1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam

79 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Người hướng dẫn GVHD- Huỳnh Thị Cẩm Hà
Trường học Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Đề tài tốt nghiệp
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 814,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiệp vụ của CTCK : 1.4.1 Môi giới: Là một hoạt động kinh doanh của CTCK trong đó CTCK đại diện cho khách hàng giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch Chứng khoán ha

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

TTCK ra đời ở Việt Nam bằng việc đánh dấu bởi phiên giao dịch đầu tiên diễn

ra vào ngày 28/07/2000 Trải qua hơn 9 năm hình thành và phát triển đến nay TTCK đã thực sự khẳng định vị thế của mình là một kinh huy động vốn hiệu quả nhất cho các Doanh nghiệp niêm yết và là kênh đầu tư hấp dẫn thu hút công chúng đam mê chứng khoán cả trong lẫn ngoài nước

Cùng với sự ra đời của TTCK, các CTCK cũng lần lượt thành lập và đi vào hoạt động vừa đóng vai trò là một nhà tạo lập thị trường, vừa cung cấp và đáp ứng tốt nhất những dịch vụ cho khách hàng là các doanh nghiệp và các NĐT Tính đến thời điểm hiện tại

có 105 CTCK đang hoạt động trên cả nước Sự ra đời ồ ạt của CTCK đã dẫn đến tất yếu cạnh tranh, sự cạnh tranh đã trở thành động lực quan trọng để các CTCK không ngừng phát triển chất lượng các dịch vụ của chính mình nhằm thu hút và giữ chân khách hàng

Trong tất cả các loại hình dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách hàng thì Môi giới là một trong những hoạt động hầu như không thể thiếu ở bất kỳ một CTCK nào Bởi đây là một hoạt động quan trọng nó thể hiện vai trò của một nhà tạo lập thị trường-

là cầu nối trung gian mua bán và quan trọng hơn cả đây là một trong những mảng đóng góp tỷ trọng rất lớn vào doanh thu hàng năm của các công ty Cũng chính vì lẽ đó mà bản thân mỗi CTCK đều nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng của hoạt động này

Trong thời gian tập sự tại CTCK Quốc Tế Việt Nam, tôi đã có cơ hội được thực tập ở bộ phận Môi giới Tại đây tôi đã được cọ sát trong một môi trường thực tiễn, được tiếp xúc và làm việc với vai trò là một sub-broker Qua đó, tôi tự nhận thấy mình thật sự yêu thích và hứng thú với mảng dịch vụ này Cũng chính vì thế nên tôi nghĩ bản thân cần phải làm điều gì đó để góp phần xây dựng cho hoạt động môi giới của công

Trang 2

ty, đó là lý do thúc đẩy tôi chọn “ Phát triển hoạt động Môi giới ở công ty cổ phần Chứng khoán Quốc Tế Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp cho mình

Qua đây, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến nhà trường ĐH Nha Trang, các giáo viên bên bộ môn Tài chính đã tạo cơ hội cho những sinh viên như chúng tôi có được cơ hội cọ sát với thực tế sau 4 năm ngồi trên giảng đường Tôi cũng xin gửi lời biết ơn đến GVHD- Huỳnh Thị Cẩm Hà, giảng viên trường ĐH Kinh Tế thành phồ Hồ Chí Minh đã hướng dẫn cho tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp Và cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn đến ban lãnh đạo của công ty, đặc biệt là các anh chị bên phòng môi giới

đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình để tôi có thể hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp lần này

Mục tiêu nghiên cứu:

Chuyên đề được hoàn thiện với ba mục tiêu như sau:

Thứ nhất, hệ thống các vấn đề lý thuyết về CTCK và hoạt động môi giới của

CTCK

Thứ hai, phân tích thực trạng hoạt động môi giới tại công ty cổ phần Chứng

khoán Quốc Tế Việt Nam, qua đó tìm ra và đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế còn tồn tại làm trở lực ảnh hưởng đến hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty

Thứ ba, đưa ra các giải pháp nhằm phát triển công tác môi giới tại công ty cổ

phần chứng khoán Quốc Tế Việt Nam

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động môi giới của công ty cổ phần chứng khoán Quốc Tế Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu là kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, và tình hình về thị phần của công ty trong 3 năm 2007, 2008 và 2009

Kết cấu đề tài:

Trang 3

Chuyên đề bao gồm 3 chương:

Chương 1:Những vấn đề chung về CTCK và hoạt động môi giới của CTCK

Chương 2: Thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán

Quốc Tế Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động môi giới tại công ty cổ phần Chứng khoán Quốc Tế Việt Nam (VIS)

Trang 4

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN DỀ CHUNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG

MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1 Tổng quan về CTCK:

1.1 Khái niệm về CTCK:

CTCK là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn

có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập

CTCK có thể là thành viên của Sở giao dịch Chứng khoán( SGDCK) CTCK có vai trò trung gian trong việc môi giới chứng khoán , thm gia tư vấn niêm yết và thực hiện cung cấp thông tin đến NĐT, góp phần vào sự thành công của TTCK Tai Việt Nam, theo Điều 59, Luật Chứng khoán, CTCK tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo qui định của luật doanh nghiệp UBCK Nhà nước cấp giấy phép hoạt động và thành lập cho CTCK, giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

 Loại đa năng một phần: Theo mô hình này, các ngân hàng muốn kinh doanh Chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ Mô hình này gọi là ngân hàng kiểu Anh, Canada, Uc

Trang 5

 Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh Chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như dịch vụ tài chính khác Mô hình này được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Đức

CTCK chuyên doanh:

Theo mô hình này CTCK sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hóa trong lĩnh vực Chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán, mô hình hạn chế được rủi ro hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực Chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển Mô hình được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan…

Tại Việt Nam, do qui mô các Ngân hàng thương mại nói chung là rất nhỏ bé, và đặc biệt vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các Ngân hàng thương mại nước ta nói chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thương mại ngắn hạn, trong khi đó hoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn Khả năng khắc phục những yếu điểm từ mô hình

đa năng là rất yếu Do đó, để bảo vệ an toàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP

về chứng khoán và TTCK qui định Ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lập một CTCK chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng

Căn cứ vào nghiệp vụ hoạt động kinh doanh:

Dạng công ty môi giới chứng khoán : Công ty chỉ thực hiện riêng nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Dạng công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán : Công ty chỉ thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành

Dạng công ty kinh doanh chứng khoán : Có hoạt động chính là tự doanh chứng khoán tức tự tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán cho riêng mình

Dạng công ty trái phiếu : Công ty chuyên mua bán , trao đổi các loại trái phiếu CTCK không tập trung : Công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu trên thị trường OTC (đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường)

Trang 6

Vai trò Và chức năng của CTCK :

Vai trò:

Vai trò của CTCK được thể hiện qua các nghiệp vụ của CTCK Thông qua các hoạt động này, CTCK đã thực sự tạo sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung CTCK đã trở thành tác nhân quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển của TTCK

Đối với tổ chức phát hành:

Mục tiêu của các CTCK khi tham gia phát hành cổ phiếu là huy động vốn Thông qua các hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành Thông qua tổ chức phát hành, CTCK

có vai trò huy động vốn cho nền kinh tế

Bên cạnh đó, các CTCK cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánh giá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư

Đối với NĐT :

Thông qua các hoạt động như môi giới tư vấn, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí giao dịch Đối với hàng hóa thông thường mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí Nhưng đối với Chứng khoán là loại hàng hóa có độ rủi ro cao nên NĐT phải mất rất nhiều thời gian công sức để sưu tầm, nghiêm cứu trước khi quyết định đầu tư Với CTCK có trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp NĐT sử dụng một cách có hiệu quả

Đối với TTCK :

 Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Gía cả của chứng khoán

do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng người mua và người bán phải thông qua CTCK Các CTCK góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, CTCK định giá cho các cổ phiếu khi phát hành lần đầu ra công chúng CTCK còn góp phần bảo vệ khách hàng trong việc định giá các loại cổ phiếu

Trang 7

 Góp phần tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Các CTCK giúp các NĐT giao dịch Chứng khoán dễ dàng hơn Trên thị trường sơ cấp CTCK làm đại lý bảo lãnh phát hành và bán những cổ phiếu mới niêm yết trên TTCK, đảm bảo tài sản của các chủ đầu tư Trên thị trường thứ cấp, các CTCK giúp các NĐT bán chứng khoán và dễ dàng chuyển cổ phiếu thành tiền mặt Những hoạt động đó làm tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính

Đối với cơ quan chức quản lý thị trường:

Mục tiêu của các cơ quan quản lý, giám sát thị trường là đảm bảo giao dịch an toàn

và kiểm soát thị trường Vì vậy, việc thông tin được cung cấp cho các cơ quan quản

lý một cách đầy đủ là vô cùng quan trọng CTCK thực hiện vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý bởi họ vừa là người phân phối các chứng khoán mới phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Các thông tin mà CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các NĐT… Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng và lũng đoạn thị trường

Chức năng:

Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt:

Huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi và người sử dụng vốn CTCK huy động vốn giúp các doanh nghiệp có vốn để kinh doanh đồng thời giúp cho người đầu tư sinh lời khi đem tiền sử dụng hợp lý

Cung cấp giá cả:

Thông qua hệ thống khớp giá khớp lệnh,các CTCK cung cấp kịp thời sự thay đổi về giá cả qua từng phút giúp NĐT có thể đưa ra quyết định về giá, lượng một các hợp lý

Tạo tính thanh khoản cho hoạt động thị trường:

Trang 8

CTCK giúp chuyển từ chứng khoán sang tiền mặt và ngược lại một cách dễ dàng CTCK là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh

tế nói chung và TTCK nói riêng Nhờ những CTCK mà vốn được sử dụng một cách có hiệu quả hơn

Các nghiệp vụ của CTCK :

1.4.1 Môi giới:

Là một hoạt động kinh doanh của CTCK trong đó CTCK đại diện cho khách hàng giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch Chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó

Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, CTCK phải mở tài khoản giao dịch Chứng khoán

và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng và công

ty

Trong trường hợp khách hàng của CTCK mở tài khoản lưu ký tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoại, CTCK có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục giao dịch, mua bán cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký Tiền hoa hồng môi giới thường được tính bằng phần trăm trên tổng giá trị của một giao dịch

1.4.2 Nghiệp vụ Tự doanh Chứng khoán:

Là nghiệp vụ trong đó CTCK thực hiện mua và bán Chứng khoán cho chính mình CTCK thực hiện nghiệp vụ tự doanh nhằm mục đích thu lợi hoặc đôi khi nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường Chứng khoán tự doanh có thể là Chứng khoán niêm yết hoặc chưa niêm yết trên TTCK Ngoài ra CTCK có thể tự doanh Chứng khoán riêng lẽ của khách hàng, sau đó tập hợp thành lô chẵn để giao dịch trên TTCK

Theo điều 20 qui chế hoạt động và tổ chức của CTCK số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17/06/2004 quy định về hoạt động tự doanh của CTCK như sau:

Trang 9

 CTCK phải đảm bảo có đủ tiền và Chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch của mình

 Khi tiến hành nghiệp vụ tự doanh CTCK không được:

o Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của CTCK

o Đầu tư quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết

o Đầu tư quá 15% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết

Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các CTCK tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới nãy sinh xung đột lợi ích giữa việc thực hiện lệnh giao dịch cho khách hàng và lệnh giao dịch cho bản thân công ty Do đó, các nước thường quy định các CTCK phải tổ chức thực hiện 2 nghiệp vụ ở 2 bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó được thực hiện cả 2 nghiệp vụ và phải ưu tiên thực hiện lệnh khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty

Trang 10

Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên

số tiền thu được từ đợt phát hành

Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:

 Bảo lãnh cam kết chắc chắn:

Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ số chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành, sau đó sẽ bán ra công chúng, hoặc công ty bảo lãnh phải nhận mua toàn bộ số Chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của đợt phát hành Gía mua của công ty bảo lãnh là một giá đã được ấn định, thường là thấp hơn giá thị trường Gía bán của công ty bảo lãnh là giá thị trường Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động tự doanh, hoạt động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro

 Bảo lãnh cố gắng tối đa:

Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số Chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa Số Chứng khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành Như vậy, kết quả của việc bán Chứng khoán của tổ chức phát hành tùy thuộc vào khả năng, uy tín và sự lựa chọn NĐT của tổ chức bảo lãnh

 Bảo lãnh tất cả hoặc không:

Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số Chứng khoán dự định phát hành, nếu không phân phối hết

sẽ hủy bỏ đợt phát hành Theo phương thức này, không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên UBCKNN thường yêu qui định số Chứng khoán mà NĐT đã mua trong thời gian chào bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành Nếu đợt phát hành không thành công thì NĐT sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc

 Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu:

Là phương thức kết hợp giữa phương thức bảo lãnh cố gắng tối đa và phương thức tất cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ

Trang 11

chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ Chứng khoán nhất định Nếu số lượng Chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ được hủy bỏ và toàn

bộ tiền đặt cọc mua Chứng khoán sẽ được trả lại cho NĐT Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo lợi ích cho tổ chức phát hành,vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh

Riêng tại nước ta hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của NĐT và gắn kết trách nhiệm của các CTCK Điều này gây ra một số khó khăn cho các CTCK trong việc triển khai nghiệp vụ này

Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh Chứng khoán, các CTCK phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc này thường được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, chẳng hạn như các quy định về hạn mức bảo lãnh, nghĩa vụ bình ổn thị trường của các loại chứng khoán nhận bảo lãnh, tách bạch nghiệp vụ, công khai thông tin, nghĩa vụ liên đới trong các hoạt động gian lận liên quan đến phát hành Chứng khoán …

Khi UBCKNN cho phép phát hành Chứng khoán CTCK sẽ hoàn tất thủ tục thực hiện phân phối Chứng khoán Sau đây là một số hình thức phân phối chủ yếu:

1.4.4 Ngiệp vụ tư vấn:

Trang 12

Là việc chuyên viên tư vấn sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để tư vấn cho NĐT về thời điểm mua bán Chứng khoán, loại Chứng khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình diễn biến thị trường, xu hướng giá cả…Đây là hoạt động phổ biến trên thị trường thứ cấp diễn ra hằng ngày, hàng giờ với nhiều hình thức khác nhau Việc tư vấn có thể bằng lời nói, hoặc có thể thông qua những bản tin, các báo cáo phân tích…khách hàng có thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax…để tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông qua các báo cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành

 Tư vấn tài chính doanh nghiệp:

Là một phần trong tổng thể các hoạt động tư vấn của CTCK Với khả năng chuyên môn của mình, CTCK hỗ trợ các khách hàng trong việc lập và thực hiện kế hoạch tài chính quan trọng nhằm tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp, đảm bảo đầy đủ các nguồn lực tài chính cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

Khi cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp, CTCK phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Trung thực, tận tụy và vì lợi ích của khách hàng;

- Chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tư vấn của mình đối với doanh nghiệp;

- Có đủ năng lực thực hiện hoạt động tư vấn đã cam kết với khách hàng

- Không được nhận bất kỳ một lợi ích không chính đáng nào ngoài những lợi ích đã thỏa thuận với khách hàng theo quy định của pháp luật

Các CTCK có thể thu phí hoặc miễn phí khi cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng, tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động tư vấn Theo thông lệ, các CTCK chỉ chịu trách nhiệm về những ý kiến tư vấn của mình, khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính khi quyết định thực hiện theo lời tư vấn Chính vì vậy, câc CTCK và nhân viên của mình phải tuân thủ rất nghiêm ngặt những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp nhằm tránh gây ra những tổn hại về vật chất cho khách hàng, không được phép đưa ra những cam kết hoặc dụ dỗ khách hàng về kết quả của khoản đầu tư khi thực hiện những ý kiến tư vấn

Trang 13

1.4.5 Quản lý danh mục đầu tư:

Quản lý danh mục đầu tư chính là nghiệp vụ quản lý vốn ủy thác của khách hàng trên

cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu tư được hiểu như một nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư Khi đó, khách hàng sẽ ủy thác tiền của mình cho công ty và công ty sẽ thay mặt khách hàng để quyết định đầu tư theo một chiến lượt hay những thỏa thuận giữa công ty và khách hàng về mức lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro có thể chấp nhận

Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát như sau:

Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý

Tức CTCK và khách hàng tiếp xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ

đó đưa ra các yêu cầu về quản lý vốn ủy thác

Bước 2: Ký hợp đồng quản lý

Sau khi tìm hiểu, thương lượng và thỏa thuận CTCK và khách hàng sẽ ký hợp đồng quản lý theo yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian ủy thác, mục tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên Phân chia lợi nhuận, rủi ro và chi phí quản lý danh mục đầu

Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lý

CTCK thực hiện đầu tư vốn ủy thác của khách hàng theo những nội dung đã ký kết và phải đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tách biệt tài sản của khách hàng và của công ty

Bước 4: Kết thúc hợp đồng quản lý

Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các khoản phí quản lý theo hợp đồng đã ký kết và

xử lý các trường hợp đột xuất xảy ra như CTCK bị ngừng hoạt động, bị giải thể hoặc phá sản

1.4.6 Các nghiệp vụ hỗ trợ khác:

Trang 14

Nhìn chung các nghiệp vụ hỗ trợ giao dịch nhằm tọa thuận lợi cho NĐT, giúp NĐT không bỏ lở các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

 Cho vay cầm cố Chứng khoán:

Là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay dùng số Chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…

Cho vay bảo chứng:

Là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để mua Chứng khoán, sau đó dùng

số Chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản cầm cố cho khoản vay

- Cho vay ứng trước tiền bán Chứng khoán :

Là việc CTCK ứng trước tiền bán Chứng khoán cho khách hàng ngay sau khi lệnh bán Chứng khoán cảu khách hàng được thực hiện

- Nghiệp vụ lưu ký Chứng khoán :

Là việc lưu giữ, bảo quản Chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký Chứng khoán Đây là công việc đầu tiên để cho các Chứng khoán có thể giao dịch trên thị trường tập trung Việc lưu giữ, bảo quản Chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện thông qua các thành viên lưu ký của thị trường giao dịch Chứng khoán

Lưu ký Chứng khoán là một hoạt động rất cần thiết trên TTCK Bởi vì trên TTCK tập trung, việc thanh toán trên các các giao dịch diễn ra tại Sở giao dịch Chứng khoán Vì vậy, lưu ký Chứng khoán một mặt giúp cho quá trình thanh toán tại Sở giao dịch được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng Mặt khác, nó hạn chế rủi ro cho người nắm giữ Chứng khoán như rủi ro bị rách, hỏng, thất lạc…

 Các vấn đề liên quan đến khung pháp lý về nghiệp vụ môi giới chứng khoán ảnh hưởng đến hoạt động này:

Như chúng ta đã biết TTCK Việt Nam thực sự trở nên sôi động hơn bao giờ hết trong mấy năm trở lại đây Cùng với sự bùng nổ của TTCK thì các dịch vụ ăn theo nhằm đáp

Trang 15

ứng tốt nhất nhu cầu của NĐT mà CTCK gọi đó là khách hàng cũng ra đời lần lượt cùng với sự ra đời ồ ạt của các CTCK Trong đó, phải kể đến dịch vụ môi giới chứng khoán Nghề Môi giới chứng khoán cũng vì thế mà trở nên hot trong 2 năm trở lại đây khi số DN niêm yết tăng, tài khoản mở mới cũng gia tăng Vậy nhưng, hiện cơ quan quản lý đang tỏ ra lúng túng khi quản lý một trong những đối tượng quan trọng tham gia vào thị trường này Sự lúng túng này xuất phát từ thực tế phát triển quá nhanh của thị trường, trong khi quy định hiện hành lại không rõ ràng, chuẩn mực

Theo Điểm C, Khoản 1,Điều 62, Luật Chứng khoán, điều kiện để thành lập và hoạt động của CTCK là giám đốc hoặc tổng giám đốc, các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề Như vậy, sau khi thành lập và

đi vào hoạt động, nhân viên có phải có chứng chỉ hành nghề hay không lại là vấn đề bỏ ngỏ Chính quy định không rõ ràng này làm nảy sinh tình trạng CTCK mạnh ai, nấy làm Thực tế hiện nay, phần lớn Môi giới chứng khoán chưa được cấp chứng chỉ hành nghề Họ đến với nghề Môi giới chứng khoán quá nhanh hoặc xuất phát từ nhiều công việc khác nhau nên chưa có điều kiện theo học, thi lấy chứng chỉ Như vậy, việc quản

lý Môi giới chứng khoán thông qua yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề là không khả

thi

Những biện pháp quản lý khác như cấm CTCK sử dụng cộng tác viên Môi giới chứng khoán, yêu cầu phải ký hợp đồng với Môi giới chứng khoán… thì hầu như là vô hiệu khi CTCK có rất nhiều cách để lách luật Việc UBCK Nhà nước đã không chặt chẻ và

rỏ ràng trong quy định để cho nhiều CTCK lách luật, nếu tình trạng đội ngủ môi giới không có chứng chỉ hành nghề ngày càng gia tăng sẽ dẫn đến tình trạng môi giới thiếu trình độ và năng lực Điều này không những gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của CTCK, mà còn gây ảnh hưởng đến lợi ích của NĐT khi được phục vụ bởi đội ngủ môi giới như thế Tại nước ta, theo quy định, NĐT có thể ủy quyền giao dịch cho các Môi giới chứng khoán Với việc tuyển dụng lỏng lẻo, trình độ chuyên môn chưa sâu, đạo đức nghề nghiệp chưa được kiểm chứng, việc ủy quyền giao dịch cho các môi giới tự

do là điều hết sức rủi ro.Do đó, UBCK cần quản lý sát sao hơn như việc yêu cầu các

Trang 16

CTCK lập danh sách môi giới, báo cáo thường xuyên vế biến động nhân sự môi giới Đối với các môi giới chưa đủ điều kiện thì phải thực hiện bổ sung chứng chỉ hành nghề, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm vì sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường

Hiện nay trên cả nước có khoảng 105 CTCK, do đó cạnh tranh trong kinh doanh là vấn

đế tất yếu Thế nhưng nhiều CTCK đã và đang cố tình lách luật để tìm mọi cách để tạo

ra lợi thế cạnh tranh của mình trên thương trường Quy định về phương thức giao dịch chứng khoán T+3 chỉ rỏ, tức là phải 3 ngày sau chứng khoán mới về tài khoản của người mua, và tiền mới về tài khoản của người bán Thế nhưng trong thời gian qua nhiều công ty vẫn cố tình thực hiện cơ chế giao dịch T+2, thậm chí là T+1 trong khi đó UBCK Nhà nước vẫn chưa cho phép Điều này đã dẫn đến một thực trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các CTCK Tuy nhiên, khi một vài CTCK âm thầm triển khai hình thức giao dịch T+2 mà không có sự giám sát chặt chẻ của cơ quan quản lý thị trường thì các công ty còn lại cũng bắt chước triển khai Để không bị cơ quan quản lý

"tuýt còi", CTCK phải ẩn các dịch vụ trên dưới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh, thỏa thuận hỗ trợ tài chính Qua đó cho thấy những hạn chế trong công tác quản lý của cơ quan quản lý thị trường đã tạo cơ hội cho các CTCK qua mặt Những hạn chế

đó cho thấy sự yếu kém của và thiếu hoàn thiện trong công tác quản lý cũng như ban hành một bộ luật mang tính trọn vẹn và chặt chẻ Chính sự yếu kém đó đã tạo điều kiện cho những tiêu cực trong môi trường kinh doanh của các CTCK.Từ đó ảnh hưởng đến

sự vận động và phát triển lành mạnh của TTCK nước ta

 Nghiệp vụ môi giới Chứng khoán:

2.1 Khái niệm về môi giới:

Như đã trình bày ở trên thì Môi giới là một hoạt động của CTCK trong đó CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tập tại Sở giao dịch Chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách

nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó

Trang 17

2.2 Chức năng của môi giới:

2.2.1 Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng:

CTCK thông qua nhân viên môi giới của mình cung cấp cho khách hàng những thông tin về các công ty niêm yết( bản cáo bạch, báo cáo tài chính hàng quý, các thông tin về phát hành thêm, trả cổ tức, thưởng cổ phiếu.) Người môi giới tiếp cận với thương lượng thông tin vô cùng lớn qua nhiều kinh khác nhau bằng nghiệp vụ của mình, do đó bên cạnh việc giới thiệu với khách hàng mã cổ phiếu và các dịch

vụ đơn thuần của công ty Nhân viên mội giới có thể đưa ra những lời khuyên về những cổ phiếu tiềm năng và những danh mục có mức rủi ro và lợi nhuận hợp lý cho NĐT Tư vấn và môi giới là hai hoạt động riêng biệt trong hoạt động của nhà môi giới Nhưng trong hoạt động của nhà môi giới thì tư vấn vẫn áp đảo, hai câu hỏi mà NĐT thường xuyên gặp là khi nào thì nên bán hay nên mua một loại cổ phiếu, sự tham lam và sợ hãi là hai vấn đề mà tất cả các NĐT tham gia TTCK đều phải đối mặt, khi đó họ cần nhà môi giới ở bên để đưa ra các quyết định đúng đắn

và kịp thời, đôi khi còn là sự giải tỏa tâm lý trước biến động của thị trường

2.2.2 Cung cấp các dịch vụ tài chính và giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu:

Đối với bất cứ một NĐT nào, nhà môi giới cũng phải giúp thực hiện các hoạt động như mở tài khoản tại công ty, tiến hành giao dịch, xác nhận giao dịch, thông báo kết quả đến khách hàng,….ở các nước phát triển khi các giao dịch sử dụng giao dịch trực tuyến bằng internet làm công cụ thì nhà môi giới càng cần phải nắm bắt thông tin về khách hàng để đảm bảo chất lượng phục vụ đảm bảo yêu cầu của khách hàng

2.3 Vai trò của hoạt động môi giới:

2.3.1 Giảm chi phí giao dịch:

Cũng như tất cả các giao dịch mua bán khác, để thực hiện được hoạt động mua bán Chứng khoán cần có sự gặp gở giữa người bán và người mua Sẽ rất khó khăn cho NĐT khi họ nắm giữ cổ phiếu muốn bán mà tự thân đi tìm đối tác mua bán với mình, Chứng khoán lại là loại hàng hóa đặc biệt Sự xuất hiện của các CTCK cùng với các tổ chức trung gian khác và các dịch vụ của họ sẽ làm NĐT không mất thời

Trang 18

gian tìm kiếm đối tác, môi giới sẽ làm việc đó giúp họ, việc của họ chỉ là tìm cho mình một trung gian đáng tin cậy và trả phí môi giới

2.3.2 Phát triển thị trường:

Chịu đựng sự cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường, CTCK thông qua đội ngũ môi giới của mình sẽ luôn gắn bó trực tiếp đối với đối tượng khách hàng mục tiêu của mình và cung cấp cho họ những dịch vụ tốt nhất để đảm bảo lợi nhuận của mình, góp phần làm gia tăng cả số lượng lẫn chất lượng các NĐT

2.3.3 Cải thiện môi trường kinh doanh:

Thị trường càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các CTCK càng ác liệt hơn và hiệu quả hơn, NĐT là những người được lợi trực tiếp từ quá trình này

2.4 Nguyên tắc hoạt động của môi giới Chứng khoán:

Môi giới Chứng khoán là hoạt động trong nền kinh tế thị trường phát triển, là sản phẩm của thị trường bậc cao với nhiều nét đặc trưng riêng lại càng có nguyên tắc áp dụng khi thực hiện Ta có thể kể đến những nguyên tắc chung sau:

 Hoạt động môi giới phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật hiện hành về Chứng khoán và TTCK, phải tuân thủ các quy định của công ty và tuân thủ quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp

 Người lãnh đạo CTCK phải chỉ đạo thực hiện hoạt động môi giới trong phạm vi, quy mô phù hợp với tình hình thị trường, tiềm lực tài chính và năng lực, trình độ của nhân viên môi giới, nhân viên giao dịch, đảm bảo an toàn, hiệu quả, kiểm soát được rủi ro

 Phải có sự quản lý tách bạch tiền và Chứng khoán của từng khách hàng, sử dụng tiền và Chứng khoán trên tài khoản của khách hàng theo đúng hợp đồng đã ký

 Người môi giới là đại diện của khách hàng khi thực hiện giao dịch nên:

 Hoạt động môi giới của công ty chỉ được thực hiện khi công ty ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng

 Chỉ được thực hiện lệnh của khách hàng khi khách hàng có đủ các điều kiện về tiền hoặc chứng khoán ký quỹ theo quy định

Trang 19

 Phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty và của nhân viên môi giới

 Người môi giới là đại diện của công ty khi tiếp xúc với khách hàng nên phải luôn thận trọng khi tư vấn và nhắc nhở khách hàng:

 Giá trị của Chứng khoán luôn thay đổi theo các yếu tố kinh

tế và tâm lý

 Những lời tư vấn có thể hoàn toàn không chính xác

 Khách hàng cần được biết CTCK không chịu trách nhiệm về những lời tư vấn

 Phải cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin thị trường cho khách hàng, bảo mật thông tin cho khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

 Người môi giới cần phải tuân theo các quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động môi giới:

 Phải thận trọng khi hành nghề : phải hiểu rỏ khách hàng về thông tin cá nhân cơ bản, về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, trên cơ

sở đó phải tư vấn phù hợp cho khách hàng;

 Phải trung thực, công bằng trong hoạt động môi giới, phải

ưu tiên lợi ích của khách hàng: phải tôn trọng tài sản của khách hàng, bảo

vệ quyền lợi của khách hàng, phải cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác cho khách hàng, đặc biệt không gợi ý khách hàng mua bán vì lợi ích riêng, không thúc giục khách hàng mua bán quá nhiều một loại Chứng khoán, không đưa ra những lời hứa hẹn đảm bảo lợi ích của khách hàng sẽ nhận được, không có hành vi và biểu hiện có thể gây ra sự hiểu lầm về sự trung thực, độ tin cậy cho khách hàng;

 Hoạt động phải mang tính chuyên nghiệp: nhân viên thực hiện theo đúng yêu cầu của khách hàng, tuân theo quy định về nghiệp vụ, qui định khác của công ty Đặc biệt người môi giới cần phải thường xuyên học tập nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ

Trang 20

 Phải bảo mật: bảo quản hồ sơ, tài liệu của khách hàng, không được thảo luận bất kỳ thông tin nào về khách hàng với người không

có liên quan, không sử dụng thông tin của khách hàng dưới bất kỳ hình thức nào để tác động tới giao dịch vì lợi ích của nhân viên môi giới, của công ty hay của khách hàng khác

Bên cạnh đó, hoạt động môi giới Chứng khoán còn có quy định rõ về hành vi bị cấm không được thực hiện Đó là:

 Chỉ những người đã được cấp giấy phép hành nghề hay được công ty cho phép mới được thực hiện các giao dịch cho khách hàng

 Không được sử dụng những thông tin nội bộ để mua, bán Chứng khoán cho chính mình hoặc cho bên thứ ba

 Không được tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho bên thứ ba mua, bán Chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ

 Không được giao dịch Chứng khoán mà không thay đổi quyền sở hữu Chứng khoán nhằm tạo cung cầu giả

 Không được tham gia lôi kéo người khác liên tục mua, bán thao túng giá Chứng khoán

 Không được tạo dựng truyền bá thông tin sai sự thật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hoạt động giao dịch Chứng khoán

 Không được làm trái lệnh của khách hàng hoặc không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định hay tự ý mua, bán Chứng khoán trên tài khoản của khách hàng

 Không được có quan hệ tài chính cá nhân với khách hàng, nếu có phải công khai báo cáo với công ty

 Không được nhận ủy quyền của khách hàng để quyết định lựa chọn chủng loại,

số lượng, giá cả Chứng khoán và thực hiện các giao dịch mua bán trên tài khoản giao dịch Chứng khoán của khách hàng mở tại CTCK đó

Trang 21

 Không được nhận bất kỳ khoản thù lao nào ngoài việc thu phí môi giới của khách hàng theo quy định của công ty

 Không được có hành vi nào có thể gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loại Chứng khoán nào

 Không được mượn danh nghĩa của khách hàng để mua, bán Chứng khoán hoặc

có hành vi khác làm thiệt hại đến lợi ích của khách hàng

 Không được lợi dụng vị trí, quyền hạn và nhiệm vụ của mình để làm lợi cá nhân, gây thiệt hại về uy tín, tài sản của CTCK, thực hiện các hành vi bị cấm khác theo quy định của công ty và của pháp luật có liên quan hiện hành

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động môi giới:

2.4.1 Nhân tố chủ quan:

 Nguồn nhân lực:

Yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công của CTCK và bộ phận môi giới, được đánh giá qua trình độ của nhân viên, thái độ với khách hàng, năng lực nghiệp vụ, khả năng truyền đạt thông tin….Công ty càng có đội ngủ nguồn nhân lực trẻ có năng lực, nhiệt huyết thì càng tạo thuận lợi cho công ty trong việc thu hút và giữ chân khách hàng

Hệ thống thông tin, trang bị cơ sở vật chất:

Một công ty được trang bị thiết bị cơ sở vật chất càng tốt thì mới đảm bảo được sự nhanh chóng hiệu quả trong việc xử lý thông tin, nghiệp vụ đáp ứng

và phục vụ tốt các nhu cầu của khách hàng TTCK thay đổi thất thường làm khối lượng công việc của CTCK cũng thay đổi theo, việc xây dựng một hệ thống thông tin, trang bị cơ sở vật chất mạnh là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng dịch vụ công ty, xây dựng lòng tin nơi khách hàng

 Mô hình tổ chức:

Trang 22

TTCK luôn biến động khôn lường, công việc của nhân viên môi giới ở đâu cũng đối mặt với áp lực rất cao, sai sót là vấn đề bất khả kháng nếu không có một mô hình tổ chức hiệu quả và nhà lãnh đạo có năng lực, hoạt động môi giới của công ty sẽ mắc lại ở nhiều khâu, không thể diễn ra trơn tru hiệu quả được

 Chiến lượt kinh doanh của công ty:

Liên quan đến tầm nhìn của công ty, mục tiêu và chiến lượt đúng đắn sẽ đảm bảo doanh thu và lợi nhuận cho công ty

Quan hệ với khách hàng:

Khối lượng giao dịch quyết định lợi nhuận của công ty và gián tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động còn lại của công ty, do tính phức tạp của các hoạt động giao dịch Chứng khoán, mâu thuẫn giữa khách hàng và công ty là điều khó tránh khỏi, các công ty cần xây dựng đối tượng khách hàng mục tiêu để

đảm bảo lợi ích và sự phát triển lâu dài cho công ty

2.4.2 Nhân tố khách quan:

 Môi trường kinh tế:

TTCK là một bộ phận của thị trường vốn, trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vốn sẽ tăng nhiều hơn kèm theo sự phát triển của TTCK và ngược lại trong giai đoạn đầu nền kinh tế suy thoái, có rất nhiều yếu tố tác động đến nhưng nói chung sự tăng trưởng của cả nền kinh tế có phần quan trọng trong những thay đổi trên TTCK Điều này có nghĩa là, các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế có ảnh hưởng đến TTCK từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến CTCK

mà đầu tiên sẽ là hoạt động môi giới Bởi khi môi trường kinh tế gặp nhiều thuận lợi thì nó sẽ tạo điều kiện cho thị TTCK phát triển bởi đây được xem là kênh huy động vốn hiệu quả của doanh nghiệp và là kênh đầu tư hấp dẫn đối

Trang 23

với công chúng đầu tư TTCK phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội kinh doanh cho các CTCK mà trước hết là hoạt động môi giới của công ty trong việc nổ lực gia tăng doanh số môi giới chứng khoán góp phần gia tăng lợi nhuận, cũng như phát triển mạng lưới khách hàng Và ngược lại khi môi trường kinh tế gặp nhiều khó khăn, mà TTCK được ví như phong vũ biểu đi trước nền kinh tế luôn đi trước nền kinh tế một bước sẽ có những biến động không tốt.Việc TTCK suy giảm sẽ làm cho kênh đầu tư chứng khoán mất tính hấp dẫn của nó, NĐT sẽ e dè hoặc tìm một kênh đầu tư khác an toàn hơn mặc dù suất sinh lợi thấp hơn…Từ đó sẽ làm cho các công ty chứng khoán cũng gặp khó khăn trong việc kinh doanh, và doanh thu môi giới cũng sẽ giảm sút theo vì lúc này lượng khách hàng bị suy giảm Những diễn biến của thị trường trong năm 2008

là một ví dụ điển hình cho sự suy giảm của TTCK khi nước ta và dẫn đến hệ quả tất yếu thua lỗ trong kinh doanh của các CTCK từ ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Hệ thống pháp lý:

Hệ thống pháp lý có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của hệ thống các CTCK và cả hoạt động môi giới Những yêu cầu về vốn tối thiểu để hoạt động, chứng chỉ cần thiết để trở thành nhân viên môi giới sẽ giới hạn đối tượng tham gia trong lĩnh vực này, những quy định về quy trình, lưu ký, xác nhận lệnh sẽ quyết định trình tự và thời gian thực hiện một giao dịch của khách hàng

Kiến thức của công chúng đầu tư:

Một thị trường bao gồm toàn các NĐT chuyên nghiệp yêu cầu nhân viên môi giới sẽ khác thị trường toàn các NĐT thiếu kinh nghiệm, khi trình độ của NĐT tăng lên, đòi hỏi với nhân viên môi giới sẽ phải cao lên và với hoạt động môi giới của các công ty khắt khe hơn

Tập quán, văn hóa truyền thông:

Trang 24

Ảnh hưởng đến tất cả hoạt động kinh tế không chỉ môi giới, công ty xây dựng

kế hoạch phát triển hay chiến lược tiếp xúc khách hàng của nhân viên môi giới đều xây dựng dựa trên yếu tố này

2.4.5 Tìm hiểu nghiệp vụ môi giới chứng khoán ở một số quốc gia trên thế giới:

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời cho đến nay đã trải qua 10 năm, tuy nhiên có thể thấy rằng nếu so với các thị trường các trong khu vực và trên thế giới thì nước ta vẫn cần phải học hỏi rất nhiều thứ Điều đó cũng là dễ hiểu bởi so với một số quốc gia trên thế giới thì TTCK nước ta vẫn còn khá non trẻ Đơn cử như hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán nước ta chẳng hạn có rất nhiều điểm khác với hoạt động môi giới ở một số quốc gia trên thế giới

Trên thế giới, một nhà môi giới chứng khoán là một người độc lập, được cấp phép như một đại diện đăng ký hợp pháp và bằng cách này họ đóng vai trò là một người trung gian đứng giữa người mua và người bán chứng khoán Người môi giới vì thế được trả tiền hoa hồng cho công việc này

Môi giới chứng khoán không ký hợp đồng với Công ty Chứng khoán, không chịu sự quản lý nào từ Công ty Chứng khoán Họ được UBCK cấp phép hành nghề, có văn phòng riêng tự tìm kiếm khách hàng Công việc chính của môi giới là phát triển khách hàng và tư vấn đầu tư Quan hệ giữa họ và Công ty Chứng khoán chỉ là thuê đường truyền để thực hiện giao dịch Hoặc nếu được nhà đầu tư ủy quyền, họ sẽ thực hiện các giao dịch như vay mượn tiền, chứng khoán, mua bán chứng khoán… với Công ty chứng khoán

Các nước có TTCK phát triển và ra đời khá sớm chẳng hạn như Mỹ, Đức…họ đã được UBCK triển khai phương thức giao dịch T+1, T+2 nhằm tạo sự đa dạng và thu hút NĐT, giúp NĐT trong việc rút ngắn thời gian chứng khoán và tiền về tới tài khoản theo quy định T+3 như trước kia.Mua(bán) khống chứng khoán cũng không phải là quá

xa lạ ở các thị trường này Những cơ chế thông thoáng đó đã kích thích sự tham gia đầu tư của NĐT tham gia vào thị trường và đó là một cơ hội lớn cho nghiệp môi giới Trong khi đó ở nước ta, mặc dù đã trải qua 10 năm hình thành và phát triển nhưng nhìn

Trang 25

chung các sản phẩm cung cấp từ các CTCK vẫn còn khá nghèo nàn Bán khống không được pháp luật thừa nhận, phương thức giao dịch dưới T+3 vẫn chưa được triển khai Ngoài ra hiện nay trên thế giới khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bảo thì những nhà môi giới chứng khoán cũng đã tận dụng rất nhiều từ điều đó để mang lại nhiều thuận tiện hơn cho hoạt động môi giới của chính mình chẳng hạn như tiết kiệm chi phí giao dịch Những nhà môi giới qua mạng sẽ cho ta thấy những điều đó Họ là những người ngồi trước máy tính, tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin và hệ thống giao dịch chứng khoán điện tử (Electric share trading system - ECN) để giúp khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán.Các nhà môi giới chứng khoán trên mạng sẽ được hưởng chi phí cho các giao dịch chứng khoán họ thực hiện giúp khách hàng Họ cho rằng mình có một ưu thế vượt trội so với các nhà môi giới tại các sàn giao dịch chứng khoán thông thường là: chi phí giao dịch rẻ hơn Chính sự chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng, giúp các khách hàng thực hiện các giao dịch của họ đã làm cho những nhà môi giới trở nên độc lập, bản thân họ tự ý thức được vai trò của năng lực, trình độ chuyên môn là yếu tố cần thiết giúp họ trụ vững trên thương trường

Tại Việt Nam, theo quy định, nhà đầu tư có thể ủy quyền giao dịch cho các Môi giới chứng khoán Hoạt động môi giới tuy được hiểu là thực hiện theo lệnh của khách hàng, nhưng chính tình trạng giới hạn về năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên hoạt động môi giới đã khiến nghiệp vụ này chưa thật sự đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng Chất lượng tư vấn đầu tư trực tiếp của CTCK đi kèm với hoạt động môi giới chưa thật sự thuyết phục các NĐT giao dịch thường xuyên và tăng doanh số giao dịch, bởi vì họ vẫn chưa thấy được lợi ích thiết thực và tính hiệu quả cao của hoạt động này Việc tuyển dụng lỏng lẻo, trình độ chuyên môn chưa sâu, đạo đức nghề nghiệp chưa được kiểm chứng, việc ủy quyền giao dịch cho các môi giới tự do là điều hết sức rủi ro Hơn nữa dưới tư cách là một nhân viên của một công ty chứng khoán những môi giới viên hầu hết rất thụ động, chỉ chờ nhận lệnh từ phía khách hàng chứ không chủ động tìm kiếm khách hàng Điều này đã làm cho công tác môi giới chứng khoán đã không thực sự phát huy được theo đúng như tên gọi của nó từ đó làm cho chất lượng môi giới chỉ dừng lại ở việc giúp khách hàng thực hiện giao dịch của họ

Trang 26

Do đó, để cho hoạt động môi giới trở nên sôi động và hiệu quả hơn đáp ứng được sự mong đợi về phía khách hàng hơn thì trước hết bản thân môi cá nhân hoạt động trong lĩnh vực môi giới cần trang bị cho mình sự am hiểu và những kỷ năng chuyên môn cần thiết để nâng cao tính hiệu quả trong công việc Đồng thời bản thân các CTCK cũng cần phải khắt khe hơn trong công tác tuyển dụng và tạo nhiều điều kiện để cho nhân viên có được môi trường làm việc thuận lợi kích thích sự năng động và khả năng cống hiến cho chính công ty Ngoài ra,UBCK cần quản lý sát sao hơn như việc yêu cầu các Công ty chưng khoán lập danh sách môi giới, báo cáo thường xuyên vế biến động nhân

sự môi giới Đối với các môi giới chưa đủ điều kiện thì phải thực hiện bổ sung chứng chỉ hành nghề, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm vì sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường

Qua quá trình tìm hiểu trên ta có thể thấy được một vài khác biệt giữa nghiệp vụ Môi giới giữa nước ta và một số quốc gia trên thế giới như sau:

Trang 27

Kết luận Chương I

Kết thúc Chương I, chúng ta đã có cái nhìn tổng quát nhất về CTCK, qua đó hiểu được vai trò chức năng, mô hình cũng như các nghiệp vụ của một CTCK Đặc biệt chúng ta

có được cái nhìn bao quát và cụ thể hơn về nghiệp vụ Môi giới Chứng khoán, các vấn

đề liên quan đến vai trò quy trình của nghiệp vụ này, từ đó so sánh để thấy được một vài sự khác biệt giữa môi giới Chứng khoán ở Việt Nam và thế giới Cũng qua chương này ta đã phân tích được những nhân tố khách quan cũng như các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động môi giới Chứng khoán của các CTCK ở thị trường nước ta…Tất cả những điều đó là cơ sở, nền tảng để chúng ta nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng Môi giới của bất cứ CTCK nào đang hoạt động trên cả nước Tuy nhiên nếu

Môi giới tại Việt Nam Môi giới tại một số nước trên thế giới

- Nhân viên môi giới là cá nhân thuộc

quyền quản lý của CTCK

- Không được phép mở văn phòng riêng

để thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng

khoán Thu nhập được CTCK trả, ngoài ra

còn có tiền hoa hồng từ việc nhận lệnh từ

khách hàng

- Việc thực hiện cho khách hàng phải

được thực hiện tại sàn giao dịch

-Không được phép giúp khách hàng thực

hiện mua(bán) khống

-Không được phép giúp khách hàng giao

dịch theo phương thức dưới T+3

-Nhà môi giới là cá nhân độc lập, không cần phải ký hợp đồng với CTCK nên không chịu bất kỳ sự quản lý nào từ CTCK

-Được phép mở văn phòng riêng tự tìm kiếm khách hàng, thu nhập phụ thuộc vào khả năng tìm kiếm khách hàng

-Nhà môi giới có thể tận dụng thế mạnh của công nghệ(nhà môi giới qua mạng) để giúp khách hàng mua( bán) chứng khoán

mà không nhất thiết phải thông qua sàn giao dịch

-Được phép giúp khách thực hiện hàng mua( bán) khống

-Được phép giúp khách hàng triển khai phương thức giao dịch dưới T+3

Trang 28

chỉ dừng lại ở Chương I thì thật sự rất khó để có được những phân tích đánh giá chính xác và đầy đủ thực trạng hoạt động môi giới của một Công ty Chứng khoán bất kỳ vì

dù sao đi nữa đây cũng chỉ dừng lại ở phương diện lý thuyết Chính vì vậy để có được cái nhìn toàn diện về hoạt động môi giới của VIS trong những năm qua, Chương II sẽ giúp ta làm rỏ vấn đề này

Trang 29

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

QUỐC TẾ

 Khái quát về Công ty cổ phần Chứng khoán Quốc Tế:

Công ty Cổ phần Chứng khoán Quốc tế Việt Nam được sáng lập bởi:

Các cá nhân, doanh nhân thành đạt hoạt động lâu năm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB Bank)

Được thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số

0103014511 đăng ký lần đầu ngày 06 tháng 11 năm 2006 so Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp; Giấy phép hoạt động kinh doanh số 20/UBCK – GPHĐKD ngày 15 tháng 11 năm 2006 do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp

Trong quá trình hoạt động, Công ty đã 2 lần thay đổi vốn điều lệ và 2 lần thay đổi người đại diện theo pháp luật theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số

0103014511 đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 21 tháng 12 năm 2006 do Sở Kế hoạch

và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp; Quyết định số 485/QĐ – UBCK ngày 27 tháng 8 năm 2007 của UBCKNN về việc tăng vốn điều lệ; Quyết định số 85/UBCK – GPĐCTCK ngày 30 tháng 10 năm 2007 và Quyết định số 134/UBCK – GP ngày 23 tháng 6 năm 2008 của UBCKNN về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật

Ngoài ra, Công ty đã thành lập thêm chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 289/QĐ – UBCK ngày 03 tháng 5 năm 2007 do UBCKNN cấp

Tên giao dịch của Công ty: VIETNAM INTERNATIONAL SECURITIES

JOINT STOCK COMPANY

Tên viết tắt của Công ty: VISECURITIES

Vốn điều lệ theo Quyết định số 485/QĐ – UBCK ngày 27 tháng 8 năm

2007 là:

200.000.000.000 VNĐ (Hai trăm tỷ đồng)

Trang 30

 Môi giới chứng khoán

 Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT

HỘI ĐỒNG ĐẦU TƯ

BAN ĐIỀU HÀNH

Trang 31

 Sơ đồ tổ chức của công ty: Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của VIS(Nguồn: VIS)

PHÒNG ĐẦU TƯ PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN PHÒNG HÀNH CHÍNH

Trang 33

 Đại Hội Đồng Cổ Đông:

Là cơ quan quyết định cao nhất của Công Ty , Đại Hội Đồng Cổ Đông họp mỗi năm một lần trước khi kết thúc năm tài chính hoặc họp bất thường theo quy định

 Hội Đồng Quản Trị:

Là cơ quan quản lý của Công Ty, có toàn quyền nhân danh Công Ty để quyết định mọi vấn đề quan trọng liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công Ty, trừ vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại Hội Đồng Cổ Đông

 Ban Kiểm Soát:

Gồm 2 kiểm soát viên do Đại Hội Đồng Cổ Đông bầu và bãi nhiệm.Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động của Công Ty

 Tổng Giám Đốc Công Ty:

Do Hội Đồng Quản Trị bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội Đồng Quản Trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao và được uỷ nhiệm đầy đủ quyền hạn cần thiết để quản lý và điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Công Ty

 Phó Giám Đốc:

Gồm 2 Phó Giám Đốc giúp việc cho Giám Đốc Công Ty, điều hành một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước Giám Đốc và pháp luật về lĩnh vực công tác được giao

 Khối Kinh Doanh Dịch Vụ Chứng Khoán:

o Phòng Dịch Vụ Khách Hàng:

Có chức năng kinh doanh, cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán cho khách hàng

o Phòng Môi Giới & Tư Vấn Đầu Tư:

Có chức năng môi giới, tiếp thị, phát triển, cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán cho khách hàng

 Khối Ngân Hàng Đầu Tư:

o Phòng Tư Vấn Doanh Nghiệp:

Trang 34

Có chức năng tham mưu cho Tổng Giám đốc/ Giám Đốc Khối để quản lý, điều hành hệ thống trong lĩnh vực Tư vấn doanh nghiệp; kinh doanh và cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng doanh nghiệp

o Phòng Nghiên Cứu & Phân Tích:

Có chức năng tham mưu cho Tổng Giám đốc/ GĐ Khối để quản lý, điều hành hệ thống trong lĩnh vực nghiên cứu, phân tích chứng khoán và quản lý rủi

ro đầu tư của Công ty

 Phòng Kiểm Soát Nội Bộ:

Có chức năng kiểm soát sự tuân thủ các quy định nội bộ, quy định pháp luật

và các văn bản có liên quan, các chuẩn mực và quy tắc đạo đức nghề nghiệp của CBNV

 Phòng PR:

Có chức năng tham mưu cho Tổng Giám đốc để quản lý, điều hành hệ thống trong lĩnh vực quan hệ công chúng

 Phòng Công Nghệ Thông Tin:

Có chức năng tham mưu cho Tổng Giám đốc để quản lý, điều hành hệ thống trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Trang 35

kỹ thuật viên nội bộ, nên hệ thống được hoàn thiện liên tục và yêu cầu cụ thể và khác nhau của khách hàng được đáp ứng một cách nhanh chóng

Thứ hai,VIS có một đội ngũ khách hàng cá nhân đông đảo, có tỷ lệ giao dịch cao trên tổng số tài khoản được mở Doanh số môi giới được rải đều và ít tập trung vào một nhóm khách hàng đặc biệt nào

Thứ ba,Đội ngũ nhân sự mạnh, có trình độ và có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng – bất động sản – năng lượng trong và ngoài nước.Các thành viên Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc đều có mối quan hệ sâu rộng với các Bộ - Ban – Ngành kinh tế và Chính phủ, một yếu tố quan trọng trong kinh doanh giúp cho Công ty tồn tại và phát triển bền vững

Thứ tư,Công ty sở hữu một thương hiệu mạnh, đặc biệt tại thị trường khu vực Tp HCM, đồng thời có kế hoạch phát triển mạnh thị phần môi giới và tư vấn trên khu vực

cả nước

Kế hoạch phát triển tập trung và rõ ràng Việc đầu tư chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ Mức độ đầu tư hợp lý Kế hoạch phát triển hệ thống khách hàng môi giới được chuẩn bị kỹ lưỡng, với từng chiến lược cụ thể cho từng nhóm đối tượng khách

Trang 36

hàng.VIS là một trong những CTCK có vốn chủ sở hữu và tổng tài sản lớn trên thị trường, có thể cung cấp được cả năm dịch vụ tài chính thuộc phạm vi hoạt động của các CTCK theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Điểm yếu( Weaknesses)

Thứ nhất, Công ty tương đối thận trọng trong các kế hoạch phát triển của mình, đặc biệt rất thận trọng trong việc kinh doanh chứng khoán bằng nguồn vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, kết quả kinh doanh năm 2008 cho thấy khả năng phản ứng nhanh, kịp thời trước những biến cố khách quan như cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua vẫn còn chưa thật sự tốt Chính vì thế nên VIS luôn xem những định hướng phát triển và giải pháp kinh doanh khi vận dụng đúng đắn, linh hoạt và phù hợp sẽ đem lại những lợi ích thiết thực cho khách hàng và cho chính công ty, đem lại lợi nhuận và giá trị bền vững lâu dài, tăng cường sức mạnh để tồn tại và phát triển dưới sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường

Thứ hai, hiện tại Công ty chưa có nhiều cổ đông tổ chức có kinh nghiệm về thị trường tài chính, và có nguồn vốn kinh doanh mạnh Vì vậy thu hút cổ đông tổ chức là một định hướng mà Ban Quản trị VIS đang theo đuổi Tiêu chí chọn lựa cổ đông tổ chức của Công ty đã được xác định rõ, đó là một tổ chức có nguồn vốn lớn, có khả năng hỗ trợ về vốn cho Công ty trong những điều kiện cụ thể để phát triển thị trường, có liên kết mạnh và sâu với các doanh nghiệp và các Tập đoàn kinh tế để phát triển hệ thống khách hàng tư vấn và đầu tư, có kinh nghiệm quản trị điều hành và tạo giá trị gia tăng trên cương vị là một thành viên Hội đồng Quản trị, và có cam kết hợp tác lâu dài

 Những cơ hội( Opportunities)

Trước tiên phải kể đến những cơ hội mà thị trường mang lại kể từ khi nước ta là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới WTO

 Đẩy mạnh lượng vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào thị trường thông qua các quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như sự

Trang 37

gia tăng các tổ chức đầu tư nước ngoài vào nước ta trong thời gian tới

 Đối với các quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, cùng với việc gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng ổn định của Việt Nam và kết quả kinh doanh khá tốt trong vài năm qua sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quỹ huy động vốn thêm từ bên ngoài để đầu tư vào TTCK Việt Nam

Hiện nay Tỷ lệ tham gia của NĐT nước ngoài tăng cùng với sự phục hồi kinh tế, tốc độ

mở cửa của nền kinh tế theo cam kết WTO và mức độ trưởng thành của TTCK Tỷ trọng giao dịch trung bình của NĐT nước ngoài chỉ chiếm 6% tổng giá trị mua - bán của cả hai sàn giao dịch trong năm 2009 Tỷ trọng này là tương đối thấp và chứng tỏ mức độ tham gia của NĐT nước ngoài vào TTCK Việt Nam còn có thể tăng mạnh trong thời gian sắp tới, đặc biệt khi các công ty Nhà nước cổ phần hóa lớn niêm yết Như vậy, việc gia tăng nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam sẽ tạo cơ hội lớn cho các CTCK, trong đó có cả VIS thông qua việc cung cấp các dịch vụ chứng khoán cho các NĐT tổ chức

 Việc mở cửa hội nhập đồng nghĩa với việc xuất hiện nhiều tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài vào thị trường nước ta Do đó, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi, đây là cơ hội cho các CTCK trong nước trong đó có VIS không ngừng cải thiện và nâng cao các dịch vụ của mình, cũng như có điều kiện học hỏi kinh nghiệm từ mô hình hoạt động cũng như việc cung cấp các dịch vụ của các CTCK nước ngoài

Thứ hai, Kinh tế phục hồi là điều kiện tiên quyết để TTCK phát triển Nhu cầuhuy động vốn sản xuất kinh doanh, nhu cầu đầu tư sinh lãi của các NĐT cá nhân lẫn NĐT

tổ chức trong và ngoài nước đều đang tăng mạnh so với thời kỳ khủng hoảng 2008 Lượng tham gia đầu tư vào TTCK còn thấp, mới chỉ có 800,000 tài khoản trên tổng số

85 triệu dân số, hơn 50% là dân số trong đổ tuổi lao động (tỷ lệ gia nhập thị trường là

Trang 38

0.9%) Bản thân thị trường ngân hàng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn chưa phát triển với chỉ 10% dân số có tài khoản ngân hàng Khả năng phổ biến hóa của TTCK sẽ tiếp tục tăng lên, khi người dân nhận thức rõ hơn về ý nghĩa và mục đích của TTCK Nhóm đối tượng khách hàng môi giới chính mà VIS nhắm vào là nhóm sử dụng dịch vụ giao dịch trực tuyến, phần lớn đều là nhân viên công sở, có thu nhập và giao dịch đều đặn Đây

là nhóm khách hàng được đánh giá có mức độ trung thành khá cao, có những hiểu biết nhất định về kinh tế vĩ mô, về ngành kinh doanh và về đầu tư tài chính Nhóm đối tượng này chắc chắn sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh cả về số lượng, lẫn thu nhập bình quân trong những năm sắp tới

Thứ ba, có thể kể đến là các sửa đổi, các quyết định mag tính pháp lý của UBCKNN theo hướng tạo điều kiện cho việc hoạt động của các CTCK cũng là một thuận lợi cho việc kinh doanh Chứng khoán Đơn cử như dự thảo quyết định cho phép các CTCK triển khai phương thức giao dịch T+2, rồi dự thảo sẽ tăng thời gian giao dịch Chứng khoán đến 2h chiều thay vì đóng cửa 11h như mọi khi…những quy định mới này sẽ làm cho khối lượng giao dịch cổ phiếu và tính thanh khoản của thị trường được cải thiện hơn nhiều, và cũng là cơ hội cho các CTCK tăng cao doanh số giao dịch và phí dịch vụ

Cuối cùng có thể kể đến đó là thị trường nước ta đang được đánh giá là thị trường mới nổi, nhiều tiềm năng, lại có môi trường chính trị rất ổn định…đây là cơ hội thu hút các NĐT cá nhân và tổ chức nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường Điều đó tạo cơ hội cho các CTCK, trong đó có VIS gia tăng khối khách hàng nước ngoài đến với công ty mình

Trang 39

cạnh tranh giữa các CTCK, đặc biệt là các CTCK nước ngoài với thế mạnh về vốn, kinh nghiệm và nghiệp vụ, chắc chắn lợi thế cạnh tranh của CTCK nước ngoài sẽ mạnh hơn chúng ta, đặc biệt là các nghiệp vụ như tư vấn tài chính, tư vấn phát hành và niêm yết tại nước ngoài

Thứ hai, sự biến động về tình hình tài chính thế giới cũng ảnh hưởng rất lớn đến TTCK nước ta Đơn cử như cuộc khủng hoảng toàn cầu diễn ra vào năm 2008 đã gây những thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới mà đơn cử là Mỹ Khủng khoảng tài chính lan rộng và gây không ít ảnh hưởng đến TTCK nước ta, các CTCK làm ăn thua lỗ do trong thời gian này kênh đầu tư này đã mất đi tính hấp dẫn vốn có của nó

Thứ ba, là các cơ chế chính sách chưa hoàn thiện Hiện tại Luật Chứng khoán đã có hiệu lực nhưng các văn bản hướng dẫn vẫn đang quá trình dự thảo, các quy định quản

lý về thị trường, giao dịch còn lỏng lẻo thể hiện nhiều bất cập gây không ít khó khăn cho việc họat động của các CTCK Hơn nữa mức độ trưởng thành của TTCK Việt Nam

là chưa cao, cùng với một số chính sách còn thiếu nhất quán trong vấn đề điều hành kinh tế của Chính phủ là một trở ngại cho các NĐT tham gia vào thị trường

 Hoạt động kinh doanh của Công ty:

2.3.1 Các dịch vụ chính của công ty:

 Phòng Nguồn Vốn:

 Dịch vụ quản lý sổ cổ đông

 Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp

 Tư vấn cổ phần hóa doanh nghiệp

Ngày đăng: 15/08/2014, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình hoạt động của VIS - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Hình 2.1 Mô hình hoạt động của VIS (Trang 30)
  Sơ đồ tổ chức của công ty:        Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của VIS(Nguồn: VIS) - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Sơ đồ t ổ chức của công ty: Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của VIS(Nguồn: VIS) (Trang 31)
Bảng 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh của VIS trong 3 năm - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của VIS trong 3 năm (Trang 42)
Hình 2.3:  Lưu đồ mở tài khoản tại VIS - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Hình 2.3 Lưu đồ mở tài khoản tại VIS (Trang 46)
Bảng 2.2: Thị phần môi giới của VIS trong 3 năm - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.2 Thị phần môi giới của VIS trong 3 năm (Trang 52)
Hình 2.5:  Biểu đồ thị phần môi giới của VIS năm 2009. - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Hình 2.5 Biểu đồ thị phần môi giới của VIS năm 2009 (Trang 53)
Bảng 2.3: Số lượng tài khoản giao dịch đăng ký tại VIS - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.3 Số lượng tài khoản giao dịch đăng ký tại VIS (Trang 56)
Hình 2.6: Biểu đồ số lượng đăng ký tài khoản tại VIS trong 3 năm 2007, 2008 và 2009   Nguồn: Tổng hợp từ số lượng tài khoản giao dịch tại VIS - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Hình 2.6 Biểu đồ số lượng đăng ký tài khoản tại VIS trong 3 năm 2007, 2008 và 2009 Nguồn: Tổng hợp từ số lượng tài khoản giao dịch tại VIS (Trang 57)
Bảng 2.5: Biến động về số lượng tài khoản giao dịch cá nhân trong nước tại VIS trong  3 năm 2007, 2008 và 2009 - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.5 Biến động về số lượng tài khoản giao dịch cá nhân trong nước tại VIS trong 3 năm 2007, 2008 và 2009 (Trang 57)
Bảng phân tích về số lượng tài khoản cá nhân trong nước cho thấy, số lượng tài  khoản đối với nhóm NĐT luôn chiêm ưu thế về tỷ lệ cũng như sự biến động về số  lượng qua mỗi năm - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng ph ân tích về số lượng tài khoản cá nhân trong nước cho thấy, số lượng tài khoản đối với nhóm NĐT luôn chiêm ưu thế về tỷ lệ cũng như sự biến động về số lượng qua mỗi năm (Trang 58)
Bảng 2.7: Biến động về số lượng tài khoản giao dịch cá nhân nước ngoài tại VIS trong  3 năm 2007, 2008 và 2009 - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.7 Biến động về số lượng tài khoản giao dịch cá nhân nước ngoài tại VIS trong 3 năm 2007, 2008 và 2009 (Trang 60)
Bảng 2.8: Biến động về số lượng tài khoản giao dịch tổ chức nước ngoài tại VIS trong  3 năm 2007, 2008 và 2009 - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.8 Biến động về số lượng tài khoản giao dịch tổ chức nước ngoài tại VIS trong 3 năm 2007, 2008 và 2009 (Trang 61)
Bảng 2.9: Doanh thu môi giới và tình hình biến động doanh thu môi giới trong 3  năm 2007, 2008, 2009 - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Bảng 2.9 Doanh thu môi giới và tình hình biến động doanh thu môi giới trong 3 năm 2007, 2008, 2009 (Trang 62)
Hình 2.7: Biểu đồ doanh thu môi giới của VIS trong 3 năm 207, 2008, 2009 - Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam
Hình 2.7 Biểu đồ doanh thu môi giới của VIS trong 3 năm 207, 2008, 2009 (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w