- ĐQL nghề cá có thể được hiểu như là phương pháp tham gia, nơi màChính phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyềnhạn để quản lý nghề cá quốc gia hoặc nghề cá t
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI NÓI ĐẦU 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
B PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 6
1.1 Khái quát chung về ĐQL nghề cá, quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng 6
1.1.1 Thuật ngữ “cộng đồng” ? 6
1.1.2 ĐQL nghề cá ? 6
1.1.3 Các đặc điểm 12
1.1.4 ĐQL là một quá trình 13
1.1.5 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là gì ? ……….13
1.2 Các bài học kinh nghiệm thực tế từ các nước 16
1.2.1 Các kiểu ĐQL nghề cá 16
1.2.2 Một số kinh nghiệm và bài học từ thực tế triển khai ĐQL ở các nước đang phát triển 19
1.2.2.1 Cần phải trao quyền cho cộng đồng trong việc xác định mục tiêu quản lý: 19
1.2.2.2 Tích hợp tri thức địa phương vào quá trình ra quyết định trong ĐQL 20
1.2.2.3 ĐQL và những xung đột nguồn lợi nghề cá 20
1.2.2.4 Vấn đề quy mô 21
1.3 Nghề cá Việt Nam và những vấn đề bất cập 22
1.3.1 Tiềm năng nguồn lợi 22
1.3.2 Tình hình khai thác, nuôi trồng và vấn đề môi trường trong lĩnh vực thủy sản 23
1.3.3 Sự cần thiết phải áp dụng phương thức ĐQL trong lĩnh vực thủy sản 25 1.4 Sơ lược về tình hình triển khai và thực hiện mô hình ĐQL nghề cá/quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 26
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Tiêu chí đánh giá 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Phân loại các mô hình ĐQL nghề cá tại Việt Nam 32
3.2 Đánh giá tình hình áp dụng mô hình ĐQL/QLNCDVCĐ theo vùng sinh thái 33
3.2.1 Vùng Trung du miền núi phía Bắc 33
3.2.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng 34
3.2.3 Vùng Bắc Trung Bộ 36
3.2.4 Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 40
3.2.5 Vùng Tây Nguyên 41
3.2.6 Vùng Đông Nam bộ: 42
3.2.7 Vùng Tây Nam Bộ 44
Trang 23.3 Phân tích và đánh giá mô hình theo nhóm tiêu chí 47
3.3.1 Đánh giá chung: 47
3.3.2 Đánh giá theo nhóm tiêu chí 51
3.3.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình (29 điểm) 52
3.3.2.2 Hiệu quả của mô hình (23 điểm) 56
3.3.2.3 Tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình (4 điểm) 60
3.3.3 Đánh giá chung 61
3.4 Thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện 63
3.4.1 Thuận lợi 63
3.4.2 Khó khăn: 64
3.5 Bài học kinh nghiệm 65
3.5.1 Các nguyên tắc xây dựng mô hình 65
3.5.2 Các bài học kinh nghiệm 66
3.6 Các giải pháp cho việc áp dụng mô hình ĐQL nghề cá ở Việt Nam 71 3.6.1 Thể chế, chính sách 71
3.6.2 Quy hoạch vùng 72
3.6.3 Nâng cao năng lực và nhận thức 73
3.6.4 Giải pháp về nhân rộng: 74
3.6.5 Phát triển các tổ chức đại diện cho cộng đồng 74
3.6.6 Giải pháp về tổ chức 75
C KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
A Tài liệu tiếng Việt 82
B Tài liệu tiếng Anh Error! Bookmark not defined.
Trang 3A LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km với vùng biển đặc quyền kinh tếrộng hơn 1 triệu km2, hệ thống sông, hồ, ao, ruộng trũng phân bố khắp đấtnước đã tạo cho Việt Nam có một tiềm năng diện tích mặt nước và nguồn lợithủy sản phong phú, tiền đề cho phát triển một ngành thủy sản toàn diện
Trong suốt hai thập kỷ qua, ngành thuỷ sản đã đạt được những thànhtựu quan trọng về sản lượng, giá trị sản lượng, giá trị xuất khẩu, giải quyếtviệc làm cũng như góp phần xoá đói giảm nghèo Bên cạnh những thành tựu
đó, ngành thuỷ sản cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức cho sự pháttriển bền vững: nguồn lợi ven bờ suy giảm1, môi trường sinh thái bị đe dọabởi sự suy thoái, mâu thuẫn xảy ra giữa các nghề thủy sản với nhau, mâuthuẫn giữa nghề thủy sản và các nghề kinh tế khác (nông nghiệp, du lịch,công nghiệp …), nhất là đối với vùng nguồn lợi thủy sản ven bờ, tuyến bờ vàtại các vùng nước nội địa có hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS), khai thácthủy sản (KTTS); trình độ ngư dân ven biển thấp, hiệu quả khai thác thấp, đờisống ngư dân ngày càng khó khăn; trong khi đó nguồn lực cho quản lý cònrất hạn chế cả về nhân lực và vật lực Những thách thức này luôn là mối quantâm của các nhà quản lý và nghiên cứu phát triển ngành thủy sản Làm thếnào để quản lý hiệu quả nguồn lợi, môi trường cho phát triển thủy sản bềnvững là câu hỏi luôn được đặt ra và tìm câu trả lời đối với các nhà quản lý vànghiên cứu phát triển thủy sản
Đồng quản lí (ĐQL), quản lý trên cơ sở/dựa vào cộng đồng(QLTCSCĐ), quản lý có sự tham gia của người dân/cộng đồng là những kháiniệm đã được đề cập đến nhiều trong những năm gần đây và được biết đếnnhư một trong những phương thức quản lý khá hiệu quả trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên chung không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới
Ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ trở lại đây, có nhiều tranh luận xung quanhcác khái niệm: ĐQL, QLDVCĐ, quản lý có sự tham gia của người dân/cộngđồng; bên cạnh đó, nhiều mô hình quản lý tài nguyên, nguồn lợi nói chung,nguồn lợi thủy sản nói riêng, gắn với các khái niệm này đã hình thành Tuynhiên, việc đánh giá các mô hình này để hoàn thiện và áp dụng rộng rãi vẫn ítđược quan tâm Trong ngành Thủy sản, cho đến nay vẫn chưa có một nghiêncứu đánh giá một cách toàn diện nào từ phía các cơ quan nghiên cứu để làm
rõ các khái niệm, mức độ thành công hay thất bại, tổng kết, rút kinh nghiệm
từ các mô hình này để làm cơ sở cho việc hoàn thiện và nhân rộng mô hìnhtrong ngành thuỷ sản
Với sự hỗ trợ tài chính của Dự án Hợp phần Tăng cường quản lí Khai
thác thuỷ sản (SCAFI), đề tài nghiên cứu “Đánh giá tổng quan các mô hình ĐQL trong ngành thủy sản đã triển khai tại Việt Nam” đã được thực hiện.
Tổng quan các mô hình đồng quản lí trong ngành thuỷ sản sẽ là hết sứcquan trọng không chỉ cho kết quả đầu ra của Dự án Hợp phần SCAFI mà cơbản là làm cơ sở cho cả các nhà lãnh đạo, các nhà quản lí ngành thuỷ sản các
1
Nghiên cứu đánh giá tổng quan hiện trạng nguồn lợi và khả năng khai thác hải sản ở Việt Nam, Nguyễn Viết Nghĩa
Trang 4cấp, các nhà nghiên cứu có được những thông tin xác thực, hữu ích trong quátrình hoạch định chính sách và ra quyết định quản lí liên quan đến phươngthức ĐQL Đồng thời chia sẽ và nhân rộng các bài học kinh nghiệm nhằmphát triển mô hình đồng quản lý một cách thành công và bền vững.
Mục tiêu của đề tài nhằm:
- Về khoa học: Kết quả đánh giá làm cơ sở khoa học cho việc xây
dựng chiến lược về ĐQL nghề cá hay quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tạiViệt Nam
- Về kinh tế
- Việc sử dụng các kết quả này để xây dựng, phát triển mô hình ĐQLnghề cá hay quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng nhằm góp phần phục hồinguồn lợi ven bờ và hiệu quả khai thác sẽ được nâng cao nhằm hướng đếnmột nghề cá bền vững
Luận văn được thể hiện trong 4 phần:
A Lời mở đầu
B Phần nội dung
- Chương 1 Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu
- Chương 2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 Đánh giá tổng quan
C Kết luận
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NTTS Nuôi trồng thủy sản
KTTS Khai thác thủy sản
QLDVCĐ Quản lý trên cơ sở/dựa vào cộng đồng
SCAFI Dự án Hợp phần Tăng cường Quản lí Khai thác thuỷ sản
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
VINAFIS Hội Nghề cá Việt Nam
FICO Tổ tư vấn ĐQL trong lĩnh vực thủy sản
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát chung về ĐQL nghề cá, quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng.
1.1.2 ĐQL nghề cá.
a Định nghĩa
- Thuật ngữ ĐQL/quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng(ĐQL/QLNCDVCĐ) là một khái niệm đã được biết đến khoảng 1/4 thế kỷcách đây và trở thành vấn đề nóng trong lĩnh vực nghề cá những năm gầnđây Nó đã xuất hiện ở hệ thống nghề cá các nước như: Tây Ban Nha, Pháp,
hệ thống quản lý nghề cá Lofoten, Nauy, hệ thống Panchayat của Ấn Độ,Nhật Bản, Inđônexia Và đến nay nó đã có ở hầu hết các nước trên thế giới cảcác nước phát triển và đang phát triển
- Khái niệm ĐQL lần đầu tiên được Kearney (1984) nhắc đến với một
ý nghĩa sơ sài về sự hợp tác trong quản lý nguồn lợi cá trích tại vùng biểnCanada Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là Jentoft (1989) vàPinkerton (1989) đã phát triển khái niệm này dưới góc độ xã hội học và thểchế Khung phân tích và những hướng dẫn thiết lập ĐQL được Oakerson(1992) và Tổ chức các nước phát triển OECD (1996) xây dựng Phân loạiĐQL đã được Sen và Raakjaer Nielsen (1996) giới thiệu Khái niệm ĐQL đãđược sử dụng như là một cách thiết lập cơ chế về quản lý nguồn lợi, màkhông có một khuôn mẫu chung cho tất cả các trường hợp cụ thể
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐQL và đã được các nhà khoa họcđưa ra thông qua các kết quả nghiên cứu, triển khai mô hình ở nhiều quốc giatrên thế giới, trong đó có Việt Nam
- ĐQL được hiểu như là sự chia sẻ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan nhà nước và người sử dụng nguồn lợi (cộng đồng) thông qua các
Trang 7hình thức hợp tác Ngân hàng thế giới định nghĩa ĐQL “là sự chia sẻ trách
nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia, cụ thể, đó là cộng đồng địaphương và nhà nước: là một cách phi tập trung hóa quá trình ra quyết địnhvới sự bình đẳng giữa các bên” (The World Bank, 1999) Ngoài hai thực thểchính là những người trực tiếp sử dụng nguồn lợi và nhà nước, nhóm ngườikhác như các nhà khoa học, hội nghề nghiệp….cũng có thể đóng vai trò nhấtđịnh trong ĐQL ĐQL khác với QLDVCĐ (community based fisheriesmanagement) bởi nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong quá trình thiếtlập và thực thi các quy định
- ĐQL nghề cá có thể được hiểu như là phương pháp tham gia, nơi màChính phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyềnhạn để quản lý nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sựhợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác (Hội thảo của Uỷ hội nghề
cá châu Á-Thái Bình Dương, 9-12/8/2005)
- Theo nghĩa rộng hơn, ĐQL là một quá trình hợp tác, tham gia việc
ra quyết định giữa người sử dụng nguồn lợi, chính quyền các cấp, cơ quan nghiên cứu và các bên tham gia khác [23, p 3]; Hay là sự hợp tác, tham gia,
chia sẻ, đại diện, [23, p 174] ĐQL là cơ sở để giảm quá trình ra quyết địnhtheo nguyên tắc áp đặt, là cơ sở giải quyết xung đột thông qua quá trình thamgia, là cơ sở để phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi
- Dựa vào mức độ chia sẻ quyền của việc ra quyết định mà quản lýnghề cá đặc trưng bởi phương thức quản lý nghề cá khác nhau gồm: 1 Quản
lý dựa vào chính quyền, 2 Tiếp cận tự do hay không có sự quản lý, 3 Quản
lý dựa cộng đồng và 4 ĐQL [28, p 43], (Hình 1) Ô thứ nhất, các quyết định quản lý do chính quyền quyết định, mang tính áp đặt; Ô thứ ba, chính quyền can thiệp rất ít vào việc quản lý và ngư dân ở cộng đồng tự do đánh bắt; Ô
thứ tư, các quyết định quản lý chủ yếu do cộng đồng địa phương đưa ra, cộng
đồng tự qui định và tự quản lý, ít có sự can thiệp của chính quyền trong việc
ra quyết định; Ô thứ hai, cộng đồng và chính quyền cùng nhau, hợp tác với
nhau trong việc quản lý nguồn lợi ở địa phương
Trang 8Hình 1 Hệ thống quản lý nghề cá [28, p 43]
- Đặc điểm cơ bản của hệ thống quản lý nghề cá là: khởi xướng, tổ
chức, lãnh đạo, kiểm soát, tự quyền tự trị và sự tham gia (Jentoft, 1989) Cácđặc điểm tương ứng với các hệ thống quản lý được thể hiện trong bảng 1
Bảng 1 Các đặc điểm chính của hệ thống quản lý nghề cá [28, 47]
Các hệ thống quản lý nghề cá
TT Các đặc điểm
Như vậy, ĐQL là trung gian giữa 2 cách: Quản lý dựa vào chính quyền
và cộng đồng; Là điểm gặp giữa sự quan tâm của Chính phủ trong việc quản
lý và bảo vệ nguồn lợi hiệu quả và sự quan tâm của cộng đồng với những cơhội ngang nhau, tự quyết định, tự kiểm soát và chịu trách nhiệm đối với quiđịnh đã được khởi xướng
- ĐQL có thể được định nghĩa như một sự sắp xếp phối hợp, trong đó cộng đồng của những người sử dụng nguồn lợi địa phương (ngư dân), chính quyền và các bên tham gia khác (chủ tàu cá, nậu vựa, doanh nghiệp v.v…) và các cơ quan đại diện bên ngoài (các tổ chức phi chính phủ (NGOs), viện nghiên cứu và trường đại học) đều chia sẽ quyền hạn và trách nhiệm đối với việc quản lý nghề cá (Hình 2), [20, tr 16] Thông qua
việc tư vấn và thương thuyết, các bên tham gia đã tiến hành một thoả thuậnchính thức về vai trò, trách nhiệm và quyền hạn tương ứng trong việc quản lý(Pomeroy and Berkes, 1997; Sen và Raakjaer Nielsen, 1999)
0
Quản lý dựa vào chính phủ ĐQL
3 4Quản lý mở, dự do Quản lý dựa vào cộng
Trang 10Hình 3 Các kiểu ĐQL và quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng (Pomeroy, Sen & Raakjaer Nielsen, L T N Hùng)
(1) Truyền đạt (Instructive): Lượng thông tin được trao đổi giữa nhóm
sử dụng và nhà nước là ít nhất
(2) Tham vấn (Consultative): Đây là kiểu cơ chế có sự tham khảo ýkiến của người sử dụng nhưng mọi quyết định vẫn thuộc quyền của nhànước
(3) Hợp tác (Cooperative): Chính quyền và ngư dân hợp tác cùng nhautrên cơ sở là các bên tham gia bình đẳng để đưa ra quyết
(4) Tư vấn (Advisory): Ngư dân làm tư vấn cho chính phủ trong quátrình ra quyết định đồng thời chính phủ bảo trợ cho việc thực thi các quyếtđịnh này
(5) Thông tin (informative): Chính phủ ủy quyền toàn bộ quá trình raquyết định cho người sử dụng, và người sử dụng chỉ có trách nhiệm thôngbáo lại các quyết định của mình
c Vai trò của Nhà nước
- Trong các kiểu ĐQL mà ở đó nhà nước giữ vai trò chính thì quá trình
ra quyết định thuộc về nhà nước Mọi quyết định và thay đổi sẽ được truyềnđạt xuống dưới, nhà nước chỉ đối thoại hoặc tham khảo ý kiến cộng đồng khi
Thông tin
Tư vấn
Hợp tác
Tham vấn Truyền
đạt
ĐỒNG QUẢN LÝ
Thông báo Lấy ý kiến Hợp tác Phổ biến thông tin Trao đổi thông tin Tham vấn Hành động phối hợp Đối tác
Kiểm sóat cộng đồng Điều phối liên vùng
Trang 11cần thiết Ngược lại, với kiểu ĐQL thiên về cộng đồng thì nhà nước lại giữvai trò rất hạn chế Quá trình ra quyết định thuộc về cộng đồng Nhà nước chỉđóng vai trò tư vấn hoặc thậm chí chỉ là người nhận thông tin sau khi đã cóquyết định từ phía cộng đồng.
- ĐQL không có nghĩa là giao phó toàn bộ nguồn lợi cho cộng đồng
mà ở đây nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập vàvận hành các thiết chế quản lý Vai trò của nhà nước thể hiện ở 3 khía cạnh
sau (Jentoft, 1989): (1) Đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lợi: nếu
thiếu vắng sự kiểm soát của nhà nước, nguồn lợi chung sẽ rơi vào tình trạng
“tự do đánh bắt” như Hardin (1968) đã mô tả; (2) Đảm bảo tính công bằng:
nhà nước đóng vai trò như là điều phối viên để cho các nhóm sử dụng khácnhau, nhất là nhóm người sử dụng nguồn lợi cho mục đích sinh kế, có cơ hội
được khai thác nguồn lợi như nhau; (3) Vai trò quản lý hành chính: chỉ có
nhà nước mới đủ năng lực để đảm bảo các quy định được thực thi
Việc phân chia như trên là một sự đơn giản hóa thực tế các kiểu ĐQL.Trong thực tế các kiểu ĐQL rất đa dạng Vai trò của nhà nước và của các bên
tham gia, nhất là nhóm sử dụng nguồn lợi, trong quá trình ra quyết định, các công việc quản lý, và các giai đoạn quản lý sẽ quyết định đến kiểu ĐQL.
- Vai trò của nhà nước và nhóm sử dụng trong quá trình ra quyết định: Tình huống lý tưởng của ĐQL là nhà nước và nhóm sử dụng cùng hợp
tác bình đẳng trong mọi công việc quản lý và ở mọi giai đoạn của quá trìnhquản lý Tuy nhiên, trong phần lớn mô hình ĐQL thì vai trò của nhà nước vànhóm sử dụng là khác nhau Jontoft & McCay (1995) phát hiện thấy vai tròcủa nhóm sử dụng trong quá trình ra quyết định phụ thuộc vào việc họ đạidiện cho ai và đại diện như thế nào Có 2 kiểu đại diện mang tính chức năng:Một loại dựa vào loại ngư cụ đánh bắt hay vùng đánh bắt, và một dựa vào địa
lý Thông thường trong các nước đang phát triển cũng như phát triển, có 2kiểu đại diện của nhóm sử dụng là dựa trên các yếu tố kinh tế xã hội như:giới tính, tôn giáo hay tộc người Vai trò của nhóm sử dụng trong quá trình raquyết định phụ thuộc vào năng lực đàm phán, sự hiểu biết và sức mạnh tươngđối của họ đối với nhóm khác và với chính phủ Ngoài nhóm sử dụng, còn cónhững nhóm khác có thể đóng vai trò trong ĐQL đó là các nhà khoa học,nhóm bảo vệ môi trường hay các nhà xã hội học, họ đại diện cho quyền lợicủa công chúng Các kiểu đại diện của nhóm này tùy thuộc vào văn hóa chínhtrị của mỗi nước, ở đó nền dân chủ khuyến khích hay không khuyến khích sựtham gia của những nhóm này
- Vai trò của nhà nước và nhóm sử dụng trong các công việc quản lý
Tùy thuộc vào kiểu ĐQL mà có những công việc quản lý khác nhau.Nhìn chung công việc quản lý gồm có: xây dựng chính sách, ước tính trữlượng nguồn lợi, xây dựng quyền tiếp cận, quy định đánh bắt, quy định thịtrường, kiểm soát, giám sát, và chế tài
Trong một số công việc như xây dựng chính sách, vai trò của nhà nước
và nhóm sử dụng thường là ngang nhau; còn một số công việc khác như
Trang 12quyền tiếp cận thì thường thuộc vào thẩm quyền của nhà nước có sự thamvấn của nhóm sử dụng Công việc quản lý khác nhau phụ thuộc vào kiểuĐQL khác nhau Với những công việc có thể ĐQL, thì cần có sự phân biệt
giữa khái niệm phi tập trung với khái niệm đại diện Phi tập trung có nghĩa là
trách nhiệm được đưa xuống cấp quản lý thấp hơn của chính phủ, còn đạidiện nghĩa là chuyển giao trách nhiệm từ tay chính phủ xuống cho các tổchức đại diện nhóm sử dụng (cấp quốc gia hay điạ phương) Tùy thuộc vàochức năng quản lý và bối cảnh chính trị xã hội mà một số công việc quản lýđược phi tập trung hóa, còn số khác thì giao cho đại diện
- Vai trò của nhà nước và nhóm sử dụng trong các giai đoạn trong quá trình quản lý: Nhóm sử dụng còn có thể tham gia vào các bước của quá
trình quản lý đó là: Lập kế hoạch, thực hiện, và đánh giá Tình huống lýtưởng nhất là nhóm sử dụng có quyền tham gia vào tất cả các bước này Tuynhiên trong quá trình thiết lập ĐQL cần phải tính đến hiệu quả của chi phícho các bước thực hiện Trong giai đoạn lập kế hoạch, sẽ tốn chi phí ít hơnnếu toàn bộ công việc thiết kế được làm tập trung thay vì đưa xuống để chờcác bên cùng hợp tác Ngược lại, các giai đoạn thực hiện, giám sát, và chế tài
sẽ tốn kém hơn nếu thực hiện theo hướng tập trung (tức không có sự tham giatích cực của nhóm sử dụng) vì khi đó người sử dụng sẽ không thấy tính chínhđáng trong các quy định và thực hiện Ngược lại, trong trường hợp thiếuthông tin, ngư dân sẽ là người cung cấp nhiều thông tin trong quá trình hoạchđịnh và thực hiện, và do đó sẽ làm giảm chi phí giao dịch
1.1.3 Các đặc điểm
Sự tham gia của các bên liên quan
- Sự tham gia chia sẻ của cộng đồng sẽ tạo ra tính chính đáng(legitimacy) của các quy định quản lý, ít nhất, theo Jentoft (1989) trên 4 góc
độ sau: (1) Nội dung của các quy định sẽ phù hợp và sát với những vấn đề
cộng đồng đang gặp phải, đối mặt; (2) Các quy định cộng đồng phải tuân
theo sẽ có tính bình đẳng hơn; (3) Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định sẽ giúp họ nâng cao nhận thức; (4) Cộng đồng sẽ dễ dàng chấp nhận những quy định ràng buộc khi mà họ là người trực tiếp tham gia xây
dựng và thực thi chúng
Bình đẳng và công bằng xã hội
- Thông qua ĐQL, người ta có thể tìm thấy sự bình đẳng và công bằng
xã hội trong quản lý nghề cá Bình đẳng và sự chia sẻ quyền bình đẳng giữachính quyền, ngư dân và các bên tham gia khác Bình đẳng và công bằng xãhội mang lại quyền và sự tham gia chủ động trong việc lập kế hoạch và thựchiện ĐQL nghề cá
Trang 13hữu công ty; 3 Sở hữu tập thể/sở hữu cộng đồng: trong đó nguồn lợi đượckiểm soát bởi cộng đồng những người sử dụng hoặc tập thể, các quy định cóthể được ban hành mang tính địa phương; 4 Tiếp cận tự do: Không có quyền
- ĐQL là một cách sắp xếp điều hành được đặt giữa 2 chế độ: Sở hữunhà nước thuần túy và sở hữu tập thể thuần túy Mức độ giúp đỡ từ nhà nước
sẽ phụ thuộc vào thiện ý của nhà nước trong việc hỗ trợ các hệ thống sở hữutập thể
1.1.4 ĐQL là một quá trình
- ĐQL không phải là một phương thức để giải quyết mọi vấn đề củaquản lý nghề cá, mà là một quá trình quản lý nguồn lợi: hoàn thiện kế hoạch,điều chỉnh và thích nghi các điều kiện thay đổi theo thời gian ĐQL bao hàmcác khía cạnh của dân chủ cơ sở, chia sẻ quyền hành và sự phân quyền ĐQL
có khả năng thích nghi, đó là thông qua một quá trình học hỏi, thông tin được chia sẻ cho các đối tác, điều đó sẽ dẫn đến một quá trình cải tiến và thay đổi liên tục trong quản lý Thông qua ĐQL, các đối tác sẽ tích cực đóng
góp và phối hợp cùng nhau trong việc quản lý nghề cá Họ chia sẻ các chi phí
và lợi ích, thành công cũng như thất bại
- ĐQL là một chiến lược quản lý mang tính tham gia có khả năng cungcấp và duy trì một diễn đàn hoặc một cơ cấu hoạt động quyền lực, xây dựngquy chế, qui định, quản lý xung đột, chia sẻ quyền, học hỏi xã hội, đối thoại
và phát triển giữa các bên tham gia ĐQL là một quy trình theo xu hướngcùng nhận biết các giá trị, nhu cầu về mối quan tâm khác nhau liên quan đếnviệc quản lý nguồn lợi
- Việc thiết lập và thực hiện ĐQL có thể khá phức tạp, tốn kém và đôikhi gặp khó khăn Nghiên cứu đã cho thấy rằng có thể mất 3-5 năm để tổchức và khởi xướng các hoạt động và can thiệp ĐQL tại cấp độ cộng đồng
Nó cũng sẽ mất từng đó thời gian để cho các bên tham gia chú trọng mốiquan tâm về tính pháp lý, độ tin tưởng, trách nhiệm và tính minh bạch
1.1.5 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là gì ?
- Là một quá trình cùng nhau dàn xếp (điều chỉnh) với qui tắc “khôngviết thành văn” và được thực hiện thông qua sự đồng thuận (thừa nhận)không chính thức [2, p 48]
- Quản lý nguồn lợi ven biển trên cơ sở cộng đồng là cộng đồng nhậntrách nhiệm tự quản lý nguồn lợi ven biển được giao trong việc giám sát vàthực hiện các quy định quản lý không trái với pháp luật hiện hành(IFEP&ICLARM, 1999)
Trang 14- QLDVCĐ là quá trình quản lý trong đó cộng đồng có quyền và tráchnhiệm chính trong lập kế hoạch, đưa ra quyết định, quy định, giám sát vàthực hiện việc sử dụng bền vững nguồn lợi” ” [16, tr5].
Trong Hình 1, Bảng 1 thể hiện rất rõ, khi nhà nước ít can thiệp trong
quá trình ra quyết định, các công việc quản lý, và các giai đoạn quản lý,
tức là quá trình QLDVCĐ là chính Theo phân loại của Sen, RaakjaerNielsen, kiểu ĐQL thông tin (Hình 3) chính là quản lý dựa cộng đồng Nghĩa
là, chính phủ ủy quyền toàn bộ quá trình ra quyết định cho người sử dụng, vàngười sử dụng chỉ có trách nhiệm thông báo lại các quyết định của mình
- Đã có nhiều tranh cãi về sự giống nhau và khác nhau của ĐQL và
QLDVCĐ, sự khác nhau này tập trung vào mức độ và thời gian tham gia
quản lý của chính quyền và người dân trong quá trình quản lý QLDVCĐ làphương pháp lấy người dân làm trung tâm, đặt trọng tâm vào cộng đồng;trong khi ĐQL tập trung vào những vấn đề này cộng thêm việc sắp xếp phốihợp giữa chính quyền và cộng đồng của những người sử dụng nguồn lợi; bêncạnh đó, qui trình quản lý nguồn lợi cũng được tổ chức khác nhau [19, tr 26]
- ĐQL có phạm vi và qui mô rộng hơn QLDVCĐ, nó tập trung vào vào
cả bên trong và bên ngoài cộng đồng Chính quyền có thể đóng vai trò thứyếu trong QLDVCĐ; ngược lại, ĐQL từ định nghĩa trên cho thấy chínhquyền có vai trò rất quan trọng
Những người tham gia QLDVCĐ đôi khi nhìn nhận chính quyền nhưmột người ngoài cuộc và thậm chí là đối thủ, được đưa vào trong quá trìnhchỉ khi đã ở giai đoạn chậm trễ Mặt khác, các chiến lược ĐQL liên quan đếncác cơ quan chính quyền, các nhà quản lý nguồn lợi và các cán bộ được bầuđều bình đẳng cùng với cộng đồng và các bên tham gia cùng xây dựng sự tintưởng giữa người tham gia
- Khi QLDVCĐ được cân nhắc là một bộ phận cần thiết của ĐQL, nó
có thể được gọi là ĐQL dựa vào cộng đồng ĐQL dựa vào cộng đồng gồmcác đặc tính của cả QLDVCĐ và ĐQL; đó là lấy con người làm trung tâm,định hướng cộng đồng, dựa vào nguồn lợi và sự phối hợp Vì vậy, ĐQL dựavào cộng đồng coi cộng đồng là trọng tâm, đồng thời nhận thấy rằng để thựchiện được việc đó cần phải có mối liên kết ngang (xuyên suốt cộng đồng) vàdọc (với bên ngoài các tổ chức và cơ quan cộng đồng như chính quyền).ĐQL dựa vào cộng đồng thường phổ biến ở các nước đang phát triển do nhucầu phát triển tổng thể kinh tế và cộng đồng và quyền lực xã hội, và quản lýnguồn lợi
- Tại Việt Nam, từ năm 1994 đến nay đã có nhiều thuật ngữ đã đượcđưa ra bởi các nhà khoa học, nhà quản lý như: ĐQL (Viện KT&QHTS,1995), Quản lý có sự tham gia của cộng đồng (Chương trình phát triển và bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản), quản lý nghề cá dựa vào dân (Nguyễn Quang VinhBình) [4, tr4], quản lý ngồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng, quản lý tàinguyên ven biển dựa vào cộng đồng v v
Trang 15Như vậy, có quá nhiều định nghĩa, thuật ngữ xoay quanh vấn đề này vàlàm cho người đọc, nhà quản lý, ngư dân lúng túng trong quá trình triển khai
ở Việt Nam Tuy nhiên, theo tác giả, ĐQL bản thân nó đã có yếu tố dựa vàocộng đồng và chính quyền, tuỳ vào mức độ “ĐQL” mà nó chia sẽ, phối hợp
mà mô hình đó sẽ thể hiện là ĐQL dựa vào cộng đồng hay ĐQL Chínhquyền đóng vai trò thứ yếu trong QLDVCĐ, trong khi đó chính quyền đóngvai trò tích cực và quan trọng trong ĐQL (Hình 1, Hình 3)
Trong thực tế, tại các điểm đến thăm quan nghiên cứu về mô hìnhĐQL/QLDVCĐ ở Nhật Bản (2002), Malaysia (2007), gần đây nhất vào năm
2006 ở Lào và Thái Lan cũng cho thấy chưa có sự phân biệt rõ đâu là môhình QLTCSCĐ, đâu là mô hình ĐQL Ở Việt Nam hiện nay, các mô hìnhđang được gọi là mô hình ĐQL hay QLTCSCĐ hay có sự tham gia của ngườidân/cộng đồng… đều có các hoạt động giao quyền quản lý cho người dân sửdụng vùng nước đó, đều có sự tham gia của cấp quản lý tại địa phương(Phòng Thủy sản, UBND xã) và có thể có sự tham gia của các hiệp hội xã hội(hội phụ nữ), các hiệp hội nghề nghiệp (hội nông dân, nghề cá), đều có sự hỗtrợ của các cơ quan (viện, trung tâm), các ngành liên quan (công an, dânphòng, ), các tổ chức quốc tế ở những mức độ khác nhau trong mỗi môhình Có sự khác biệt tương đối, nhưng cũng không rõ nét, ở đây là một số
mô hình có sự tham gia nhiều hơn và tích cực hơn của chính quyền các cấpcũng như các cơ quan liên quan trong các hoạt động quản lý
Trên cơ sở tìm hiểu những định nghĩa đã có về ĐQL và quản lý trên cơ
sở cộng đồng, kết hợp với thực tế diễn ra tại các địa điểm nghiên cứu ở ViệtNam và một số nước đang phát triển có thể,
Kết luận
- Không có sự phân biệt rạch ròi giữa các mô hình ĐQL và QLDVCĐ.
Có sự khác biệt tương đối ở đây là các mô hình ĐQL có sự tham gia nhiều hơn và tích cực hơn của chính quyền các cấp cũng như các cơ quan liên quan trong các hoạt động quản lý, ngược lại QLDVCĐ sự tham gia của chính quyền các cấp ít hơn.
- QLDVCĐ là nhân tố trung tâm của ĐQL và con đường dẫn đến ĐQL.
- ĐQL không chỉ dừng lại trong lĩnh vực quản ý nguồn lợi thuỷ sản
mà còn mở rộng ra trên các lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất (thực hiện đúng quy trình nuôi trồng thuỷ sản, giảm ô nhiễm môi trường), tín dụng (Ngân hàng cộng đồng), kinh doanh tiêu thụ sản phẩm (Chợ cá cộng đồng).
Mặt khác, ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương thực hiện
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểmtra”, “phát huy quyền dân chủ tập trung” do đó thuật ngữ “ĐQL” dễ hiểu vàgần gũi với người dân Việt Nam, phù hợp với các qui định quản lý của Chínhphủ
Trang 16Như vậy, theo tác giả, không cần thiết phải tiếp tục phân biệt rạch ròi
giữa QLDVCĐ và ĐQL, nên sử dụng phổ biến thuật ngữ “ĐQL” khi áp dụng
phương thức quản lý có sự chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa chính phủ
và những người/cộng đồng sử dụng nguồn lợi/hoạt động nghề cá để quản lýnghề cá Việt Nam Mức độ chia sẻ trách nhiệm và hợp tác quản lý giữa cácbên tuỳ theo mỗi vùng nước, ngành nghề, đặc điểm kinh tế-xã hội, văn hoácủa mỗi vùng, mục đích quản lý và bảo vệ nguồn lợi khác nhau sẽ khác nhau
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả tiến hành đánh giá tổng quan
các mô hình ĐQL trong lĩnh vực thủy sản với khái niệm: “ĐQL trong ngành thủy sản có thể được hiểu như là phương thức quản lý, trong đó Chính phủ và người sử dụng tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý các hoạt động thủy sản, bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản trong một vùng xác định, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác” Các mô hình quản lý mà có sự chia sẻ trách
nhiệm quản lý giữa chính quyền và cộng đồng người dân trong quản lý sảnxuất, môi trường, nguồn lợi thủy sản được xem là mô hình ĐQL trong ngànhthủy sản
1.2 Các bài học kinh nghiệm thực tế từ các nước
1.2.1 Các kiểu ĐQL nghề cá theo kinh nghiệm của các nước
Phần này sẽ trình bày rõ hơn về 5 kiểu ĐQL được đưa ra ở sơ đồ trên
và ví dụ minh họa từ thực tế áp dụng của một số nước trên thế giới [35, p409-413], (Hình 3)
- Truyền đạt (Instructive): Lượng thông tin được trao đổi giữa nhóm
sử dụng và nhà nước là ít nhất Mô thức này chỉ khác với cơ chế quản lý tậptrung ở chỗ nó tạo ra cơ chế đối thoại với người sử dụng Tuy nhiên, quátrình chỉ dừng lại ở mức độ là nhà nước thông tin xuống cho cộng đồngnhững quyết định sẽ được thực thi Hay nói cách khác, cộng đồng khôngđược tham gia vào quá trình ra quyết định Ví dụ:
+ Bangladesh - Nghề cá nước ngọt: Từ năm 1986, nhằm gia tăng hiệu
quả sử dụng và sự bình đẳng trong nghề cá nước ngọt, chính quyềnBangladesh đã chuyển hình thức quản lý Các diện tích mặt nước ngọt trướcđây hoàn toàn cho các cai thầu thuê thì nay chuyển cho ngư dân có thể trựctiếp khai thác và quản lý Điểm khác trong cách quản lý mới này là vai tròcủa các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các NGOs đóng vai trò là người đạidiện cho ngư dân để thuê dài hạn hơn 800 vùng nước và chuyển giao lại chocác thành viên (ngư dân) theo hình thức hợp tác xã để họ đánh bắt CácNGOs đảm nhiệm tất cả các quyết định liên quan đến quản lý và tài chính,các thành viên chỉ là người cung cấp các yếu tố đầu vào (lao động) Như vậytheo hình thức quản lý này thì chính phủ (và NGOs) đóng vai trò tổ chức vàtruyền đạt hơn là hợp tác
Trang 17Ví dụ trên thuộc mô hình ĐQL theo kiểu Truyền đạt, mọi quyết định
liên quan đến nghề cá đều do chính phủ (cơ quan đại diện) thực hiện mặc dùngười sử dụng nguồn lợi có tham gia trong quá trình quản lý
- Tham vấn (Consultative): Đây là kiểu cơ chế có sự tham khảo ý
kiến của người sử dụng nhưng mọi quyết định vẫn thuộc quyền của nhànước, điển hình là:
+ Hồ Malombe – Malawi: Đứng trước vấn đề khai thác quá mức các
loài thủy sản thuộc hồ Malombe, năm 1993 chính phủ Malawi triển khaichương trình quản lý đánh bắt có sự tham gia nhằm khuyến khích sự tham giatích cực của người dân sống quanh hồ Các Hội đồng đại diện cho cộng đồngngư dân ven hồ được thành lập Nhân viên khuyến ngư tiến hành tập huấncho thành viên các hội đồng về cơ sở sinh học của các quy định đánh bắt, vàcùng tham gia vào việc xây dựng năng lực thể chế quản lý Các quy địnhtrong nghề cá được xây dựng thông qua đối thoại giữa 2 nhóm; việc thực thicác quy định do Phòng thủy sản (tương đương Sở thủy sản) đảm nhiệm Quátrình thiết lập ĐQL này thuộc về kiểu tham vấn, đặc biệt trong việc xây dựngcác quy định đánh bắt, mặc dù về khía cạnh nào đó mô hình này vẫn mangtính truyền đạt nhất là đối với các quyết định của chính phủ trong việc thựchiện các mục tiêu quản lý
+ Vịnh San Miguel – Philippine: Năm 1991 chính phủ đã giao việc
quản lý các nghề cá ven bờ xuống cho chính quyền cấp xã và cộng đồng đánhbắt địa phương Nghề cá trong vịnh San Miguel là đa loài và tự do tiếp cận.Quản lý của chính phủ không có hiệu lực, nguồn lợi bị cạn kiệt quá mức vàxung đột cộng đồng xẩy ra liên tục Năm 1993, một Ban ĐQL vịnh SanMiguel được thành lập nhằm xây dựng và thực hiện một kế hoặch quản lýcho vịnh Ban này bao gồm đại diện của người sử dụng, chính quyền địaphương, NGOs, các tổ chức nhân dân, giới nghiên cứu, và các nhà làm chínhsách Ban này được tư vấn và hỗ trợ bởi các cơ quan tư vấn, cơ quan quản lýhành chính và lực lượng hỗ trợ công việc được thành lập từ nhiều cấp quản lýhành chính khác nhau (như xã, huyện, tỉnh) Phần lớn các cảng được chínhphủ nắm giữ Nhiệm vụ chính của Ban này là hàng ngày cung cấp các hướngdẫn chính sách và quản trị, kết hợp các kế hoặch và quy định của chính quyềnđịa phương và các cơ quan bên ngoài Ban này có quyền yêu cầu chính phủ
hỗ trợ pháp lý hoặc quyết định những vấn đề liên quan nhằm đảm bảo kếhoặch được thực hiện
Đây là kiểu quản lý Tham vấn, ở đó mọi quyết định thuộc về chính phủsau khi đã tham khảo ý kiến người sử dụng
- Hợp tác (Cooperative): Chính phủ và người sử dụng hợp tác với vai
trò ngang nhau trong việc ra quyết định
+ Hội ĐQL nghề cá Thái Bình Dương (PFMC), Mỹ: Hội đồng này là
nơi tập trung quyền ra quyết định đối với mọi vấn đề liến quan đến nghề cávùng Thái Bình Dương của Mỹ Mọi quy định được chính thức đưa ra từ hộiđồng này với sự tư vấn của 3 Ban tư vấn: một ban gồm đại diện người sử
Trang 18dụng (các nhà chế biến và người tiêu dùng); hai ban còn lại bao gồm các nhàkhoa học và các nhà kinh tế Trong quá trình lên kế hoặch xây dựng chương
trình hạn chế cấp phép mới đối với nghề cá đáy vùng duyên hải miền Tây,
người sử dụng đóng vai trò tích cực trong suốt quá trình thiết kế và phát triểnchương trình Với kiểu này, chính phủ và người sử dụng hợp tác một cáchbình đẳng trong quá trình ra quyết định
- Tư vấn (Advisory): Người sử dụng tư vấn chính phủ trong quá trình
ra quyết định đồng thời chính phủ bảo trợ cho việc thực thi các quyết định
này Quy định ngày trên biển vùng Kattegat, Đan Mạch: Quy định này
mang tính thử nghiệm nhằm giải quyết vấn đề liên quan đến vứt bỏ cá tạp vàkhông báo cáo phát sinh do áp dụng hệ thống Hạn ngạch đánh bắt và nhữngbất đồng giữa các nhà khoa học với ngư dân trong việc ước lượng trữ lượngnguồn lợi Trước những phản đối của ngư dân, các cuộc đối thoại liên quanđến quản lý nghề cá giữa chính phủ và ngành khai thác đã dẫn đến việc thànhlập một nhóm làm việc Các đại diện từ phía chính phủ, ngư dân trong hiệphội đánh bắt, và viện nghiên cứu gặp nhau hàng tháng dưới dạng nhóm làmviệc để đưa ra các quyết định liên quan đến số ngày được phép đi biển cũngnhư tổng kết quá trình thực hiện Tất cả những quyết định này phải đượcthông báo cho Ban Tư vấn Quy định của Đan Mạch, nó như một ban thamvấn chuyên tư vấn cho Bộ trưởng Tuy nhiên, các đề nghị đưa ra bởi nhómlàm việc hầu như đều được chấp nhận Đây là một kiểu ĐQL dạng tư vấn
- Thông tin (informative): Chính phủ ủy quyền toàn bộ quá trình ra
quyết định cho người sử dụng, và người sử dụng chỉ có trách nhiệm thôngbáo lại các quyết định của mình
+ Nghề khai thác cá Hà Lan: Năm 1993, ĐQL được thiết lập đối với
nghề cá sau khi xẩy ra tình trạng đánh bắt vượt mức hạn ngạch cho phép vàquan hệ giữa chính phủ với ngư dân ngày càng xấu đi Trách nhiệm quản lýhạn ngạch đánh bắt cá nhân (ITQs) của ngư dân được giao cho các nhóm ngưdân có góp hạn ngạch đánh bắt Tất cả các thành viên nhóm đều phải thuộccùng một hiệp hội các nhà sản xuất, tuy nhiên không bắt buộc mọi người phảitrở thành thành viên nhóm Những nhóm này có trách nhiệm thực thi và chếtài các quy định, áp đặt hình phạt và tổ chức việc trao đổi hạn ngạch trongcùng nhóm với nhau Chính phủ vẫn giữa vai trò là người kiểm soát hạnngạch chung (được phân bổ bởi Liên Hiệp Châu Âu) và tất cả các công việcliên quan đến thực hiện các Chính sách Nghề cá chung Ngư dân đượckhuyến khích tham gia nhóm với những ưu đãi về số ngày đi biển nhiều hơn
và được phép thuê hạn ngạch trong cả năm Đây là ĐQL kiểu Thông tin bởi
vì Hiệp hội các nhà sản xuất chỉ có trách nhiệm thông tin cho chính phủnhững quy định mà họ thực thi
Các nhóm tương đối đồng nhất, điều này hỗ trợ cho việc hợp tác Chỉ
có khoảng 17% số tầu đánh bắt là đứng ngoài hệ thống này Nhìn chung, hệthống xem ra rất thành công khi mà các hạn ngạch của cả nước không bị vượtquá, nỗ lực đầu vào và sản lượng đầu ra là khá ổn định, ngư dân thỏa mãn với
hệ thống quản lý này Tuy nhiên, một phần của sự thành công này là do hạn
Trang 19ngạch đánh bắt được phân bổ tương đối cao và mức đánh bắt lại thấp Việcđánh giá tác động của ĐQL trong trường hợp này là khó chính xác.
+ Nghề cá trích vùng Matjes, Đan Mạch: Đây là nghề cá trích, có giá
trị đặc biệt vùng Biển Bắc, có mùa đánh bắt kéo dài 3 tháng trong năm, bằnglưới kéo vây, và là vùng chung của 3 nước Đan Mạch, Thụy Điển, và Nauy.Quá trình quản lý và hợp tác được điều hành thống nhất bởi Ủy ban Matjes
Ủy ban này tổ chức các cuộc họp thường kỳ với sự tham gia của đại diện các
tổ chức các nhà đánh bắt, người mua, và nhà chế biến Các quyết định liênquan đến các quy định, sự phân bổ hạn ngạch, cũng như việc giám sát và chếtài được thực hiện bởi hiệp hội các nhà sản xuất tại mỗi nước Quá trình raquyết định được cho là rất minh bạch; mọi thông tin đều được đưa xuống cho
tất cả mọi người tham gia trong nghề cá Kiểu quản lý này được gọi là Thông
tin vì Ủy ban nhận phê chuẩn của chính phủ Đan Mạch và chỉ phải thông tin
cho chính phủ những quyết định mà họ thi hành
1.2.2 Một số kinh nghiệm và bài học từ thực tế triển khai ĐQL ở các nước đang phát triển [23, p 81- 188; 36, p 154-158]
Trong bước thực hiện ĐQL đòi hỏi phải có sự hoạch định chu đáo, nỗlực và hợp tác chặt chẽ giữa các bên để đi đến thành công ĐQL thực chất làmột đáp ứng về mặt thể chế được hình thành thông qua quá trình đàm phángiữa các nhóm liên quan trong mối quan tâm đến phân bổ nguồn lợi và tínhđại diện ĐQL không thể xẩy ra nếu không có thể chế hoặc chỉ dựa vào thểchế sẵn có; và càng không thể sử dụng quyền lực để áp đặt sự hình thành thểchế mới ĐQL do vậy sẽ không thể là quá trình tranh giành giữa các bên thamgia để bảo vệ quyền lợi cho riêng mình Một số bài học kinh nghiệm sau đâyđược rút ra từ thực tế áp dụng ĐQL tại các nước ĐNA và các nước Nam Phi
1.2.2.1 Cần phải trao quyền cho cộng đồng trong việc xác định mục tiêu quản lý:
Kinh nghiệm từ các nước ĐNA và Nam Phi cho thấy, các cộng đồngtrong ĐQL thường là những cộng đồng chức năng (functional communities).Quyền và nghĩa vụ được giao xuống cho các cộng đồng chức năng này Cáccộng đồng chức năng được xác định dựa trên đặc điểm của ngư cụ (tức cùngloại ngư cụ như nhóm lưới rê, nhóm lưới vây) hoặc dựa trên đối tượng đánhbắt (tôm, cá, hai mảnh vỏ…), hoặc dựa vào ngư trường đánh bắt ĐQL đòihỏi một sự ủy quyền rõ ràng của chính phủ, và đây như là sự chia sẻ quyềnlực của chính phủ đối với cộng đồng hay chính quyền địa phương
Để cho ra đời và phát triển một mô hình ĐQL, cần có sự bàn luận giữachính phủ và ngư dân để xác định vấn đề và tìm ra giải pháp, đồng thời cùngnhau xây dựng thể chế và bộ máy quản lý Trong quá trình thảo luận, ngư dâncần được khuyến khích trình bày những vấn đề mà họ quan tâm, ý tưởng, vàcho họ cơ hội tự xây dựng bộ máy quản lý của chính họ, từ đó hình thànhnên những mạng lưới gắn kết thuận lợi cho hợp tác và liên kết Vai trò củachính phủ trong việc thiết lập điều kiện để hình thành ĐQL là tạo ra tínhchính đáng và tin cậy của các tổ chức và thể chế Kinh nghiệm từ
Trang 20Bangladesh, Nhật, và Nauy cho thấy: Nhà nước đóng một vai trò tối quantrọng trong việc cung cấp các cơ sở pháp lý để hình thành ĐQL Bên cạnhviệc kêu gọi cộng đồng và ngư dân tham gia, chính phủ phải thiết lập đượccác quyền pháp lý mang tính bảo đảm, và đồng thời phải trao bớt một phầnquyền lực của mình cho cộng đồng.
Quá trình thiết lập ĐQL đòi hỏi những thay đổi trong bộ máy quản lýcủa chính quyền, lúc này tham gia như là một đối tác Việc trao quyền chocộng đồng cũng đồng nghĩa với mất quyền của một bộ phận cơ quan quản lý
Để vận hành được quá trình ĐQL, cần thiết có sự đào tạo và phát triển các kỹnăng chuyên nghiệp mới cho cả nhân viên thuộc cơ quan nhà nước lẫn cộngđồng Những thay đổi như vậy sẽ là cơ hội đi đến hợp tác giữa nhà nước vàngười sử dụng nguồn lợi
1.2.2.2 Tích hợp tri thức địa phương vào quá trình ra quyết định trong ĐQL
- Một vấn đề rất phổ biến trong quản lý nghề cá đó là sự khác nhautrong hiểu biết nguồn lợi giữa cộng đồng ngư dân, các nhà khoa học và chínhphủ Hệ thống quản lý tập trung dựa chủ yếu vào các nghiên cứu trên cáckhía cạnh sinh học (nghề cá Việt Nam) được đưa ra từ các Trường và Việnnghiên cứu Hiểu biết, nhận thức về các giá trị đặc thù, văn hóa, và thực tiễncủa ngư dân thường không được chú ý Tất cả những hiểu biết và thực tiễncủa ngư dân cần được tích hợp vào hệ thống quản lý mới này, đây là điều rấtquan trọng đối với cả hệ thống sinh thái nơi mà sự không chắc chắn và cácquá trình tự nhiên không lường trước đòi hỏi phải có những thẩm định về mặtđịnh tính Việc tích hợp tri thức bản địa vào trong quản lý ở địa phương (cácquyết định về mùa vụ, số lượng ngư cụ…) sẽ giúp giảm thiểu những tác độngtiêu cực về mặt môi trường và xã hội, và như thế cả hệ thống sẽ bền vữnghơn
- Các mô hình hợp tác giữa các nhà khoa học và ngư dân đều cho thấyrất hiệu quả Chẳng hạn như ở Lào, Philipine, và Zambia có các chương trìnhhợp tác trong đó ngư dân thu thập dữ liệu về nguồn lợi theo cách của họ, còncác nhà khoa học xác định theo cách lấy mẫu, sau đó hai bên đối chiếu, kiểmtra và đưa ra kết quả cuối cùng rất hữu dụng Nhiều phương pháp nuôi hiệuquả đã được xây dựng trong hơn 4 thập kỷ qua là dựa vào những hiểu biết vềsinh học của dân gian hay kinh nghiệm của địa phương Ở các nước pháttriển, các chương trình hợp tác giữa ngư dân và các nhà khoa học từ khâu đưa
ra giả thiết đến giai đoạn đánh giá kết quả tỏ ra rất thành công Nhiệm vụ củacác nhà thiết kế ĐQL là phải tích hợp được những tri thức bản địa và kinhnghiệm dân gian với những tri thức khoa học trên cơ sở các nghiên cứu trởthành những cơ sở chung cho quá trình ra quyết định quản lý
1.2.2.3 ĐQL và những xung đột nguồn lợi nghề cá
- Bài học đầu tiên của bất cứ nhà quản lý nghề cá nào là quyết định bảotồn và quyết định phân bổ nguồn lợi là một Nghĩa là không thể có một giảipháp bảo tồn nguồn lợi mà lại không làm lợi cho nhóm này hơn so với nhóm
Trang 21khác ĐQL đôi khi được biết đến là do xuất phát từ mong muốn tìm ra một cơchế để phân bổ việc tiếp cận nguồn lợi Nhiều biện pháp quản lý được lựachọn chỉ vì tính khả thi về mặt chính trị, chẳng hạn việc áp dụng các giảipháp kỹ thuật (mắt lưới, loại ngư cụ, loài mục tiêu…) là dễ dàng vì nó tácđộng đến tất cả ngư dân theo cùng một cách, trong khi đó hạn ngạch hayvùng cấm đánh bắt sẽ tác động không giống nhau đến các ngư dân khác nhau.Điều này cần lưu ý trong việc thiết lập ĐQL.
- ĐQL đôi khi được ca ngợi vì nó giúp giải quyết xung đột bằng cáchtạo ra cơ chế đối thoại và xác định được biện pháp quản lý phù hợp Nghiêncứu các mô hình ĐQL hiện có cho thấy, xung đột đôi khi là động lực để ngưdân tham gia ĐQL Các nỗ lực trong ĐQL sẽ làm tăng ảnh hưởng của chínhphủ lên cộng đồng ngư dân Cộng đồng có thể lợi dụng sự gia tăng quyền lựcnày để gạt bỏ những đối tượng bên ngoài
- Trong nhiều nghề cá có xung đột giữa các nhóm có loại phương tiệnđánh bắt khác nhau, thông thường nhất là xung đột giữa nhóm ngư dân đánhbắt có quy mô lớn, mang tính công nghiệp với nhóm có quy mô nhỏ, thủcông gần bờ Động cơ để ngư dân đánh bắt thủ công tham gia ĐQL là để tìmkiếm các biện pháp bảo vệ từ nhóm đánh bắt công nghiệp, đây là kinhnghiệm từ Philipine và Mozambique Hay như trường hợp của Lào, Thailan,Zambia, Malawi, sự xung đột giữa các nhóm đánh bắt có ngư cụ khác nhau(lưới rê và lưới vây) là động lực để nhóm ngư dân gần bờ tham gia vàoĐQL Đôi khi các bên tham gia ĐQL nhìn nhận mô hình này như là một cơchế để hất bỏ những đối tượng khác ra khỏi ngành
- Các nghiên cứu cho thấy đặc quyền đánh bắt (theo tục lệ) đóng vaitrò quan trọng trong ĐQL Khi có sự tham gia của nhóm chính quyền theotập quán sẽ giúp việc giải quyết xung đột được nhanh hơn (trường hợp củaIndonesia và Malawi) Tuy nhiên kinh nghiệm cũng từ Malawi và Zambiacho thấy, khi đưa nhóm chính quyền theo tập quán vào ĐQL cũng sẽ gây ranhững vấn đề tế nhị Các chính quyền này thường hành xử theo cách khôngminh bạch, không tích cực tham gia trong quá trình ra quyết định, và thường
có những lợi ích đặc thù đối với nguồn lợi Trong một vài trường hợp, chínhquyền tập quán có quyền lực lớn thường lợi dụng ĐQL để phục vụ cho mụcđích riêng của họ hơn là cho toàn bộ ngư dân Việc tham gia của NGOs trongĐQL đôi khi cũng là một điều cần xem xét kỹ NGOs nhiều khi đóng vai tròquan trọng trong việc khởi xướng và thiết lập các chương trình ĐQL, nhưngnếu sự hợp tác giữa NGOs và chính quyền địa phương mà thất bại thì sẽ dễdẫn đến xung đột, và việc có NGOs là thừa
1.2.2.4 Vấn đề quy mô
Một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi đó là ở phạm vi nào vềmặt không gian và thời gian là thích hợp nhất cho xây dựng chương trìnhĐQL Với đàn cá di cư chẳng hạn, thì quy mô ở cấp vùng, quốc gia hay quốc
tế là thích hợp cho ĐQL? Phần lớn các nghiên cứu về ĐQL chỉ mới thực hiện
ở phạm vi quy mô địa phương bao gồm một vài cộng đồng Bài học từ những
Trang 22nghiên cứu này do đó chưa thể đảm bảo cho việc triển khai áp dụng ở quy môlớn Câu hỏi đặt ra là liệu có thể triển khai ĐQL ở quy mô lớn hay không?Nielsen (2004) đã chỉ ra, để áp dụng ĐQL ở quy mô lớn thì một số nguyêntắc thiết kế mang tính chuẩn như sau cần được tuân thủ: Xác định rõ ràngvành đai cho vùng áp dụng; sự tương thích giữa quy định đưa ra với điều kiệnđịa phương; việc thiết lập phải mang tính lựa chọn tập thể; tiêu chuẩn giámsát; hình phạt phải được quy định; cơ chế giải quyết xung đột; và sự xác nhậntối thiểu về các quyền quy định Kinh nghiệm từ Philipine và Bangladesh chothấy ĐQL có thể thành công ở quy mô lớn Trong trường hợp của Bangladeshcần phải ghi nhận vai trò quan trọng của các NGOs.
1.3 Nghề cá Việt Nam và những vấn đề bất cập
1.3.1 Tiềm năng nguồn lợi
Việt Nam là một quốc gia biển vừa có núi, sông hồ, đồng bằng châuthổ, vừa có biển đảo Đặc trưng phân hoá lãnh thổ như vậy đã tạo ra cho đấtnước ta tính đa dạng về cảnh quan thiên nhiên và các thuỷ vực đặc trưng chomôi trường nước ngọt, lợ và mặn Đó là những tiền đề quan trọng đối với khảnăng phát triển một ngành thuỷ sản mạnh và đa dạng Thuỷ sản nước ta cóthể phát triển ở tất cả các loại hình mặt nước và trên các vùng tự nhiên - sinhthái khác nhau từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo Vìthế, sản xuất thuỷ sản cũng là một nghề có truyền thống lâu đời, rất gần gũivới người dân ở các vùng nông thôn ven biển, vùng sâu, vùng xa; là chỗ dựasinh kế cho các cộng đồng dân cư, đặc biệt người dân nghèo
Nguồn lợi hải sản
Số liệu gần đây nhất do Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng công bố,tổng trữ lượng hải sản biển Việt Nam là 5.075.143 tấn, khả năng khai thác là2.147.444tấn (Phụ lục 1)
Bên cạnh nguồn lợi cá, biển Việt Nam còn có một trữ lượng đáng kể
về nguồn lợi tôm, mực, cua, nhuyễn thể, rong câu …
Nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt
Theo thống kê, Việt Nam có khoảng trên 2.372 con sông có dòng chảythường xuyên và có chiều dài trên 10 km Có 13 hệ thống sông lớn có diệntích lưu vực trên 10.000 km2và có 2 đồng bằng rộng lớn là đồng bằng sôngHồng rộng khoảng 1.9.106 ha và đồng bằng sông Cửu Long rộng khoảng4.106ha Theo ước tính tổng diện tích các thuỷ vực nước ngọt của Việt Namđược dùng cho khai thác và nuôi trồng thủy sản là 1,4.106ha Giống loài thuỷsản phong phú: Cá nước ngọt có 544 loài, trong đó cá kinh tế có 97 loài, cábiển có 2.030 loài, trong đó có trên 100 loài cá kinh tế, có 225 loài tôm biển,
53 loài mực, 653 loài rong, 298 loài san hô và nhiều loài nhuyễn thể, độngvật thuỷ sinh khác
Từ trước tới nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lợithuỷ sản nuớc ngọt, đặc biệt là trong những năm gần đây, khi nguồn lợi thuỷsản nước ngọt ngày càng bị suy giảm
Trang 23Ngoài nguồn lợi cá, vùng nước ngọt Việt nam còn có nhiều đối tượng
có giá trị kinh tế cao như cua, ốc, trai, hến
Tiềm năng diện tích phát triển NTTS
Tổng diện tích có khả năng phát triển NTTS ở nước ta khoảng 2,20triệu ha mặt nước, trong đó loại hình thuỷ vực nước ngọt là 1,07 ha, nướcmặn lợ 1,18 ha Tiềm năng phát triển NTTS ở nước ta chủ yếu ở các tỉnh venbiển, đặc biệt hai vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long;trong tổng diện tích có khả năng phát triển nuôi bao gồm vùng ĐBSCLchiếm 60,8% tổng diện tích của cả nước, ĐBSH chiếm 9,4%
Diện tích rừng ngập mặn ven biển Việt Nam giảm từ 400.000 ha(Laurand 1943) xuống 250.000 ha (FAO, 1981) Ngoài ra, còn một số diệntích đất cát có thể sử dụng cho nuôi thuỷ sản, khoảng 20.000 ha và một sốvùng nước ven các đảo và bãi ngang Diện tích mặt nước ngọt có khả năngđưa vào nuôi trồng thủy sản khoảng 910.000 ha với nhiều loại hình mặt nước:
và khai thác ven bờ, gần đây chuyển mạnh ra khai thác xa bờ cùng với sốlượng lớn tàu và ngư dân Bên cạnh những thành tựu phát triển, ngành thủysản vẫn phải đang đối mặt với một trong những vấn đề quan trọng để đảmbảo phát triển bền vững đó là bảo vệ môi trường sinh thái và nguồn lợi thủysản
Khai thác thủy sản:
Tính đến cuối tháng 9/2008, tổng số tàu thuyền cả nước khoảng101.000 chiếc, tương ứng với tổng công suất hơn 5 triệu cv, trong đó: khoảng86.600 chiếc khai thác hải sản (chiếm 85,7%) và 14.400 chiếc khai thác thuỷsản ở nội địa ( chiếm 14,3%) Trong số tàu khai thác hải sản có 14.600 chiếc
có công suất > 90 cv chiếm 16,85 % tập trung các nghề lưới kéo 7.673 chiếc(chiếm 53%); Nghề lưới vây 2.043 chiếc, chiếm 13%; Nghề câu, 2.072 chiếc(câu mực và câu cá ngừ đại dương), chiếm 14% và Nghề lưới rê, 1.431 chiếc(chiếm 10%), phân bố hầu hết các tỉnh; các nghề khác (chụp mực, vó mành,đăng đáy.) 1.430 chiếc (10%)
- Nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 90cv, tổng số khoảng 72.000 tậptrung các nghề: lưới rê, câu, mành, vó, vây, chụp mực, lưới kéo (tập trungkéo tôm ở vùng biển ven bờ, tuyến lộng) và các nghề te, xiệp, các nghề cốđịnh (đăng, đáy, bóng mực,.)
Trang 24Trong khai thác hải sản, nếu năm 1985 cả nước chỉ có 29.323 tàuthuyền lắp máy, tổng công suất 494.507 CV (với công suất trung bình 1phương tiện 16,9 CV), thì sau hơn 20 năm số lượng tàu tăng lên 3 lần vàcông suất tàu thuyền tăng 10 lần, năng suất khai thác suy giảm liên tục.Trong vòng 10 năm trở lại đây sản lượng khai thác tăng hàng năm và khoảng80% sản lượng cá biển đánh bắt từ vùng nước ven bờ Sản lượng cá khai thácnăm 1990 đạt 653.200 tấn, đến năm 2008 đạt 2.100.000 tấn Sản lượng khaithác tăng nhanh nhưng năng suất khai thác giảm mạnh từ 0,95 tấn/CV/năm(năm 1991) xuống còn 0,35 tấn/CV/năm (năm 2008).
Biển Việt Nam còn có gần 100 loài quý hiếm đang bị đe dọa tuyệtchủng được ghi trong sách đỏ Việt Nam (1994, 2002) Do bị khai thác quámức cho nên nhiều loài có giá trị kinh tế, quí hiếm ở vùng ven bờ đang bị đedoạ tuyệt chủng Danh sách các loài thủy sản bị đe doạ tăng từ 15 loài (1989)lên 135 loài (57 loài thủy sản nước ngọt và 78 loài hải sản (Nguồn lợi Thủysản Việt Nam năm 1996) Một số loài thủy đặc sản có nguy cơ cạn kiệt nhưbào ngư, tu hài, vẹm xanh, sá sùng, bàn mai, trai tai tượng, cá ngựa, dugong Điều đó chứng tỏ nguồn lợi ở vùng nước ven bờ đang bị giảm sút đáng kể
Sản lượng cá nước ngọt đánh bắt được ở các vùng nước tự nhiênnhững năm 1981 – 1986 từ 85.000 – 97.000 tấn/ năm, các năm 1990 – 1991chỉ còn 59.000 – 60.000 tấn, đến năm 1994 – 1995 khoảng 65.000 – 70.000tấn, năm 2001 đạt đến 243.582 tấn và giảm dần đến năm 2008 chỉ đạt200.000 tấn Nguồn lợi cá nước ngọt bị suy giảm nghiêm trọng, Đặc biệt một
số loài cá đã bị tuyệt chủng và có nguy cơ tuyệt chủng Năng suất khai thác ởnhiều loài và nhiều nơi giảm sút nghiêm trọng, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc.Các bãi đẻ và nguồn lợi cá bột cũng bị giảm sút, đặc biệt là trên hệ thốngsông Hồng và sông cửu Long
Nguồn lợi thủy sản nước ngọt bị suy giảm bởi các hoạt động khai thácquá mức của người dân, đặc biệt là hiện tượng dùng các loại ngư cụ có hạinhư xung điện, chất nổ, đăng đáy có kích thước mắt lưới quá nhỏ Bên cạnh
đó môi trường sống tự nhiên của các loài thuỷ sản nước ngọt cũng bị ô nhiễmmạnh do chất thải của hoạt động công nghiệp, chất thải từ trồng trọt
Theo số liệu thống kê (DECAFIREP), trong 3 năm 1998 – 2000, lựclượng kiểm soát liên ngành đã bắt 149 trường hợp buôn bán và vận chuyểnchất nổ, 843 trường hợp sử dụng chất nổ, 19.658 vụ sử dụng xung điện và
106 trường hợp dùng chất độc bất hợp pháp trong khai thác Khai thác san hôlàm vôi và đồ vật lưu niệm cho du khách, khai thác các loài hải sản trên rạnsan hô bằng mìn, hoá chất khiến cho rạn bị suy thoái nghiêm trọng Khai tháchải sản trên các bãi cỏ biển bằng lưới kéo làm cho các thảm cỏ bị phá hoạinghiêm trọng Tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với các hệ sinh thái vùngtriều, cửa sông, đầm phá, đất ngập nước ven bờ và ven các đảo
Các hoạt động khai thác hải sản ở vùng ven biển và đảo đã đem lạinhững lợi ích kinh tế thiết thực, tuy nhiên, hậu quả các hoạt động này đã làmsuy thoái môi trường nghiêm trọng Nhiều hệ sinh thái tiêu biểu như hệ sinh
Trang 25thái cửa sông, đầm phá, rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển đang bị huỷ hoại
do sự khai thác quá mức và phạm pháp, ảnh hưởng không nhỏ đến nơi sinhsống của các loài thủy sản và ảnh hướng tới chính đời sống của những ngưdân khai thác thủy sản
Nuôi trồng thủy sản
Đến cuối năm 2006, diện tích mặt nước đưa vào NTTS của nước ta đạtkhoảng 1.050.000 ha (kể cả diện tích NTTS kết hợp với trồng lúa khoảng65.600 ha), trong đó NTTS nước ngọt là 465.000 ha, NTTS mặn lợ là585.000 ha, đạt sản lượng NTTS xấp xỉ 1.700.000 tấn Sản lượng cá tra, cábasa tăng trưởng nhanh, năm 2006 đạt 250.000 tấn Tăng sản lượng NTTS,một phần là do tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, phần khác là do mởrộng diện tích NTTS Bên cạnh tăng năng suất và mở rộng diện tích NTTS đãdẫn đến sự tăng trưởng không ngừng của sản lượng NTTS là sự đầu tư cho cơ
sở hạ tầng kỹ thuật không đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, cùng với sự hạnchế về nguồn lực quản lý sản xuất và môi trường đã dẫn đến dịch bênh, nguy
cơ ô nhiễm môi trường sinh thái, không những của chính đối tượng NTTS màcòn của cả người dân sống trong và gần vùng NTTS tập trung
Sự thay đổi của môi trường sinh thái là một trong những nguyên nhângây nên bệnh dịch ở thủy sản nuôi, gây nên những bệnh lạ đã xuất hiện ởthủy sản nuôi (tôm cáng xanh bị cụt râu và không lớn được), đã tác động tớichính thu nhập và đời sống của người dân NTTS
1.3.3 Sự cần thiết phải áp dụng phương thức ĐQL trong lĩnh vực thủy sản
Các hạn chế của công tác quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Ngành thủy sản Việt Nam vẫn mang tính chất quy mô nhỏ, manhmún, đa dạng, rộng khắp trên diện tích gần 1 triệu km2 trong khi nguồn lựccho công tác quản lý và bảo vệ tiềm năng nguồn lợi thủy sản hạn chế cả vềnhân lực và vật lực; có 67 chiếc tàu kiểm ngư để kiểm tra, kiểm soát khoảng100.000 chiếc tàu trên toàn quốc Hệ thống tổ chức thanh tra chưa ổn đinh,lực lượng thanh tra viên và cán bộ các phòng ban không đủ số lượng để kiểmsoát hết các hoạt động khai thác thủy sản trên một vùng biển rộng lớn Bêncạnh đó, các trang thiết bị phục vụ việc kiểm tra, kiểm soát vừa thiếu, vừayếu và không đủ kinh phí để triển khai hoạt động rộng khắp trên toàn quốc và
ở tất cả các vùng nước
- Các quy định, chế tài cho công tác quản lý và bảo vệ tiềm năngnguồn lợi thủy sản chưa đủ mạnh, theo kết quả công tác thanh tra bảo vệnguồn lợi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, 75% các tàu vi phạm các quiđịnh Luật định, quy định khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đã ban hànhnhưng việc thực thi chưa nghiêm
- Chi phí để hệ thống các cơ quan chuyên ngành thực hiện chức năngquản lý, kiểm tra, kiểm soát là rất tốn kém
Trang 26Sự cần thiết
Do các hạn chế trên nên mặc dù các cơ quan quản lý đã hết sức cốgắng trong thực thi trách nhiệm nhưng chưa thể quản lý nghề cá một cáchhiệu quả mà ngày càng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong khai thác vàbảo vệ nguồn lợi thủy sản Chúng ta không đủ nguồn lực để kiểm soát mộttriệu km2, thế tại sao chúng ta không dựa vào dân, giao ngư dân để ngư giúpchúng ta quản lý ? ĐQL là phương thức đang tỏ ra hữu hiệu đối với quản lýcác vùng NTTS, KTTS nội địa và ven bờ, các vùng nước có chung nhiều mụcđích khai thác và sử dụng khác nhau
Phương thức ĐQL với lợi thế là có thể huy động sức mạnh tổng hợpmột cách thống nhất của các bên liên quan tham gia quản lý khai thác sửdụng và bảo vệ môi trường, tiềm năng nguồn lợi nói chung, tiềm năng nguồnlợi thủy sản nói riêng tại những vùng nước xác định do đó phương thức nàyđang tỏ ra sẽ mang lại các hiệu quả tốt trong quản lý khai thác sử dụng và bảo
vệ môi trường, tiềm năng nguồn lợi cũng như góp phần đảm bảo an toàn vệsinh thực phẩm cho sản phẩm thủy sản Tính hiệu quả của phương thức ĐQL
đã có những minh chứng thực tế trên thế giới và ở Việt nam, thể hiện ởnhững khía cạnh cơ bản sau:
- Các quy định quản lý được tuân thủ tốt hơn do quản lý dựa trên nhucầu – hướng tới nhu cầu thực sự của các bên liên quan
- Chi phí quản lý thấp hơn cả về nhân lực và vật lực trong mối tươngquan với hiệu quả thu được
- Sự phối hợp, mức độ tham gia và trách nhiệm đối với việc sử dụngnguồn lợi bền vững được tăng cường từ tất cả các bên liên quan vì người sửdụng nguồn lợi cũng là người quản lý nguồn lợi tạo nên sự khích lệ đáng
kể cho họ để nhìn nhận nguồn lợi như một tài sản lâu dài hơn là củachung để đánh bắt tự do
Từ hiệu quả tốt cho việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hệ sinh thái đã tácđộng tích cực đến hiệu quả sản xuất và kinh doanh, góp phần nâng cao thunhập làm cho đời sống kinh tế hộ gia đình ngày càng được cải thiện, giảiquyết được mâu thuẫn giữa các bên liên quan
Vì vậy, việc áp dụng phương thức ĐQL vào quản lý sử dụng, khai tháccác vùng tiềm năng nguồn lợi chung xác định, bao gồm cả nguồn lợi thủysản, và trong các vùng sản xuất thủy sản tập trung đang được tiếp tục nghiêncứu nhân rộng và phát triển ở Việt Nam cũng như cả ở các nước trên thế giới
1.4 Sơ lược về tình hình triển khai và thực hiện mô hình ĐQL nghề cá/quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Trước những thành công của phương thức QLDVCĐ/ĐQL nguồn lợiven biển nói chung, quản lý nghề cá nói riêng, của thế giới, Bộ NN & PTNT(Bộ Thuỷ sản cũ) đã rất quan tâm đến phương thức quản lý này và ngay từnhững năm đầu của thập kỷ 90, Bộ thuỷ sản đã cho phép Viện Kinh tế vàQuy hoạch thuỷ sản hợp tác với các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu vấn
Trang 27đề này Từ đó đến nay, đã có một số hợp tác nghiên cứu, Hội thảo, tham quannước ngoài nhằm phát triển phương thức QLDVCĐ/ĐQL trong quản lý nghềcá.
Năm 2005, Bộ NN & PT (Bộ Thuỷ sản cũ) đã chỉ đạo hình thành nhómcông tác nghiên cứu áp dụng phương thức ĐQL trong quản lý nghề cá vàgiao cho Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản chịu trách nhiệm điều phốihoạt động của Nhóm Từ năm 2006 đến nay, Bộ đã thành lập Tổ tư vấn ĐQLtrong ngành thuỷ sản (FICO) nhằm tư vấn giúp Bộ trong việc định hướngphát triển mô hình ĐQL trên toàn quốc, hiện nay nhóm đã đi vào hoạt động;xây dựng tiêu chí đánh giá mô hình và tiêu chí xây dựng mô hình ĐQL trongngành thuỷ sản (Dự án Tăng cường Quản lý Khai thác Thuỷ sản hỗ trợ),Hướng dẫn Qui chế quốc gia về ĐQL áp dụng quyền sử dụng của cộng đồngđối với nghề cá qui mô nhỏ ở Việt Nam (Seafdec, Vifep, 2006), Điều lệ mẫuquốc gia về tổ chức ĐQL (STOFA hỗ trợ); Dự án SCAFI đã và đang tiếnhành xây dựng 9 mô hình ĐQL tại 9 tỉnh điểm gồm: Sơn La, Quảng Ninh,Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Đắc Lắc, Bến Tre, An Giang và CàMau
Bên cạnh đó, bằng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và trong nước,của các địa phương, đến nay đã có 34 mô hình ĐQL/QLNCDVCĐ đã đượctriển khai và áp dụng tại Việt Nam bao gồm cả nuôi trồng và khai thác thuỷsản tại 18 tỉnh, thành phố ở 7 Vùng sinh thái gồm: Vùng Trung du miền núiphía Bắc (Quảng Ninh, Sơn La, Yên Bái), Vùng Đồng bằng sông Hồng (HảiPhòng, Nam Định), Vùng Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa ThiênHuế), Vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà,Ninh Thuận), Vùng Tây nguyên (Đắc Lắc); Vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai),Tây Nam bộ (An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Cà Mau)
Tuy nhiên, nổi bật và điển hình là các mô hình sau:
- Khu bảo tồn biển Rạn Trào, thôn Xuân Tự, xã Vạn Ninh, huyện VạnNinh, tỉnh Khánh Hoà được thực hiện bởi Trung tâm Phát Cộng đồng venbiển (MCD)
- Mô hình ĐQL nghề cá hồ Eusup, do Viện Nghiên cứu Nuôi trồngthuỷ sản III thực hiện (Uỷ hội sông Mê Kông hỗ trợ) từ tháng 8 năm 1995đến 1998 (giai đoạn 1) và từ năm 2000 đến 2004 (giai đoạn 2)
- Mô hình ĐQL/QLNCDVCĐ ở xã Phù Long, huyện Cát Hải, Thànhphố Hải Phòng được thực hiện bởi Trung tâm Phát triển Nông thôn, Chi cụcBảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản Hải Phòng, Viện Konrad Adenauer (Đức) từ năm1999
- Một số mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng ở Đầm Phá tỉnhThừa Thiên Huế bước đầu cũng có một số kết quả và cũng còn những hạnchế như: Mô hình “ Bảo vệ, chống nghề rà điện dựa vào cộng đồng” đượctriển khai trong giai đoạn 1995 – 1996 tại xã Quang Thái, huyện Quảng Điền,Thừa Thiên Huế với sự tham gia của nghiên cứu đa ngành từ Đại học Nông
Trang 28Lâm Huế, Đại học Khoa học Huế và Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế cũ dưới
sự tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC), Canada; Môhình Quản lý nghề cá dựa vào cồng đồng tại xã Quang Thái, huyện QuảngĐiền do Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế thực hiện (Nguyễn Quang Vĩnh Bìnhchủ trì)
Bước đầu những mô hình này đã đạt được: Nhận thức và năng lực củacộng đồng được nâng cao, sự tham gia của chính quyền xã, thôn và cộngđồng trong việc quản lý nguồn lợi, hạn chế phần lớn việc đánh bắt bất hợppháp, giảm mâu thuẩn trong khai thác Tuy nhiên, các mô hình này vẫn cònmột số khiếm khuyết như: chưa khung pháp lý cho việc giao vùng nước chocộng đồng, chưa có cơ chế duy trì cho các hoạt động của mô hình kết thúc,năng lực quản lý và tổ chức các hoạt động của khu bảo tồn chưa cao, chưa có
sự đồng thuận giữa các ban ngành cấp xã, huyện, tỉnh Sự cần thiết phải ápdụng phương thức ĐQL trong nghề cá
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Trang 29- Thời gian: Thời gian tiến hành bắt đầu từ 07/2007 đến 9/2008.
- Địa điểm khảo sát
Nghiên cứu điều tra khảo sát, đánh giá các mô hình áp dụng phươngthức ĐQL/QLDVCĐ trong ngành thủy sản trên phạm vi cả nước, tập trungvào 9 tỉnh điểm của chương trình FSPS II Điều tra khảo sát tại 18 tỉnh đạidiện cho 7 vùng kinh tế - sinh thái đã hình thành các mô hình quản lý nguồnlợi, hoạt động thủy sản mang tính chất ĐQL, gồm các tỉnh sau:
1) Khu vực Trung du miền núi phía Bắc: Sơn La; Yên Bái; QuảngNinh
2) Khu vực Đồng bằng sông Hồng: Hải Phòng, Nam Định
3) Khu vực Bắc Trung Bộ: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế
4) Khu vực Nam trung Bộ: Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà, NinhThuận
5) Khu vực Tây Nguyên: Đắc Lắc
6) Khu vực Đông nam bộ: Đồng Nai
7) Khu vực Tây Nam Bộ: Bến Tre, An Giang, Cà Mau, Sóc Trăng
Vị trí các tỉnh khảo sát được thể hiện trên bản đồ
- Đối tượng khảo sát:
Trang 30Cộng đồng ngư dân, Lãnh đạo Sở Thuỷ sản, Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, chính quyền
và cộng đồng ngư dân các xã 18 tỉnh ở 7 vùng sinh thái của Việt Nam
2.2 Tiêu chí đánh giá
- Theo Sen và Jesper Nilsen, đánh giá một mô hình ĐQL phải dựa trêncác khía cạnh sau: Tính bền vững, hiệu quả, và công bằng (Sen & Nielsen,1996)
Bền vững: Phản ánh trên hai khía cạnh là mức ổn định và khả năng
phục hồi Mức ổn định là xu hướng ở đó người sử dụng nguồn lợi luôn duytrì được năng suất và các đặc tính sinh thái của nguồn lợi Khả năng phục hồi
là khả năng mà nguồn lợi có thể chịu đựng hay chống đỡ được với nhữngthay đổi bất thường của môi trường
Hiệu quả: Chính là tính hiệu quả của chi phí cho giải pháp, cụ thể là
giải pháp phải tính đến việc làm giảm được chi phí cho các hoạt động phục
vụ cho nghề cá hoặc tăng doanh thu thuần cho nghề cá
Công bằng: Phải xét trên 4 khía cạnh bao gồm tính đại diện, phân loại
quá trình, các kỳ vọng giống nhau, và tác động của phân phối Tính đại diệnmuốn nói đến mức độ nhóm sử dụng và các bên tham gia được đại diện cho.Phân loại quá trình muốn đề cập đến tính minh bạch trong các giai đoạn củaquá trình quản lý
- Để có cơ sở khoa học đánh giá hiệu quả của các mô hìnhĐQL/QLDVCĐ trong lĩnh vực thuỷ sản, năm 2006 Dự án Hợp phần Tăngcường Quản lý Khai thác thủy sản đã hỗ trợ Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷsản xây dựng và hoàn thành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hìnhĐQL/QLDVCĐ Bộ chí đánh giá gồm 56 tiêu chí, chia làm 3 nhóm lớn, trongmỗi nhóm lớn gồm các tiểu nhóm và nó cũng bao hàm được tính hiệu quả,bền vững và công bằng Cụ thể như sau:
Nhóm 1: Các tiêu chí về xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình : 29
điểm
- Mức nhu cầu thực hiện mô hình từ phía chính quyền và cộng đồng(từ khi bắt đầu chọn điểm thực hiện mô hình);
- Mức độ cần thiết phải thực hiện mô hình;
- Cơ sở pháp lý của mô hình;
- Tính hệ thống của tổ chức cộng đồng ngư dân;
- Mức độ phối hợp giữa các bên trong tổ chức, thực hiện;
Nhóm 2: Các tiêu chí về hiệu quả áp dụng mô hình : 23 điểm
- Hiệu quả về môi trường, nguồn lợi;
- Hiệu quả kinh tế, xã hội;
- Hiệu quả về mặt quản lý, thể chế, chính sách;
Nhóm 3: Các tiêu chí về tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô
hình: 4 điểm
- Tính bền vững của mô hình;
Trang 31- Mức độ và khả năng nhân rộng của mô hình;
Nội dung các tiêu chí: Xem phụ lục số 2
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu:
- Kế thừa và đánh giá các tài liệu thứ cấp có liên quan;
- Tiến hành khảo sát điều tra mẫu tại 18 tỉnh được lựa chọn đại diệncho 7 vùng kinh tế-sinh thái;
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia củangười dân (PRA) trên cơ sở nội dung của bộ tiêu chí đánh giá;
- Phỏng vấn hộ gia đình theo biểu mẫu;
- Tọa đàm trao đổi trực tiếp, phỏng vấn các cán bộ quản lý;
- Sử dụng phương pháp chuyên gia: thông qua hội thảo, góp ý báo cáo;
- Phương pháp đánh giá cho điểm theo bộ tiêu chí: Trên cơ sở kết quảcủa họp nhóm, phỏng vấn hộ gia đình theo biểu mẫu, tọa đàm trao đổi trựctiếp với cán bộ quản lý tiến hành cho điểm theo từng tiêu chí với thang điểmcho mỗi tiêu chí đơn lẻ như sau:
Bảng 2 Mức cho điểm đánh giá
Mức
điểm
Nội dung thể hiện
1 Sự kiện thay đổi rất nhiều theo chiều hướng tốt (ví dụ: sau khi có
mô hình, thu nhập tăng nhiều)
0,5 Sự kiện thay đổi theo chiều hướng tốt (ví dụ: sau khi có mô hình, thu nhập tăng)
0 Sự kiện không thay đổi (ví dụ: sau khi có mô hình, thu nhập vẫn vậy)
-0,5 Sự kiện thay đổi theo chiều hướng xấu (ví dụ: sau khi có mô hình,
thu nhập giảm)
-1 Sự kiện thay đổi rất nhiều theo chiều hướng xấu (ví dụ: sau khi có
mô hình, thu nhập giảm nhiều)
Trang 32CHƯƠNG 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Phân loại các mô hình ĐQL nghề cá tại Việt Nam
Qua kết quả các đợt khảo sát từ những năm đầu thập kỷ 90 tới nay chothấy các mô hình ĐQL trong lĩnh vực thủy sản là rất đa dạng – phù hợp vớiđặc trưng đa dạng loại hình sản xuất và thành phần kinh tế của ngành thủysản
Tuy nhiên phải lưu ý rằng, sự phân loại các mô hình ĐQL trong lĩnhvực thủy sản chỉ mang tính chất tương đối vì trên một diện tích mặt nướcluôn có thể diễn ra rất nhiều hoạt động cho nhiều mục đích khác nhau
Nếu xét về giác độ đối tượng quản lý của ngành thủy sản, có các nhóm
mô hình ĐQL sau:
- Nhóm mô hình ĐQL trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:bao gồm nhóm khai thác thủy sản nội địa (hồ chứa, sông) và nhóm khai thácthủy sản vùng ven bờ
- Nhóm mô hình ĐQL trong NTTS: bao gồm NTTS trong hồ chứa,NTTS tại các vùng NTTS tập trung cả ở nước ngọt, lợ và nuôi biển
- Nhóm mô hình ĐQL trong chế biến thủy sản: chủ yếu trong các làngnghề chế biến truyền thống
- Nhóm mô hình ĐQL các khu bảo tồn biển:
Trang 33Nếu xét về giác độ tổ chức quản lý của mô hình, có các nhóm mô hìnhĐQL sau:
+ Nhóm mô hình ĐQL trên cơ sở hình thành các Chi hội nghề thủy sản+ Nhóm mô hình ĐQL trên cơ sở hình thành các tổ nghề nghiệp/tổcộng đồng/câu lạc bộ
+ Nhóm mô hình ĐQL trên cơ sở hình thành các hợp tác xã
3.2 Đánh giá tình hình áp dụng mô hình ĐQL/QLNCDVCĐ theo vùng sinh thái
3.2.1 Vùng Trung du miền núi phía Bắc
Vùng Trung du miền núi phía Bắc bao gồm 15 tỉnh, ngoài Quảng Ninh
là một tỉnh ven biển, các tỉnh còn lại trong vùng đều là các tỉnh nội đồng, làvùng có nhiều tiềm năng mặt nước lớn: hồ chứa và hồ tự nhiên Phần lớn cáctỉnh này đều có các hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên ở các mặtnước lớn
Qua các đợt điều tra khảo sát trước đây cho thấy: Một số địa phương
đã có các mô hình ĐQL được chính quyền các cấp, nhiều nhà quản lý vàngười dân khai thác thừa nhận và ủng hộ Những người dân khi được phỏngvấn đều cho đây là mô hình quản lý phù hợp với quản lý nguồn lợi thủy sản
tự nhiên trong các hồ chứa Tuy nhiên, mô hình này chưa được triển khairộng rãi trong tiểu vùng do cán bộ quản lý chưa am hiểu và có nhiều kinhnghiệm về tổ chức thực hiện mô hình, bên cạnh đó điều kiện vật chất kỹ thuật
hạ tầng còn thiếu thốn, đời sống người dân ven hồ còn nghèo, không có nhiềusinh kế ngoài khai thác nguồn lợi thủy sản trong hồ … Một số tỉnh đã xâydựng được các mô hình quản lý tương đối tốt như Yên Bái, Hoà Bình, TháiNguyên… Mặc dù, các mô hình này chưa được hoàn thiện và chưa thực sựđược coi là mô hình ĐQL nhưng có thể nói đây là những cố gắng rất lớn củacác địa phương trong việc tìm ra một biện pháp hữu hiệu để quản lý nguồnlợi thuỷ sản
- Trung tâm thuỷ sản Yên Bái là một đơn vị rất tích cực trong việctriển khai thực hiện mô hình ĐQL trong lĩnh vực quản lý khai thác và bảo vệnguồn lợi thủy sản tự nhiên trong các hồ chứa Trung tâm đã mạnh dạn xinphép chính quyền tỉnh để thực hiện một số nội dung quản lý đáp ứng đượcnhu cầu mong muốn của người dân theo hướng có lợi cho việc phát triển bềnvững thuỷ sản, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản,
Trang 34+ Hướng dẫn hình thành, một số tổ nhóm, câu lạc bộ cho từng khuvực dựa trên đặc điểm và lĩnh vực hoạt động thuỷ sản của từng nơi cho nuôi
cá lồng ở hồ, bảo vệ chia xẻ quyền lợi ở hồ thuỷ lợi loại nhỏ, khai thác cá…
- Quảng Ninh là tỉnh duy nhất trong vùng vừa có khai thác, nuôi ởvùng nước nội địa và biển Mô hình ĐQL ở Quảng Ninh xuất hiện từ rất sớm,được thực hiện tại vùng Cửa Vạn, xã Hùng Thắng, nằm trong vịnh Hạ Long.Ngoài ra, được sự giúp đỡ của hợp phần SUMA, tỉnh cũng đã xây dựng đượcmột mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng tại xã Hải Lạng, huyệnTiên Yên, đã mang lại những thành quả bước đầu, được người dân đánh giácao Tại một số địa điểm khác cũng đã bắt đầu thực hiện chia sẻ trách nhiệmquản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản: tại các xã ven biển huyện Hải Hà đãthành lập các Chi hội nghề cá, thành lập các tổ tự quản cùng nhau phân côngtrách nhiệm bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bên cạnh việc nhiều tỉnh đã xây dựng được các mô hình ĐQL nguồnlợi thuỷ sản thì tại nhiều tỉnh khác trong vùng, khái niệm ĐQL vẫn còn rấtmới mẻ và chưa hề có mô hình, đặc biệt là các tỉnh vùng Tây Bắc như CaoBằng, Sơn La, Lai Châu … Các tỉnh này do điều kiện đi lại khó khăn, trình
độ dân trí thấp, ít được tiếp cận với các nguồn thông tin về khoa học kỹ thuậtnên việc xây dựng mô hình ĐQL sẽ là rất khó khăn
3.2.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng
Vùng ĐBSH bao gồm 10 tỉnh, thành phố với tiềm năng nguồn lợi thủysản ở cả 3 khu vực: nội địa, ven biển và biển tạo điều kiện cho các hoạt độngkhai thác và nuôi trồng thủy sản biển, ven biển và nội địa phát triển
Vùng đã xuất hiện một số mô hình ĐQL trong ngành thủy sản tại cáctỉnh: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định…Mặc dù chưa hẳn là mô hình ĐQLhoàn thiện song các mô hình này đều là các mô hình quản lý có sự chia sẻtrách nhiệm quản lý cho cộng đồng sử dụng tiềm năng diện tích mặt nước,nguồn lợi thủy sản dưới nhiều hình thức khác nhau
- Nam Định là một trong những tỉnh được các tổ chức quốc tế hỗ trợxây dựng mô hình quản lý nguồn lợi ven biển dựa trên cơ sở cộng đồng vớiđịa điểm tại khu bảo tồn RAMSAR - huyện Giao Thuỷ - từ những năm 1990.Ngày 2/1/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số : 01/2003 /QĐ -
TTg chuẩn y việc "Chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân
Thuỷ thành Vườn quốc gia Xuân Thuỷ” Mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản
có sự tham gia của cộng đồng ở khu vực Vườn Quốc gia Xuân thuỷ đã đượcnhiều tổ chức quan tâm hỗ trợ Tuy nhiên cho đến nay, mức độ tham gia củangười dân vào công tác quản lý còn rất hạn chế, mới chỉ dừng ở mức thực thicác quyết định quản lý là chính, nguồn lợi tự nhiên trong khu vực vườn Quốcgia vẫn chưa được bảo vệ tốt
Hiện nay, trong tỉnh đã thực hiện giao quyền quản lý mặt nước chomột số Hợp tác xã (HTX đánh cá Đại Thành xã Hải lý huyện Hải Hậu đãđược UBND tỉnh thông báo số 96/UBND-VP3 ngày 07/6/2007, V/v cho phép
Trang 35HTX đánh cá Đại Thành xã Hải Lý huyện Hải Hậu quản lý diện tích ven bờbiển thuộc các xã Hải Đông, Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều huyện Hải Hậu đểbảo vệ, nuôi trồng, khai thác các loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ) Bên cạnh đó,Hiệp hội nuôi nhuyễn thể huyện Giao Thủy được thành lập theo Quyết định
số 1137/QĐ-UBND ngày 27/4/2006 của UBND tỉnh Nam Định Hiệp hội cónhiệm vụ cùng với cộng đồng ngư dân tổ chức quản lý việc khai thác, nuôitrồng các loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ tại vùng bãi bồi ven biển huyện GiaoThủy (trong đó có khai thác nguồn lợi giống tự nhiên 2 mảnh vỏ)
Sau khi có quyết định thành lập hiệp hội nuôi nhuyễn thể 2 mảnh vỏhuyện Giao Thủy và Thông báo cho phép HTX đánh cá Đại Thành, xã Hải
Lý, huyện Hải Hậu quản lý nguồn lợi thủy sản ven biển tại huyện Hải Hậu,hai đơn vị này đã triển khai tiến hành đại hội và thông báo tới tất cả ngư dântrong và ngoài tỉnh về việc được giao quản lý diện tích bãi bồi và diện tíchven biển để bảo vệ, khai thác và nuôi trồng Đồng thời xây dựng quy chế, kếhoạch và triển khai công tác bảo vệ, khai thác và nuôi trồng trên diện tíchđược giao Cho đến nay, cán bộ quản lý vẫn đang còn lúng túng trong việcxây dựng quy chế hoạt động và việc giao quyền quản lý nguồn lợi thủy sảnven biển tại huyện Hải Hậu cho HTX đánh cá Đại Thành chưa được sự đồngthuận của cả cộng đồng sử dụng nguồn lợi
- Tại Nam Định, chính quyền còn cho phép hình thành các câu lạc bộ,
tổ, đội tham gia quản lý các vùng NTTS Toàn tỉnh đã hình thành được 30câu lạc bộ, tổ, đội tự quản trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản (chủ yếu tậptrung ở các xã, huyện ven biển) để cùng với các cơ quan chức năng quản lýmôi trường vùng nuôi Các mô hình quản lý này đã tạo cho người dân có ýthức hơn trong việc bảo vệ môi trường nuôi Nếu như trước đây chưa có môhình, mọi người đều làm theo ý thích, diện tích nuôi bị bệnh thường xả thảibừa bãi ra môi trường và không thông báo cho các hộ xung quanh dẫn đếngây thiệt hại chung cho cả vùng nuôi, nhưng khi có sự chia sẻ trách nhiệmquản lý cho cộng đồng người nuôi, mọi người đều có ý thức chấp hành theoquy chế của vùng nuôi không xả nguồn nước nuôi bị bệnh ra môi trườngxung quanh, xử lý nguồn nước nuôi bị bệnh trước khi đưa ra ngoài… đồngthời thông báo cho các hộ nuôi biết để phòng và có biện pháp xử lý Một sốđịa phương còn có chính sách hỗ trợ hoá chất để xử lý những ao đầm bị bệnh,nhằm hạn chế bệnh lây lan ra các vùng nuôi … do vậy những mô hình nàyđều có hiệu quả hơn các vùng nuôi khác và tốt hơn trước kia khi chưa có sựchia sẻ trách nhiệm quản lý cho cộng đồng
- Tại Hải Phòng: Năm 2001, khu bảo tồn (KBT) nguồn lợi xã Phù longđược thành lập với sự giúp đỡ của Trung tâm Phát triển Nông thôn (CRP) vàcác nỗ lực của chính quyền và nhân dân địa phương Cách tiếp cận theophương pháp “quản lý nguồn lợi thuỷ sản dựa vào cộng đồng” đã mang lạihiệu quả rất cao Trong giai đoạn dự án hoạt động (từ năm 2002-2005), cácbáo cáo cũng như ý kiến của người dân đều cho rằng nguồn lợi thuỷ sản tựnhiên trong vùng bảo tồn đã tăng lên môt cách đáng kể Tuy nhiên, các tácđộng ngoài mong muốn đã xảy ra sau khi Trung tâm Phát triển nông thôn
Trang 36giao lại quyền quản lý KBT cho người dân Sự tái tạo nguồn lợi đã kích thíchlòng tham của nhiều người, họ đã tìm đủ mọi cách để xâm phạm KBT vàkhai thác nguồn lợi bằng các phương pháp huỷ diệt, đặc biệt là khai thácbằng mìn, trong khi đó, chính quyền và nhân dân địa phương vẫn chưa có đủcác nguồn lực và kinh nghiệm để có thể tự bảo vệ KBT, hậu quả là KBT đã
bị xâm phạm liên tục và người dân đã có thái độ gần như “buông xuôi”
Tại thị trấn Cát Bà còn xuất hiện mô hình cụm lồng nuôi an toàn vănhoá: Do môi trường trong nuôi thủy sản lồng bè của huyện Cát Hải trước đây
đã có lúc đến mức báo động, thực hiện chỉ đạo của UBND huyện Cát Hải,phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) kết hợp với phòngTài nguyên và Môi trường, đồn biên phòng 54, UBND thị trấn Cát Bà tiếnhành xây dựng phương án sắp xếp lại lồng bè, xây dựng các cụm bè an toàn,văn hóa, thành lập tổ thu gom rác thải với sự tham gia của cộng đồng nhằmmục đích phát triển bền vững ngành Thủy sản Cát bà nói riêng và Cát Hải nóichung Bắt đầu từ tháng 3/2006 đến hết tháng 4/2006, phòng NN&PTNT CátHải phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành công tác họp dân tuyêntruyền chủ trương di chuyển lồng bè, tham khảo ý kiến của nhân dân trongcộng đồng cho phương án di chuyển lồng bè và thực hiện trách nhiệm tựquản môi trường Đến nay, việc sắp xếp, di dời vị trí neo đậu lồng bè đượctiến hành thuận lợi, các trách nhiệm tự quản đã được thực hiện tốt Mô hìnhtuy mới hoạt động nhưng đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ và đặc biệt
là nhận được sự đồng thuận cao của người dân Bên cạnh đó, việc vận hành
mô hình vẫn còn nhiều thiếu sót do bị hạn chế về mặt tài chính và cả kỹthuật, các cán bộ thực hiện mô hình đều là cán bộ kiêm nhiệm, chưa hìnhthành được quy chế nên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại cần giải quyết
Tuy đây chưa phải là các mô hình ĐQL sản xuất thủy sản và bảo vệnguồn lợi thủy sản ở mức độ cao, còn nhiều lúng túng và hạn chế trong tổchức nhưng xuất phát từ nhu cầu của người dân, các mô hình quản lý này đãmang lại những hiệu quả ban đầu khả quan
3.2.3 Vùng Bắc Trung Bộ
Vùng bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố với tiềm năng nguồn lợithủy sản ở cả 3 khu vực: nội địa, ven biển - với hệ thống đầm phá đặc trưng
và biển tạo điều kiện cho các hoạt động khai thác nguồn lợi hải sản vùng ven
bờ và xa bờ, NTTS ven bờ, khai thác và NTTS trong hệ đầm phá của tỉnhThừa Thiên Huế Ngoại trừ Thừa Thiên Huế, tại các tỉnh khác của vùng hầunhư chưa có sự phát triển của mô hình ĐQL
Do tính đặc thù và vai trò của hệ thống đầm phá, Thừa Thiên Huế làmột trong những tỉnh đi đầu trong việc thực hiện chia sẻ trách nhiệm quản lý
và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho cộng đồng, tỉnh đã nhận được sự hỗ trợ củarất nhiều các tổ chức trong nước và quốc tế cho xây dựng phương thức quản
lý này Đã có rất nhiêu mô hình được xây dựng ở Tỉnh một cách tương đối có
hệ thống và bài bản, đơn cử một số mô hình như sau
Trang 37- Mô hình "Bảo vệ, chống nghề rà điện dựa vào cộng đồng" được triểnkhai trong giai đoạn 1995 - 1996 tại xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền, với
sự tham gia của nhóm nghiên cứu đa ngành, từ: Đại học Nông Lâm Huế, Đạihọc Khoa học Huế và Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế dưới sự tài trợ của dự án:
"Quản lý nguồn lợi sinh học đầm phá Tam Giang" (1995 - 2000) do Trungtâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế, Canada tài trợ
Tiến trình thực hiện: (1) thành lập nhóm hoạt động, (2) nhóm hoạtđộng thuyết phục sự ủng hộ của cộng đồng để thực hiện, (3) tiếp xúc Chi cụcBảo vệ Nguồn lợi và UBND xã để thông qua kế hoạch, (4) chọn những ngườibảo vệ ở địa phương, (5) xây dựng các quyết định của cộng đồng về việc thựchiện các quy định (bước đầu là cấm nghề rà điện, sau đó có thể thay các mụctiêu khác khi đã đạt được mục tiêu ban đầu), (6) giám sát và đánh giá việcthực hiện quy định
Bước đầu mô hình đã thu được kết quả khả quan, đã hạn chế phần lớnnghề rà điện trong thời điểm đó Tuy nhiên, việc duy trì mô hình trên là khókhăn khi thuyền máy được tài trợ đã hư hỏng và Dự án đã kết thúc Mặt khác,
cơ cấu tổ chức không chính thức của "nhóm hoạt động" khiến không thể duytrì lâu dài các tổ chức ngư dân này
- Mô hình "Tiếp cận ĐQL để phát triển hệ thống thuỷ đạo cho vùngnuôi trồng thuỷ sản" ở Thuận An, do nhóm nghiên cứu Đại học Khoa họcHuế và UBND xã Phú Tân (nay là thị trấn Thuận An) thực hiện vào giai đoạn
1999 - 2000, dưới sự tài trợ của dự án: "Quản lý nguồn lợi sinh học đầm pháTam Giang" do IDRC, Canada tài trợ (1995-2000)
Khu vực đầm phá này trước đây khai thác chính bằng nghề nò sáo,hiện nay đa phần quây kín vùng nước lại, một mặt chuyển qua nuôi trồngthuỷ sản, mặt khác chiếm lấy ngư trường chung nên mâu thuẫn xảy ra gay gắtgiữa những người bao chiếm và những người khai thác các nghề di động,nhỏ Mục tiêu của mô hình nhằm giảm mâu thuẫn bằng cách mở rộng luồnglạch giữa các khu bao chiếm, tạo thêm ngư trường cho ngư dân đồng thời gópphần thông thoáng môi trường cho vùng bao chiếm
Phương pháp nghiên cứu với sự tham gia của người dân được sử dụngvới các kỹ năng, như: phỏng vấn bán cấu trúc, lịch thời vụ, phân hạng, vẽ bảnđồ Các hội thảo khác nhau cũng được tổ chức cho ngư dân, đại diện cáccấp chính quyền, các nhà khoa học để xác định vấn đề và tìm giải phápđồng thuận của tất cả các bên liên quan "Ban Nghiên cứu hỗn hợp ngư dân -chính quyền” được thành lập gồm 14 thành viên, trong đó chính quyền có 3thành viên, ngư dân có 11 thành viên Ban này quyết định phát triển thuỷ đạotheo tiến trình 3 bước: 1) chọn một thuỷ đạo thí điểm, 2) triển khai thửnghiệm để rút bài học ưu khuyết điểm, 3) áp dụng những kinh nghiệm đạtđược để triển khai xây dựng và quản lý các thuỷ đạo còn lại Đưa ra đề nghịthí điểm thuỷ đạo Xà Bạc trên cơ sở 3 tiêu chuẩn: 1) ngư dân gắn liền thuỷđạo có kinh nghiệm trong quản lý tập thể về hoạt động sản xuất, 2) mở rộng
Trang 38thuỷ đạo không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất, 3) việc mở rộngthuỷ đạo tương đối dễ dàng và thuận lợi.
"Ban Triển khai hỗn hợp” được đề nghị thành lập theo công thứcchung: 2 cán bộ chính quyền, 1 ngư dân từ Ban Nghiên cứu hỗn hợp và đạidiện cho cộng đồng ngư dân bị ảnh hưởng bởi phát triển thuỷ đạo BanTriển khai hỗn hợp thuỷ đạo Xà Bạc gồm 9 người, Ban ngư dân quản lý gồm
10 người do cộng đồng ngư dân bầu chọn
Kết quả sau rất nhiều bước nghiên cứu, thảo luận, xây dựng tổ chứcviệc triển khai phát triển thuỷ đạo bị gián đoạn do Dự án kết thúc việc tài trợ.Tồn tại ở mô hình này có thể nhận ra đó là việc nghiên cứu, bàn bạc quánhiều, phức tạp trong tổ chức các nhóm, triển khai cụ thể ít
- Mô hình "Quản lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản dựa vào cộngđồng" tại xã Vinh Giang, huyện Phú Lộc do Viện Nghiên cứu Nuôi trồngThuỷ sản I, Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế và UBND xã Vinh Giang thực hiệnthông qua dự án "Quản lý Môi trường Nuôi trồng Thuỷ sản ven biển"(VIE/97/030) do Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP) tài trợ từ
2001 đến 2004
Môi trường nuôi trồng thuỷ sản đang diễn biến theo hướng ngày càngxấu đi do hậu quả của việc mở rộng diện tích nuôi, tăng nhanh mức độ thâmcanh Mặt khác, người nuôi trồng thuỷ sản hoạt động đơn lẻ, manh mún,thiếu tính cộng đồng, trong khi Nhà nước chưa có biện pháp quản lý hữu hiệunên tình hình ngày càng trầm trọng thêm "Giải quyết vấn đề này dự án đãđưa ra kế hoạch hành động cải tiến quản lý môi trường cấp hộ, phát triểnquản lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản dựa vào cộng đồng song song với cảitiến quy hoạch và nâng cao năng lực cho người dân và cán bộ quản lý Nhànước về nuôi trồng thuỷ sản"
Phương pháp thực hiện là thành lập "tổ tự quản" thí điểm để quản lýmôi trường nuôi trồng thuỷ sản trong khu vực và thực hiện quy hoạch chi tiếtnuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của người dân cho xã Vinh Giang Kếtquả là ý thức tự nguyện tham gia nhóm của cộng đồng và cán bộ địa phươngđược nâng lên, nhận thức về quản lý môi trường khu vực nuôi được nâng cao
Mô hình được thử nghiệm và phát triển, "mô hình đã được nhân rộng ở 7 xã
ở Thừa Thiên Huế"
Tồn tại ở đây là cách thức tổ chức ngư dân mang tính tạm thời, đôi lúc
áp đặt Tính tự chủ của tổ chức ngư dân không cao Tên gọi và bản chất tựquản thật sự của tổ chức ngư dân này chưa đi song hành
- Mô hình quản lý nguồn lợi thuỷ sản ven biển có sự tham gia củacộng đồng thông qua Chi hội nghề cá cấp cơ sở tại xã Quảng Thái:
Đầu tiên, tổ chức ngư dân được thành lập: Chi hội Nghề cá QuảngThái gồm 108 thành viên có đơn xin tự nguyện gia nhập Chi hội Nghề cáđược thành lập trên cơ sở thoả thuận giữa Hội Nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế
và UBND xã Quảng Thái, theo nguyên tắc: Chi hội Nghề cá trực thuộc Hội
Trang 39Nghề cá Thừa Thiên Huế Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế có trách nhiệmhướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức hoạt động Chi hội Nghề cáchịu sự lãnh đạo của Đảng uỷ xã và quản lý toàn diện bởi UBND xã Mặtkhác, Chi hội Nghề cá hoạt động dưới sự bảo trợ của Phòng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn huyện và Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế.
Cơ cấu của tổ chức ngư dân gồm: Ban Chấp hành (BCH) điều hành,lãnh đạo ngư dân bằng cách bầu Ban Lãnh đạo: Chủ tịch, Phó Chủ tịch vàThư ký đồng thời chỉ định Ban Kiểm tra, với Trưởng Ban là một uỷ viênBCH Các thành viên khác của Ban Kiểm tra, đại diện cho các nhóm hoạtđộng thuỷ sản khác nhau Ban Kiểm tra có nhiệm vụ kiểm soát việc tuân thủcác điều lệ, quy định của tổ chức, đồng thời điều phối việc tuần tra, tự bảo vệngư trường, nguồn lợi thuỷ sản trong khu vực sản xuất thuỷ sản của Chi Hội
Mô hình thí điểm có kết quả tốt Các quyết định đã được thông qua cấpcộng đồng và cho kết quả thực hiện bước đầu rất tốt:
+ Quy hoạch, sắp xếp lại ngư trường, đường giao thông thuỷ, khu vựcnuôi cá lồng để thông thoáng môi trường, đường di cư sinh sản của các loàithuỷ sinh
+ Xây dựng quy chế tự quản lý ngư trường và thông qua Hội nghị toànthể Chi hội nghề cá Quảng Thái ngày 21/11/2003 Quy chế này cũng đượcChính quyền xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thôngqua như là một quy chế dân chủ cơ sở
+ Tổ chức chủ động bảo vệ vùng sản xuất của Chi hội Nghề cá, phốihợp với các cơ quan chức năng của Nhà nước quản lý thuỷ sản
Các hộ sản xuất thiệt thòi do sắp xếp lại ngư trường, giao thông đượcchia sẻ bởi cộng đồng bằng cách sắp xếp lại, để bảo đảm trong Chi hội, mọingười đều có cơ hội để sản xuất, vị trí để sản xuất, bảo đảm đời sống Chi hộiNghề cá Quảng Thái chỉ mới thành lập một vài năm nhưng bước đầu đã xâydựng được tổ chức, đã ban hành quy chế quản lý nhất đối với sử dụng nguồnlợi và môi trường chung và từng bước chủ động việc thực hiện sắp xếp bố tríngư cụ, lồng nuôi, đường giao thông
Mô hình Chi hội Nghề cá ban đầu đạt được những thành tựu nhất địnhtrên góc độ quan tâm từ phía cộng đồng ngư dân và Nhà nước:
+ Các cộng đồng ngư dân mong muốn được xây dựng tổ chức hội nghềnghiệp để tập trung lực lượng, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống
+ Cơ quan quản lý thuỷ sản cũng mong muốn có hệ thống tổ chức ngưdân cấp cơ sở để làm “cầu nối” giữa Nhà nước và ngư dân trong việc quản lýthủy sản: chống khai thác huỷ diệt, ô nhiễm môi trường, mục tiêu ổn định vàphát triển sản xuất nâng cao đời sống ngư dân đầm phá
Cho đến nay toàn tỉnh đã phát triển đến 20 Chi hội nghề cơ sở khácnhau, về ngành nghề sản xuất, về quy mô, về thời điểm thành lập nhưngthống nhất trong quy chế Hội Nghề cá tạo thành một hệ thống rộng khắp toàn
Trang 40tỉnh Hệ thống này tuy hiện đang còn non yếu nhưng đó đã trở thành một hệthống tiềm năng về tổ chức cho việc xây dựng mô hình ĐQL Quy chế địnhrõ: Chi hội Nghề cá cơ sở là tổ chức ngư dân được uỷ quyền cụ thể trên mộtthuỷ vực xác định để chủ động tự tổ chức quản lý, khai thác, nuôi trồng thuỷsản không trái với kế hoạch quản lý chung của Nhà nước và cùng Nhà nướcquản lý trên nhiều khía cạnh khác nhau, như: ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản,môi trường thuỷ sinh, giao thông thuỷ, thuế nghề cá Như thế, bảo đảm chongười dân có những quyền cụ thể để tự quản lý những vấn đề mang tính nội
bộ cộng đồng mà Nhà nước không thể đủ nguồn lực để quản lý tốt
- Tại các tỉnh khác trong tiểu vùng: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, bên cạnh các hoạt động quản lý và bảo vệ nguồn lợithủy sản của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các địa phương cũng đãbước đầu xuất hiện sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động quản lý và bảo
vệ môi trường vùng NTTS với tổ chức nòng cốt là Hiệp hội NTTS và Hợptác xã Những mô hình này mới chỉ tiếp cận những bước đi đầu tiên tới ĐQL
Ở những nơi đã có mô hình ĐQL hoặc bước đầu hình thành mô hìnhĐQL môi trường và nguồn lợi thủy sản đều cho các tác dụng tích cực tớinguồn lợi thuỷ sản và đời sống của người dân Tuy nhiên, các mô hình đềucòn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết và chưa có tính bền vững cao,
kể cả các mô hình ở Thừa Thiên Huế
3.2.4 Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh, thành phố với đặc thù làcác tỉnh ven biển, chủ yếu là phát triển khai thác, nuôi trồng thủy sản biển vàven biển Ở đây cũng đã và đang xuất hiện nhiều mô hình ĐQL nguồn lợithủy sản ven biển và xung quanh các đảo Tình hình thực hiện các mô hìnhĐQL của vùng có một số các nét chung như sau
ĐQL trong BVNLTS và nuôi trồng thủy sản đã xuất hiện ở khu vựcNam miền Trung chủ yếu là ở dạng mô hình có sự hỗ trợ của các dự án trongnước hoặc do các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ hỗ trợ Mặc dù tiếpcận và đặc điểm của các mô hình này khá đa dạng, nhưng chủ yếu vẫn thiên
về quản lý có sự tham gia của cộng đồng, mang tính tự quản nhiều hơn làĐQL
Do chủ yếu là có yếu tố bên ngoài tác động (mặc dù nhu cầu xây dựng
mô hình hầu hết đều từ cả bên trong và bên ngoài), hầu hết các mô hình nàyđều chưa có tính bền vững cao Sau khi những nguồn hỗ trợ bên ngoài kếtthúc, nhiều mô hình họat động kém hẳn, một số có nguy cơ tan rã
Nhìn chung, vai trò của UBND xã và Sở Thủy sản (gồm cả các cơquan trực thuộc, đặc biệt là Chi cục BVNLTS) và các cơ quan khác (Bộ độibiên phòng, Công ty Thủy Nông, Công An .) đóng vai trò quan trọng đốivới sự họat động của các mô hình này
Thiếu khung pháp lý và những hướng dẫn cần thiết là nguyên nhân chủyếu khiến nhiều mô hình họat động hình thức hoặc kém hiệu quả