân khác, sau 3 đến 4 tháng nuôi, tôm vẫn có kích thước rất nhỏ, người ta thường gọi là “tôm kim” Ngoài
ra nhiều tác giả còn cho rằng, MBV có thể làm cơ thể tôm yếu đi và mẫm cảm hơn với các mầm bệnh nguy hiểm khác như vi khuẩn vibrio, virus đốm trắng, gây tỷ lệ chết cao trong quần đàn
Tôm sú bố mẹ cũng có thể nhiễm MBV, nhưng tác hại trên tôm mẹ không rõ ràng Nhìn hình thức bên ngoài rất khó xác định tôm mẹ có nhiễm MBV hay không, nên nguy cơ đưa tôm mẹ có MBV (+) vào tham gia sinh sản nhân tạo trong các trại giống là rất cao Các con tôm mẹ có MBV (+) chắc chắn sẽ tạo ra những đàn postlarvae bị dương tính với MBV Mức độ nhiễm MBV nặng hay nhẹ của tôm mẹ, có quan hệ chặt chẽ với mức độ nhiễm MBV cao hay thấp ở đàn tôm ấu trùng
Năm 1999, Liao đã thông báo rằng quần đàn tôm mẹ bắt từ biển của Đài Loan, năm 1987 nhiễm MBV 33%, đến năm 1989 nhiễm 100%, thường gặp nhiễm 85% Natividad 1992, cho biết ở Philippines đến năm 1992 rất khó tìm được một đàn postlarvae của tôm sú không nhiễm MBV [3]
Tại Việt Nam, phòng bệnh học của Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản III,
đã phát hiện 30/54 (chiếm tỷ lệ 68%) mẫu kiểm tra tôm bố mẹ nhiễm MBV, với mẫu postlarvae bị nhiễm là 40,5% (nguồn VietNamNet, cập nhật 05/12/2003)
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ nhiễm MBV và tác hại của bệnh này đối với điều kiện sống của tôm, Chanratchakool (1994) đã cho rằng: Những đàn tôm bị nhiễm MBV nếu được sống trong môi trường thuận lợi và
ổn định, thì hầu như tác hại không đáng kể, nhưng khi gặp điều kiện môi trường không ổn định, tôm bị stress thì có thể kích thích MBV tăng cường mức độ cảm nhiễm và gây ra dịch bệnh [18]
MBV còn có thể lây lan theo trục ngang Nếu tôm mẹ (+) với MBV nhưng trứng và giai đoạn nauplius lại (-) với virus này Điều này cho thấy không có sự lây nhiễm MBV theo trục dọc như đúng với nghĩa của từ này Tuy vậy, virus từ tôm mẹ được thải ra bể đẻ, theo phân rồi cảm nhiễm vào đàn ấu trùng qua con đường tiêu hóa, khi ấu trùng sử dụng thức ăn từ môi
Trang 15trường ngoài Do vậy, đến giai đoạn zoea 2, ấu trùng của các con tôm mẹ (+) với MBV mới thể hiện kết quả (+) với virus này [14,16]
Ngày nay, bệnh MBV đã và đang được nghiên cứu ở nhiều quốc gia, hàng loạt các thông báo về kết quả nghiên cứu đã được công bố Các phương pháp chuẩn đoán sự nhiễm MBV trên tôm ở mức độ hiện đại như: phương pháp dùng kính hiển vi điện tử, phương pháp thăm dò gen, phương pháp kiểm tra kháng thể của virus Ngoài ra với MBV, do đặc tính của nhóm virus có tồn tại thể ẩn, nên phương pháp nhuộm màu gan tôm ép tươi bằng malachite green và phương pháp mô học, cho phép chẩn đoán chính xác sự cảm nhiễm của MBV trong các tế bào gan tụy của tôm, thông qua việc phát hiện sự tồn tại của các thể ẩn trong mẫu nghiên cứu Tuy vậy, hai phương pháp này dù sao cũng còn một số hạn chế đó là không thể phát hiện chính xác khi tôm bị nhiễm virus ở giai đoạn đầu tiên, chưa hình thành thể ẩn (occulusion body) Nhưng phương pháp này phù hợp cho việc nghiên cứu bệnh MBV ở các phòng thí nghiệm thô sơ của các quốc gia nghèo (D.lighner, 1996) [23]
2 Bệnh virus đốm trắng (White spot Baculovirus-WSBV):
Virus này có nhiều tên gọi khác nhau: WSBV (White spot Baculovirus- Bệnh đốm trắng do Baculovirus), WSSV (White spot syndrome- Hội chứng đốm trắng) hay SEMBV (Systemic Ectodemal and Mesodermal Baculovirus)
Đây là loại virus có độc lực lớn, hầu hết các loài tôm he đều có thể nhiễm bệnh này Các thông báo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho
thấy, tôm sú (Penaeus monodon) và tôm he Nhật Bản (P japonicus) chịu tác
hại rất lớn về bệnh này [3]
Kết quả nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và phân tử của virus cho thấy, virus đốm trắng cũng là virus chứa ADN, bộ gen mạch đôi dạng vòng, có dạng hình que hai đầu tròn, kích thước lớn 300x100nm Dựa trên sự phân tích gen và hình thái học của virus này mà Wang el al (1995) và Wongteerasirpaya
et al (1995) đã phân loại virus WSSV thuộc nhóm Baculovirus không hình thành thể ẩn Tuy vậy, kỹ thuật phân tích trình tự ADN của WSSV những năm gần đây đã không ủng hộ luận điểm cho rằng, tác nhân gây bệnh đốm
Trang 16trắng ở tôm he là Baculovirus, mà họ cho rằng là một loại virus mới có axit nucleic là DNA thuộc họ Nimaviridae (Van Hulten, 2001) [3]
Tôm he bị bệnh đốm trắng, thường thể hiện dấu hiệu khả năng tiêu thụ thức ăn giảm sút rõ ràng, cá biệt có trường hợp tăng cường độ bắt mồi hơn bình thường, sau vài ngày mới có hiện tượng bỏ ăn Tôm bệnh có thể chuyển sang màu hồng đỏ Hiện tượng tôm chết có thể xảy ra ngay sau đó, tỷ lệ chết cao, có thể tới 90-100% trong vòng 3-7 ngày
Khi tôm bị bệnh WSSV, trong mô của một số cơ quan như mang, dạ dày, biểu mô dưới vỏ kitin, cơ quan tạo máu … có những biến đổi đặc thù Những tế bào bị nhiễm virus thể hiện sự hơi phình to của nhân tế bào, trong
đó chứa duy nhất một thể vùi (Inclusion bodies), hình cầu, hoặc hình trứng bắt màu hồng tím của Hematoxylin Khi bệnh nặng, các thể vùi thường chiếm hết thể tích của nhân tế bào phình to
Sự lan truyền của WSSV theo cả hai trục ngang và dọc, nhưng lây nhiễm rất mạnh theo trục ngang Virus này có thể lây nhiễm trên hầu hết các loại giáp xác Người ta đã phát hiện virus này tồn tại trong tuyến sinh dục của tôm mẹ, nên có thể lây nhiễm trực tiếp từ mẹ sang đàn ấu trùng [3]
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của WSSV cho thấy, virus đốm trắng không tồn tại trong môi trường nước quá 3-4 ngày, do đó giáp xác hoang dã được xem như là vật trung gian truyền bệnh qua các mùa vụ Như vậy con đường nguy hiểm nhất truyền bệnh vào ao nuôi là những loài tôm hoang dã và các loài giáp xác khác mang mầm bệnh [13]
Sự bùng phát của bệnh WSSV ở tôm nuôi, phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu thời tiết và môi trường ao nuôi Những nhân tố có thể gây sốc (stress) cho tôm nuôi: mật độ nuôi cao, các chỉ số môi trường như nhiệt độ, pH, độ mặn, N-NH3 của nước ao có sự biến động lớn vượt ra ngoài ngưỡng sinh thái thích hợp của tôm, đều có thể là điều kiện cho sự bùng phát của bệnh Vào mùa có nhiệt độ thấp, từ tháng 10-11 năm trước kéo dài đến tháng 2-3 năm sau, thì bệnh thường xảy ra hơn [3] Các nhà khoa học ở Thái Lan còn cho rằng sản phẩm dư thừa của các hoạt động nông nghiệp như hoá chất, thuốc trừ sâu… cũng rất nguy hiểm đối với tôm, là yếu tố thuận lợi cho sự bùng nổ dịch bệnh
Trang 17Do vậy, việc phát hiện các chất này trong ao nuôi tôm ngay cả ở mức độ thấp nhất cũng có tác dụng trong việc phòng ngừa bệnh [21]
Hiện nay chưa có bất cứ một loại thuốc hay hoá chất nào có thể trị được bệnh đốm trắng, cũng như chưa có nghiên cứu nào xác định được rằng, đã có văcxin phòng ngừa được bệnh đốm trắng Khi phát hiện được bệnh, tốt nhất là thu hoạch ngay để giảm bớt thiệt hại
Tuy nhiên, trở ngại của việc quản lý bệnh đốm trắng trong ao nuôi tôm
là không phải lúc nào dấu hiệu bệnh lý của bệnh đốm trắng xuất hiện trên cơ thể tôm cũng có nghĩa là tôm bị nhiễm virus đốm trắng Có một hội chứng dịch bệnh khác xảy ra với dấu hiệu bệnh lý tương tự như bệnh đốm trắng được phát hiện và báo cáo, đó là “Hội chứng đốm trắng do vi khuẩn” (Bacterial white spot Syndrom – BWSS) (Wang el al 1999, 2000), cho kết quả âm tính với virus WSSV bằng phương pháp PCR Bệnh đốm trắng do vi khuẩn ít gây thiệt hại như dịch bệnh đốm trắng do virus, mặc dù đôi khi nó làm giảm khả năng lột xác và tăng trưởng Khi tôm bị bệnh cũng xuất hiện các đốm trắng ở giáp đầu ngực, khắp cơ thể và thấy được rất rõ khi lột vỏ tôm
ra khỏi cơ thể Các đốm trắng này dày đặc như trong hội chứng dịch bệnh đốm trắng do virus Dưới kính hiển vi điện tử, những đốm thương tổn hiện rõ ràng trông giống như cây địa y màu nâu nhạt, có mép viền quanh, ở giữa là lỗ nhỏ hình thành do bị ăn mòn Dấu hiệu bệnh lý này cũng giống như giai đoạn sớm của dịch bệnh đốm trắng do virus, nên không thể dựa vào đó để làm căn
cứ chẩn đoán bệnh đặc thù Suốt giai đoạn sớm của quá trình nhiễm bệnh, tôm vẫn ăn và hoạt động bình thường, các đốm trắng có thể mất đi Tuy nhiên trong giai đoạn này, tôm sẽ tăng trưởng chậm và chết với một tỷ lệ thấp (Wang el al, 2000) Vi khuẩn gây bệnh đốm trắng chỉ ở trên bề mặt cơ thể tôm, lây nhiễm thông thường qua môi trường nước nuôi trong ao Mặc dù vậy, điều này vẫn chưa được chứng minh bằng các nghiên cứu thực nghiệm
về lây nhiễm Trước đây, người ta dùng phương pháp mô học để phân biệt hai loại bệnh này Ngày nay, người ta kết hợp với phương pháp PCR để chuẩn đoán bệnh
Trang 18Ý nghĩa của mối quan hệ phức tạp này là nên xác định tôm nuôi có bị nhiễm virus hay không trước khi thu hoạch khẩn cấp Mối quan hệ giữa virus
và dấu hiệu bệnh vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu [29]
3 Bệnh gan tụy do Parvovirus (Hepatopancreatic parvovirus disease – HPV)
HPV được xem là một virus đặc thù của tôm he Châu Á, Châu Phi, Châu Úc, bởi nó được phát hiện ở Châu Á và tất cả thông báo về tôm nhiễm HPV đều xuất phát từ khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Đến nay, loài virus này đã xuất hiện trên phạm vi toàn thế giới
Một số loài tôm he có thể bị nhiễm loại bệnh này, trong đó các loài chủ
đạo được nuôi nhiều nơi trên thế giới: P.monodon, P Japonicus, P merguiensis, P vannamei, P indicus [3]
Theo Donald V Lighner (1996), khi nghiên cứu mức độ nhiễm HPV của 4 trại giống ở Singapore, cho thấy mức độ nhiễm rất cao (>50%) gặp ở hai trại sản xuất postlarvae bằng cách cho tôm mẹ sinh sản trong điều kiện nhân tạo Ngược lại, mức độ nhiễm rất thấp ở hai trại ương tôm vớt giống từ
tự nhiên theo thủy triều (<15%) Điều đó cho thấy HPV chủ yếu lây truyền theo trục dọc từ bố mẹ sang con HPV có lây nhiễm treo trục ngang, từ con này sang con khác nhưng không phải là chủ yếu
Khi tôm bị nhiễm HPV có một số dấu hiệu riêng biệt: gan teo, có màu trắng nhợt, sinh trưởng chậm, kém ăn, giảm hoạt động và tăng sinh vật cơ hội bám trên mang và trên cơ thể, làm đục cơ [3]
Tác hại của virus HPV tới tôm nuôi rất khác nhau từ các nguồn tài liệu
Có thông báo cho rằng HPV có thể gây chết ở giai đoạn tôm ấu niên (Juvenile), với tỷ lệ chết tích lũy có thể lên 50-100% trong một tháng đầu ở ao nuôi tôm thịt Lại có thông báo cho rằng, HPV có tác hại gây hiện tượng còi, chậm lớn ở tôm nuôi, có mối quan hệ chặc chẽ giữa mức độ nhiễm HPV và sinh trưởng của tôm ở những tháng đầu trong ao nuôi tôm thịt Ngày nay, người ta biết rằng HPV và MBV là virus gây bệnh trên gan tụy, phổ biến ở các loài tôm he nuôi, không hoặc ít gây chết tôm nhưng làm tôm chậm lớn, trong đó HPV gây bệnh chậm lớn nặng hơn MBV[25]
Trang 19Khi kiểm tra mức độ cảm nhiễm MBV bằng phương pháp mô học với thuốc nhuộm Hematoxylin và Eosin cũng phát hiện được một số thể vùi rất đặc thù của HPV Đặc biệt trong vài năm gần đây tại Việt Nam xuất hiện hội chứng teo gan xảy ra ở tôm sú thương phẩm vào mùa có nhiệt độ cao, có một vài mẫu trong số nhiều mẫu tôm bị bệnh teo gan đã thu được, cho thấy sự nhiễm HPV ở cường độ cao Đây là vấn đề cần được nghiên cứu tiếp theo
Người ta có nhiều phương pháp để chuẩn đoán chính xác sự nhiễm HPV trên tôm he, đó là có thể dựa vào dấu hiệu bệnh lý, lý lịch nguồn gốc của đàn tôm để chuẩn đoán Trên lát cắt mô gan tụy, sự nhiễm HPV thể hiện bằng
sự tồn tại của một thể vùi (Inclusion body) trong nhân tế bào gan tụy phình to Nhuộm nhanh trên mô ép tươi gan tụy tôm với thuốc nhuộm giemsa, có khả năng chuẩn đoán khá cao sự nhiễm HPV, nhưng chỉ ≤ 50% so với phương pháp mô học khi tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm thấp [3]
4 Bệnh virus đầu vàng (Yellow head disease-YHV):
Dựa vào dấu hiệu tôm khi bị bệnh, người ta đã gọi bệnh này bằng một
số tên như: bệnh đầu vàng (Yellow head disease -YHD), bệnh vàng đầu do virus (Yellow head virus disease – YHVD)
Những nghiên cứu trước đây cho rằng, gây bệnh YHV ở tôm he là virus Rhabdovirus thuộc họ Rhabdovidae, có axit Nucleic là ARN Nhưng trong những nghiên cứu gần đây lại cho rằng YHV là một virus thuộc họ Coronaviridae, có axit nucleic là sợi đơn ARN, có dạng hình que
YHV có sự phân bố rộng, liên quan tới các quốc gia có nuôi tôm sú
(P.monodon), nhưng cho đến nay bệnh này mới được nghiên cứu ở Thái Lan
(P.J Walker, 2000) Theo Lightner 1996, bệnh này xuất hiện ở Thái Lan năm
1990 trong các ao nuôi tôm thâm canh Tuy vậy người ta còn cho rằng rất có thể bệnh này đã xảy ra sớm hơn và gây ra dịch chết tôm nghiêm trọng ở Đài Loan 1987-1989 [3]
Tôm bị bệnh YHV, thể hiện khả năng tiêu thụ thức ăn tăng lên trong một vài ngày, sau đó một số lớn tôm trong ao dừng ăn Ngày thứ nhất, một số con lờ đờ hôn mê bơi trên tầng mặt gần bờ ao Những con tôm này có phần đầu ngực màu vàng Sang ngày thứ hai, số tôm bị bệnh tăng lên Từ ngày thứ
Trang 20ba, từ khi dừng ăn hiện tượng chết bắt đầu và cuối cùng có thể chết 100% sau 7-10 ngày Những con tôm nhiễm YHV đã hôn mê cho thấy màu sắc cơ thể nhợt nhạt, giáp đầu ngực phồng lên và có màu vàng Mang tôm bệnh có màu trắng, vàng nhạt hay nâu và gan có màu vàng nhợt [3] Ở Thái Lan, tôm lờ đờ thu được ở ao bị bệnh đầu vàng nhưng không có biểu hiện màu vàng ở phần đầu ngực, cho thấy cơ quan bạch huyết của tôm bệnh không bình thường, tế bào nhân phình to, nhiễm sắc thể cô đặc Các tế bào mô liên kết của gan tụy, ruột giữa, mô tim, mô tạo máu cũng có dấu hiệu như trên
YHV có thể cảm nhiễm ở tất cả các giai đoạn khác nhau của tôm sú: tôm mẹ, tôm ấu trùng, hậu ấu trùng, tôm giống, tôm thịt Nhưng bệnh thường xảy ra và gây thiệt hại đối với tôm khoảng 2 tháng tuổi, trong điều kiện môi trường xấu và ở những vùng có mật độ ao và trại sản xuất giống cao
Virus này có thể lây nhiễm theo 2 trục: trục ngang và trục dọc Sự lây nhiễm theo trục ngang do tôm khỏe tiếp xúc với con tôm bị bệnh hoặc do hiện tượng ăn thịt lẫn nhau giữa con tôm khỏe ăn con tôm bị bệnh
II NGHỀ NUÔI TÔM SÚ, BỆNH VÀ NGHIÊN CỨU BỆNH VIRUS TRÊN TÔM SÚ Ở VIỆT NAM:
1 Nghề sản xuất tôm sú giống và nuôi tôm thương phẩm ở Việt Nam:
1.1 Nghề sản xuất tôm sú giống ở Việt Nam:
Sự bứt phá của công nghệ sản xuất giống tôm nhân tạo đã tạo tiền đề và
có ảnh hưởng quyết định đến phát triển công nghiệp nuôi tôm ở Việt Nam Phạm Khánh Ly (1999) cho biết, vào những năm 70 của thế kỷ XX, Việt Nam
đã sản xuất thành công giống nhân tạo một số loài tôm như tôm he mùa
(Panaeus merguiensis), tôm he vằn (P semisulcatus), tôm he Nhật Bản (P japonicus), nhưng việc ương nuôi vẫn còn gặp nhiều khó khăn Đến thập kỷ
80, kỹ thuật sản xuất nhân tạo giống tôm sú, du nhập từ Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, được cải tiến và áp dụng thành công ở Việt Nam Nơi phát triển sản xuất giống tôm sú nhân tạo sớm nhất ở Việt Nam là vùng Nam Trung bộ, đặc biệt là tỉnh Khánh Hoà Từ Khánh Hoà, công nghệ sản xuất giống tôm sú được chuyển giao cho các tỉnh khác như Đà Nẵng và các tỉnh phía Nam Năm
Trang 211998, cả nước có 2.086 trại tôm giống và sản xuất được 6,6 tỷ tôm PL15 Đến năm 2004, cả nước có hơn 5.500 trại tôm giống, nhưng vẫn tập trung chủ yếu
ở miền Trung và miền Nam với sản lượng đạt 26 tỷ tôm PL15
Bảng 1: Số trại sản xuất tôm giống ở Việt Nam từ năm 2000 – 2006
(Nguồn Báo cáo của Bộ Thuỷ sản năm 2000- 2006)
Năm Chỉ tiêu
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Số trại giống 2.936 3.777 4.768 5.017 5.594 5.017 4.863 Sản lượng
(triệu con)
10.750 16.000 19.053 25.170 26.000 25.170 21.637
Số trại và sản lượng tôm giống ở Việt Nam tăng từ năm 2000 đến 2004, nhưng bắt đầu giảm từ năm 2005 Nguyên nhân là do cung đã vượt quá cầu, dịch bệnh trên tôm sú nuôi thương phẩm đã làm người nuôi thua lỗ kéo dài
không còn khả năng đầu tư, từ đó sản lượng tôm giống cũng giảm theo
1.2 Nuôi tôm thương phẩm tại Việt Nam:
Nuôi tôm thương phẩm tại Việt Nam đã phát triển mạnh vào những năm đầu thuộc thập kỷ 90 của thế kỷ trước Các yếu tố quan trọng chi phối sự phát triển nghề nuôi tôm trong thời kỳ này gồm: du nhập và cải tiến thành công công nghệ sản xuất giống tôm nhân tạo, công nghệ nuôi thương phẩm, nhu cầu tôm thương phẩm trên thị trường thế giới tăng cao và các chính sách đổi mới kinh tế của Chính phủ Tuy nhiên, sự bùng nổ của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu vào năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi tôm đã tăng từ 250.000 ha năm 2000 lên đến trên 472.000 ha năm 2001 và trên 540.000 ha năm 2003 Theo số liệu hiện có, Việt Nam là nước có diện tích nuôi tôm vào loại lớn trên thế giới, vượt xa Inđônêxia, nước có diện tích nuôi tôm lớn nhất vào năm 1996, khoảng 360.000 ha (Hanafi và T Ahmad, 1999) Phần lớn diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, rải rác
Trang 22dọc các cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở đồng bằng sông
Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc
Bảng 2: Diện tích, sản lượng nuôi tôm ở Việt Nam 2000-2006
(Nguồn: báo cáo của Bộ Thuỷ sản năm 2000 - 2006 )
Năm Chỉ tiêu
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Diện tích (ha) 235.497 472.427 478.785 546.757 591.247 643.437 674.372 Sản lượng
suất tôm nuôi bình quân của Việt Nam vẫn còn rất thấp
2 Nuôi tôm thương phẩm tại Quảng Nam:
Tại Quảng Nam, nuôi tôm thương phẩm phát triển từ năm 1998 Trải qua hơn 10 năm, nghề nuôi tôm đã có những bước phát triển đáng kể cả về diện tích, sản lượng
Bảng 3: Diện tích, sản lượng nuôi tôm tại Quảng Nam từ 2000-2006
(Nguồn Báo cáo Sở Thủy sản Quảng Nam từ năm 2000-2006)
Năm Chỉ tiêu
(tấn/ha)
Trang 23Từ năm 2000-2006, tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam không ngừng gia tăng diện tích và sản lượng Tuy nhiên diện tích nuôi tôm đã bắt đầu giảm vào năm 2006 Nguyên nhân là do một số diện tích bị thu hồi để làm khu du lịch, khu công nghiệp của tỉnh, nhưng cũng có một số diện tích bị bỏ hoang do dịch bệnh liên tiếp, người dân thua lỗ không còn khả năng đầu tư Mặc dù diện tích, sản lượng tăng từ năm 2000-2005, song năng suất nuôi không ổn định và thậm chí là giảm sút mạnh vào năm 2003 Nguyên nhân là do vào năm 2003, người nuôi tăng mạnh mật độ từ 10 con/m2 lên 20 con/m2, thả tôm giống trước lịch thời vụ, thời tiết không thuận lợi, trong khi
đó đầu tư cơ sở vật chất, công trình ao nuôi chưa tương xứng, trình độ quản lý còn thấp kém, nên dẫn đến dịch bệnh đốm trắng xảy ra, lây lan nhanh, làm sản lượng, năng suất nuôi giảm mạnh vào năm này
Tại Quảng Nam, hình thức nuôi tôm chủ yếu vẫn là quảng canh cải tiến, mật độ nuôi thưa (5-10 con/m2), trình độ kỹ thuật của người nuôi còn thấp, nên so với các tỉnh miền Trung thì năng suất nuôi tôm của Quảng Nam còn ở mức thấp Năng suất nuôi tôm của Đà Nẵng là 1,65 tấn/ ha (năm 2003) [13], của Khánh Hòa là 3 tấn/ha (báo cáo của Chi cục BVNLTS tỉnh Khánh Hòa năm 2003)
3 Các nghiên cứu về bệnh ở tôm sú nuôi tại Việt Nam:
Câu hỏi “tại sao tôm chết?” bắt đầu được đưa ra từ năm 1994, khi đợt dịch bệnh đầu tiên xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu long Lúc ấy, nhiều vấn đề còn rất bỡ ngỡ với cả người nông dân, nhà khoa học cũng như các nhà quản
lý Đến nay đã hơn 10 năm, nghề NTTS đã có những bước tiến đáng kể Hiểu biết của nông dân đã khá đầy đủ về sinh học và kỹ thuật nuôi tôm sú Tại các tỉnh, nhà nước đã đầu tư phòng thí nghiệm để có thể giúp nông dân kiểm định, phân tích môi trường, cũng như chuẩn đoán bệnh tôm Thế nhưng tôm nuôi vẫn có thời điểm chết hàng loạt Đầu năm 2001 được coi là “đại dịch tôm sú”
ở Đồng bằng sông Cửu long Tại các vùng mới chuyển đổi đã có 20.854 ha bị thiệt hại, một số vùng ở Cà Mau thiệt hại tới 80% diện tích nuôi tôm (nguồn VietnamNet cập nhật ngày 05/12/2003) Vụ đầu năm 2002, bệnh tôm lại tái diễn ở Đồng bằng sông Cửu Long, nguyên nhân được xác định là do hạ tầng
Trang 24chưa được cải thiện, môi trường nuôi quá xấu Năm 2003, 2004, Miền trung
bị thất bại nặng nề khi Khánh Hoà, Phú Yên, Quảng Nam, Ninh Thuận có hàng nghìn ha tôm bị nhiễm bệnh Nguyên nhân dẫn đến việc tôm chết hàng loạt, được các ngành chức năng xác định là do thời tiết diễn biến phức tạp, nguồn nước bị ô nhiễm nặng, con giống không đạt yêu cầu, người nuôi không tuân thủ lịch thời vụ (nguồn Vietnamnet cập nhật ngày 03/4/2004)
Từ các đợt dịch bệnh tôm nuôi gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người dân, rất nhiều vấn đề được đặt ra cho các nhà khoa học thuỷ sản
Để trả lời các câu hỏi của thực tiễn sản xuất đề ra, một số đề tài nghiên cứu về bệnh tôm sú ở Việt Nam đã được tiến hành:
Công trình nghiên cứu của Hà Ký (1994-1995) Nghiên cứu một số bệnh ở tôm và cá nuôi, trong đó có đề cập tới bệnh phát sáng ở ấu trùng tôm, bệnh đen mang ở tôm thương phẩm, bệnh sinh vật bám và bệnh nấm ở ấu trùng tôm sú
Năm 1996, Nguyễn Việt Thắng với đề tài “Tìm hiểu nguyên nhân gây chết tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long” đã rút ra nhận xét cuối cùng: Tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long bị chết do 2-3 loại virus khác nhau, trong
đó vi khuẩn chỉ là tác nhân cơ hội Tuy nhiên tác giả vẫn chưa xác định được loại virus nào thực chất tham gia vào dịch bệnh [11]
Năm 1996, Đỗ Thị Hoà với đề tài “Nghiên cứu một số bệnh chủ yếu trên tôm sú nuôi ở khu vực Nam trung bộ”, đã phát hiện một số bệnh do nguyên sinh động vật, vi khuẩn, nấm và bệnh MBV trên tôm sú nuôi ở các tỉnh thuộc khu vực này Trong đề tài này, khi nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của MBV tới sức khoẻ của tôm nuôi, tác giả đã nhận định: khi môi trường ao nuôi bị ô nhiễm do trình độ quản lý yếu, nuôi mật độ cao đã tạo điều kiện cho các loại mầm bệnh trong môi trường ao nuôi phát triển và làm cho tôm bị sốc Chính điều kiện này đã kích thích sự phát triển và gây tác hại của MBV đã cảm nhiễm ở gan tụy làm một số tế bào gan tôm bị phá huỷ, sức khoẻ tôm bị yếu, tôm kém ăn, vận động chậm chạp, chu kỳ lột xác kéo dài Đây là cơ hội
để các tác nhân thứ cấp như vi khuẩn, động vật đơn bào … cảm nhiễm trên tôm và gây tác hại tổng hợp, trong đó MBV đóng vai trò nhất định [4]
Trang 25Đề tài “Nghiên cứu bệnh Monodon Type Baculovirus (MBV) trên tôm
sú nuôi tại Khánh Hoà” của Đỗ Thị Hoà và ctv (1997-2000) cho thấy sự cảm nhiễm phổ biến của virus này trên tôm sú ở Khánh Hoà và miền Trung Việt Nam, cảnh báo sự suy giảm về chất lượng tôm giống sản xuất tại địa phương
do tác hại của virus này
Với diện tích nuôi chiếm 70-80% so với cả nước, nghề nuôi tôm ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long cũng đã lao đao nhiều năm với dịch bệnh gây chết hàng loạt xảy ra ở tôm thương phẩm Đề tài “Nghiên cứu một số bệnh nguy hiểm ở tôm sú và tìm hiểu các yếu tố nguy cơ để đưa ra các phương pháp chuẩn đoán, phòng trị bệnh” của tác giả Nguyễn Văn Hảo và ctv (2000-2003), đã đề xuất một số biện pháp phòng bệnh từ các giải pháp cải thiện môi trường, xác định mùa vụ và tăng cường sức khoẻ tôm nuôi [3]
Lý Thị Thanh Loan (2003) cũng đã thông báo kết quả nghiên cứu về tác nhân gây bệnh trên các loài tôm he nuôi ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long, trong đó có tác hại của hai loại virus gây bệnh cho tôm là MBV và WSSV Tỷ lệ nhiễm mầm bệnh WSSV tương quan với yếu tố DO trong môi trường ao nuôi, tỷ lệ nhiễm và tần số xuất hiện cao nhất trong mùa mưa và thời điểm giao mùa cuối mùa mưa đầu mùa khô [5]
Đề tài “Nghiên cứu bệnh virus đốm trắng (WSSV) ở tôm sú
(P.monodon) và đề xuất các biện pháp phòng trị tại Khánh Hoà” của Đỗ Thị
Hoà và ctv (2000-2002) cho thấy tác hại, đặc điểm dịch tễ học và mức độ cảm nhiễm của virus WSSV trên tôm sú nuôi tại Khánh Hoà Đặc biệt tác giả cũng thông báo về sự nhạy cảm của bệnh này dưới những tác động của các nhân tố nguy cơ gây bùng phát bệnh này đó là pH, độ mặn, hàm lượng NH3-N [3]
Tại Đà Nẵng, năm 2004, báo cáo khoa học của đề tài : “ Điều tra một
số bệnh trên tôm sú giống ở Đà Nẵng và đề ra các biện pháp khắc phục” do
Đỗ Thiện Hải và ctv (Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Đà Nẵng) thực hiện, cho thấy tôm sú bố mẹ tại Đà Nẵng có tỷ lệ nhiễm virus WSSV là 6,25% và nhiễm MBV là 37,7% [1]
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh do virus gây ra trên tôm sú
ở Việt Nam, do đặc điểm địa lý và thực trạng nghề nuôi tôm sú của mỗi vùng
Trang 26mà bệnh và mức độ nhiễm mầm bệnh virus thể hiện ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào đối tượng là tôm sú nuôi thương phẩm và postlarvae Các báo cáo về mức độ cảm nhiễm virus trên tôm
sú bố mẹ ở Việt Nam hiện nay chưa nhiều
III MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BIỆN PHÁP NHẰM NGĂN CHẶN SỰ LÂY NHIỄM MẦM BỆNH TỪ TÔM BỐ MẸ SANG ĐÀN
ẤU TRÙNG:
Đàn bố mẹ sử dụng trong sản xuất giống nhân tạo có thể mang nhiều
mầm bệnh, trong đó có những mầm bệnh nguy hiểm, như tôm sú (Penaeus monodon) bố mẹ có thể mang virus đốm trắng (WSBV), virus đầu vàng (YHV), virus MBV; tôm he chân trắng (P.vannamei) có thể mang virus
Taura, virus BP Bằng con đường lây nhiễm theo trục dọc, những đàn bố mẹ mang mầm bệnh có thể tạo ra các đàn ấu trùng mang các mầm bệnh nguy hiểm đó, các bệnh này có hoặc không gây bệnh ở giai đoạn ấu trùng, nhưng
có thể gây bệnh nghiêm trọng trong ao nuôi thương phẩm Do vậy, để có được đàn giống khỏe mạnh và không mang mầm bệnh nguy hiểm, cần thiết có các biện pháp loại bỏ những con tôm bố mẹ và các đàn giống nhiễm mầm bệnh Mục đích này có thể đạt được bằng các biện pháp sau đây:
- Loại bỏ những con tôm bố mẹ mang các tác nhân gây bệnh nguy hiểm bằng phương pháp kiểm tra phân, để loại đi các con tôm sú bố mẹ nhiễm virus MBV ở cường độ cao Bằng phương pháp PCR (Polymerasse Chain Reaction), có thể kiểm tra từ chân bơi, hay một tơ mang để loại đi những tôm
sú bố mẹ nhiễm virus đốm trắng Ngoài ra, trong các trại sản xuất tôm giống, cần nhốt giữ riêng biệt các nguồn tôm cá bố mẹ khác nhau, để tránh sự lây lan mầm bệnh từ con này sang con khác Hoặc cách ly ngay lập tức những con đã xuất hiện dấu hiệu bệnh lý ra khỏi đàn bố mẹ
- Trong các trại tôm giống, có thể áp dụng kỹ thuật rửa trứng hay tắm nauplius bằng thuốc sát trùng, như dùng Formol nồng độ 100-200 ppm trong
30 giây-1 phút, có thể ngăn cản được sự cảm nhiễm các loại mầm bệnh như virus MBV, BP, vi khuẩn phát sáng và nấm từ tôm bố mẹ sang đàn ấu trùng[3]
Trang 27Một số tài liệu nước ngoài của Mỹ, Nhật, Philippin có đưa ra biện pháp giảm thiểu mức độ cảm nhiễm virus MBV ở đàn postlarvae bằng 2 phương pháp: Chọn tôm mẹ (-) với MBV qua kiểm tra phân tôm mẹ, hoặc phương pháp rửa trứng (hay nauplius) bằng các hóa chất sát trùng như Benzalkonium chloride (BKC), hoặc bằng ozon, sau đó chuyển vào bể và ương, ấp bình thường Các tác giả này cũng đã khẳng định rằng, các hóa chất sát trùng này hầu như không ảnh hưởng nhiều tới tỷ lệ nở và chất lượng ấu trùng nhưng lại
có tác dụng làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm MBV ở trường hợp con tôm mẹ có nhiễm MBV [24,27,29]
Năm 1994, Bùi Quang Tề đã nghiên cứu về mức độ nhiễm bệnh MBV trên tôm sú nuôi các tỉnh phía Nam và thông báo tôm sú nuôi ở khu vực này nhiễm MBV khá cao, tôm thịt ở Minh Hải là 50-85,7%, ở Sóc Trăng là 92,8%, tôm giống ở Nha Trang 70-100% Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng để phòng bệnh MBV trên tôm sú giống, một trong những biện pháp cần thiết là kiểm tra MBV trên tôm sú bố mẹ trước khi đưa vào sản xuất (nguồn vietnamnet)
Trong vài năm gần đây, khi trình độ hiểu biết và kinh nghiệm sản xuất của người nông dân được nâng lên thì việc áp dụng qui trình sản xuất hạn chế
sử dụng kháng sinh, áp dụng biện pháp phòng bệnh như tắm nauplius trong sản xuất tôm sú giống nhân tạo đã được người dân mạnh dạn áp dụng Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chưa được thông báo rộng rãi Vì vậy, luận văn này thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của biện pháp áp dụng nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm WSSV, MBV từ tôm mẹ sang đàn ấu trùng
Trang 28Phần 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng nghiên cứu:
Virus WSSV, MBV, HPV cảm nhiễm trên đàn tôm sú bố mẹ tại Quảng Nam
2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2007
3 Địa điểm nghiên cứu:
- Mẫu tôm sú bố mẹ chưa tham gia sinh sản thu ở các trại sản xuất tôm sú giống và các cơ sở cung cấp tôm sú bố mẹ ở Quảng Nam
- Mẫu tôm sú bố mẹ đã tham gia sinh sản được thu ở các trại sản xuất tôm sú giống của Quảng Nam
- Phân tích các loại virus trên tôm mẹ tại phòng thí nghiệm của Chi cục Thuỷ sản Quảng Nam, phòng thí nghiệm của Trung tâm khuyến ngư và phát triển giống thuỷ sản Quảng Nam
- Thực nghiệm sinh học được tiến hành tại các trại sản xuất tôm sú giống:
Trại ông Nguyễn Xuân Phúc - Điện Dương – Điện Bàn- Quảng Nam Trại ông Trần Văn Mến – Điện Dương – Điện Bàn – Quảng Nam
II SƠ ĐỒ KHỐI NGHIÊN CỨU:
Trang 29
Hình 1: Sơ đồ khối nghiên cứu đề tài
Đánh giá mức độ cảm nhiễm một số loại virus ở
đàn tôm sú bố mẹ (Penaeus monodon) tại Quảng
Nam Thử nghiệm biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm virus từ tôm mẹ sang đàn ấu trùng
Nghiên cứu mức độ cảm nhiễm virus WSSV, MBV, HPV
ở tôm sú bố mẹ tại Quảng Nam
Kết luận và đề xuất ý kiến về:
- Mức độ cảm nhiễm virus WSSV, MBV, HPV ở tôm sú bố mẹ tại Quảng Nam
- Biện pháp kỹ thuật và hiệu quả làm giảm sự lây nhiễm virus từ mẹ sang con
Trang 30III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
III.1 Thu mẫu và các thông tin có liên quan:
III.1.1 Thu mẫu:
- Thu mẫu tôm bố mẹ: Mẫu tôm sú bố mẹ đã tham gia sinh sản và chưa sinh sản được thu định kỳ hai tuần/ một lần Mỗi lần thu 04 con tôm mẹ chưa sinh sản, 04 con tôm mẹ đã tham gia sinh sản để đánh giá sự cảm nhiễm virus WSSV, MBV, HPV của chúng
Trong 7 tháng thực hiện đề tài (từ tháng 01/2007 đến 07/2007), với 14 lần thu mẫu, chúng tôi thu tổng cọng 56 con tôm bố mẹ chưa tham gia sinh sản và 72 con tôm mẹ đã tham gia sinh sản (số mẫu tôm sú mẹ đã tham gia sinh sản thu được nhiều hơn số lượng dự kiến)
- Thu mẫu tôm postlarvae: Mẫu thu ở giai đoạn PL.10 Mẫu được thu ở
5 điểm khác nhau (4 góc và giữa bể) , sau đó trộn lẫn, lấy khoảng 100 con/ bể cho vào bịch nilong có bơm oxy, vận chuyển về phòng thí nghiệm
III.1.2 Thu thập các thông tin có liên quan đến hiện trạng nghề sản xuất tôm sú giống ở Quảng Nam:
Các số liệu này được lấy từ các báo cáo tổng hợp của Sở Thủy sản, Chi cục Thủy sản, Trung tâm khuyến ngư và phát triển giống thủy sản của tỉnh hàng năm
III.1.3 Cố định mẫu tôm: Tùy theo phương pháp phân tích mẫu mà cách cố
định mẫu khác nhau
- Các mẫu tôm postlarvae dùng cho kỹ thuật chuẩn đoán nhanh để xác định tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm virus MBV thì không cần cố định mà mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm có sục khí để đảm bảo postlarvae phải còn sống cho nghiên cứu
- Tôm bố mẹ dùng cho kỹ thuật mô bệnh học (Histopathology method) được cố định trong dung dịch davidson (Một hỗn hợp gồm: Formol, cồn và axit acetic), tỷ lệ giữa dung dịch cố định và mẫu là 1/10 Thời gian cố định từ
Trang 3124-36 giờ tùy theo kích thước mẫu lớn hay bé Các mẫu này cuối cùng được giữ trong cồn etylic 70% cho đến khi cắt mẫu
- Các mẫu postlarvae và tôm bố mẹ dùng cho phân tích bằng kỹ thuật PCR được cố định trong cồn etylic 95% , tỷ lệ giữa mẫu và cồn là 1/10
III.2 Các phương pháp nghiên cứu đã áp dụng:
III.2.1 Phương pháp kiểm tra nhanh: với thuốc nhuộm malachite green
(MG) để phát hiện các thể ẩn (occlusion body) trong nhân tế bào biểu mô gan tụy của postlarvae
- Các bước tiến hành: Giải phẩu lấy gan tụy (postlarvae) và nhuộm malachite green 0,1% trong 1 phút, đưa lên quan sát ở kính hiển vi quang học
có độ phóng đại 400X Các thể ẩn của virus MBV có dạng hình cầu, màu xanh sáng, ít bắt màu thuốc nhuộm so với các vùng mô của gan tụy
III.2.2 Phương pháp kiểm tra phân tôm bố, mẹ: Bắt tôm bố mẹ ra xô
(1con/xô), khi tôm bố, mẹ thải phân ra xô, dùng kẹp gắp lấy một mẫu phân nhỏ đưa lên lam kính Có thể nhuộm hoặc không nhuộm bằng thuốc nhuộm malachite green 0,1%, đậy lamen và đưa lên kính hiển vi quan sát ở độ phóng đại 400X Các thể ẩn của virus MBV có dạng hình cầu màu xanh sáng
III.2.3 Phương pháp đánh dấu tôm mẹ: Đánh số trên giấy, ép plastic các mẫu giấy để tránh bị ngấm nước Sau đó buộc các số có ép plastic vào đuôi những con tôm mẹ
III.2.4 Phương pháp mô bệnh học (Histopathology method):
Áp dụng theo phương pháp mô bệnh học ở giáp xác của Lightner (1996) Các bước tiến hành như sau:
- Mẫu đã cố định trong cồn etylic 70% được làm mất nước qua các nồng độ cồn 70%, 95%, 99,6% Mỗi nồng độ ngâm 1-3 lần, thời gian ngâm
là 30 phút/lần
- Làm trong mẫu: Chuyển mẫu đã được khử nước sang dung dịch làm trong mẫu bằng cholroroform (CHCL3) trong thời gian 30 phút và lặp lại 2 lần
- Thấm parapin: Chuyển mẫu đã làm trong vào parapin đun nóng ở nhiệt độ 60oC, thời gian 3 giờ, lặp lại 2 lần
Trang 32- Đúc mẫu: Đặt mẫu đã thấm parapin vào khuôn parapin, đổ parapin vào khuôn có chứa mẫu
- Cắt gọt khối parapin Dùng máy cắt, cắt khối parapin có chứa mẫu, thành lát cắt có độ dày 5- 6µm Đưa lát cắt vào nước nóng 45-50oC trong thời gian 1-2 phút Dùng lam sạch lấy lát cắt ra
- Sấy khô lam có mẫu trên máy sấy ở nhiệt độ 45oC trong 2-3 giờ
- Nhuộm mẫu: Tiêu bản được nhuộm bằng Hematoxylin và Eosin Sau
đó gắn tiêu bản bằng lamel và Bomcanada Mẫu có thể quan sát bằng kính hiển vi quang học có độ phóng đại 400X Các thể ẩn MBV bắt màu hồng đỏ của Eosin nằm ở trong các nhân bị phình to của tế bào gan tụy
Trang 33Hình 2: Các bước tiến hành của phương pháp mô bệnh học
III.2.5 Phương pháp PCR:
Đây là phương pháp dùng để nhận biết ADN của virus gây bệnh đốm trắng trên tôm Áp dụng phương pháp của Lo et al (1996, 1999) Các bước này được thực hiện như sau:
- Tách chiết nucleic axid: Cho mẫu tôm mẹ đã cố định trong cồn etylic 95% vào tube eppendorf 1.7 ml, thêm vào 100µl dung dịch tách chiết (NAOH-SDS) rồi dùng chày nhỏ nghiền nhuyễn Sau đó cho thêm 500-700µl dung dịch tách chiết, tiếp tục nghiền cho đến khi mẫu được nghiền nhuyễn
Mẫu tôm đã cố định và giữ trong cồn 70%
Làm mất nước mẫu qua các nồng độ cồn tăng dần
Thấm mẫu trong parapin lỏng ở nhiệt độ 60oC