1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP đông nam á

91 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 614,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương thức thanh toán quốc tế ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, một trong những phương thức đó là phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng Cùng với các hoạt động kinh do

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong thế kỷ 21, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đối với mỗi quốc gia là một tất yếu khách quan Với xu thế này, tất cả các quốc gia đều có sự liên kết với nhau

về kinh tế, văn hoá, chính trị, khoa học…Một trong những hoạt động kinh tế có sự phát triển mạnh mẽ đó là thương mại quốc tế Và cũng có thể nói rằng từ khi thương mại quốc tế ra đời và phát triển thì không thể không nhắc đến vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế

Sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới – WTO là một bước tiến quan trọng, khẳng định vị trí của nước ta trên trường quốc tế Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam nhờ đó cũng được thuận lợi hơn, số lượng giao dịch mua, bán nhiều kéo theo nhu cầu thanh toán quốc tế ngày càng lớn Các phương thức thanh toán quốc tế ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, một trong những phương thức đó là phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng

Cùng với các hoạt động kinh doanh khác, Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Đông Nam Á không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế bằng tín dụng thư Doanh số của hoạt động này tăng lên đáng kể trong hai năm gần đây và dần trở thành phương thức thanh toán chủ yếu của hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng

Nhận thức được tầm quan trọng của phương thức thanh toán bằng tín dụng thư, qua quá trình học tập cũng như quá trình thực tập tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, em đã đủ điều kiện để tiếp cận về vấn đề này nên em mạnh dạn chọn đề tài

Trang 2

“ Tìm hiểu phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á” làm nội dung của khoá luận tốt nghiệp

- Luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 10/8/2007 đến 30/11/2007

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng thư (L/C) tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Thu thập số liệu và phân tích

- Phương pháp đối chiếu so sánh

- Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

6 Kết cấu của khoá luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm ba chương như sau:

Chương I: Khái quát chung về Thanh toán quốc tế và Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Trang 3

Chương II: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng thư tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán bằng tín dụng thư tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

Em xin chân thành cảm ơn T.S – G.V Nguyễn Thị Hiển đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn em từ khâu lập đề cương đến khi hoàn chỉnh bài khoá luận Xin chân thành cảm ơn các anh chị phòng thanh toán quốc tế của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á đã cung cấp những số liệu cần thiết và chỉ bảo em trong suốt thời gian em thực hiện các nội dung của khoá luận

Trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của giáo viên hướng dẫn và hội đồng thi nhà trường./

Sinh viên thực hiện

Đoàn Việt Hà

Trang 4

CHƯƠNG I:

KHÁI QUÁT CHUNG VỂ THANH TOÁN QUỐC TẾ

VÀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ : 1.1.1 Khái niệm về hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT):

Ngày nay, đối với mỗi quốc gia, quan hệ kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng hàng đầu và là con đường tất yếu trong phát triển kinh tế Hoạt động kinh tế đối ngoại là hoạt động trao đổi hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể của các quốc gia khác nhau

TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan

hệ kinh tế, thương mại tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế, các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng hình thức chuyển tiền hoặc hình thức bù trừ trên tài khoản tại các ngân hàng

TTQT được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm thanh toán các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nước, các hợp đồng mua bán ngoại thương, các phí dịch vụ (như phí vận tải, bảo hiểm…)

TTQT có thể được chia thành:

- Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán có liên quan trực tiếp, phát

sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế

- Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan

đến hàng hoá, không mang tính chất thương mại: quan hệ về ngoại giao (như chi phí của các cơ quan ngoại giao tại nước sở tại), văn hoá, du lịch (chi phí vận chuyển và

đi lại của các đoàn khách, chính phủ, tổ chức, cá nhân…)

Trong giao dịch ngoại thương, sự trao đổi hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia nên có sự khác nhau về quy chế mậu dịch, các điều kiện thương mại cũng như các tập quán thương mại

Trang 5

Vì vậy, một cơ chế thanh toán mang tính thống nhất và đảm bảo an toàn lợi ích cho cả người mua và người bán là vô cùng cần thiết Trong cơ chế thanh toán này thông thường có một bên thứ ba độc lập làm trung gian thanh toán Đó là các tổ chức tài chính trung gian (chủ yếu là các ngân hàng) có kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ, uy tín, khả năng tài chính, mạng lưới đại lý, và quan hệ rộng…

1.1.2 Đặc trưng của TTQT:

Một là, TTQT tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với các hoạt động khác của

quan hệ kinh tế quốc tế TTQT đã xuất hiện từ rất lâu nhưng nó chỉ thực sự phát triển kể từ khi Chủ nghĩa tư bản ra đời và từ đó cho đến nay nó trở thành một bộ phận không thể tách rời khỏi nền kinh tế

Hai là, TTQT liên quan đến chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau

Ba là, trong TTQT có sự xuất hiện của đồng ngoại tệ đối với một hoặc hai

bên tham gia (mua, bán) Ngày nay, đồng USD không còn là đồng tiền tiêu chuẩn duy nhất Việc lựa chọn đồng tiền nào hoàn toàn do sự thoả thuận của bên mua và bán, có thể sử dụng đồng tiền nội tệ của bên mua hoặc bên bán hoặc cũng có thể lựa chọn một đồng ngoại tệ đối với cả bên mua và bên bán Việc lựa chọn này phụ thuộc vào uy tín của nền kinh tế, so sánh tương quan vị thế giữa hai bên mua và bán, hay phụ thuộc vào tập quán thương mại quốc tế Và trong thực tế có một số đồng tiền mạnh thường được sử dụng trong quan hệ TTQT như USD (Đô la Mỹ), GBP (Bảng Anh), JPY (Yên Nhật), EURO…Bên cạnh đó thì đồng SDR (Quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ tiền tệ thế giới) cũng được tham gia trong hoạt động kinh tế đối ngoại

Bốn là, TTQT ít sử dụng tiền mặt, chủ yếu được thực hiện bằng chuyển

khoản giữa các ngân hàng liên quan

Năm là, cũng như nhiều lĩnh vực khác, TTQT chịu ảnh hưởng của các yếu tố

bất ổn trên thế giới Các liên minh tiền tệ ra đời và ngày càng có vai trò quan trọng đối với các quốc gia Bất kỳ một nền kinh tế dù đang trong giai đoạn phát triển thịnh vượng cũng luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn: nguy cơ lạm phát, thâm hụt cán cân TTQT, mất cân bằng cung cầu ngoại tệ, sự bất hợp lý của các chính sách vĩ mô

Trang 6

(chính sách tiền tệ, chính sách tài chính…) hay sự biến động của tỷ giá theo hướng bất lợi cho nền kinh tế… Vì quan hệ TTQT là một bộ phận của quan hệ kinh tế nên

nó cũng không nằm ngoài sự tác động của các yếu tố bất ổn trên

Sáu là, TTQT chịu ảnh hưởng của luật quốc tế hoặc ít nhất là luật nước ngoài

đối với một bên tham gia giao dịch

1.1.3 Vai trò của TTQT:

Thanh toán quốc tế không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mà còn có vai trò đối với ngân hàng và các nhà xuất nhập khẩu (những người tham gia trong quá trình thanh toán quốc tế)

1.1.3.1 Đối với nền kinh tế:

TTQT ra đời từ những quan hệ kinh tế quốc tế và bản thân nó lại thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế

TTQT là khâu kết thúc một giao dịch buôn bán hàng hoá, dịch vụ, là cầu nối giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu thông qua việc chi trả lẫn nhau trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT Chính vì vậy, nếu hoạt động TTQT được thực hiện

có hiệu quả nó sẽ rút ngắn thời gian chuyển vốn Và như vậy nó sẽ thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển

- TTQT tăng cường mối giao lưu về kinh tế giữa các quốc gia Thực hiện nghiệp vụ này, các ngân hàng trong nước sẽ thiết lập được mối quan hệ đại lý với các ngân hàng và đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ TTQT là cầu nối sản xuất và tiêu dùng mà thông qua đó, lợi ích người bán, người mua hay nói khác đi là lợi ích của các quốc gia tham gia thương mại sẽ được thoả mãn, cán cân TTQT của mỗi quốc gia sẽ được cải thiện Đó là lý do và cũng là động lực cho

sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại

- TTQT hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại Đóng vai trò là trung gian trong thanh toán, ngân hàng bảo vệ quyền lợi của khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán, tạo sự tin tưởng cho khách hàng… nhờ đó giảm thiểu rủi ro giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi

Trang 7

- Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển thuận lợi sẽ là nhân tố tích cực tác động trở lại đối với nền sản xuất trong nước, tạo điều kiện đưa đến một cơ cấu sản xuất hiện đại, năng động hướng về xuất khẩu Như vậy TTQT gián tiếp tham gia vào quá trình phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả

TTQT là một công cụ của Nhà nước nhằm hoạch định các chính sách về hoạt động ngoại thương

Hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại (NHTM) có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng ngoại tệ dự trữ của một quốc gia và nếu không được kiểm soát thì có thể quốc gia đó sẽ lâm vào tình trạng thiếu hụt dự trữ ngoại tệ Điều đó rất nguy hiểm đối với nền kinh tế

Ngân hàng Trung ương kiểm soát hoạt động TTQT thông qua việc theo dõi

và thẩm định các hoạt động TTQT của các NHTM cũng như ban hành các quy định

về hạn mức TTQT của các NHTM và hỗ trợ các NHTM khi cần thiết

Theo dõi hoạt động TTQT của các NHTM, khi Nhà nước nắm vững được tình hình TTQT của cả hệ thống NHTM thì sẽ nắm vững được hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế Từ đó giúp Nhà nước có thể hoạch định các chính sách thích hợp cho hoạt động xuất nhập khẩu

1.1.3.2 Đối với hoạt động của các NHTM:

Trước hết, TTQT là một trong những hoạt động kinh doanh đem lại doanh thu cho NHTM Đối với hoạt động của NHTM, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, được coi là một trong những hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng thời nó bổ sung và hỗ trợ cho những mặt hoạt động khác TTQT là một hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thu phí của ngân hàng Tiền phí thường là một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị hàng hoá xuất, nhập khẩu

Hơn nữa, TTQT góp phần làm tăng lượng vốn huy động của ngân hàng Ví

dụ, trong quá trình thực hiện các phương thức thanh toán L/C cho khách hàng, đối với từng loại khách hàng mà ngân hàng sẽ tính một tỷ lệ ký quỹ khác nhau, đó là một khoản tiền tỷ lệ với giá trị khoản thanh toán Đây là một nguồn tiền tương đối

Trang 8

ổn định, phát sinh thường xuyên và là nguồn vốn có tính thanh khoản cho ngân hàng dưới hình thức tiền tệ tập trung chờ thanh toán khi chưa đến hạn thanh toán cho phía nước ngoài Nguồn vốn ngoại tệ lớn và đa dạng thu được từ hoạt động TTQT giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn phát triển các hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác

Ngoài ra, nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT mà ngân hàng có thể mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ quốc tế khác, trên cơ sở đó làm đa dạng sản phẩm của mình

TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở

đó nâng cao uy tín của ngân hàng, tạo dựng niềm tin cho khách hàng, thu hút thêm lượng khách hàng đến giao dịch, điều đó giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

Hoạt động TTQT giúp ngân hàng nâng cao uy tín của mình trên thị trường quốc tế, trên cơ sở đó có thể khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính thế giới

TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại bởi lẽ trong TTQT tiêu chí nhanh chóng, an toàn, chính xác luôn được quan tâm hàng đầu Hệ thống ngân hàng ở bất kỳ một quốc gia nào cho dù có công nghệ ngân hàng hiện đại đến đâu cũng phải không ngừng đầu tư thích đáng vào công nghệ thông tin, viễn thông…

1.1.3.3 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu:

Là chủ thể của tất cả các hình thức thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là những người hưởng lợi trực tiếp từ những lợi ích của hoạt động TTQT Thanh toán quốc tế là khâu kết thúc của hoạt động ngoại thương, nếu tất cả các khâu của quá trình thanh toán quốc tế được thực hiện chính xác, nhanh chóng sẽ giúp cho nhà nhập khẩu sớm nhận được hàng hoá đã yêu cầu, nhà xuất khẩu sớm thu hồi được vốn, đẩy nhanh chu trình sản xuất kinh doanh

Quá trình TTQT ngẫu nhiên được thực hiện qua trung gian là các NHTM, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ giảm được một phần rủi ro do các NHTM luôn

Trang 9

kiểm soát tất cả các khâu trong tiến trình của mỗi nghiệp vụ TTQT Các doanh nghiệp có thể tranh thủ vốn và công nghệ của các NHTM khi tham gia thanh toán quốc tế, với ưu thế về vốn và công nghệ đẩy nhanh quá trình thanh toán thông qua việc chiết khấu bộ chứng từ, cho vay trực tiếp, thực hiện nhờ thu ở những nơi có khoảng cách địa lý rất xa…

Ngoài ra, với các doanh nghiệp nhỏ, chưa có uy tín trên thị trường quốc tế, khó có thể thực hiện được các hợp đồng kinh tế do yêu cầu về uy tín rất cao trong các hợp đồng quốc tế, họ có thể dựa trên uy tín của các NHTM để ký kết các hợp đồng kinh doanh

1.1.4 Các phương thức thanh toán quốc tế:

Trong hoạt động thương mại quốc tế tất yếu sẽ diễn ra hoạt động thanh toán giữa các bên với nhau Ngân hàng chính là trung gian trong quá trình thanh toán này, các mối quan hệ thương mại rất đa dạng do đó đi kèm với nó thì phải có những phương thức thanh toán khác nhau phù hợp với từng mối quan hệ đó

Phương thức thanh toán hiểu một cách đơn giản, là một cách thức nhất định thông qua người mua trả tiền, nhận hàng và người bán nhận tiền và giao hàng

Sau đây là các phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng trong giao dịch thương mại quốc tế

1.1.4.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance):

Định nghĩa:

Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu…) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người cung ứng dịch vụ, người bán…) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu

Ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước người hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền

Trang 10

Các hình thức chuyển tiền:

Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer Remittance – M/T) là hình thức chuyển

tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà ngân hàng này gửi cho ngân hàng thanh toán qua bưu điện

Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer Remittance – T/T) là một hình

thức trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong một nội dung một bức thư gửi tới ngân hàng thanh toán thông qua FAX hoặc TELEX hoặc qua mạng liên lạc viễn thông SWIFT

Chuyển tiền bằng điện nhanh chóng, ít thất lạc và tránh đọng vốn Tuy nhiên chi phí cao Ngược lại với chuyển tiền bằng điện, chuyển tiền bằng thư lại có chi phí thấp nhưng lại rất chậm và không an toàn

1.1.4.2 Phương thức ghi sổ (Open account):

Định nghĩa:

Người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) người mua trả tiền cho người bán

Đặc điểm của phương thức ghi sổ:

- Đây là một phương thức không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán

- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên Nếu người mua

mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán giữa hai bên

- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán: người mua và người bán

1.1.4.3 Phương thức nhờ thu (Collection of payment):

Định nghĩa:

Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán ký phát

Trang 11

Các loại nhờ thu:

a) Nhờ thu phiếu trơn (clean collection):

Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng

Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán

về mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán Việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trễ trả tiền Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ hàng hoá thì người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không

b) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection):

Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng

Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải đối với người mua Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn

Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ còn gặp phải một số mặt hạn chế như:

+ Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi tình hình thị trường bất lợi đối với họ

Trang 12

+ Việc trả tiền nhanh hay chậm phụ thuộc vào thiện chí của người nhập khẩu Có nhiều trường hợp thời gian từ lúc giao hàng đến lúc nhận tiền kéo dài vài tháng hoặc nửa năm

+ Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua do đó ít đảm bảo cho người xuất khẩu

1.1.4.4 Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit):

Tín dụng chứng từ là một văn bản thoả thuận, trong đó một ngân hàng

(ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng ra đời nhằm đảm bảo quyền lợi của cả bên xuất khẩu và nhập khẩu Người mua có thể được đảm bảo về việc giao hàng trước khi thực hiện thanh toán cho người bán Người bán có thể thu hồi vốn sớm và được đảm bảo về việc thanh toán từ phía ngân hàng người nhập khẩu

Những nội dung cụ thể về phương thức thanh toán L/C người viết xin nêu chi

tiết trong mục 1.3 dưới đây

1.2 PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ:

Trang 13

Tham gia vào việc lập và trả tiền hối phiếu có:

- Người ký phát hối phiếu (Drawer)

- Người trả tiền hối phiếu (Drawee)

- Người hưởng lợi hối phiếu (Beneficiary)

Hối phiếu có thể chuyển nhượng bằng cách ký hậu

b) Các văn bản luật điều chỉnh:

- Công ước Geneve 1930 trong đó có ban hành một luật điều chỉnh về hối phiếu là ULB 1930 (Uniform Law for Bill of Exchange) ULB mang tính chất khu vực thuộc Châu Âu Việt Nam áp dụng công ước này từ năm 1937

- Luật hối phiếu của Anh 1882 (Bill of Exchange Act of 1882)

- Luật thương mại thống nhất Mỹ 1962 (Uniform Commercial Codes-UCC 1962)

Hai văn kiện này mang tính quốc gia

- Tập quán tiêu chuẩn ngân hàng quốc tế ISBP (International Standard Banking Practice) Đây là văn bản được toàn thể Uỷ ban ngân hàng thông qua tại cuộc họp ở Rome 10/2002, giải thích chi tiết hơn các cách áp dụng quy tắc của UCP trong giao dịch hàng ngày trong đó có các quy định có liên quan đến hối phiếu

1.2.3 Séc:

a) Định nghĩa:

Séc (Cheque) là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả tiền cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản

Séc được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, du lịch và các chi trả mậu dịch khác

Những người có liên quan đến séc:

+ Người phát hành séc

+ Ngân hàng thanh toán

+ Ngưởi hưởng lợi séc

Trang 14

Séc có thể chuyển nhượng bằng cách ký hậu

b) Các văn bản luật điều chỉnh:

Năm 1931, các nước Ý, Pháp, Đan Mạch, Thuỵ Sỹ, Na Uy, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha đã họp tại Geneve để ký một công ước quốc tế về séc Công ước Geneve

về séc được áp dụng tại nhiều nước

1.2.4 Kỳ phiếu:

Ngược lại với hối phiếu, kỳ phiếu do con nợ viết ra để hứa cam kết trả tiền cho người hưởng lợi Với tính thụ động trong thanh toán như trên, trong thanh toán quốc tế, kỳ phiếu ít thông dụng hơn hối phiếu

Kỳ phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu đó

Các điều mà luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụng tương tự cho kỳ phiếu thương mại Tuy nhiên, có một số đặc thù sau đây:

+ Kỳ hạn kỳ phiếu được quy định rõ trên nó

+ Một kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi

+ Kỳ phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính Sự bảo lãnh này đảm bảo khả năng thanh toán của kỳ phiếu

+ Khác với hối phiếu thường gồm hai bản: số 1 và số 2, kỳ phiếu chỉ có một bản chính do con nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi kỳ phiếu đó

1.3 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG THƯ

Trang 15

Nhằm mục đích của những điều khoản này, những thuật ngữ “Tín dụng chứng từ” và “Tín dụng dự phòng” (dưới đây gọi là tín dụng), có nghĩa là bất cứ một thoả thuận nào, dù cho được gọi hay mô tả như thế nào, theo đó một ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu phát hành tín dụng) hoặc nhân danh chính mình:

Phải thực hiện việc trả tiền theo lệnh của một người thứ ba (người thụ hưởng), hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người thụ hưởng ký phát hoặc

Uỷ quyền cho ngân hàng khác thực hiện việc trả tiền như vậy, hoặc chấp nhận và trả tiền hối phiếu đó, hoặc:

Uỷ quyền cho ngân hàng khác thực hiện chiết khấu, dựa vào những chứng từ đã được quy định đảm bảo rằng các điều khoản và điều kiện của tín dụng

đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

sở của L/C và các ngân hàng không bị liên can đến, hoặc bị ràng buộc vào các hợp đồng như thế thậm chí ngay cả trong L/C có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó” Ngân hàng sẽ dựa trên hợp đồng mua bán và đơn đề nghị mở L/C của

Trang 16

khách hàng để phát hành thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng lợi Tuy nhiên, một khi L/C đã được phát hành mọi giao dịch thanh toán phát sinh sau đó, ngân hàng phát hành sẽ chỉ tham chiếu đến L/C chứ không tham chiếu đến hợp đồng mua bán nữa

Sau khi người bán cam kết giao hàng nếu xuất trình chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín dụng sẽ được ngân hàng mở thư tín dụng trả tiền còn bộ chứng từ đó có phù hợp với hợp đồng hay không ngân hàng không chịu trách nhiệm Nếu bộ chứng từ có sai sót, người mua và ngân hàng phát hành thư tín dụng

từ chối trả tiền cho người bán căn cứ vào L/C

Tính độc lập này cũng thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng không thay đổi, nếu sửa hợp đồng mà không sửa đổi thư tín dụng thì ngân hàng vẫn dựa vào thư tín dụng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình mà không cần biết đến những sửa đổi trong hợp đồng, hay ngược lại khi thư tín dụng đã được sửa đổi mà không sửa đổi hợp đồng thì khi xuất trình chứng từ thanh toán tuy phù hợp với hợp đồng nhưng trái với thư tín dụng, ngân hàng mở có quyền từ chối thanh toán

Sau cùng tính độc lập của thư tín dụng không hủy bỏ trách nhiệm của ngân hàng phát hành khi hợp đồng được huỷ bỏ nhưng thư tín dụng vẫn còn hiệu lực

Hai là, bộ chứng từ hàng hoá là cơ sở nền tảng cho tín dụng thư kèm chứng

từ, qua đó người bán có thể đòi tiền ngân hàng mở thư tín dụng Bộ chứng từ là căn

cứ duy nhất để ngân hàng phát hành trả tiền hay từ chối thanh toán cho người bán, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người mua hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng mở thư tín dụng Như vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có tầm quan trọng rất lớn vì nó tượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người bán đã giao và cho phép người mua sử dụng

Ba là, thư tín dụng là một loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, được

đảm bảo bằng các số dư trên các tài khoản ngoại tệ và nội tệ của người mua tại ngân hàng hoặc bằng các chứng từ có giá trị mà người mua sẽ xuất trình để nhận hàng Thư tín dụng chính là văn bản thể hiện ngân hàng dùng uy tín của mình thay mặt người nhập khẩu cam kết trả tiền cho người xuất khẩu Tín dụng ở đây được dùng

Trang 17

theo nghĩa rộng, nghĩa là một sự tín nhiệm chứ không đơn thuần chỉ là một khoản vay Vì nếu nhà nhập khẩu ký quỹ 100% số tiền của thư tín dụng thì thực chất ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào mà chỉ dựa trên uy tín của mình, cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu

Tóm lại, những đặc trưng trên của thư tín dụng đã khiến cho thư tín dụng trở thành một phương thức thanh toán được sử dụng rộng rãi nhất trong thanh toán ngoại thương hiện nay

1.3.2 Chủ thể tham gia trong quá trình thanh toán:

Trong quá trình TTQT theo phương thức L/C có sự xuất hiện của ít nhất 4 chủ thể:

- Người yêu cầu mở thư tín dụng: là người mua, người nhập khẩu

- Ngân hàng phát hành (còn gọi là ngân hàng mở thư tín dụng): là ngân hàng phục vụ người mua

- Người hưởng lợi: là người xuất khẩu, người bán

- Ngân hàng thông báo: là ngân hàng ở nước người hưởng lợi

Ngoài các thành phần trên thì trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo điều kiện cụ thể, còn có thể xuất hiện một số ngân hàng tham gia quá trình thanh toán như:

- Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng được chỉ định trong tín dụng chứng từ, thực hiện việc xác nhận tín dụng chứng từ theo yêu cầu của ngân hàng phát hành

- Ngân hàng được chỉ định: là ngân hàng được chỉ định trong thư tín dụng, cho phép ngân hàng đó thực hiện thanh toán, chiết khấu, hoặc chấp nhận bộ chứng

từ của người thụ hưởng phù hợp với quy định của tín dụng chứng từ

Trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia thanh toán tín dụng chứng từ:

Trách nhiệm, quyền hạn của các doanh nghiệp, thương gia:

- Người nhập khẩu

Trang 18

Nếu trong hợp đồng thương mại thoả thuận về điều khoản thanh toán là áp

dụng phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ thì việc mở thư tín dụng của

người mua là điều kiện tiên quyết để người bán thực hiện hợp đồng thương mại

Muốn mở thư tín dụng, người mua phải lập đơn đề nghị mở tín dụng thư

(thường theo mẫu thống nhất của ngân hàng) gửi tới ngân hàng phục vụ mình

Người nhập khẩu (NNK) phải ký quỹ một số tiền trong thư tín dụng (tỉ lệ ký

quỹ thường tuỳ theo quan hệ giữa người yêu cầu mở thư và ngân hàng mở; có thể

không phải ký quỹ song cũng có trường hợp phải ký quỹ tới 100% số tiền của thư

tín dụng)

NNK phải trả một khoản thủ tục phí theo tỉ lệ phụ thuộc vào số tiền và thời

hạn của thư tín dụng

NNK có quyền đề nghị ngân hàng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ thư tín dụng

theo đúng quy định trong UCP 500

NNK cũng có quyền từ chối hoàn trả toàn bộ hoặc một phần số tiền của thư

tín dụng cho ngân hàng, nếu xét thấy bộ chứng từ thanh toán không phù hợp với

những điều kiện mà họ nêu ra trong thư tín dụng

- Người xuất khẩu

Khi nhận được thư tín dụng do ngân hàng thông báo chuyển đến, phải kiểm

tra kỹ lưỡng xem có phù hợp với nội dung của hợp đồng thương mại không Nếu

phát hiện những nội dung không phù hợp, không rõ ràng và bất lợi cho mình thì

người bán có quyền yêu cầu người mua đề nghị ngân hàng sửa đổi, bổ sung cho phù

hợp

Người bán chỉ chuyển giao hàng hóa cho người mua sau khi đã có được thư

tín dụng đáp ứng yêu cầu Sau khi giao hàng, bên bán phải khẩn trương lập bộ

chứng từ thanh toán theo quy định trong thư và xuất trình cho ngân hàng theo thời

Người bán sẽ nhận được tiền thanh toán nếu như ngân hàng kiểm tra thấy bộ

chứng từ phù hợp về hình thức và nội dung như trong thư tín dụng

Trách nhiệm, quyền hạn của các ngân hàng:

Trang 19

- Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing bank)

Ngân hàng mở L/C là ngân hàng thường được hai bên mua bán thoả thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước thì người nhập khẩu có quyền lựa chọn

Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu để phát hành L/C và tìm cách thông báo L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng đại lý của ngân hàng mở ở nước người xuất khẩu

Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở L/C hoặc của người xuất khẩu đối với L/C đã được mở nếu có sự đồng ý của họ

Kiểm tra bộ chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, nếu xét thấy các chứng từ

đó phù hợp với những điều quy định trong L/C và không mâu thuẫn lẫn nhau thì trả tiền cho người xuất khẩu và đòi lại tiền người nhập khẩu, ngược lại thì từ chối thanh toán

Ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra bề ngoài của chứng từ xem có phù hợp với L/C hay không chứ không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất pháp lý của chứng từ, tính chất xác thực của chứng từ… Mọi sự tranh chấp về tính chất bên trong của chứng từ là do người nhập khẩu và người xuất khẩu tự giải quyết

Ngân hàng được miễn trách nhiệm trong trường hợp ngân hàng rơi vào các bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, động đất… Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi đến trừ khi đã có quy định dự phòng

Mọi hậu quả sinh ra do lỗi lầm của mình, ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm

Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C

- Ngân hàng thông báo (Advising bank)

Ngân hàng thông báo thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C ở nước người xuất khẩu

Trang 20

Khi nhận được thông báo về thư tín dụng đã mở và bản gốc của thư tín dụng

đó ngân hàng có trách nhiệm phải chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được do người xuất khẩu dưới hình thức văn bản

Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương

Khi nhận được bộ chứng từ của bên bán gửi tới, phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ đó đến ngân hàng mở

Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh do sự chậm trễ hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở

- Ngân hàng trả tiền (Paying bank)

Ngân hàng trả tiền có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc một ngân hàng khác do ngân hàng mở uỷ nhiệm Nếu địa điểm trả tiền được quy định tại nước ngoài thì ngân hàng trả tiền thường là ngân hàng thông báo

Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giống như ngân hàng mở khi nhận được

bộ chứng từ thanh toán của người bán chuyển đến

- Ngân hàng xác nhận (Cofirming bank)

Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trong lĩnh vực tài chính quốc tế

Ngân hàng xác nhận có trách nhiệm thanh toán tiền trong thư tín dụng cho người thụ hưởng

Ngân hàng xác nhận được hưởng khoản phí xác nhận khá cao và thường yêu cầu ngân hàng mở phải đặt tiền trước (cash cover), có khi tới 100% trị giá của thư tín dụng cần xác nhận (full cash cover)

1.3.3 Nội dung của thư tín dụng:

1.3.3.1 Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C:

- Số hiệu của thư tín dụng: Số hiệu dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên

quan tới việc thực hiện L/C Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng Số

Trang 21

hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan như hối phiếu, các chứng từ cần thiết khác

- Địa điểm mở L/C: là nơi ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất

khẩu Địa điểm này có ý nghĩa trong việc lựa chọn luật pháp áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó

- Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với

người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C, là căn cứ để kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn như trong hợp đồng đã quy định không

1.3.3.2 Tên, địa chỉ những người có liên quan:

- Các thương nhân: bao gồm người nhập khẩu (người yêu cầu mở L/C),

người xuất khẩu (người hưởng lợi)

- Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ: ngân hàng

mở L/C, ngân hàng thông báo ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận, và các ngân hàng khác (nếu có)

lý do chứng từ không phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C Nên ghi số tiền theo một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được hoặc một giới hạn chênh lệch hơn kém % của tổng số tiền

1.3.3.4 Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng:

- Thời hạn hiệu lực của L/C: là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả

tiền cho nhà xuất khẩu, nếu người này xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C Thời hạn này tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn này và

Trang 22

không trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không trùng với ngày giao hàng, nhằm đảm bảo thời gian thông báo L/C, lưu L/C tại ngân hàng, chuẩn bị để giao… Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý nhằm đảm bảo thời gian lập bộ chứng từ, luân chuyển chứng từ, lưu chứng từ tại ngân hàng

- Thời hạn trả tiền của L/C: là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau, tuỳ

thuộc vào hợp đồng Nếu thực hiện đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu

- Thời hạn giao hàng: được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy

định Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C

Người xuất khẩu (Beneficiary)

Người nhập khẩu (Applicant)

(2) (5) (6)

(6) (5) (3)

(4)

(1) (7)

(8)

Trang 23

(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của

mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng;

(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu;

(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, và khi nhận được bản gốc thư tín dụng, thì chuyển ngay cho người xuất khẩu;

(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng;

(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư tín dụng xin thanh toán;

(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu thấy không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu;

(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán;

(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền

1.3.4 Phân loại L/C:

1.3.4.1 Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable Letter of Credit):

Thư tín dụng có thể huỷ ngang là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở, ngân hàng mở và người nhập khẩu có quyền tự ý thay đổi, bổ sung và huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần sự chấp thuận của người xuất khẩu Trong trường hợp có sự tham gia của ngân hàng đại lý thì việc sửa đổi hay huỷ bỏ sẽ có hiệu lực khi ngân hàng đại lý nhận giấy báo về việc đó và trước khi ngân hàng đại lý trả tiền cho

Trang 24

người bán Điều này đồng nghĩa với việc khi hàng hoá đó được giao, lệnh huỷ bỏ mới được thông báo thì lệnh này cũng coi như không có hiệu lực

Loại thư tín dụng này không tạo ra cam kết có tính chất pháp lý về việc thanh toán của ngân hàng, vì vậy quyền lợi của người xuất khẩu không được đảm bảo Do

đó, loại thư tín dụng này ít được sử dụng

1.3.4.2 Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable Letter of Credit):

Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận của các bên tham gia trong thư tín dụng Trên thư tín dụng phải ghi rõ ràng hoặc là không thể huỷ bỏ hoặc là có thể huỷ bỏ Nếu thư tín dụng không ghi rõ thì vẫn được coi là không thể huỷ ngang (Điều 6-UCP 500)

Thư tín dụng không thể huỷ ngang được áp dụng rộng rãi trong thanh toán hàng hoá, dịch vụ xuất nhập khẩu

1.3.4.3 Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable Letter of Credit):

Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C Loại thư tín dụng này được dùng trong trường hợp người hưởng lợi không tin tưởng vào ngân hàng mở L/C Ngân hàng xác nhận có trách nhiệm như ngân hàng mở L/C, chịu trách nhiệm trả tiền cho người bán nếu ngân hàng mở L/C không trả được tiền, do đó, thường ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí xác nhận, có thể ký quỹ tối đa 100% giá trị L/C tại ngân hàng xác nhận

Thư tín dụng loại không thể huỷ ngang có xác nhận đảm bảo nhất cho người xuất khẩu vì họ được hai ngân hàng đứng ra cam kết thanh toán tiền hàng hoá xuất khẩu

Trang 25

1.3.4.4 Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recouse Letter of Credit):

Là loại thư tín dụng mà sau khi người xuất khẩu được trả tiền ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất cứ trường hợp nào Khi

sử dụng loại L/C này, trên hối phiếu người xuất khẩu phải ghi miễn truy đòi người

ký phát và trong L/C cũng phải được ghi như vậy Loại L/C này được sử dụng khá phổ biến trong thanh toán xuất nhập khẩu

1.3.4.5 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable Letter of Credit):

Thư tín dụng chuyển nhượng là một loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu chuyển nhượng toàn

bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một hay nhiều người khác Một L/C chuyển nhượng chỉ có thể chuyển nhượng một lần Thủ tục phí và lệ phí chuyển nhượng thường do người thứ nhất chịu Đây là loại thư tín dụng sử dụng trong trường hợp người hưởng lợi thứ nhất không tự cung cấp được mà chỉ là một người môi giới và người này muốn chuyển nhượng từng phần hay toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ của mình cho người cung cấp hàng hoá Việc chuyển nhượng phải được thực hiện theo điều khoản của L/C gốc

1.3.4.6 Thư tín dụng tuần hoàn (Irrevocable Revolving L/C):

Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện hết

Loại L/C này có ba cách tuần hoàn: tuần hoàn tự động (có giá trị như cũ không cần có thông báo của ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu); tuần hoàn bán tự động (nếu ngân hàng mở L/C không có ý kiến về L/C kế tiếp sau khi L/C trước hết hiệu lực thì L/C này lại tự động có giá trị như cũ); tuần hoàn hạn chế (chỉ khi ngân hàng mở L/C thông báo cho người xuất khẩu biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị)

Thư tín dụng tuần hoàn được sử dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, khối lượng lớn và trong dài hạn

Trang 26

1.3.4.7 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C):

Loại L/C này cho phép người xuất khẩu sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình có thể thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống như L/C ban đầu, L/C mở sau được gọi là L/C giáp lưng

Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc

Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênh lệch này do người trung gian hưởng dùng để trả chi phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của

họ

Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc

Nghiệp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp, nó đòi hỏi phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc với L/C giáp lưng, nhất là các vấn

đề có liên quan đến vận đơn và các chứng từ hàng hoá khác

Trong buôn bán giữa ta với các nước khi sử dụng trung gian, ta có thể áp

dụng loại thư tín dụng này

1.3.4.8 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C):

Là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với

nó đã mở ra Người xuất khẩu sau khi đã nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình phải mở lại một L/C tương ứng

Thư tín dụng đối ứng thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng hoặc phương thức gia công Tuy nhiên, việc sử dụng gia công có rất nhiều phức tạp

1.3.4.9 Thư tín dụng dự phòng (Stand-by L/C):

Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu, ngân hàng của người xuất khẩu

sẽ phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho

họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề ra, L/C này được gọi là L/C dự phòng

L/C dự phòng thường được sử dụng trong mối quan hệ người mua là người đặt hàng, và người bán là người sản xuất, thường người đặt hàng phải đưa trước cho

Trang 27

người sản xuất khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trước…và việc đảm bảo hoàn trả tiền này khi người sản xuất không hoàn thành việc giao hàng là rất quan trọng

1.3.4.10 Thư tín dụng thanh toán dần dần về (Deferred payment L/C):

Là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở sẽ thanh toán dần dần trị giá thư tín dụng cho người hưởng lợi theo tiến trình hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá của họ đối với bên mua Loại thư tín dụng này thích ứng với các hợp đồng giao hàng nhiều lần Đây là một loại L/C trả chậm từng phần

1.3.4.11 Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red-clause L/C):

Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C) là một thư tín dụng kèm theo một điều khoản đặc biệt uỷ nhiệm cho ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận, ứng tiền trước cho người hưởng lợi trước khi xuất trình các thủ tục Điều khoản này được đưa ra theo yêu cầu riêng của người mở thư tín dụng, số tiền ứng trước trong một vài trường hợp có thể bằng số tiền của L/C Sở dĩ L/C này có tên gọi như vậy là vì trong nội dung của L/C có một điều khoản ứng trước tiền in bằng mực đỏ Ngày nay, người ta thay điều khoản in mực đỏ bằng dòng chữ in nghiêng

và đậm

1.3.5 Những văn bản pháp lý làm cơ sở cho phương thức thanh toán bằng tín dụng thư:

1.3.5.1 Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ

(UCP – Uniform for customs and pratice of documentary credit)

Bản quy tắc này do phòng thương mại quốc tế (ICC) ban hành năm 1933, sau

đó được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện buôn bán và thanh toán quốc tế vào năm

1957, 1962, 1974, 1983, 1993 Bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tuỳ ý, có nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự phải thoả thuận và ghi vào hợp đồng, vào thư tín dụng, nếu không thì phải có dẫn chiếu

Chỉ có UCP bản gốc tiếng Anh do ICC phát hành mới có giá trị pháp lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên liên quan thanh toán tín dụng chứng từ, các bản dịch sang tiếng khác chỉ có giá trị tham khảo

UCP chỉ áp dụng trong TTQT không áp dụng trong thanh toán nội địa

Trang 28

Hiện nay, ở Việt Nam tất cả các ngân hàng được phép hoạt động nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại, khi tiến hành các giao dịch thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ đều có cam kết tuân thủ thực hiện văn bản UCP hiện hành

1.3.5.2 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán séc

Uỷ ban luật thương mại quốc tế Liên Hợp Quốc, kỳ họp thứ 15 tại New York

từ ngày 26/7/1982 đến ngày 6/8/1982, tài liệu số: A/CN 9/211, 18/2/1982

Luật thống nhất về séc quy định quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan, quyền hạn của người cầm phiếu cùng các chi tiết về khái niệm, phương thức xuất trình, bảo lãnh và từ chối việc thanh toán séc

1.3.5.3 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán hối phiếu (Uniform Law for Bill of exchange - ULB)

Uỷ ban luật thương mại quốc tế Liên Hợp Quốc, kỳ họp thứ 15 tại New York

từ ngày 26/7/1982 đến ngày 6/8/1982, tài liệu số: A/CN 9/211, 18/2/1982

luật thống nhất về hối phiếu giải thích một cách thống nhất những vấn đề thuộc khái niệm, nội dung, tính chất của hối phiếu, lệnh phiếu quốc tế cách tạo lập

và lưu hành chúng trong buôn bán và trả tiền, về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên

có liên quan đến hối phiếu và lệnh phiếu

1.3.6 Ưu - nhược điểm của phương thức L/C:

+ Đối với người xuất khẩu: yên tâm khi giao dịch vì phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo việc trả tiền hàng của người nhập khẩu, nếu người xuất khẩu không được thanh toán ngay khi xuất trình chứng từ hoàn hảo thì tín dụng chứng từ

Trang 29

có thể được thực hiện thông qua nghiệp vụ chiết khấu, lấy tiền ngay Do vậy, người xuất khẩu có thể nhanh chóng thu hồi vốn để tiếp tục tái đầu tư Ngoài ra, người xuất khẩu còn tránh được rủi ro do sự quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu vì khi làm đơn mở L/C, người nhập khẩu phải có giấy phép chuyển ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối

+ Đối với ngân hàng: khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán quốc tế, ngân hàng thu được phí dịch vụ từ khách hàng, đây là một nguồn thu ngoại tệ cho ngân hàng Ngoài ra, khi thực hiện nghiệp vụ này, ít gặp phải rủi ro vì nếu cấp tín dụng cho khách hàng thì thời hạn cho vay không quá 180 ngày, ngân hàng được đảm bảo do nắm giữ các giấy tờ hàng hoá, tiền bán hàng thu được sẽ bù đắp cho khoản tiền ngân hàng phải trả cho người xuất khẩu

Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức sử dụng nhiều công nghệ ngân hàng hiện đại nhất Do đó rút ngắn thời gian thanh toán cho hai bên và tăng

tính chính xác trong khi thực hiện nghiệp vụ này

Ưu điểm lớn nhất của tín dụng chứng từ là nó đạt tới sự thoả thuận có thể chấp nhận được giữa những lợi ích đối kháng của người mua và người bán thông qua việc làm cho thời gian trả tiền phù hợp với thời gian giao hàng, do đó được đánh giá là phương thức thanh toán quốc tế ưu việt nhất hiện nay

Trang 30

+ Tín dụng chứng từ là một kỹ thuật thanh toán lâu đời, chắc chắn nhưng nặng nề, biểu lộ mức tin cậy nhau thấp, người nhập khẩu chịu nhiều chi phí tốn kém Hơn nữa, thủ tục hành chính nghiêm ngặt đôi khi rất khó khăn cho người xuất khẩu trong quá trình lập chứng từ, mất nhiều thời gian

1.3.7 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng phương thức L/C:

1.3.7.1 Sự phát triển về dịch vụ thanh toán bằng L/C của Ngân hàng:

Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố quyết định số lượng khách hàng đến với Ngân hàng nhiều hay ít Thủ tục nhanh gọn, chính xác, thái độ phục

vụ tốt luôn được khách hàng quan tâm hàng đầu Vì vậy các ngân hàng nên không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngày một tăng của những “thượng đế”

1.3.7.2 Trình độ của thanh toán viên:

Một thanh toán viên không chỉ phải làm việc bằng sự nhiệt tình mà họ còn phải có nhận thức tốt, nhạy bén trong công việc Nhận thức muốn nói đến ở đây là gì? đó là sự thông minh trong giao tiếp, ứng xử với khách hàng; đó là sự thông minh, linh hoạt trong khi làm việc Thanh toán viên của ngân hàng nếu hội tụ được các yếu tố trên chắc chắn sẽ làm cho khách hàng hài lòng không chỉ với riêng họ mà còn tạo uy tín được cho ngân hàng đó Nhận thức được điều đó, các ngân hàng luôn tích cực trong việc nâng cao nghiệp vụ cho thanh toán viên đồng thời thực hiện nghiêm ngặt trong quá trình tuyển dụng

1.3.7.3 Uy tín của Ngân hàng:

Trong lĩnh vực kinh doanh nếu không có uy tín coi như ngân hàng đó khó có thể tồn tại được lâu Đối với ngân hàng, việc tạo uy tín không chỉ ở thị trường trong nước mà thị trường quốc tế cũng rất quan trọng Nó quyết định trực tiếp đến lượng khách hàng yêu cầu mở L/C và việc được ngân hàng nước ngoài chọn làm ngân hàng thông báo khi thực hiện L/C xuất Để có được chữ tín trong lòng khách hàng, các ngân hàng phải không ngừng đưa ra sản phẩm dịch vụ nổi trội và luôn biết cách marketing cho mình

Trang 31

1.3.7.4 Mạng lưới ngân hàng đại lý ở nước ngoài:

Việc thiết lập được nhiều ngân hàng đại lý ở khắp nơi sẽ tạo cho ngân hàng một phạm vi hoạt động rộng, đáp ứng được nhu cầu về giao dịch mua bán của khách hàng Điều này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động ngoại thương đặc biệt

là khi nước ta đã gia nhập WTO

1.3.7.5 Mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch của Ngân hàng:

Phát triển càng nhiều chi nhánh, điểm giao dịch càng chứng tỏ năng lực hoạt động của ngân hàng mạnh Nó tạo sự thuận tiện cho khách hàng ở khắp nơi trên cả nước khi lựa chọn ngân hàng là ngân hàng phát hành L/C trong việc thực hiện thanh toán ngoại thương của mình Từ đó làm tăng số món phát hành và doanh số cho hoạt động L/C nhập

1.3.7.6 Công nghệ thông tin:

Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay thì công nghệ thông tin đã trở thành một yếu tố quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nào có sự ứng dụng của nó Đối với việc thanh toán bằng L/C cũng vậy, công nghệ hiện đại giúp cho việc thực hiện nghiệp vụ được dễ dàng hơn, nhanh, chính xác hơn, đem lại hiệu quả cao trong công việc

1.3.7.7 Sự hiểu biết về khách hàng của Ngân hàng:

Tìm hiểu khách hàng là việc làm tất yếu của mỗi ngân hàng Nó tạo sự tin tưởng từ phía khách hàng, đồng thời giúp các thanh toán viên thực hiện tốt việc tư vấn cho khách hàng Không phải mọi khách hàng đều giống nhau về lĩnh vực kinh doanh hơn nữa không phải ai cũng hiểu rõ về tất cả các loại L/C vì thế trách nhiệm của thanh toán viên là hiểu biết họ để từ đó giúp họ nên mở loại L/C nào là tối ưu nhất Việc làm này vừa tạo thêm uy tín cho ngân hàng, vừa giúp ngân hàng đa dạng hoá loại hình L/C nhập, nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán

1.3.7.8 Kết quả hoạt động Marketing ngân hàng:

Một ngân hàng có thể cho rằng cứ tập trung mọi cố gắng để có thể tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao là thu hút được khách hàng, bán được nhiều sản

Trang 32

phẩm dịch vụ và tăng thu nhập cho ngân hàng Điều đó trên thực tế không chắc chắn vì ngân hàng có bán được nhiều sản phẩm dịch vụ hay không còn hai trở ngại:

+ Thứ nhất, khách hàng có biết đến tất cả những sản phẩm ngân hàng cung cấp hay không và có sẵn lòng mua các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng không

+ Thứ hai, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có thoả mãn nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng hay không

Marketing trong hoạt động ngân hàng với chức năng nghiên cứu thị trường

và phát triển các loại sản phẩm mới cũng như phân phối sản phẩm là chiếc cầu nối các ngân hàng với thị trường Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động Marketing là thu hút khách hàng và tạo mọi điều kiện để kích thích khách hàng lựa chọn sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng

1.3.7.9 Tình trạng XNK, trình độ sản xuất của mỗi quốc gia:

Một yếu tố có tác động lớn đến TTQT là tình trạng XNK Nếu một nước có nền kinh tế tự cung tự cấp chắc chắn hoạt động TTQT không phát triển và ngược lại nếu nước đó có nền kinh tế mở, hoạt động ngoại thương phát triển thì hoạt động TTQT cũng phát triển theo

Trình độ sản xuất, tài nguyên của quốc gia cũng ảnh hưởng tới hoạt động TTQT khi trình độ sản xuất cao sản phẩm làm ra nhiều không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà có thể xuất khẩu

Ngoài ra còn có các nhân tố ảnh hưởng khác như: chính sách kinh tế đối ngoại nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng; chính sách về tỷ giá hối đoái; chính sách quản lý ngoại hối Đây là các nhân tố thuộc tầm vĩ mô ảnh hưởng đến việc thực hiện thanh toán L/C

Kết luận chương I: Chương I đã trình bày những lý luận cơ bản về TTQT

nói chung: khái niệm, đặc điểm, các phương tiện và phương thức TTQT; đặc biệt là trình bày chi tiết về phương thức thanh toán bằng tín dụng thư (L/C) Đây là cơ sở cho những phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng thư tại SeABank, để từ đó tìm ra những kết quả đạt được và những tồn tại trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng thư tại ngân hàng này

Trang 33

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TỀ

THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG THƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Đông Nam Á:

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á:

Ngân hàng Đông Nam Á - tên giao dịch quốc tế là Southeast Asia Bank (SeABank) được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0051/NH-GP ngày 25/3/94 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN và được UBND TP Hải Phòng cấp giấy

phép thành lập số 676/GP-UB ngày 04/04/94; Hội sở chính đặt tại 16 Láng Hạ -

Ba Đình - Hà Nội

Là một trong những Ngân hàng TMCP có mặt sớm nhất tại Việt Nam, SeABank đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, hoàn thiện và đã đạt được những thành công hết sức khả quan Đặc biệt trong những năm gần đây, SeABank liên tục

có sự tăng trưởng về vốn và quy mô hoạt động Đến tháng 3 năm 2007, vốn điều lệ của SeABank đạt 1000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt trên 11.000 tỷ đồng

Đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao, SeABank đặc biệt chú trọng mở rộng mạng lưới kênh phân phối để phục vụ khách hàng tốt hơn Hàng loạt chi nhánh mới được khai trương tại Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương,

Đà Nẵng nâng tổng số điểm giao dịch SeABank trên toàn quốc là 35 điểm

SeABank cũng liên tục đưa ra các sản phẩm mới như: Đồng Hành cùng Honda; Nguồn năng lượng vàng của SeABank; Tiêu dùng cùng doanh nhân; Chương trình ưu đãi đặc biệt: Doanh nghiệp vàng SeABank còn liên kết cùng BNP – một trong những ngân hàng lớn nhất của Pháp tung ra một gói sản phẩm Private Banking thiết kế chuyên biệt cho các cá nhân có thu nhập cao Việc triển khai sản phẩm này khẳng định những sáng tạo mang tính đột phá trong mô hình liên kết cung ứng sản phẩm dịch vụ nhằm đem lại những tiện ích tối đa cho khách hàng

Trang 34

Không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển mạng lưới và sản phẩm – dịch vụ, SeABank không ngừng nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin Hệ thống quản trị Ngân hàng T24 đã được triển khai hoàn thiện vào quý I năm 2007 Đây thực sự là một bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ của SeABank

Trong 3 năm liên tục, SeABank được ngân hàng Nhà nước đánh giá và xếp loại A, đến nay ngân hàng Đông Nam Á đã và đang được biết đến là một trong những ngân hàng có tốc độ phát triển nhanh và bền vững nhất

Với đội ngũ cán bộ trẻ, được đào tạo bài bản, năng động và nhiệt huyết - SeABank cam kết đem đến cho khách hàng chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt nhất

và là đối tác tài chính, ngân hàng đáng tin cậy để “Cùng bạn đi tới thành công”

2.1.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng:

Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103006488 (đăng ký lần đầu) ngày 14 tháng 01 năm 2005 và tại lần thay đổi thứ 6 ngày 26 tháng 10 năm 2006, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là:

1 Huy động cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn;

2 Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư;

3 Vay vốn Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng khác bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ;

4 Chiết khấu thương, trái phiếu, hùn vốn kinh doanh;

5 Dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Ngân hàng:

Trang 35

Trung tâm KD tiền

tệ và đầu tư

Phòng nguồn vốn

Phòng kinh doanh ngoại tệ

Phòng tái thẩm định

Trung tâm thanh toán

Phòng thanh toán trong nước

Phòng TTQT

Phòng hành chính

Trung tâm sp và thị truờng

Phòng ngân quỹ

BAN KIỂM SOÁT

Phòng kiểm soát nội

bộ

Phòng tổ chức nhân

sự

Phòng phát triển khách hàng

Phòng nghiên cứu và phát triển thị trường

Phòng phát triển mạng lưới và dvụ

Phòng phát triển sản phẩm

Phòng quan hệ công chúng

Trang 36

2.1.4 Khách hàng của Ngân hàng:

2.1.4.1 Khách hàng cá nhân:

Khách hàng cá nhân của SeABank bao gồm cá nhân có thu nhập ổn định, độ

tuổi trung bình trên 30, các cá thể tập trung tại các khu đô thị lớn và có nhu cầu về

các giao dịch ngân hàng như gửi tiết kiệm, vay vốn tiêu dùng hoặc sản xuất kinh

doanh

Các loại hình hiện có:

+ Tín dụng

+ Dịch vụ chuyển tiền

+ Thu đổi ngoại tệ

+ Các loại hình tiết kiệm:

Tiết kiệm lãi suất bậc thang: là sản phẩm huy động tiền gửi tiết kiệm

có kỳ hạn với lãi suất lũy tiến theo mức tiền gửi Vì vậy, khách hàng gửi tiền

với cùng một kỳ hạn nhưng khoản tiền gửi càng lớn thì lãi suất càng cao

Tiết kiệm rút gốc linh hoạt: là loại hình tiết kiệm có kỳ hạn mà quý

khách có thể chủ động rút gốc nhiều lần tùy theo nhu cầu sử dụng với lãi suất

tương ứng thời gian gửi tiền

+ Dịch vụ kiều hối

+ Dịch vụ thẻ

2.1.4.2 Khách hàng doanh nghiệp:

Nhóm khách hàng doanh nghiệp của SeABank bao gồm các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh

năng động, hiệu quả như: công nghiệp, thương mại, dịch vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng…

Trang 37

2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng:

2.2.1 Khái quát kết quả của một số chỉ tiêu tài chính:

Năm 2006 đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của SeABank khi tất cả các chỉ số kinh doanh chính đều vượt xa so với năm 2005 và so với kế hoạch đề ra, tạo tiền đề thuận lợi cho năm 2007 và những năm sau Đồng thời cũng tạo nên một

vị trí mới, một hình ảnh mới của một Ngân hàng hội nhập và phát triển vững mạnh

Lợi nhuận trước thuế (Tỷ đồng) 10.140 50.634 136.876 171%

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn ROE 6,15% 18,45% 20,82% 2,37%

(Nguồn: Báo cáo thường niên 2005, 2006)

Nhận xét: Từ bảng số liệu 2.1 ta thấy tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng rất tốt, các chỉ số tài chính liên tục tăng qua các năm Chỉ tiêu vốn chủ

sở hữu năm 2006 tăng 665 tỷ đồng tương đương tăng 228%; tổng dư nợ tăng 2.014

tỷ đồng tương đương tăng 149%; lợi nhuận trước thuế tăng 86,41 tỷ đồng tương đương tăng 171% so với năm 2005, những con số tăng rất ấn tượng chứng tỏ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng lớn mạnh Hơn nữa, Ngân hàng luôn duy trì được tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp, đây là một trong những thế mạnh của SeABank - chất lượng tín dụng an toàn Với đà phát triển này chắc chắn SeABank

sẽ tiếp tục gặt hái được những thành công hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành tài chính ngân hàng, góp phần vào sự phồn vinh của đất nước

Trang 38

2.2.2 Tình hình thu nhập của cán bộ nhân viên Ngân hàng:

Từ việc nhận thức đuợc con người là một yếu tố quyết định thắng bại trong cạnh tranh, Ban lãnh đạo SeABank đã có chiến lược quản trị nguồn nhân lực tiên tiến nhằm tạo ra môi trường làm việc năng động và chuyên nghiệp với chính sách đãi ngộ thoả đáng, tạo điều kiện tối đa để khuyến khích cán bộ nhân viên làm việc

và phát huy hết khả năng

Nhân sự SeABank năm 2006 có sự tăng trưởng lớn cả về chất và lượng Tính đến 31/12/2006 tổng số cán bộ nhân viên của Ngân hàng là 550 người tăng 197% so với năm 2005 Trong đó, trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ trọng 89% trong tổng số cán bộ nhân viên, cao đẳng và trình độ khác chiếm 11%

Bảng 2.2: Tình hình thu nhập của cán bộ nhân viên

Chênh lệch ttế 2006/2005 Tổng số cán bộ nhân

(Nguồn: Báo cáo thường niên 2005, 2006)

Nhận xét: Từ bảng số liệu 2.2 ta thấy số lượng nhân viên tăng đáng kể từ năm 2005 đến 2006, tổng quỹ lương năm 2006 tăng gấp đôi so với năm 2005 (tăng 7.800 triệu đồng) Do số lượng cán bộ năm 2006 tăng mạnh nên thu nhập bình quân tháng không những không tăng mà còn giảm so với năm 2005 Nhìn chung, thu nhập bình quân tháng của cán bộ nhân viên trong Ngân hàng ở mức trung bình Tuy nhiên việc thực hiện kế hoạch đề ra năm 2006 là rất tốt: tổng số cán bộ nhân viên tăng 110% so với kế hoạch, tổng thu nhập tăng 132,8% và tiền lương bình quân

Trang 39

tháng tăng 120,72% so với kế hoạch Số lượng cán bộ nhân viên tăng chứng tỏ quy

mô hoạt động của Ngân hàng ngày càng được mở rộng Với đà phát triển này chắc chắn trong những năm tới thu nhập của cán bộ nhân viên trong Ngân hàng sẽ được tăng lên đáng kể

2.2.3 Tình hình huy động vốn:

Trong bối cảnh các Ngân hàng thương mại cạnh tranh gay gắt, mở rộng mạng lưới để thu hút vốn và thị trường chứng khoán sôi động trong những tháng cuối năm 2006, công tác huy động vốn toàn hệ thống SeABank vẫn thu được kết quả rất ấn tượng:

Bảng 2.3 Tình hình huy động vốn qua các năm 2004-2006

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Thị trường 2: Các tổ chức kinh tế và dân cư 1.508 2.805 4.834

(Nguồn: Báo cáo thường niên 2005,2006)

Trang 40

Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn qua các năm

10500 4834

2312 449

8000

3511.6

2805 1508

0 2000 4000 6000 8000 10000

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn phân theo nguyên tệ

(Nguồn: Báo cáo thường niên 2005,2006)

Nhận xét: Năm 2005 tổng nguồn vốn huy động đạt giá trị 5.117 tỷ đồng, tăng 3.160 tỷ đồng so với năm 2004 Trong đó 2.805 tỷ đồng được huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư (thị trường 2), tăng 1.297 tỷ đồng so với năm 2004 (tương đương tăng 86%); từ thị trường liên ngân hàng (thị trường 1) là 2.312 tỷ đồng, tăng 1.863 tỷ đồng so với năm 2004 (tương đương tăng 363%)

Ngày đăng: 15/08/2014, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Bùi Xuân Lưu (2002), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế ngoại thương
Tác giả: GS.TS. Bùi Xuân Lưu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
2. PGS. NGƯT. Đinh Xuân Trình (2002), Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương
Tác giả: PGS. NGƯT. Đinh Xuân Trình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
3. TS. Nguyễn Văn Tiến (2004), Cẩm nang thị trường ngoại hối v à các giao dịch kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
9. Một số trang web : http://www.dei.gov.vn http://www.mot.gov.vn http://www.seabank.com.vn Link
5. Tạp chí thị trường Tài chính - Tiền tệ - Ngân hàng Khác
6. Báo cáo thường niên ngân hàng Đông Nam Á Khác
7. Điều lệ & Thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 500), (1997), NXB Thống kê Khác
8. Nguyên tắc thống nhất về ho àn trả tiền giữa các ngân h àng theo tín d ụng chứng từ (URC 525) – Phòng Thương mại quốc tế ICC Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu tài chính 2004-2006 - Tìm hiểu phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP đông nam á
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu tài chính 2004-2006 (Trang 37)
Bảng 2.2: Tình hình thu nhập của cán bộ nhân viên - Tìm hiểu phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP đông nam á
Bảng 2.2 Tình hình thu nhập của cán bộ nhân viên (Trang 38)
Bảng 2.5.  Tình hình hoạt động tín dụng qua các năm 2004-2006 - Tìm hiểu phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP đông nam á
Bảng 2.5. Tình hình hoạt động tín dụng qua các năm 2004-2006 (Trang 42)
Bảng 2.8. Khối lượng mở, thanh toán L/C nhập khẩu năm 2004-2006: - Tìm hiểu phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP đông nam á
Bảng 2.8. Khối lượng mở, thanh toán L/C nhập khẩu năm 2004-2006: (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w