1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học đề tài " Quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam " ppsx

13 660 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 191,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bắt ñầu từ các tranh luận – ñối thoại của giới nghiên cứu văn học Việt Nam về những vấn ñề lý thuyết văn học, bài viết ñi sâu vào việc phân tích những ñặc trưng của văn học hậu hiện ñại

Trang 1

TẠP CHÍ KHOA HỌC, ðại học Huế, Số 66, 2011

QUAN NIỆM VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ðẠI TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM

Phan Tuấn Anh, Nguyễn Hồng Dũng Trường ðại học Khoa học, ðại học Huế

TÓM TẮT

ðối với nghiên cứu văn học Việt Nam cuối thế kỉ XX - ñầu thế kỉ XXI, hiếm có trường phái lý thuyết nào gây ñược nhiều sự hào hứng và cả hoài nghi hơn chủ nghĩa hậu hiện ñại Chính vì vậy, việc nhìn nhận lại các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện ñại trong nghiên cứu văn học Việt Nam thời gian qua là một việc làm cần thiết Bắt ñầu từ các tranh luận – ñối thoại của giới nghiên cứu văn học Việt Nam về những vấn ñề lý thuyết văn học, bài viết ñi sâu vào việc phân tích những ñặc trưng của văn học hậu hiện ñại Việt Nam theo các quan niệm khác nhau của các nhà lý luận – phê bình

Bất cứ quá trình tiếp nhận lý thuyết văn học ở một quốc gia nào cũng ñược ghi dấu ấn bằng những cách hiểu mang bản sắc riêng của không gian văn hoá và tính truyền thống trong tư duy lý luận văn học ở quốc gia ñó Bao giờ cũng vậy, bản thân những bản dịch từ nguyên tác chỉ mới là giai ñoạn khởi ñầu cho việc tiếp nhận một trường phái lý thuyết Tuy bản thân quá trình chuyển ngữ cũng ñã bao hàm tính chất của sự tiếp nhận, bởi dịch thuật phần nào ñó vẫn mang tính sáng tạo cá nhân của người dịch trong cách hiểu, tuy nhiên, phải ñến sự xuất hiện của những cách hiểu mang tính sáng tạo bản ñịa,

và sau ñó là những ứng dụng vào thực tiễn, thì một lý thuyết mới thực sự bước vào ñời sống của không gian tiếp nhận Chính vì vậy, sự sôi ñộng, thậm chí là tranh luận trong ñời sống học thuật nước nhà về vấn ñề hậu hiện ñại gần 20 năm qua (tạm lấy ñiểm mốc bắt ñầu từ năm 1991) cũng ñã ñể lại một “di sản” nhất ñịnh Dẫu còn nhiều bề bộn, nhưng những cách hiểu hậu hiện ñại mang bản sắc Việt cũng ñã chứng minh cho sức sống và sự lan toả của một vấn ñề lý thuyết văn học, hơn thế nữa, một khát vọng hoà mình vào bối cảnh và tâm thức chung của nhân loại trong thế kỉ mới

1 ðặc trưng ñối thoại và tranh luận về chủ nghĩa hậu hiện ñại trong nghiên cứu văn học

ðặc trưng lớn nhất trong tiến trình tiếp nhận văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam ñó

là tính ñối thoại, tranh luận giữa các nhóm cách hiểu khác nhau về trường phái lý thuyết văn học này Nếu quá trình tiếp nhận những trường phái lí luận phương Tây ở Việt Nam như thi pháp học, tự sự học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức Nga… các cách hiểu thường mang tính bổ sung, làm tiền ñề cho nhau, thì ở hậu hiện ñại, mỗi nhà

Trang 2

nghiên cứu lại có luận ñiểm trái ngược, thậm chí tranh luận gay gắt với nhau Tranh luận và ñối thoại về chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học Việt Nam có cả hình thức gián tiếp và trực tiếp Gián tiếp là qua những luận ñiểm khác nhau giữa các tác giả trong các bài viết của mình Trực tiếp là qua những cuộc tranh luận, ñối thoại công khai với nhau ñăng tải trên các báo và tạp chí Hai hình thức tranh luận – ñối thoại này cũng thường gắn với hai mảng cơ bản, ñó là tranh luận - ñối thoại về những vấn ñề lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện ñại nói chung và tranh luận – ñối thoại về văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam

ðối với các tranh luận về những vấn ñề lý thuyết văn học hậu hiện ñại nói chung, chúng ta có thể nhận thấy một số các thông tin hết sức cơ bản trong các bài viết

và công trình của các nhà nghiên cứu là trái ngược nhau, thậm chí phủ ñịnh nhau quyết liệt, dù các tác giả này trực tiếp hay gián tiếp ñối thoại với nhau Ví dụ, Nguyễn Văn

Dân trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện ñại hay hiện tượng chồng chéo khái niệm [1,

trang 108] ñã xem chủ nghĩa ða ða, chủ nghĩa siêu thực là những trào lưu nghệ thuật có trước hậu hiện ñại Do ñó, những vấn ñề do hậu hiện ñại ñề xuất như phi lý tính, phi chủ thể, phi xác ñịnh về không gian và thời gian thực chất ñã tồn tại trong văn học hiện ñại (chủ nghĩa ða ða, chủ nghĩa siêu thực) từ lâu Trong bài viết của mình, cuối cùng Nguyễn Văn Dân kết luận : “Vậy là về mặt lí thuyết, những gì mà những người ñề xướng chủ nghĩa hậu hiện ñại chủ trương thì hầu hết ñã có ở chủ nghĩa hiện ñại” [1, trang 126] Tuy nhiên, Lê Huy Bắc trong các bài viết của mình, ñặc biệt là hai bài viết

Truyện ngắn hậu hiện ñại [1, trang 415] và Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện ñại [ñăng trong kỉ yếu hội thảo Hậu hiện ñại – Lý luận & tiếp nhận do khoa Ngữ văn – ðH Khoa

học tổ chức] lại xem chủ nghĩa ða ða là một trào lưu nghệ thuật thuộc hậu hiện ñại

Trong bài viết Truyện ngắn hậu hiện ñại, Lê Huy Bắc vẫn còn ngập ngừng, dù vẫn xếp

ða ða vào chung trong trào lưu nghệ thuật hậu hiện ñại : “Còn với chủ nghĩa hậu hiện ñại thì ta có : chủ nghĩa ða ða (theo Hassan, nhưng có lẽ không ổn vì ða ða ra ñời và tồn tại trong khoảng 1916 – 1922), tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ

nghĩa cực hạn” [1, trang 424] Tuy nhiên, ñến bài viết Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện ñại

thì tác giả ñã xác ñịnh rõ quan niệm của mình là : “Từ tất cả các căn cứ trên, chúng tôi

ñề xuất cách hiểu khái niệm Chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học như sau: Bắt ñầu từ

thơ ða ña (1916) và kịch Phi lí từ những năm 1950, chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học thực sự phát triển mạnh ở văn xuôi vào những năm 1960” Và ñiều cơ bản nhất trong cuộc tranh luận này, ñó là với Nguyễn Văn Dân và một số nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam, chủ nghĩa hậu hiện ñại chỉ là một hiện tượng “chồng chéo khái niệm, một ý

ñồ tư tưởng - chính trị, chẳng có ý nghĩa gì cả, mốt sính khái niệm, vô nghĩa” Ngược lại, với Lê Huy Bắc và một số nhà nghiên cứu khác: “Nói tóm lại, thế giới hiện nay là thế giới của kỉ nguyên hậu hiện ñại Nhưng tuỳ vào ñặc ñiểm riêng của từng quốc gia mà chủ nghĩa hậu hiện ñại có những sắc thái khác nhau” ðối với những nhà nghiên cứu Việt Nam có ý kiến khác nhau về những vấn ñề lý thuyết văn học hậu hiện ñại nói chung, thông thường các luận ñiểm ñược trình bày gián tiếp trong các công trình, chứ

Trang 3

không trực tiếp ñối thoại, và có thể tóm gọn trong một số các vấn ñề chính như sau:

- Tranh luận – ñối thoại về thời ñiểm xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện ñại trên thế giới (giữa Ngân Xuyên, Phương Lựu, Hoàng Ngọc Tuấn, Trịnh Lữ, Hoàng

Ngọc Hiến…)

- Tranh luận – ñối thoại về các thuộc tính và thủ pháp của chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học, về nội hàm thuật ngữ hậu hiện ñại (giữa Nguyễn Văn Dân,

Lê Huy Bắc, Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê…)

- Tranh luận – ñối thoại về việc phân ñịnh ngoại diên của chủ nghĩa hậu hiện ñại trên các phương diện các tác giả, tác phẩm và trào lưu văn học

Nhìn chung, các cuộc tranh luận và ñối thoại trên ñã ñi sâu vào khảo sát những vấn ñề thuộc về các vấn ñề lý thuyết và nội hàm khái niệm hậu hiện ñại, hoặc nếu tranh luận về ngoại diên các tác gia và tác phẩm thì chủ yếu là các tác giả và tác phẩm văn học nước ngoài Chính nhờ có các cuộc tranh luận và ñối thoại này mà bức tranh về chủ nghĩa hậu hiện ñại ở Việt Nam ñược mở ra với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, dân chủ

và ña màu sắc Những hệ thống quan niệm và cách hiểu vừa mang tính hệ thống lại vừa

có quan ñiểm riêng ấy ñã không ngừng bổ sung, chỉnh lý và bước ñầu tạo dựng nên nền tảng lý thuyết cho chủ nghĩa hậu hiện ñại ở nước ta

Về các tranh luận – ñối thoại văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam, nhìn chung các cây bút chủ yếu ñi sâu vào tranh luận một cách công khai, quyết liệt và tạo nên những cuộc “bút chiến” khá sôi nổi Tổng quan lại các vấn ñề tranh luận trong nghiên cứu văn học nước nhà những năm qua về hậu hiện ñại, có thể rút ra một số vấn ñề cơ bản như sau:

- Tính khả dụng và những tác hại của chủ nghĩa hậu hiện ñại trong ñời sống văn học nói riêng và văn hóa nói chung ở Việt Nam

ðây là một trong những chủ ñề tranh luận lớn, thu hút nhiều sự chú ý trong giới nghiên cứu văn học nước nhà nhiều năm qua Một số các nhà nghiên cứu có xu hướng tin tưởng vào những thành tựu mà chủ nghĩa hậu hiện ñại có thể mang lại cho nền văn học Việt Nam, tiêu biểu có Nguyễn Hưng Quốc, Inrasara, Nguyễn Ước, Phùng Gia Thế… Các nhà nghiên cứu này ñều xem lý thuyết văn học hậu hiện ñại một khi ñược du nhập vào ñời sống văn học nước nhà sẽ tạo ra tiền ñề cơ bản, nhằm ñổi mới triệt ñể nền văn học Việt Nam Các luận ñiểm ñược ñưa ra nhằm chứng minh cho tính khả dụng của văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam bao gồm: Thứ nhất, lý thuyết hậu hiện ñại sẽ giúp cho nền văn học nước nhà bắt kịp và hòa chung với tâm thế và trình ñộ của nền văn học thế giới Nguyễn Hưng Quốc nhận ñịnh: “Người ta có thể tránh né hay chối từ một trào lưu nhưng không thể, không có cách nào tránh né hay chối ñược khí quyển văn hoá của cái thời ñại mà người ta ñang sống” [5] Thứ hai, văn học hậu hiện ñại với tính ñả phá ñại

tự sự mạnh mẽ, chủ trương không ngừng giải cấu trúc các hiện trạng ñã có, ñi kèm với

Trang 4

tắnh chất dung hợp, bảo vệ cho các Ộtiểu tự sựỢ, cái ựối lập, cái khác, sẽ khiến nền văn học Việt Nam phá bỏ sức ỳ, phát triển một cách ựa màu sắc hơn, mang tắnh ựối thoại hơn Ngược lại, những nhà nghiên cứu có quan ựiểm xem lý thuyết hậu hiện ựại sẽ mang lại nhiều tác hại hoặc không có lợi ắch gì ựáng kể cho nền văn hóa Ờ văn học nước nhà như đỗ Minh Tuấn, Thắch Thanh Thắng, Bùi Công ThuấnẦ lại xem chủ nghĩa hậu hiện ựại là một Ộyêu nữỢ, Ộbóng ma chập chờnỢ, Ộmột con ma hậu hiện ựạiỢ Với các nhà nghiên cứu này, chủ nghĩa hậu hiện ựại ựã du nhập vào Việt Nam dưới những mặt trái và tiêu cực, làm biến ựổi các giá trị văn hóa, hoặc rằng, ựã có những âm mưu sử dụng thuật ngữ hậu hiện ựại ựể gán cho những sự kiện văn hóa suy ựồi đỗ Minh Tuấn

trong Chập chờn bóng ma hậu hiện ựại viết: Ộyêu nữ Hậu hiện ựại ựã tinh quái nấp sau

thương hiệu lớn của FPT ựể lặng lẽ giải thiêng, dọn ựường cho một văn hóa mới, thứ văn hóa ngoại lai thực dụng hay có người còn gọi là hạ văn hóa, văn hóa suy ựồiỢ [7]

- Các ựặc trưng nghệ thuật của văn học hậu hiện ựại Việt Nam (nếu có)

Tiêu biểu cho cuộc tranh luận này là hai bài viết Giải minh hậu hiện ựại của Inrasara và Phải chăng nỗi sợ hãi hậu hiện ựại là có thật của Bùi Công Thuấn Nếu theo

quan ựiểm của Inrasara Ờ một nhà nghiên cứu luôn ủng hộ cho sự phát triển của văn học hậu hiện ựại của Việt Nam, người luôn nỗ lực bảo vệ các nhóm thơ trẻ mang tắnh nổi loạn như Ngựa trời, Mở miệng, văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam mang tắnh ngoại biên, phản kháng và chối bỏ các ựại tự sự Chủ nghĩa hậu hiện trong văn học Việt Nam có thể tắnh từ Bùi Giáng trở ựi, ựược tiếp nối bởi các nhà thơ như Phan Bá Thọ, Bùi Chát, Lý đợi, Khúc Duy, Trần Tiến Dũng, Nguyễn đăng Thường, đỗ Kh, Nguyễn Hoàng Nam, Khế IêmẦ Tuy nhiên, theo Bùi Công Thuấn, Bùi Giáng là thơ Ộtinh ròng Việt NamẦ Gán cho Bùi Giáng là hậu hiện ựại là không ựúng tinh thần Bùi GiángỢ [8] Riêng các nhóm thơ như Mở miệng thì Bùi Công Thuấn không xem họ làm thơ, mà chỉ Ộviết những thứ rác và dơỢ, Ộchỉ là những lời văng tục chửi thề, chửi tất cảỢ [8]

- Tương lai và sự tương thắch giữa lý thuyết văn học hậu hiện ựại với nền văn học Việt Nam

đa phần các nhà nghiên cứu ở Việt Nam vẫn ủng hộ việc cần thiết phải tìm hiểu

và tiếp thu chủ nghĩa hậu hiện ựại vào văn học Việt Nam Một loạt những nhà nghiên cứu như Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn, đào Tuấn Ảnh, Lê Huy BắcẦ ựều hi vọng sự tiếp nhận lý thuyết văn học hậu hiện ựại vào ựời sống văn học Việt Nam không những chủ yếu mang lại các hiệu ứng tắch cực, mà ựó còn là một quá trình khách quan của lịch sử, không thể nào khác ựược Ngược lại, về phắa những nhà nghiên cứu còn e

dè hoặc phản ựối chủ nghĩa hậu hiện ựại ở Việt Nam như đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Văn Dân, Bùi Công Thuấn, Thắch Thanh ThắngẦ các lắ luận của họ ựưa ra là chủ nghĩa hậu hiện ựại trong văn học thực chất không ựề xuất những vấn ựề mới mẻ hoặc nhân văn cho văn học phát triển Những phạm trù hậu hiện ựại ựề xuất là mang nặng tắnh chắnh trị,

tư tưởng, và nhiều chỗ thực chất mâu thuẫn nhau một cách sâu sắc Với Bùi Công Thuấn, tư tưởng Ộựả phá các ựại tự sựỢ không phù hợp với truyền thống có các Ộchuẩn

Trang 5

mực, có những giá trị vĩnh cửu, những truyền thống văn hóa riêng, ựó là những ựại tự sự Phá bỏ những đại tự sự ấy khác nào phá bỏ chắnh bản thể dân tộcỢ [8]

Nhìn chung, chủ ựề văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam là một trong những tiêu ựiểm ựối thoại - tranh luận sôi nổi, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam vắt dài qua hai ựầu mút của hai thế kỉ, và cho ựến nay vẫn tiếp tục diễn ra Sở dĩ xảy ra cuộc tranh luận Ờ ựối thoại sôi nổi, thậm chắ gay gắt này, trong khi các hệ hình lý thuyết văn học mới ựược tiếp nhận từ phương Tây khác lại ựược chào ựón một cách khá suôn sẻ, là bởi nhiều nguyên nhân Sau ựây là một số các nhóm nguyên nhân cơ bản

Thứ nhất: hậu hiện ựại là một trào lưu văn hóa nghệ thuật rộng lớn, bao quát

toàn bộ ựời sống tinh thần và trạng huống nền văn minh nhân loại cuối thế kỉ XX, ựầu thế kỉ XXI, mà văn học chỉ là một mảng nhỏ tiêu biểu phản ánh cho ựiều kiện và tâm thức hậu hiện ựại Việc trải rộng trong nhiều lĩnh vực (triết học, chắnh trị, quân sự, lịch

sử, văn hóaẦ), nhiều bộ môn nghệ thuật (kiến trúc, hội họa, âm nhạc, ựiêu khắc, sân khấuẦ) mà ở mỗi lĩnh vực lại có một ựặc thù quan niệm riêng về hậu hiện ựại, ựã khiến cho hệ lý thuyết này về thực chất mang tắnh chất ỘmởỢ, không cố ựịnh thành một bộ kinh ựiển với những nguyên tắc cơ bản Từ ựó, dẫn ựến những cách hiểu khác nhau về hậu hiện ựại trong giới nghiên cứu nước nhà

Thứ hai: cơ sở và nền tảng tri thức về hậu hiện ựại của các nhà nghiên cứu Việt

Nam nhìn chung là có sự khác biệt, bởi những tài liệu và nguồn thông tin mà họ kế thừa nhằm xây dựng nên quan niệm của mình là khác nhau Trên thế giới, lý thuyết văn học hậu hiện ựại nhìn chung có sự khác biệt tương ựối giữa những trường phái như Hoa Kỳ, Pháp, Nga và Trung Hoa Có thể nhận ra quan ựiểm về hậu hiện ựại của Lê Huy Bắc, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Ước, Trần Quang TháiẦ ảnh hưởng

từ cách hiểu và quan niệm về hậu hiện ựại của Hoa Kỳ, mà tiêu biểu là các quan niệm của Ihab Hassan, Mary Klages, Terry Eagleton, Charles Jencks, Barry Lewis, David Harvey, Jan Flax, F.JamesonẦ Trong ựó, ta dễ dàng phát hiện ra quan ựiểm ghép chủ nghĩa đa đa vào chung trong trào lưu hậu hiện ựại của Lê Huy Bắc là sự kế thừa quan

ựiểm của Ihab Hassan trong Toward a Concept of Postmodernism Trên phương diện

khác, một số các nhà nghiên cứu, mà tiêu biểu là Thụy Khuê, Bùi Văn Nam Sơn, Ngân Xuyên, Trịnh LữẦ lại dựa trên những quan niệm về hậu hiện ựại ở Pháp, mà chủ yếu là quan niệm của J.F.Lyotard, Derrida, Baudrillard M.Foucault, J.Lacan, J.Kristeva Những nhà nghiên cứu ảnh hưởng quan niệm hậu hiện ựại của Nga và một số nước đông Âu, ựặc biệt là quan ựiểm về hậu hiện ựại của I.P.Ilin, Mikhail Epstein, V.L.Inozemsev, Mihaela ConstantinescuẦ có thể kể ựến đào Tuấn Ảnh và Nguyễn Văn Dân Một số nhà nghiên cứu khác như Inrasara thì lại chịu ảnh hưởng bởi các nhà nghiên cứu hải ngoại, mà ựặc biệt là những nhà hải ngoại tại Úc như Hoàng Ngọc Tuấn hay Nguyễn Hưng Quốc Riêng Phương Lựu lại chịu ảnh hưởng bởi các nhà ỘMarxism phương TâyỢ (Western Marxism) và các nhà triết học ắt nhiều chịu ảnh hưởng từ chủ

Trang 6

nghĩa Marx như F.Jameson, Derrida, Lyotard, M.FoucaultẦ Chắnh nền tảng kế thừa và chịu ảnh hưởng về mặt lý thuyết của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thuộc về các

Ộtrường pháiỢ, ngôn ngữ khác nhau, thế nên quan niệm của họ có sự khác biệt là ựiều tất yếu Về phắa ủng hộ lý thuyết hậu hiện ựại du nhập vào Việt Nam, có thể thấy các nhà nghiên cứu trong nước chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi các nhà lập thuyết hậu hiện ựại như J.F.Lyotard, Rorty, Derrida, Foucault, Kristeva, I.HassanẦ Ngược lại, về phắa các nhà nghiên cứu còn e dè hoặc phản ựối việc tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện ựại ở Việt Nam, có thể nhận thấy sự ảnh hưởng khá lớn của các nhà Ộphê phán chủ nghĩa hậu hiện ựạiỢ ở phương Tây như J.Harbemas, F.Jameson C.Noris, M.Spiro, R.DỖAndrade, M.SahlinsẦ

Thứ ba: Bởi vì bản thân chủ nghĩa hậu hiện ựại luôn chủ trương ựả phá các ựại

tự sự, mang tham vọng giải cấu trúc tất cả các diễn ngôn hiện tồn, bênh vực cho nghịch luận, cái khác, cái ngoại biên, dẫn ựến sự tranh luận, phản kháng, ựấu tranh là ựặc tắnh

cố hữu của hệ hình lý thuyết này Như vậy, tắnh mảnh vỡ, bất ựịnh, hỗn ựộn, phi trung tâm hóa, tiểu tự sự kết hợp với tắnh phản kháng, giải thiêng, giễu nhại, nhục thể ựã khiến lý thuyết hậu hiện ựại tồn tại trong sự tranh luận, ựối kháng không ngừng với các

hệ hình quan niệm lý luận văn học ựã tồn tại, các kiểu sáng tác truyền thống

2 Các ựặc trưng văn học hậu hiện ựại Việt Nam từ góc nhìn nghiên cứu văn học

Mặc dù vẫn còn nhiều ngại ngần trước quá trình ựổi mới nền văn học dân tộc theo hướng hậu hiện ựại, nhưng rõ ràng vấn ựề của nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay không phải là ựồng ý hay phản ựối mà là dẫn ựường cho sáng tạo phát triển sao cho hợp lý và ựạt nhiều thành tựu nhất Bởi vì, văn học hậu hiện ựại trong ựời sống văn học nước nhà ựang là một thực tế, chứ không còn là một khả năng Theo nhiều nhà nghiên cứu như đào Tuấn Ảnh, Lê Huy Bắc, Nguyễn Hưng Quốc, InrasaraẦ về cơ bản văn học Việt Nam vẫn chịu nhiều bất lợi trong việc chuyển hướng sáng tạo theo hướng hậu hiện ựại, do nước ta chưa xuất hiện hoàn cảnh và ựiều kiện hậu hiện ựại về mặt cơ sở hạ tầng một cách hoàn chỉnh Mặc dù vậy, chúng ta cũng có những thuận lợi rất cơ bản, thứ nhất ựó là tâm thế ở Việt Nam hiện nay gần tương ựồng với tâm thế giải thiêng các ựại

tự sự Hơn nữa, quá trình tiếp nhận lý thuyết hậu hiện ựại ở Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn nhưng ựã hình thành ựược một tâm thức hậu hiện ựại, qua ựó bù ựắp phần nào

sự thiếu vắng hoàn cảnh kinh tế hậu hiện ựại Có thể nói, ở Việt Nam hiện nay, ựiều kiện kinh tế hậu hiện ựại chưa manh nha, nhưng tâm thức và kĩ thuật viết hậu hiện ựại là khá

rõ nét trong nhiều tác phẩm văn học

- đặc trưng hai quá trình song hành trong việc phát triển văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam

Văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam ựược phát triển trong hoàn cảnh diện mạo nền nghệ thuật hiện ựại chưa thực sự hoàn chỉnh, các kinh ựiển triết mỹ về hậu hiện ựại thế giới còn chưa ựược giới thiệu nhiều, tư duy triết học về ngôn ngữ chưa ựầy ựủ, chắnh vì

Trang 7

vậy, cái nền tảng, điều kiện về “kiến trúc thượng tầng” cho văn học hậu hiện đại ra đời

và vận động là khá bấp bênh Bởi vì, dù cĩ kế thừa hay lược bỏ, cĩ quay về hay thốt ly,

cĩ phủ định hay tiếp nối, để hiểu và viết về chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn phải dựa trên nền của nghệ thuật hiện đại Hồng Ngọc Hiến nhận định: “Chủ nghĩa hậu hiện đại trước hết là một phản ứng với chủ nghĩa hiện đại, do đĩ phải tìm hiểu chủ nghĩa hiện đại thì mới cảm nhận được chủ nghĩa hậu hiện đại” [2] Chính từ nhu cầu bức thiết trên, nền văn học Việt Nam theo các nhà nghiên cứu, mà đặc biệt là những ý kiến của Nguyễn

Hưng Quốc trong một loạt các bài viết như Chủ nghĩa h(ậu h)iện đại và văn học Việt Nam, Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam, Tồn cầu hố và văn học Việt Nam… phải tiến hành song hành hai quá trình: vừa hiện đại hĩa vừa

hậu hiện đại hĩa Hiện đại hĩa nhằm tạo tiền đề và nền tảng cho việc phát triển văn học hậu hiện đại, mặt khác, hậu hiện đại hĩa nhằm ngõ hầu bắt kịp với khơng khí, trình độ

và tinh thần chung của thời đại

Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam, nếu cĩ, chỉ là sự pha trộn và kết hợp giữa những yếu tố hiện đại và hậu hiện đại, trong đĩ, yếu tố hậu hiện đại đĩng vai trị chủ đạo Từ luận điểm trên, Nguyễn Hưng Quốc đã đề xuất một thuật ngữ

cĩ tính lai ghép là “văn học hậu hiện đại” [6] Nĩi cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam là một chủ nghĩa hậu hiện đại mang tính nguyên hợp (syncretism) Nếu khơng trải nghiệm qua hiện đại, rõ ràng sẽ thiếu đi một cơ sở quan trọng nhằm đến với cái hậu hiện đại một cách bền vững Tĩm lại, tương lai văn học hậu hiện đại ở Việt Nam là một thách thức, đồng thời là một cơ hội nhằm hiện đại hố nền văn học dân tộc lần thứ hai trong vịng hai thế kỉ qua Khác với cơng cuộc hiện đại hố giai đoạn 30 - 45, vốn là quá trình hiện đại hĩa cĩ tính “cưỡng bức” của lịch sử Cơng cuộc hiện đại hĩa lần thứ hai (theo xu hướng hậu hiện đại) là quá trình tự giác, hồn tồn xuất phát từ những nguyên nhân của nghệ thuật và yêu cầu của thời đại Ít ra, trong cơng cuộc đổi mới này, chúng ta vẫn đi sau thời đại, nhưng may mắn là khơng đi sau một khoảng cách quá xa Một phần lớn lợi thế đĩ là nhờ cơng lao tiếp nhận lý thuyết hậu hiện đại vào Việt Nam khá hiệu quả Thách thức vẫn cịn ở phía trước, bởi cơng cuộc hiện đại hĩa lần thứ nhất đã để lại quá nhiều thành tựu (Thơ Mới, Tự lực văn đồn,

Dạ đài, Xuân thu nhã tập…), cho nên sức ép với những người chủ xướng cho cơng cuộc hiện đại hĩa lần hai là rất nặng nề Nhưng đúng với nhận định của Inrasara: “Nếu khơng tiếp nhận ngay từ hơm nay, tơi e rằng chúng ta tiếp tục chương trình làm kẻ trễ tàu thời đại” [3]

- Tâm thức hậu hiện đại – yếu tố trung tâm trong việc phát triển văn học hậu hiện đại ở Việt Nam

Cĩ thể nĩi, diện mạo nền nghệ thuật hiện đại ở Việt Nam trên nhiều bộ mơn nghệ thuật vẫn chưa hoặc mới chỉ xuất hiện, chưa thực sự cĩ được một diện mạo hồn thiện, đa phần cịn xa lạ với “tầm đĩn nhận” chung của độc giả, vượt quá ngưỡng tiếp nhận Một khi điều kiện và hồn cảnh cơ sở hạ tầng cùng diện mạo nền nghệ thuật cịn

Trang 8

khá lạc hậu, nhưng nhu cầu ựộng vọng của chủ nghĩa hậu hiện ựại là không thể cưỡng lại trong một Ộthế giới cỡ nhỏỢ, bởi sự san phẳng của các tác nhân toàn cầu hóa, vậy diện mạo văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam nên tiếp thu ựiều gì, và chưa thể có những phương diện nào so với văn học hậu hiện ựại thế giới? Nhìn chung, trừ Inrasara khá lạc quan về một nền văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khác mới chỉ dám nhìn nhận một số tác phẩm văn học ở nước ta có tồn tại Ộcác yếu tốỢ hậu hiện ựại, chứ chưa dám hoàn toàn khẳng ựịnh ựó là những tác phẩm và tác giả hậu hiện ựại hoàn chỉnh Cái Ộyếu tốỢ ấy, cho dù có thể diễn giải qua nhiều thủ pháp khác nhau trong các công trình, nhưng theo chúng tôi vấn ựề cốt lõi xuyên suốt vẫn là tâm thức hậu hiện ựại (mentality postmodern) Chắnh cái tâm thức quan niệm về thế giới trong sự hỗn ựộn (chaos), với sự khủng hoảng niềm tin, dẫn ựến thái ựộ bất tắn nhận thức (epistemological), giễu nhại (pastiche), giải thiêngẦ mới là căn nguyên tư tưởng cho văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam

Theo Phương Lựu và một số nhà nghiên cứu, mà ựặt biệt là đoàn Ánh Dương

trong Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong ỘMẫu thượng ngànỢ của Nguyễn Xuân Khánh (tạp chắ Nghiên cứu văn học, tháng 9 năm 2010), tâm thức hậu

hiện ựại ở Việt Nam mang dấu ấn của tâm thức Ộhậu thực dânỢ (Postcolonialism), nhất

là trong các tiểu thuyết lịch sử viết về thời kì ựất nước ựang còn là thuộc ựịa Tâm thức hậu thực dân trong văn học Việt Nam dẫu không phổ biến, nhưng lại cung cấp nhiều cái nhìn quan trọng, mới mẻ mang tắnh hậu hiện ựại về lịch sử dân tộc, ựặc biệt là cảm thức bênh vực và bảo vệ cho những Ộcái khácỢ, Ộcái nhược tiểuỢ, Ộcái bản ựịaỢ so với cái

thực dân ựóng vai trò như một ựại tự sự Với đào Tuấn Ảnh trong Những yếu tố Hậu hiện ựại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga, cảm thức hậu hiện ựại ở

Việt Nam gắn với cảm thức Ộhậu hiện thực xã hội chủ nghĩaỢ, một cảm thức gần gũi với cảm thức Nga hậu Xô Viết Các nhà văn Việt Nam ựã mang một tâm thức mới trong sáng tạo nghệ thuật, không còn mô phỏng và viết như hiện thực nữa, mà ựề cao tắnh hư cấu, tắnh trò chơi, tắnh giễu nhại, giải thiêng trong sáng tạo, bỏ qua mô thức cơ bản nhất trong chủ nghĩa hiện thực là Ộnhân vật ựiển hình trong hoàn cảnh ựiển hìnhỢ Với

Inrasara trong Nhập lưu hậu hiện ựại kì 7 lại xem tâm thức hậu hiện ựại ở Việt Nam còn

gắn với nội dung nữ quyền luận, bênh vực cho Ộgiới tắnh hạng haiỢ, không phải nhằm ựòi bình ựẳng giới, mà là Ộhậu hiện ựại quyết phá tan và ựánh sập tinh thần ựó Không phải bởi nữ giới quan trọng hơn nam giới, càng không phải lật ựổ chế ựộ phụ hệ ựể ựưa mẫu hệ lên ngôi, mà là giải trung tâm: bình ựẳng giới trong một xã hội công bằngỢ [4]

Nhìn chung, từ tâm thức hậu hiện ựại mang các nội dung ựặc thù Việt Nam như

ựã trình bày, các nhà nghiên cứu văn học nước nhà ựã ựi sâu vào phân tắch các thủ pháp hậu hiện ựại trong những tác phẩm và tác gia cụ thể Có thể kể ựến những bài viết của

Inrasara với loạt bài mang tên Nhập lưu hậu hiện ựại và Giải minh hậu hiện ựại, đào Tuấn Ảnh với Những yếu tố hậu hiện ựại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga, Cao Kim Lan với Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của

Trang 9

hệ hình thi pháp hậu hiện ñại, Lã Nguyên với Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, Hoàng Ngọc Hiến với Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện ñại & chủ nghĩa hậu hiện ñại, Phùng Gia Thế với Dấu ấn hậu hiện ñại trong văn học VN sau 1986… Các

tác giả ñã ñi sâu khảo sát nhiều tác giả văn học Việt Nam ñược xem ít nhiều có “yếu tố” hậu hiện ñại như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Thuận… Một loạt các thủ pháp hậu hiện ñại cơ bản trong văn học Việt Nam cũng thường xuyên ñược nghiên cứu ñến, trong ñó có nhiều thủ pháp hiện nay ñang tạo nên những “model” trong nghiên cứu văn học như liên văn bản (intertextuality), ngụy tạo (simulacres), giễu nhại (pastiche), cực hạn (minimalism), huyền ảo (magic), giải thiêng, siêu hư cấu, mảnh vỡ (fragment), mặt nạ tác giả (author’s mask), nhục thể (corporality)… Các yếu tố này không cần ñòi hỏi phải xuất hiện một cách ñầy ñủ trong mọi tác phẩm, nó cũng chưa hẳn là căn cứ xác tín nhằm chứng minh một tác phẩm văn học Việt Nam có là hậu hiện ñại hay không Căn cứ cốt lõi nhất vẫn là tâm thức hậu hiện ñại, và các thủ pháp trên trong những sáng tác văn học Việt Nam chừng nào thiết lập ñược một quan hệ với cái tâm thức ấy, thì tác phẩm ñó mới là tác phẩm hậu hiện ñại

- Tính bản ñịa và truyền thống dân tộc trong văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam

Theo Hans Bertens và Douwe Fokkema, ở những nước ñã trải qua thời hiện ñại một cách hoàn chỉnh, và bản thân nền văn hoá có tính “tiên phong” (avant-garde) mạnh

mẽ, thường xuyên chấp nhận thể nghiệm và thay ñổi, thì việc tiếp cận chủ nghĩa hậu hiện ñại thường gặp khó khăn Nước Pháp - quê hương của triết học hậu hiện ñại với người sáng lập Lyotard là một ví dụ ñiển hình Trong khi ñó, ở những nước chưa trải nghiệm tính hiện ñại một cách sâu sắc, thì việc tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện ñại sẽ dễ dàng hơn, dẫu diện mạo hậu hiện ñại ở ñó sẽ có ít nhiều mang bản sắc ñịa phương [6]

Kế thừa các quan ñiểm này, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam tin rằng quá trình phát triển văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam sẽ không sản sinh ra một nền văn học “yêu nữ”, “bóng ma”, mà sẽ tạo dựng ñược những thành tựu mang bản sắc bản ñịa với truyền thống dân tộc Với tính chất dung nạp và che chở cho các tiểu tự sự, cái khác (the others) của lý thuyết hậu hiện ñại, nền văn học Việt Nam sẽ không mang mặc cảm tự ti,

“nhược tiểu” trong quá trình phát triển Trên thực tiễn phân tích các tác phẩm văn học

có “yếu tố” hậu hiện ñại của nước nhà, các nhà nghiên cứu ñã chỉ ra không ít những ñặc thù riêng của các nhà văn, góp phần bước ñầu xây dựng một diện mạo hậu hiện ñại Việt Nam Trước tiên là các chủ ñề khai thác trong tác phẩm, theo Lã Nguyên và Cao Kim Lan trong hai công trình nghiên cứu riêng, ñã chỉ ra Nguyễn Huy Thiệp ñã sử dụng rất

nhiều chất liệu lịch sử và chất liệu dân gian trong Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm Sắc, Con gái thủy thần… nhưng dưới một cảm quan mới – cảm quan hậu hiện ñại, với các thủ

pháp tiêu biểu như nhại lịch sử, giải thiêng, siêu hư cấu sử kí, giả thể loại… Tư duy của

Trang 10

của hai nhà văn trên cũng ựược Lã Nguyên xem là tư duy theo lối Ộcâu ựốỢ và Ộựồng daoỢ, các hình thức diễn ngôn văn học dân gian Inrasara thì chỉ ra tắnh giễu nhại và cắt dán của các nhà thơ hậu hiện ựại Việt Nam Trong ựó, Nguyễn Hoàng Nam ựã sử dụng

các chất liệu truyền thống ựã có sẵn trong kho tàng văn học Việt Nam (bài thơ Ngậm ngùi của Huy Cận) nhằm cấu trúc lên những tác phẩm phản Ờ lãng mạn của mình

Với Lê Huy Bắc trong Truyện ngắn hậu hiện ựại, Nguyễn Hưng Quốc trong Chủ nghĩa hậu hiện ựại và văn học Việt Nam, văn học hậu hiện ựại là một trào lưu quốc tế có

sự phân bố ựồng ựều ở các nước ựang phát triển, chứ không chỉ gói gọn vào trong những nền văn hóa lớn ở phương Tây Một loạt các tác giả ở Zaire (Y.Mudimbe), Mexico (C.Fuentes), Maroc (A.Khatibi), Sri Lanka (M.Ondaatje), Kenya (Ngugi), Somali (N.Farah), Nigeria (B.Okri), Czech (M.Kundera), Colombia (G.Marquez), Nam Phi (M.Coetzee), Peru (V.Llosa) ựã khẳng ựịnh ựược ựặc tắnh nghệ thuật ựịa phương của mình trong dòng chảy hậu hiện ựại, mà không phải chịu một mặc cảm tiểu nhược khi ựối diện với các cây bút hậu hiện ựại lừng danh ở phương Tây Nhìn sang bên cạnh, người hàng xóm Trung Hoa với nền văn minh khổng lồ, cường quốc của những quốc gia xã hội chủ nghĩa, sự chuyển mình trong việc tiếp nhận một cách sáng tạo lý thuyết hậu hiện ựại của họ ựược thực hiện từ khá sớm (từ những năm 1993 - 1994) và thu ựược khá nhiều thành tựu ỘNếu những thành tựu lớn nhất và mới nhất trong lĩnh vực lý thuyết và phê bình văn học vẫn tiếp tục thuộc về Bắc Mỹ và châu Âu thì những thành tựu quan trọng nhất trong lãnh vực sáng tác lại thuộc về các nước cựu thuộc ựịa hoặc bị coi là ngoài lề các trung tâm văn minh hiện ựại của nhân loạiỢ [6]

Như vậy, ở một nước văn hóa Á đông, ựi theo chắnh thể chuyên chắnh vô sản, vẫn hoàn toàn có tiềm năng ựể tiếp thu lý thuyết hậu hiện ựại vào khoa nghiên cứu văn học và cả thực tiễn sáng tạo Quan trọng hơn nữa, chủ nghĩa hậu hiện ựại không phải là một chủ thuyết nghệ thuật có tắnh toàn trị, nó là một hệ thống mở Việc ựổi mới văn học nước nhà theo hướng hậu hiện ựại không có nghĩa là loại trừ những thành tựu và bản sắc

mà chúng ta ựã có, hoặc quy ựịnh toàn bộ nền văn học nhất nhất chỉ ựi theo lối hậu hiện ựại

- Hai xu hướng hậu hiện ựại trong văn học Việt Nam

Mặc dù ựã có nhiều bài viết khảo sát về các yếu tố hậu hiện ựại trong văn học Việt Nam, nhưng vấn ựề cơ bản ựược ựặt ra là, vậy văn học hậu hiện ựại ở Việt Nam sẽ

có diện mạo riêng và tương lai như thế nào? Hay nhất thời chỉ là một trào lưu nổi lên ựể rồi nhanh chóng bị lãng quên như một cái mốt thời thượng, sắnh thuật ngữ phương Tây? Hay chỉ là một mớ bóng chữ lộn xộn, lai ghép hỗn ựộn như một Ộmón nộm suồng sãỢ (Nguyễn Huy Thiệp) của ý tưởng mà các nhóm Ngựa trời hay Mở miệng thời gian qua ựang tiến hành thử nghiệm

Nhìn nhận một cách bình tâm, ựời sống văn học nước nhà hiện nay có hai xu hướng phát triển theo hướng hậu hiện ựại Một xu hướng kết hợp các thủ pháp hậu hiện

Ngày đăng: 14/08/2014, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w