TẠP CHÍ KHOA HỌC, ðại học Huế, Số 66, 2011 VÀI NHẬN XÉT VỀ TỔ CHỨC CỘNG ðỒNG NGƯỜI HOA Ở NAM TRUNG BỘ CÁC TỈNH QUẢNG NGÃI, BÌNH ðỊNH, PHÚ YÊN Nguyễn Văn ðăng Trường ðại học Khoa học,
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, ðại học Huế, Số 66, 2011
VÀI NHẬN XÉT VỀ TỔ CHỨC CỘNG ðỒNG NGƯỜI HOA
Ở NAM TRUNG BỘ (CÁC TỈNH QUẢNG NGÃI, BÌNH ðỊNH, PHÚ YÊN)
Nguyễn Văn ðăng Trường ðại học Khoa học, ðại học Huế
TÓM TẮT
Do những yếu tố ñặc thù của quá trình di cư, của các tổ chức cộng ñồng, của các hoạt ñộng kinh tế và văn hóa so với vùng khác (Bắc Trung Bộ và Nam Bộ) nên việc nghiên cứu về người Hoa ở vùng ñất Nam Trung Bộ chưa ñạt ñược kết quả như mong muốn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả ñi trước, ñặc biệt là các tác giả tại các ñịa phương Quảng Ngãi, Bình ðịnh, Phú Yên và kết quả ñiều tra ñiền dã của bản thân; chúng tôi muốn bước ñầu nêu lên vài nhận ñịnh chung về người Hoa trên một số nét chính yếu về quá trình ñịnh cư, về tổ chức cộng ñồng ở vùng ñất mới trong quá trình cộng cư, hòa nhập vào cộng ñồng quốc gia, dân tộc Việt Nam trước năm 1945 Từ ñó góp phần ñịnh hướng cho công cuộc nghiên cứu và phát huy bản lĩnh kinh tế và bản sắc văn hóa của cộng ñồng người Hoa trong tương lai
1 ðặt vấn ñề
Người Hoa với tư cách là một tộc người thiểu số ñặc biệt ñã ñược nhiều người nghiên cứu Vai trò của họ trong các hoạt ñộng kinh tế văn hóa ở một số ñô thị miền Trung ñã ñược nhiều người quan tâm như ở Thanh Hà (Huế), Hội An (Quảng Nam), Biên Hòa, Bến Nghé (thành phố Hồ Chí Minh), Mỹ Tho (Tiền Giang)… Tuy nhiên, do những yếu tố ñặc thù của quá trình di cư, của các tổ chức cộng ñồng, của các hoạt ñộng kinh tế và văn hóa so với vùng khác (Bắc Trung Bộ và Nam Bộ) nên việc nghiên cứu về người Hoa với tư cách là một cộng ñồng công dân Việt Nam 1 nói chung ở vùng ñất Nam Trung Bộ chưa ñược quan tâm nhiều và chưa ñạt ñược kết quả như mong muốn Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả ñi trước tại các ñịa phương Quảng Ngãi, Bình ðịnh, Phú Yên và kết quả ñiều tra ñiền dã; chúng tôi muốn bước ñầu nêu lên vài nhận ñịnh chung về người Hoa trên một số nét chính yếu về quá trình ñịnh cư, về tổ
1
Dựa theo quan niệm của GS Mạc ðường Khái niệm người Hoa ở ñây ñược xem là một cộng ñồng công dân (community of citizen) là một nhóm tộc người thiểu số (ethnic group) có nguồn gốc từ một quốc gia khác, nhưng ñã góp phần khai phá và phát triển những vùng không gian xã hội của quốc gia khác trong quá trình lịch sử lâu dài và sau này ñã hòa nhập với cư dân quốc gia cư trú hoặc nhận quốc tịch của quốc gia cư trú Xem Mạc ðường (1994), “Người Hoa trong quá trình phát triển ở thành phố Hồ
Chí Minh”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr.3-12
Trang 2chức cộng ựồng ở vùng ựất mới trong quá trình cộng cư, hòa nhập vào cộng ựồng quốc gia, dân tộc Việt Nam trước năm 1945
2 Quá trình ựịnh cư của người Hoa ở các tỉnh Nam Trung Bộ
2.1 Về thời ựiểm di cư, nhìn chung, cư dân người Hoa ựến Nam Trung Bộ muộn
hơn so với vùng Bắc Trung Bộ Ở Hội An (Quảng Nam), người Nhật ựến sớm nhất, sau
ựó người Hoa ựến ựịnh cư bắt ựầu vào cuối thế kỷ XVI ựến ựầu thế kỷ XVII Còn ở Nam Trung Bộ, do tình hình tài liệu hiếm hoi nên việc xác ựịnh thời ựiểm ựịnh cư của người Hoa ựến các tỉnh chưa thật rõ ràng và chắnh xác
Ở Quảng Ngãi, có thể nói người Hoa ựịnh cư ở Thu Xà, ựịa ựiểm qui tụ nhiều người Hoa nhất ở Quảng Ngãi, là vào cuối thế kỷ XVII Tác giả đoàn Ngọc Khôi căn
cứ vào nội dung tờ thị: Ộthị tỉ phong chức của chúa Nguyễn Phúc Chu cho Trần Công
Vinh, giao cho ông này nhiều việc, trong ựó có việc quản lý trông coi dân chánh hộ trong các huyện, tổng, xã, thôn, phường thuộc bản phủ cùng thương nhân người HoaỢ
[9] viết năm Chắnh Hòa thứ 12 (1691) ựể suy ựoán người Minh Hương tụ cư khá ựông ở Thu Xà trước năm 1691
Ở Bình định, các tác giả ựều gần như khẳng ựịnh người Hoa ựến ựịnh cư ở ựây vào ựầu thế kỷ XVII Tuy nhiên, thời ựiểm chắnh xác vẫn chưa thống nhất, phần lớn các nhà nghiên cứu cho ựó là năm 1610, năm mà thuyên buôn Trung Hoa ựã vào cửa Thị Nại theo sông Kôn vào khu vực cảng thị Nước Mặn ựể kinh doanh góp phần làm cho cảng thị này phồn vinh
đối với tỉnh Phú Yên, không có cứ liệu ựể xác minh nhưng theo các vị cao niên, người Hoa bắt ựầu ựến ựịnh cư trên ựất Phú Yên là vào khoảng cuối thế kỷ XVIII Họ ựi bằng thuyền buồm, cập bến và ựịnh cư ở vùng ven biển và hạ lưu các sông Mĩ Á (thôn
An Phú, huyện Tuy An), Vũng Lấm (xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu) rồi sau ựó di chuyển dần ựến thành phố Tuy Hòa và hầu hết các ựịa phương trong tỉnh Trong thời kì phát xắt Nhật xâm lược Trung Quốc (1937-1945), có một số người Hoa ở Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến ựến cư ngụ bằng nhiều con ựường khác nhau
2.2 Về nguyên nhân di cư, có hai nguyên nhân cơ bản ựể người Hoa ở miền
đông Nam Trung Quốc (các ựịa phương Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng đông, Hải Nam ) di cư ựến xứ đàng Trong là lý do chắnh trị và lý do kinh tế Phần lớn những người Hoa di cư là ựể tránh nạn binh ựao, do bất mãn không chịu hợp tác với chắnh quyền mới; Bên cạnh ựó, do ựời sống kinh tế, nên người Hoa thường tìm ựến những nơi
ựã có sẵn kinh tế hàng hóa phát triển trước ựó ựể ựịnh cư và tìm kế sinh nhai Có thể nói, người Hoa ựến ựịnh cư ở vùng Nam Trung Bộ chủ yếu bắt nguồn từ lý do kinh tế, có nguyên nhân trực tiếp từ việc tự mình ựi tìm kế sinh nhai ở nước ngoài sau những biến ựộng chắnh trị lớn ở Trung Quốc
2.3 Về phương cách di cư ựến xứ đàng Trong nói chung, người Hoa thường di
Trang 3cư tập thể, mang tắnh tập ựoàn có tổ chức như ở Nam Bộ (Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn địch năm 1679, Mạc Cửu ), ở Thanh Hà hoặc Hội An Tuy nhiên, khi di
cư ựến vùng Nam Trung Bộ, tắnh tổ chức trong di cư của người Hoa không mạnh; họ ắt
di cư tập thể (theo nhiều dòng họ, nhiều tập ựoàn) mà chủ ựộng rời bỏ quê gốc một cách
tự phát Dựa trên ựiều kiện thuận lợi về cửa cảng nhiều của vùng ven biển Nam Trung
Bộ, người Hoa tụ cư ở vùng này theo từng nhóm, từng gia ựình lẻ tẻ Lúc ựầu, người Hoa có thể qui tụ ở một vài ựiểm thuận lợi cho sinh kế của họ nhưng sau ựó, do nhiều biến ựộng tự nhiên, dân cư, lịch sử phức tạp khác nhau, người Hoa dần dần lan tỏa ra các thị tứ, thị trấn khắp các tỉnh và ựóng vai trò quan trọng trong kinh tế - xã hội ở các tỉnh này
đại Nam nhất thống chắ thời Tự đức cho biết ở Quảng Ngãi có 2 cửa biển là Sa
Kỳ và đại Cổ Lũy đó là những Ộcửa biển lớn, nước sâu, cạn, tàu thuyền ra vào ựều do
ựấy Ợ từ giữa thế kỷ ựã có chợ và phố: ỘChợ Xắch Thổ (huyện Chương Nghĩa) có phố Minh HươngỢ[2] Từ 2 cửa này, người Hoa nhập cư; lúc ban ựầu họ cư trú xen kẽ với
người Việt, ựông nhất ở làng Tiên Sà, sau ựó mới hình thành tổ chức Minh Hương xã, mua ựất lập phố Thu Xà Dựa theo ựinh bạ (số ựinh) của người Minh Hương Thu Xà làm năm Gia Long thứ 2 (1803) còn lưu giữ ở chùa Ông, số dân Minh Hương xã gồm
108 người, trong ựó một số cư trú ở Thu Xà còn phần lớn sinh sống xen kẽ với người Việt ở các huyện Theo gia phả một số họ tộc thì người Hoa ựến trong nhiều thời ựiểm khác nhau bắt ựầu vào cuối thế kỷ XVII Trong số 18 họ tộc Minh Hương cùng ựóng góp lập chùa Ông 2 thì các họ Hoàng, Trần, đỗ, Vưu ựược xem là ựến ựịnh cư sớm hơn
Họ Từ 13 ựời có gốc ở làng Giang đông, phủ Chương Châu, Phúc Kiến nhập tịch Cựu Minh Hương (xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa) nhưng có từ ựường ở thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành Họ Tăng nay ựược 8 ựời nhưng ựã dừng chân ngụ tại Mỹ Khê, huyện Sơn Tịnh 1 ựời trước khi tiếp tục vào ựịnh cư ở Cựu Minh Hương
Ở Bình định, cùng với ựịa ựiểm ựầu tiên là cảng thị Nước Mặn, người Hoa ựã lần lượt ựến ựịnh cư sinh sống ở nhiều nơi khác Nhiều thị tứ, thị trấn mới trong tỉnh lần lượt ra ựời với sự ựịnh cư và buôn bán của người Hoa như Gò Bồi, An Thái, đập đá,
Gò Găng, Bình định và cảng thị Qui Nhơn 3 Ngoài cửa Kẻ Thử, họ còn vào cửa đề
Gi (Phù Cát) lập Trà Quang phố, vào cửa Kim Bồng (Bồng Sơn) lập Hòa Quang phố Cũng thời kỳ ựó, còn có những nhóm vài ba chục hoặc một vài trăm người ựến buôn bán làm ăn rải rác khắp trong tỉnh, ở lại lập nghiệp, sinh con ựẻ cháu và lập thành những làng Minh Hương Quá trình tụ cư ựó càng ựược ựẩy mạnh, tăng cường khi vua Minh Mạng có chỉ dụ cho phép người Hoa ựịnh cư một cách hợp pháp ở Bình định vào năm
1832
2
được công nhận Di tắch lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết ựịnh số 43VH/Qđ ngày 7/1/1993 3
Theo các hồ sơ khảo sát thực ựịa và Báo cáo thực tập Tốt nghiệp của sinh viên khoa Sử, trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1991 còn lưu tại các thị tứ, thị trấn này
Trang 4Cũng như các ựịa phương khác, người Hoa ở Phú Yên phần lớn là người Hải Nam, Phúc Kiến, Triều Châu và một số người Quảng đông, người Hẹ (Gia Ứng) và sau này có một số người Thượng Hải Khoảng cuối thế kỉ XIX ựầu thế kỉ XX, thì cộng ựồng người Hoa hình thành trên ựất Phú Yên, cư trú ở hầu khắp các huyện trong tỉnh nhưng mật ựộ khác nhau:
Người Hoa cư trú ở 6 xã ở huyện Tuy Hòa, 7 xã và thị trấn Chắ Thạnh ở huyện Tuy Hòa, 4 xã và thị trấn La Hai ở huyện đồng Xuân, 4 xã và thị trấn Sông Cầu ở huyện Sông Cầu Ở thành phố Tuy Hòa: người Hoa cư trú ở các phường nội thị và các
xã Bình Kiến, Hòa Kiến Một ắt người Hoa cư trú ở 2 huyện Sơn Hòa và Phú Hòa
Theo số liệu thống kê tháng 11 năm 1975, Phú Yên có khoảng 3500 người Hoa; riêng ở thành phố Tuy Hòa có 2.300 người Năm 2000 thống kê ựược 536 người Nhìn chung, dân số người Hoa ở Phú Yên ựang có xu thế giảm dần do sự di cư ựến nơi khác Mặc khác, do quá trình ựồng hóa tự nhiên, những người Hoa sống ở vùng nông thôn khi khai báo hoặc làm giấy tờ hành chắnh họ ựều tự nhận mình là người Việt
Vào những năm ựầu của thập niên 50 của thế kỷ XIX, khi ở Trung Quốc xảy ra những sự kiện chắnh trị lớn như Chiến tranh Nha Phiến, phong trào Thái Bình Thiên Quốc thất bại thì làn sóng di cư của người Hoa ra nước ngoài nói chung, ựến Nam Trung Bộ nói riêng, càng trở nên ồ ạt và ựông ựảo Dưới thời Pháp thuộc, số người Hoa ựến Việt Nam càng ựông ựảo thêm; một bộ phận ựịnh cư, một bộ phận khá lớn tạm trú, cất hàng về Trung Quốc hoặc giữa các nước trong khu vực mà không ựịnh cư hẳn Khi ựến Nam Trung Bộ ựịnh cư, người Hoa ựã mua ựất, xây nhà, lập phố, mở cửa hiệu buôn bán trên các trục ựường lớn, gần các chợ
3 Các tổ chức cộng ựồng của người Hoa ở Nam Trung Bộ
Dù ựi bất cứ nơi ựâu, do mang trong mình ý thức tự tôn dân tộc mạnh mẽ, ựồng thời ựể có thể bảo vệ ựược các quyền lợi chắnh trị, cạnh tranh về kinh tế và bảo lưu những sắc thái văn hóa Trung Hoa truyền thống ở môi trường sinh sống mới, người Hoa
ựã liên kết lại với nhau thành từng nhóm cộng ựồng theo các nhu cầu về nghề nghiệp, theo ngôn ngữ, theo quan hệ thân tộc và ựồng hương bên Trung Quốc Các nhóm cộng ựồng ựó ựược nhà nước quân chủ Việt Nam công nhận và thể chế hóa thành các tổ chức
xã, bang
3.1 Tổ chức Minh Hương xã
Như chúng tôi ựã có lần ựề cập [3, 14], Ộngười HoaỢ bao gồm người Việt gốc Hoa (trong ựó có Minh Hương xã) và Hoa kiều ỘMinh Hương xãỢ là xã hiệu của cộng ựồng người Việt gốc Hoa sau khi người Hoa tự nguyện nhập quốc tịch Việt Nam Còn Hoa kiều mà sử sách thường gọi là Ộkhách trúỢ là những người Hoa vẫn giữ nguyên quốc tịch Trung Hoa mà phần lớn họ là thương nhân ựến buôn bán ở các cảng thị Các làng Minh Hương ựược giao quyền tự quản cao hơn, ựược ựặc ân về sưu dịch, binh lắnh
Trang 5và hoạt ựộng kinh doanh nhưng ựáp lại phải chịu số thuế cao hơn người Việt dưới thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn
Về tên gọi ỘMinh HươngỢ, Sổ ựinh của nhà Nguyễn giải thắch: Người Minh Hương là người Trung Quốc di cư vào Việt Nam cuối thời Minh ựầu thời Thanh Nhưng theo đào Trinh Nhất thì làng Minh Hương chủ yếu là người Trung Quốc lấy vợ Việt Nam và con cháu họ để tiện việc quản lý, chúa Nguyễn ựã cho lập làng của người Minh Hương, lập bộ hộ tịch riêng của người Hoa kiều Từ ựó làng của người Hoa ựược chắnh thức thừa nhận gọi là Minh Hương hoặc Minh Hương xã Lúc ựầu những quần thể
tụ cư này còn nằm trong phạm vi hẹp, tự phát, sau ựó lan rộng ra thành làng và ựược vua Gia Long thể chế hóa năm 1814 [6]
Về sau, vào giữa thế kỷ XIX, có thêm một số người Hoa ựến lập nghiệp, vua Nguyễn cũng cho lập làng cho nhóm người mới ựến này là Minh Hương xã Tân thuộc Thêm hai chữ Tân thuộc ựể phân biệt người Minh Hương mới nhập cư với người Minh Hương ựã cư trú lâu ựời (Cựu thuộc) Riêng người Hoa ựến Việt Nam lập nghiệp từ cuối thế kỷ XIX ựầu thế kỷ XX thì xưng là Hoa kiều chứ không gọi Minh Hương bởi vì họ giữ quốc tịch Trung Hoa Có lẽ lúc này chuyện nhà Thanh hay nhà Minh cũng ựã nhạt dần trong tâm thức của họ Mối bận tâm của người Hoa bây giờ là ựịnh cư, giữ quan hệ tốt với người Việt, buôn bán thuận lợi
Trong quá trình ựiền dã, có thể nhận thấy rằng ở Quảng Ngãi và Bình định có hai loại tổ chức Minh Hương là Minh Hương cựu xã và Minh Hương tân thuộc Ông Quách Thế Hải, người Bình định, trong một ựặc san riêng của người Hoa ựã phân biệt:
ỘChỉ những người Trung Hoa cuối ựời Minh hoặc ựầu ựời Thanh ựến lập nghiệp ở Việt Nam dưới thời các Chúa Nguyễn (1558 Ờ 1802) mới gọi là Minh Hương Những người ựến lập nghiệp thế kỷ XIX vào ựời các vua Nguyễn (từ 1802) cũng gọi là Minh Hương nhưng là ỘMinh Hương tân thuộcỢ Những người Trung Hoa ựến Việt Nam lập nghiệp cuối thế kỷ XIX ựầu thế kỷ XX thì gọi là Hoa Kiều, không gọi là người Minh HươngỢ[7]
Ở Quảng Ngãi, sách đại Nam nhất thống chắ ựời Tự đức ựã nhắc ựến Minh Hương xã, đồng Khánh ựịa dư chắ có ựề cập ựến hai làng: xã Minh Hương tân thuộc và Minh Hương Cựu thuộc, tổng Nghĩa Hà, huyện Chương Mỹ Trong sách Danh sách xã
thuộc) bên cạnh các ựịa danh Thu Xà phố, Tiên Xà xã, Hà Khê thôn thuộc tổng Nghĩa
Hà, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (ngày nay các làng này ựều thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa) Thực tế, ựiền dã tại Quảng Ngãi cho thấy Minh Hương ựã ra ựời trong thế kỷ XVIII, dành cho những người Hoa ựịnh cư sớm Tuy có xã hiệu nhưng không có ựịa giới rõ ràng, họ phân tán thành từng nhóm cư trú xen lẫn với người Việt
4
Bản in Ronéo, ựóng dấu triện ỘTrung phần, Quốc Gia Việt NamỢ, viết dưới thời Bảo đại, khoảng năm
1943
Trang 6đến ựầu thế kỷ XIX, họ mua ựất của thôn Hà Khê và xã Tiên Xà ựể lập phố, xây dựng chùa Ông (1821), chùa Bà và các ựền miếu khác
Minh Hương tân thuộc ở Quảng Ngãi ựược tách ra từ Minh Hương Cựu thuộc, tập trung phần lớn người Hoa di cư sang cuối thế kỷ XVIII ựến ựầu thế kỷ XIX Thời ựiểm tách ra là năm 1843 khi căn cứ vào tờ ựơn của thuộc trưởng Cô đăng Long năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) Những người Hoa ựến Thu Xà thời nhà Thanh (bên Trung Quốc) xin vua Thiệu Trị ựược phép lập nên xã Minh Hương mới gọi là Minh Hương tân thuộc Cả Minh Hương tân thuộc và Cựu thuộc ựều có thể lấy vợ người Việt, ựịnh cư lâu dài ựể thuận tiện cho việc buôn bán Các ựiểm cư trú của người Minh Hương ngoài phố Thu Xà thường là các thị tứ quan trọng như Châu Ổ, Trà Xuân, đồng Ké, Ba Gia, Chợ Chùa và các làng nghề như ựúc ựồng Chú Tượng, ựường phổi Vạn Tượng, nghề gốm Mỹ ThiệnẦ.[9]
Minh Hương xã ở Bình định hình thành tương ựối sớm, chỉ sau Hội An (Quảng Nam) và cùng thời với Thanh Hà (Huế) trong thế kỷ XVII Bình định lúc ban ựầu có
Minh Hương xã Nước Mặn phố (ngày nay thuộc xã Phước Quang, Tuy Phước), Minh Hương xã Trà Quang phố (thị trấn Phù Mỹ), Minh Hương xã Hòa Quang phố (Tam
Quan Bắc, Hoài Nhơn) và Minh Hương xã An Thái phố (Nhơn Phúc, An Nhơn) đến
ựời chúa Nguyễn Phúc Chu (1698), làng của người Minh Hương gọi là trang, trưởng làng người Minh Hương gọi là Trang trưởng (tương ựương Lý trưởng của người Việt)
Do vậy, Minh Hương xã Nước Mặn phố có tên làng gọi là Minh Hương xã Vĩnh An
trang, Minh Hương xã An Thái phố có tên làng là Minh Hương xã An Hòa trang, Minh
Hương xã Trà Quang phố có tên làng là Minh Hương xã Trà Quang trang và Minh Hương xã Hòa Quang phố có tên làng là Minh Hương xã Hòa Quang trang Ngoài ra,
người Minh Hương còn ở ựịnh cư rải rác ở Phú Phong, Vĩnh Thạnh, An Khê (nay thuộc tỉnh Gia Lai)Ầ[15] Khác với làng người Việt, làng người Minh Hương có số dân nhất ựịnh nhưng không có không gian nhất ựịnh, nói cách khác là làng Minh Hương có dân
mà không có ựất Người Minh Hương thuộc trang Vĩnh An ở Nước Mặn nhưng có người cư trú ở Gò Bồi, Cảnh Hàng, Phú đa hay đập đá
Làng Minh Hương ở Nước Mặn (Minh Hương xã Nước Mặn phố) là Minh Hương cựu thuộc ựược thành lập sớm nhất ở Bình định đa phần người Hoa ựến Bình định làm nghề buôn bán, bốc thuốc bắc, làm một số nghề thủ côngẦ Họ nhanh chóng trở nên giàu có và cung nạp các thứ thuế rất nặng Bù lại họ ựược miễn thuế thân, miễn trừ quân dịch, sưu dịch, tạp dịch đến năm Thành Thái thứ 10 năm (1898), thuế lệ của người Minh Hương mới giống người Việt Tuy nhiên, việc thu thuế thân và cấp bài chỉ (biên nhận) vẫn do Trang trưởng thu rồi nộp cho phủ vì huyện không quản lý người Minh Hương
Trường hợp của tỉnh Phú Yên thì tổ chức Minh Hương tương ựối muộn do cư
dân người Hoa ựến ựây muộn hơn các tỉnh khác Trong Danh sách xã thôn Trung kỳ
giữa thế kỷ XX có ghi lại thôn Minh Hương tổng Xuân Bình, huyện đồng Xuân Còn
Trang 7trong các tài liệu của tỉnh Phú Yên thì ghi nhận rằng: tại Vũng Lấm người Hoa đã phát triển thành thương cảng khá sầm uất, thuyền buơn trong và ngồi nước thường cập bến
để thu mua và trao đổi hàng hĩa; và cũng tại nơi đây ngày xưa người Hoa đã xây dựng thành một làng Minh Hương khá phát triển (nay thuộc xã Xuân Thọ 2 huyện sơng Cầu)
Những người cầm đầu làng Minh Hương được tuyển chọn qua các kỳ thi và được vua, chúa bổ nhiệm ðứng đầu Minh Hương là Trang trưởng Vài ba trang lập thành một thuộc, người đứng đầu thuộc là thuộc trưởng (tương đương Chánh tổng) Trang trưởng do ðại hội trang bầu lên và trình quan đứng đầu phủ (hay tỉnh sau này) chuẩn y Minh Hương xã trước kia trực thuộc hệ thống hành chính tổng, huyện phủ sở tại; nhưng đến năm 1827, vua Minh Mạng cho Minh Hương xã trực tiếp lệ thuộc vào cấp trấn (tỉnh); khi cĩ việc, quan phải đến ngay tỉnh mà khơng lệ thuộc vào phủ, huyện, tổng Một đặc điểm riêng là nếu dân Minh Hương cĩ làm gì phi pháp thì phải giao về cho người đứng đầu của Minh Hương xã xem xét
Về tư pháp, người Minh Hương được hưởng một số đặc quyền: Nếu họ bị kiện phải do Trấn thủ xử chứ Tri huyện, Tri phủ khơng cĩ quyền xử Việc sinh, tử, học hành
và làm mọi việc liên quan đến kê khai lý lịch, tư pháp tự làm sổ bộ riêng và báo cáo Trấn thủ
Tuy nhiên, do biến động lịch sử, số phận người Hoa ở làng Minh Hương cũng
“ba chìm bảy nổi” theo ðặc biệt trong thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn cũng đã cĩ những chính sách khác nhau đối với bộ phận cư dân này
Với chính sách ưu đãi của vua Gia Long, người Hoa định cư ngày càng đơng ở Việt Nam; trong đĩ, miền Trung thu hút khá lớn Họ càng nhúng tay vào việc buơn bán bất hợp pháp như buơn gạo, buơn thuốc phiện là những thứ bị cấm đốn Những điều đĩ
đã khiến vua Minh Mạng phải thi hành những chính sách cứng rắn đối với người Hoa Năm 1843, vua Minh Mạng chia người Hoa thành hai nhĩm để đánh thuế thân: Nhĩm Minh Hương gồm những người định cư, lấy vợ Việt Nam và sinh con đẻ cái, cĩ nhiều cơng trong việc giúp triều Nguyễn nên được đánh thuế nhẹ Nhĩm người Thanh đa số là thương nhân và dân nghèo đi làm thuê vẫn giữ quốc tịch Trung Hoa Hoa kiều này phải đĩng thuế nặng, bị kiểm sốt gắt gao, cư trú cố định Minh Mạng cịn cấm Hoa kiều tự
do tiếp xúc với người Minh Hương Sau này những việc làm của Thiệu Trị và Tự ðức
đã làm cho người Minh Hương ngày càng gắn bĩ, hịa nhập với vùng đất họ định cư Thời Pháp thuộc, các làng Minh Hương khơng cĩ nhiều biến đổi, tính tự trị yếu dần và
đi vào quỹ đạo của làng xã Việt Nam nĩi chung
Ngay từ lúc gọi Minh Hương xã, chúng ta thấy yếu tố Việt đã xuất hiện và xâm nhập mạnh vào người Minh Hương Minh Hương xã là kiểu tổ chức tương tự làng truyền thống của người Việt Ở đình làng Việt Nam cĩ đền thờ các ơng khai canh nhưng Tiên hiền làng Việt cũng đĩng vai trị như làng Minh Hương Những nghi lễ trong làng Minh Hương lúc đầu do chính người Minh Hương tổ chức và thực hiện, sau đĩ do quá
Trang 8trình giao lưu văn hóa với người Việt nên những nghi lễ của họ nhạt dần theo thời gian Sau này, khi dân Việt ựịnh cư tại làng Minh Hương, tuy là dân ngụ cư, nhưng ựược hưởng mọi quyền lợi như dân Minh Hương Thực tế ựiền dã cho thấy yếu tố Việt hóa tỏ
ra rất mạnh mẽ ở vùng Nam Trung Bộ mà ựặc biệt là ở tỉnh Bình định
3.2 Tổ chức Bang
Trong khi Minh Hương ựược tiếp tục hưởng quy chế cũ như thời chúa Nguyễn, ựược mang quốc tịch Việt Nam, người Hoa nhập cư làm ăn buôn bán nhưng không nhập tịch Việt Nam thì triều Nguyễn quản lý họ theo tổ chức Bang; cơ chế này ựược ban hành
từ ựầu triều Gia Long (1802) Những người trong Bang ựược hưởng chế ựộ tự trị cao hơn - kiều dân nhưng phải ựóng thuế nặng hơn Khác với Minh Hương xã, hình thức liên kết Bang của người Hoa ựược tổ chức khá chặt chẽ; họ liên kết lại với nhau thành những nhóm theo phương ngữ hay cùng nguồn gốc huyết thống Tên gọi của Bang mang tên các ựịa phương như bang Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng đông, Hải NamẦ Nhưng cũng có những trường hợp ựặc biệt, thành viên của Bang có thể bao gồm nhiều nhóm phương ngữ khác nhau Trong trường hợp này, thường có thêm một Bang phó ựại diện cho những thành viên thuộc nhóm phương ngữ khác nhau ựó Cũng khác với một
số nước, ở Việt Nam, Bang mở rộng cho tất cả những người cùng quê quán không kể họ
là thương nhân hay không Có thể nói rằng, Bang vừa là tổ chức xã hội (hội ựồng hương, tương tế) vừa là hiệp hội thương mại (hội họp, kho hàng), vừa là trung tâm tắn ngưỡng của Hoa kiều Trụ sở của các Bang là các hội quán
Thực tế ựiền dã tại hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình định cho thấy, tổ chức bang ra ựời vào ựầu thế kỷ XIX mà biểu hiện cụ thể là các hội quán của các bang sớm nhất ựược xây dựng trong giai ựoạn này Ở Nam Trung Bộ, người Hoa chủ yếu có 4 bang là Phúc Kiến (ựông nhất), Triều châu, Quảng đông và Hải Nam, không có bang Hẹ (hay Gia Ứng) như ở Nam Bộ hay Hội An
Ở Quảng Ngãi, do phố cảng Thu Xà ựã suy tàn khi nơi ựây là vùng tranh chấp ác liệt thời chống Pháp và chống Mỹ nên mọi dấu tắch còn lại khá mờ nhạt Cư dân ựịa phương cho biết rằng: Cư dân Minh Hương (cựu) ựã mua ựất của làng La Khê và Tiên
Xà ựể lập phố buôn bán ựồng thời xây dựng chùa Ông, chùa Bà Còn cư dân Minh Hương tân thuộc (hay Tân Thanh) và những Hoa kiều mới ựến cư ngụ buôn bán trên ựất Thu Xà ựã mua một phần ựất của làng Phú Cường ựể xây riêng chùa Ông và ựặc biệt là
4 hội quán ựể thờ tự và sinh hoạt cộng ựồng Trong ựó, có Tứ bang hội quán (chung) và
3 hội quán Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng đông rất khang trang với qui mô lớn, còn hội quán Hải Nam ựược xây dựng trên ựất La Khê
Về sau khi phố thị Thu Xà suy tàn, sông Vực Hồng, một nhánh của sông Vệ, bị xói lở làm cho chùa Bà và Hội quán Hải Nam không còn Các hội quán khác trên ựất làng Phú Cường bị triệt hạ bởi chiến tranh tàn phá chỉ còn nền ựất Cư dân trong bang Hải Nam và Triều Châu xây dựng lại hội quán ở ựường Lê Văn Sĩ và ựường Lê Trung
Trang 9đình, thành phố Quảng Ngãi khi họ chuyển cư ựến ựây, còn các hội quán khác ở Phú Cường về cơ bản vẫn hoang phế như cũ, hoặc có xây dựng lại ựơn sơ (như Quảng đông hội quán) Ở Phú Cường, chúng tôi còn tìm thấy một số nghĩa ựịa riêng cho từng Bang, ựặc biệt nghĩa ựịa Triều Châu, có qui mô lớn và còn ựược giữ gìn rất cẩn trọng điều ựó nói lên rằng, tổ chức Bang của người Hoa ở ựây khá chặt chẽ, nhưng khi phố Thu Xà suy tàn giữa thế kỷ XX, ựại bộ phận cư dân chuyển ựi nơi khác, thì hoạt ựộng tại các hội quán cũng không còn ựược duy trì
Trên ựất Bình định, người Hoa ựến cư ngụ ngày càng nhiều, buôn bán của họ diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nên từ những năm 40 của thế kỷ XIX, tổ chức ỘBangỢ người Hoa cũng ựã ra ựời Trên ựất Quy Nhơn, các Hoa kiều ựến từ các tỉnh Hải Nam, Quảng đông, Phúc Kiến, Triều Châu Dấu tắch của các bang chắnh là các hội quán còn lại khá nguyên vẹn:
Quỳnh Phủ hội quán (còn gọi là Hải Nam hội quán hay chùa Hải Nam) ựược xây dựng năm 1843, ở làng Cẩm Thượng Triều Châu hội quán ựược xây cất từ trước năm
1850, những năm này là năm trùng tu với quy mô bề thế như ựã có hiện nay Hội quán nằm bên ựầm Thị Nại Phúc Kiến hội quán xây dựng sau năm 1843, trên ựất làng Cẩm Thượng và Quảng đông hội quán ra ựời khoảng năm 1874 Ờ 1877, ở về phắa Nam của làng Chánh Thành, thờ Quan Thánh đế Quân (Quan Công)
Ngoài ra có Ngũ Bang hội quán ở làng Cẩm Thượng ra ựời vào khoảng giữa thế
kỷ XIX, rộng khoảng 1600 m2 Ngoài sinh hoạt chung, hội quán còn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, ngôi ựền chung ở Quy Nhơn của cư dân 4 Bang và Minh Hương
Ở các thị tứ, thị trấn Bình định, các hội quán cũng ựược xây dựng; tuy nhiên không có qui mô lớn như ở cảng thị Quy Nhơn Ở ựây cư dân chủ yếu lập ngũ bang hội quán ựể sinh hoạt và thờ cúng chung như trường hợp thị trấn An Thái
Trên ựất Phú Yên, hoạt ựộng của các Bang nổi bật hơn xã Minh Hương Dấu tắch sinh hoạt của các Bang còn lại khá nguyên vẹn Người Hải Nam ựã xây dựng ựền thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở Vũng Lấm, Sông Cầu năm 1862 Năm 1868, họ lập Chiêu Ứng
Từ ở Mỹ Á, thôn Long Thủy (xã An Phú, huyện Tuy An) thờ 108 người Hoa bị nạn Năm 1943, ựền Quan Thánh ở ựường Chu Mạnh Trinh, phường 1 ựược xây lại vừa thờ Quan Thánh, Thiên Hậu Thánh Mẫu, thờ 108 người Hải Nam tử nạn vừa dùng làm hội quán Hải Nam
Người Hoa Phúc Kiến xây dựng một ựền thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu ở thị trấn sông Cầu (chùa Bà) Năm 1882, bà con người Hoa gốc Phúc Kiến, Triều Châu và Quảng đông cùng chung một ngôi ựền tại ựường Phan đình Phùng, phường 1, thành phố Tuy Hòa thường gọi là chùa Ông Quảng Phúc Triều (hoặc chùa Ngũ Bang) vừa thờ
tự vừa làm hội quán Quảng Phúc Triều (ba bang người Hoa)Ầ
Về cơ cấu tổ chức, ựứng ựầu mỗi Bang là Bang trưởng, theo chế ựộ tuyển chọn
Trang 10và được vua phê chuẩn mới được lên nắm quyền Năm 1825, Minh Mạng quy định: các Bang trưởng sau khi được các thành viên trong Bang bầu lên, cĩ nhiệm kỳ 4 năm, chỉ cần gửi đến chính quyền địa phương để chấp nhận, khơng cần cĩ sự phê chuẩn của nhà vua Bang trưởng chịu trách nhiệm thu thuế và nộp thuế cho chính quyền, chịu trách nhiệm về thái độ chính trị, đại diện cho nguyện vọng của những thành viên trong Bang
để đề đạt với chính quyền sở tại
Tổ chức Bang khá chặt chẽ và tương đối độc lập, trong nội bộ từng Bang cĩ các
tổ chức trường học, bệnh viện, nhà xuất bản, câu lạc bộ, nhà thờ, đình chùa, thậm chí
cĩ cả cơ quan lãnh sự và nghĩa địa riêng, nên Bang trưởng cĩ quyền lực khá lớn, tương đương với người cầm đầu một tổ chức hành chính trong cơ cấu xã hội sở tại [6] Các nghĩa địa ở Quảng Ngãi, trường học ở các hội quán người Hoa Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình ðịnh là những dẫn dụ tiêu biểu cho tính độc lập, tự trị rất cao của tổ chức Bang này
Bang khơng chỉ là tổ chức hành chính, thương mại mà cịn cĩ các cơ sở giáo dục, tín ngưỡng riêng Bang trưởng khơng chỉ là người đại diện cho Bang mình về phương diện nhà nước, cộng đồng dân tộc, tín ngưỡng của hàng Bang mà cịn là người cĩ năng lực quản lý kinh tế giỏi Bang trưởng do các viên bầu ra lo việc ký kết các văn bản kinh doanh của thương quán, quan hệ với nhà nước Việt Nam; cĩ một hoặc hai Bang phĩ vừa
là người thơng ngơn, người giao dịch, nắm các nguồn hàng, tiếp thị trong và ngồi nước, phụ trách về tài chính và thuế khĩa Về hoạt động thương mại, hội quán cịn là nơi nhận chuyển hàng hĩa từ các thương thuyền chở đến cảng thị rồi chuyển đến các cửa hàng; nơi tập trung hàng hĩa trong nước đợi cĩ thuyền xuất khẩu ra nước ngồi, trực tiếp bán hàng hĩa hoặc cử người chuyển hàng hĩa ra nước ngồi [16] Do đĩ hội quán nào cũng
cĩ kho hàng rất lớn để chứa hàng và cĩ nhiều mối quan hệ với nhiều địa điểm mua bán hàng hĩa ở trong nước, liên hệ chặt chẽ với các thị trường nội địa ở Trung Quốc, đặc biệt nơi cùng nguyên quán của các Bang
Sở dĩ thế kỷ XIX tổ chức Bang phát triển mạnh mẽ và tổ chức chặt chẽ hơn Minh Hương xã trước đĩ là vì luồng di cư của người Hoa vào thời gian này càng ngày càng lớn và nhu cầu cố kết cộng đồng cao hơn Các hội quán ra đời vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất tín ngưỡng xã hội Nĩ là nơi thờ tự tổ tiên, thờ những vị thần
Nĩ được xem là ngơi nhà chung để hội họp bàn bạc các cơng việc quan trọng của cộng đồng
4 Kết luận
4.1 Về thời điểm di cư, nhìn chung, cư dân người Hoa đến Nam Trung Bộ muộn
hơn so với vùng Bắc Trung Bộ và rất khĩ xác định một cách chính xác thời điểm họ nhập cư Trong đĩ, cĩ thể đốn định người Hoa định cư ở Bình ðịnh sớm hơn (đầu thế
kỷ XVII) so với Quảng Ngãi (cuối thế kỷ XVII) và Phú Yên (vào thế kỷ XVIII)
4.2 Về nguyên nhân di cư, người Hoa đến định cư ở vùng Nam Trung Bộ chủ