1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế

48 389 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng Tứ Hạ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 509 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Ngô (Zea may L) là cây lương thực đứng thứ ba trên thế giới về diện tích và sản lượng. Sở dĩ cây ngô có vị trí quan trọng như vậy vì khoảng 13 dân số trên thế giới sử dụng cây ngô làm lượng thực chính tập trung chủ yếu ở Trung Mỹ, Nam Á, Châu Phi. Ngô được dùng làm thực phẩm, người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp, các loại ngô đường làm thức ăn đóng hộp xuất khẩu. Ngô cũng được sử dụng làm thức ăn gia súc rất tốt, ngô chiếm 75% chất dinh dưỡng trong thức ăn tổng hợp, cây ngô còn dùng làm thức ăn xanh hoặc ủ chua lý tưởng. Hiện nay, ngô được sử dụng để sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau cho ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dược. Về mặt nghiên cứu ngô là một trong những đối tượng nghiên cứu chính trong khoa học nông nghiệp thế giới.Những thành tựu nghiên cứu về ngô vừa phong phú cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.Những kết quả nghiên cứu đạt được về di truyền, chọn giống, sinh học, hóa sinh, sinh lý, kỹ thuật trồng trọt,cơ khí hóa...đã làm thay đổi hẳn kỹ thuật trồng ngô và vị trí của cây ngô.Ngô là cây lương thực cho năng suất cao nhất trong các loại ngũ cốc.11 Trong những năm gần đây, rất nhiều nước trên thế giới đã chú trọng đến ngô thực phẩm, do vậy diện tích ngô thực phẩm tăng nhanh và trao đổi thương mại của ngô thực phẩm đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều nước xuất khẩu mặt hàng trên như Thái Lan, Mỹ, Hàn Quốc. Ở Việt Nam, ngô thực phẩm là một khái niệm hoàn toàn mới. trước đây chỉ có truyền thống trồng ngô nếp địa phương, hoàn toàn không có tập quán trồng ngô rau, ngô đường và ngô nếp lai. Mặt khác các nhà chọn tạo giống trong nước chủ yếu tập trung chọn tạo và đưa ra trồng ngoài sản xuất các giống ngô lai năng suất cao, chưa chú trọng chọn tạo các giống ngô thực phẩm vì vậy người sản xuất phải mua hạt giống ngô đường, ngô nếp từ các công ty liên doanh với giá hạt giống rất cao, làm giảm thu nhập. Do vậy, đứng trước nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, công tác nghiên cứu và chọn tạo ngô thực phẩm là nhiệm vụ cấp bách của các nhà chọn tạo giống.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

NĂM: 2008

Trang 2

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngô (Zea may L) là cây lương thực đứng thứ ba trên thế giới về diện tích và

sản lượng Sở dĩ cây ngô có vị trí quan trọng như vậy vì khoảng 1/3 dân số trênthế giới sử dụng cây ngô làm lượng thực chính tập trung chủ yếu ở Trung Mỹ,Nam Á, Châu Phi Ngô được dùng làm thực phẩm, người ta dùng bắp ngô bao tửlàm rau cao cấp, các loại ngô đường làm thức ăn đóng hộp xuất khẩu Ngô cũngđược sử dụng làm thức ăn gia súc rất tốt, ngô chiếm 75% chất dinh dưỡng trongthức ăn tổng hợp, cây ngô còn dùng làm thức ăn xanh hoặc ủ chua lý tưởng.Hiện nay, ngô được sử dụng để sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau chongành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dược

Về mặt nghiên cứu ngô là một trong những đối tượng nghiên cứu chínhtrong khoa học nông nghiệp thế giới.Những thành tựu nghiên cứu về ngô vừaphong phú cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.Những kết quả nghiên cứu đạt được về

di truyền, chọn giống, sinh học, hóa sinh, sinh lý, kỹ thuật trồng trọt,cơ khíhóa đã làm thay đổi hẳn kỹ thuật trồng ngô và vị trí của cây ngô.Ngô là câylương thực cho năng suất cao nhất trong các loại ngũ cốc.[11]

Trong những năm gần đây, rất nhiều nước trên thế giới đã chú trọng đếnngô thực phẩm, do vậy diện tích ngô thực phẩm tăng nhanh và trao đổi thươngmại của ngô thực phẩm đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều nước xuấtkhẩu mặt hàng trên như Thái Lan, Mỹ, Hàn Quốc Ở Việt Nam, ngô thực phẩm

là một khái niệm hoàn toàn mới trước đây chỉ có truyền thống trồng ngô nếp địaphương, hoàn toàn không có tập quán trồng ngô rau, ngô đường và ngô nếp lai.Mặt khác các nhà chọn tạo giống trong nước chủ yếu tập trung chọn tạo và đưa

ra trồng ngoài sản xuất các giống ngô lai năng suất cao, chưa chú trọng chọn tạocác giống ngô thực phẩm vì vậy người sản xuất phải mua hạt giống ngô đường,

Trang 3

ngô nếp từ các công ty liên doanh với giá hạt giống rất cao, làm giảm thu nhập.

Do vậy, đứng trước nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, công tácnghiên cứu và chọn tạo ngô thực phẩm là nhiệm vụ cấp bách của các nhà chọntạo giống

Trong mọi chương trình chọn tạo giống ngô lai thì chọn tạo dòng thuần làbước đầu tiên và quan trọng nhất, sau đó mới đến bước thử khả năng kết hợp vàcuối cùng là sản xuất hạt giống lai Trong công tác chọn tạo dòng thuần cần tiếnhành tự phối các dòng, từ đó tiến hành chọn lọc các dòng thuần tốt Và ta chỉ cóthể sử dụng các dòng thuần có đời tự phối cao, đạt giá trị tự phối tối thiểu để sảnxuất các giống ngô lai Để tạo được những giống ngô lai có năng suất cao, phẩmchất tốt và có những đặc tính nông sinh học phù hợp với mục đích yêu cầu củacác nhà chọn tạo giống thì nhất thiết phải có những dòng thuần tốt, có khả năngkết hợp cao

Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên

cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống Ngô Nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây

trồng Tứ Hạ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Trang 4

PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới

Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.Trên thế giớingô đứng thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và thứ nhất về năng suất [11]

Cây ngô được trồng phổ biến triên 90 quốc gia, trong đó có 5 nước trồngngô với diện tích lớn hơn 5 triệu ha là Brazin, Trung Quốc, Ấn Độ.[1]

Ngày nay do áp dụng những tiến bộ khoa học trong chọn tạo giống cácnhà chọn tạo giống đã chọn tạo ra những giống ngô cho năng suất cao đáp ứngđược nhu cầu của thị trường và đảm bảo an ninh lương thực của nhiều quốc gia

Từ vụ ngô 2003 trở lại đây, sản lượng ngô thế giới tiếp tục tăng, tình hìnhtiêu dùng và dự trữ ngô cũng tăng tương ứng Sản lượng ngô thế giới năm 2003đạt 640.677 triệu tấn, năm 2004 đạt 727.415 triệu tấn, năm 2005 đạt 712.818triệu tấn, năm 2006 đạt 695.228 triệu tấn

Tương ứng với thời gian trên diện tích trồng ngô trên thế giới là 142.042triệu ha, 145.759 triệu ha, 145.499 triệu ha, 144,377 triệu ha Như vậy sản lượngngô năm 2005 và năm 2006 có giảm so với năm 2004 do diện tích trồng ngôgiảm

Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô thế giới từ năm 2001 - 2006

( Triệu ha )

Năng suất ( Tấn/ha )

Sản lượng ( Triệu tấn )

Trang 5

Trong đó, sản lượng ngô của Mỹ đạt 241.377 triệu tấn chiếm 39.2% sảnlượng ngô toàn thế giới, trung Quốc đạt 114.257 triệu tấn, Ấn Độ đạt 13.160triệu tấn, Brazin đạt 41.955 triệu tấn, Achentina đạt 15.359 triệu tấn, Mehico đạt20.134 triệu tấn

Sản lượng ngô thế giới tăng nhanh trong những năm qua một phần là dotăng diện tích (chủ yếu là các nước đang phát triển), phần lớn là do tăng năngsuất Mỹ có được sản lượng ngô lớn như vậy là do năng suất ngô của Mỹ cao(93.59 tạ/ha) trong khi đó năng suất ngô của một số nước là Italia 87.28 tạ/ha,Trung Quốc 53.65 tạ/ha, Ấn Độ 19.38 tạ/ha, Mexico 29.66 tạ/ha Như vậy sở dĩTrung Quốc, Brazin và Ấn Độ là những quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhấtnhì thế giới 27143 nghìn ha,12602 nghìn ha, 7590 nghìn ha, nhưng sản lượngvấn thấp là do năng suất ngô chưa cao Hiện nay ngô chủ yếu dùng cho chănnuôi, các nước phát triển có nền công nghiệp tiên tiến đã sử dụng 70 - 90% sảnlượng ngô cho chăn nuôi như Pháp 90%; Mỹ 89% [41]

Trang 6

Bảng 2: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới trong năm 2005 - 2006

Năm

Nước

Diện tích(triệu ha)

Năngsuất(tạ/ha )

Sảnlượng(triệu tấn)

DiệnTích(triệuha)

Năngsuất(tấn/

ha)

Sảnlượng(triệutấn)

và trên thế giới Việc đưa hạt giống ngô lai vào sản xuất đã làm cho năng suất và

Trang 7

sản lượng ngô tăng lên đáng kể Những nước có sản lượng ngô cao trong khu vực là Inđônêxia và Philippin, song năng suất ngô cao nhất lại thuộc về Thái Lan

và Việt Nam (FAO.STAT,2007)

2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trong nước.

Ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa ở Việt Nam Ngô được dùng làm lương thực cho người, thức ăn cho chăn nuôi và xuất khẩu Trong khoảng 1985 - 1991 năng suất ngô nước ta nằm trong khoảng 1,47 -1,56 tấn/ha Năng suất này còn thấp hơn trung bình các nước đang phát triển (2,4 tấn/ha), tuy nhiên trong thời gian gần đây do áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sảnxuất nhằm thay thế các giống ngô địa phương và việc sử dụng ngày càng nhiều giống ngô lai nên sản lượng ngô ở Việt Nam tăng nhanh Bên cạnh đó các thí nghiệm khảo nghiệm giống ngô nhập nội cũng như chọn tạo các giông ngô quy ước phát triển mạnh mẽ, những tiến bộ khoa học kỹ thuật và những chính sách khuyến nông, cây ngô đã có những bước tiến lớn về diện tích và năng suất

Bảng 3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001-2006

(1000ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

( Nguồn: Niên giám thống kê, nhà xuất bản thống kê 2007)

Qua bảng 3 cho thấy diện tích, năng suất, sản lượng ngô của nước ta khôngngừng tăng qua các năm Mức độ tăng trưởng ngô nước ta giai đoạn 2000 - 2005đạt 1.4 lần về diện tích, 1.5 lần về năng suất,1.8 lần về sản lượng (Phan Xuân

Trang 8

Hào, 2006) Hiện nay năng suất ngô củ nước ta đã vượt so với một số nước trongkhu vực như Indonêxia, Philippin, Ấn Độ.(Ngô Hữu Tình, 2006).

Năm 1994, nước ta đã trồng thử nghiệm giống ngô lai kép B9681 của công

ty liên doanh Baiosseed- Việt Nam giống này cho năng suất cao ở các tỉnh phíabắc [2]

Trần Hồng Uy, Phan Xuân Hào và cộng tác viên qua khảo sát các tổ hợp lailuân phiên giữa tám dòng thuần có triển vọng Qua nhiều lần lai đỉnh ở việnnghiên cứu ngô đó là bốn dòng : DF1, DF2, DF-88-1, DF-89-1, có khả năng kếthợp chúng cao nhất đã tạo ra các giống ngô lai đơn LVN10 (DF1 x DF2 ) giốnglai kép LVN20.[14]

Mai Xuân Triếu, Trần Hồng Uy và cộng tác viên đã dùng các giống thuần

có thời gian sinh trưởng trung bình và chín sớm, có đời tự phối lớn hơn 15, cónăng suất hạt giống thuần từ 13,4- 26,4 tạ/ha Đem lai luân giao theo sơ đồGriffing 1956, sau khi đem so sánh ở viện nghiên cứu ngô Đan Phượng, và khảonghiệm ở trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm giống cây trồng Trung Ương đãchọn ra giống ngô lai ngắn ngày LVN25 (ILTQ2 x IL90) có năng suất thực thulớn hơn 59,2 tạ/ha và được đưa vào khu vực hóa ở nhiều tỉnh phía bắc [11]

PGS,TS Trương Đích, PTS Phạm Đồng Quảng, ThS Phạm Thị Tài và cộngtác của trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung Ương tạo ra từ cácvật liệu nhập nội Qua khảo nghiệm và sản xuất thử rất có triển vọng đặc biệt là

ở miền trung và miền nam, cũng như vụ hè và vụ đông sớm ở phía bắc.[TrươngĐích]

Ở khu vực miền trung cây ngô cũng đứng vị trí quan trọng thứ 2 sau câylúa nhưng diện tích, năng suất, sản lượng thấp hơn nhiều so với trung bình chung

cả nước Năm 1994, diện tích ngô miền trung là 95,1 ha, (chiếm 17,8 % diện tíchngô cả nước), năng suất chỉ đạt 16,7 tạ/ha [1] Nguyên nhân do diện tích ngô laicòn hạn chế (chỉ chiếm 26,9 % tổng diện tích [14]) Tuy nhiên những năm gầnđây, sản lượng ngô ở vùng này có những bước tiến đáng kể về diện tích và năngsuất

Trang 9

Bảng 4: Tình hình sản xuất ngô trong nước

Chỉ tiêu

Năm

Tên vùng

Diện tích(nghìn ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng(nghìn tấn)

Cả Nước 991.1 1052.6 1031.6 3.460 3.600 3.700 3430.9 3787.1 3819.4

ĐB Sông Hồng 84.0 81.9 79.2 4.090 4.080 4.100 343.4 334.3 325.0Đông Bắc 216.1 221.7 217.6 2.900 2.990 2.820 627.4 662.5 612.7

Bắc Trung Bộ 141.0 149.6 148.2 3.670 3.480 3.470 517.6 521.2 513.8

DH Nam Trung Bộ 39.0 40.1 42.7 3.510 3.710 3.880 136.9 148.7 165.6Tây Nguyên 209.2 236.6 224.9 3.580 4.070 4.400 749.8 963.1 989.7Đông Nam Bộ 131.2 131.6 125.0 3.810 4.2.90 4.490 499.7 564.7 561.5

ĐB sông Cửu Long 32.5 34.9 35.6 5.300 5.440 5.390 172.3 189.7 191.8

Trang 10

Bảng 4: Tình hình sản xuất ngô ở một số tỉnh khu vực Miền Trung

Tỉnh,

thành phố

Diện tích(nghìn ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(nghìn tấn)

Thanh Hóa 63.700 65.300 63.800 3.860 3.740 3.650 245.900 244.200

233.00 0

Nghệ An 60.300 64.400 67.100 3.600 3.390 3.430 217.300 218.600

230.40 0

Trang 11

3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô tại Thừa Thiên Huế.

Cây ngô được người dân Thừa Thiên Huế trồng từ lâu đời, đặc biệt là ngônếp từ lâu Thừa Thiên Huế đã nổi tiếng với giống ngô nếp Cồn Hến là giống đặcbiệt ăn ngon và được người tiêu dùng ưa chuộng Kể từ năm 1968 sau khi trườngĐại học Nông nghiệp II chuyển từ Hà Bắc vào Huế với nhiều đóng góp củatrường cho tỉnh về mặt Nông nghiệp nói chung và cây ngô nói riêng Tình hìnhsản xuất ngô ở đây có nhiều biến chuyển quan trọng

Khu vực miền Trung nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng cây ngô cũng đóng vị trí quan trọng thứ 2 sau cây lúa nhưng năng suất và sản lượng thấp hơn nhiều với bình quân chung của cả nước Năm 1994 diện tích ngô Miền Trung là 95100 ha (chiếm 17.8% diện tích ngô cả nước) năng suất ngô chỉ đạt 16,7 tạ/ha [5] Nguyên nhân do diện tích ngô lai còn hạn chế (chỉ chiếm 26,9% tổng diện tích) [19]

Bảng 2.4:Tình hình sản xuất ngô ở Thừa Thiên Huế từ năm 2006

2000-Năm Diện tích(1000ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng

Trang 12

hơn năm 2003 nhưng năng suất và sản lượng thấp hơn một phần là do điều kiệnkhí hậu thời tiết, đất đai không thuận lợi, phần lớn là do người dân ở đây đang sửdụng các giống ngô địa phương đang thoái hóa nên cho năng suất thấp Đếnnăm 2002 các giống ngô lai năng suất cao được đưa vào sản xuất cùng với trình

độ của người dân được nâng cao nên diện tích trồng ngô đã tăng 200 ha so vớinăm 2000 và năng suất, sản lượng đều tăng

4 Một số nghiên cứu về cây ngô nếp.

4.1 Nghiên cứu về tập đoàn giống ngô nếp.

Ngô nếp là một trong 9 loài phụ của tập đoàn Zeamays Theo phân loại

của Lưu Trọng Nguyên ( 1965, Trung Quốc ) Người ta cho rằng cây ngô trồng ởnơi đất xấu ở Miến Điện đã phát sinh đột biến làm xuất hiện một thành phầntinh bột mới ở trong hạt ngô có dạng mạch nhánh và dạng tinh bột này tạo ra ngônếp [ 19 ]

Ở Việt Nam, từ những năm 1973 Viện nghiên cứu ngô đã xây dựng mộtquỹ gen ngô và lưu trữ khoảng 400 mẫu giống thụ phấn tự do trong đó có 150mẫu giống địa phương và 300 mẫu giống tự phối [ 19 ]

Ngô Hữu Tình ( 1991 - 1996 ) sử dụng phương pháp phân tích nhóm vàthu được kết quả có 14 giống nếp trắng miền Bắc chia thành 3 nhóm, 28 giốngnếp miền Nam chia thành 4 nhóm, 14 giống nếp vàng Việt Nam chia thành 4nhóm, 10 giống nếp tím Việt Nam thành 3 nhóm [ 19 ]

Nguyễn Văn Thiều ( 1970 ) điều tra ngô địa phương tại 21 tỉnh thành phíaBắc thấy rằng trong tổng sổ 275 mẫu có 190 mẫu ngô đá chiếm tỷ lệ 69,09 %, có

70 mẫu ngô nếp chiếm 75,4 % [ 10 ]

Phạm Đồng Quảng và cộng sự khi điều tra các giống ngô trồng trong cảnước đã thấy rằng, năm 2003, diện tích ngô nếp là 12,088 ha chiếm 1,87 %, ngônếp Nù 8,097 ha chiếm 1,25 %, ngô nếp VN2 4,692 ha chiếm 0,73 %, ngô nếpvàng 2,362 ha chiếm 0,37 %, ngô nếp MX4 2,073 ha chiếm 0,32 %, ngô nếpMX2 1,320 ha chiếm 0,19 % Năm 2004 diện tích trồng ngô nếp 1,729 ha chiếm0,43 %, ngô nếp địa phương 7,020 ha chiếm 1,74 %, ngô nếp Nù 4,651 ha chiếm

Trang 13

1,16 %, ngô nếp VN2 1,573 ha chiếm 0,39 %, ngô nếp MX4 1,557 ha chiếm0,39 %, ngô nếp MX2 1,452 ha chiếm 0,365 % [ 27 ].

4.2 Nghiên cứu về chọn tạo và khảo nghiệm giống ngô nếp.

Hiện nay, diện tích trồng ngô nếp tăng khá nhanh, khoảng 10 % diện tíchtrồng ngô của cả nước, chủ yếu là giống ngô thụ phấn tự do và một số giống ngôlai không quy ước [ 28 ] Một số giống ngô nếp đã được công nhận và đưa vàosản xuất trong cả nước

Giống ngô nếp VN2 đã được Trần Hồng Uy, Phan Xuân Hào và cộng tácviên chọn lọc từ các giống ngô nếp S2, nếp Tây Ninh, nếp Quảng Nam - ĐàNẵng và nếp Thanh Sơn, Vĩnh Phúc từ vụ xuân 1992 Giống này đã được nhândân trồng nhiều ở các tỉnh phía bắc và phía nam Giống có thời gian sinh trưởngngắn, bắp tương đối lớn, năng suất khá cao, có khả năng chịu hạn, chịu chuaphèn, chống gãy đổ khá, ít sâu bệnh

Giống ngô nếp Nù N-1 do Phạm Thị Rịnh và các cộng tác viên thuộc Việnkhoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam chọn lọc theo phương pháp “ bắp trên

hàng cải tiến ”, từ tổ hợp lai nếp Đồng Nai x nếp An Giang qua 5 chu kỳ Chiều

cao cây thấp, năng suất cao, cá biệt có nơi lên đến 12,1 tấn/ha, kháng bệnh khôvằn nhưng dễ bị sâu đục thân phá hoại

Ngô nếp WAX22, WAX33, WAX44 là các giống lai đơn do Công tySyngenta Thái Lan, Việt Nam lai tạo, nhập nội vào nước ta và được phổ biến vàonhững năm 2000, 2001 và 2002 Các giống WAX có năng suất cao, chất lượngdẻo, mềm, chống chịu bệnh virus lùn tốt, kháng bệnh gỉ sắt [ 29 ]

Qua 5 năm nghiên cứu, Trần Văn Minh và cộng sự đã phục tráng giốngngô nếp Cồn Hến bằng phương pháp chọn lọc Thông qua việc thu thập đúnggiống nếp Cồn Hến, chọn cá thể 2 - 3 vụ, sau đó tách ra các dòng thuận từ cácquần thể giống hỗn hợp Chọn cá thể đến thế hệ thứ 7 tiếp tục đưa các dòng hỗnlại với nhau và tiếp tục chọn lọc Từ đó đã tạo ra một số lượng dòng tự phốiphong phú, tạo nguồn vật liệu khởi đầu rất tốt cho lai tạo giống ngô [ 42 ]

Trang 14

Qua 2 năm thực hiện quy trình tuyển chọn nghiêm ngặt của 3 vụ trồng ngônếp Nù xanh, các kỹ sư nghiên cứu giống cây trồng của trường Đại học Cần Thơ,

đã phục tráng lại nguồn giống nguyên chủng cây ngô nếp Nù xanh và đưa vàosản xuất đại trà Qua trồng thử nghiệm thấy rằng cây ngô nếp Nù xanh có nhữngđặc tính tốt như: Thời gian sinh trưởng ngắn, chiều cao cây vừa phải, đồng đều,

ít đổ ngã, trái đẹp, hạt dày, điều đặc biệt trái ngô nếp Nù xanh thơm, ngon đượcngười tiêu dùng ưa thích Loại ngô nếp Nù xanh trồng được quanh năm trênvùng đất gò và rất phù hợp với thố nhưỡng của vùng đất Lai Vung, Đồng Tháp[ 45 ]

Bên cạnh các giống đã được công nhận và phổ biến trong sản xuất, trên thịtrường hiện hay có các giống ngô nếp nhập nội như: Game 001, Gama Wax 012,TN168

5 Cơ sở lý luận và thực tiễn.

5.1 Cơ sở lý luận.

Trong sản xuất nông nghiệp, để tăng năng suất và sản lượng cây trồng thì

có thể sử dụng các biện pháp như khu vực hóa vùng sinh thái, chọn thời vụ thíchhợp, bón phân hợp lý, cân đối, tưới nước đầy đủ, chăm sóc tốt, sử dụng thuốcbảo vệ thực vật đúng lúc, kịp thời Tuy nhiên các biện pháp này chỉ làm tăngnăng suất trong một giới hạn tiềm năng của giống, muốn có năng suất cao thìphải chọn giống tốt

Trong chọn tạo giống cây trồng, để tạo ra giống tốt các nhà chọn giống đãgiải quyết mối quan hệ phức tạp giữa các tính trạng trong cơ thể cây trồng vàmối quan hệ giữa môi trường với cây trồng Nhằm tạo ra giống năng suất cao, ổnđịnh, phẩm chất tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuậnthông qua con đường lai tạo, đột biến đa bội thể, chọn lọc, Nhưng thành côngnhất trong chọn giống là sử dụng ưu thế lai để tạo giống

Trang 15

Trong bất kỳ một chu trình chọn giống ngô lai nào khâu đầu tiên phải thựchiện là tạo dòng thuần, muốn có những giống ngô lai có ưu thế lai cao thì chúng

ta phải có những dòng thuần tốt, nó là vật liệu đầu tiên để thực hiện các bướctiếp theo

Trong thực tế để chọn tạo ra được một dòng ưu tú rất khó khăn Do vậyviệc chọn lọc, đánh giá các đặc điểm hình thái, khả năng chống chịu, đặc điểmthụ phấn, thụ tinh và năng suất của các dòng là vô cùng quan trọng, đòi hỏi cácnhà chọn tạo giống phải thực hiện thường xuyên, đánh giá và theo dõi một cách

tỉ mỉ, làm các phép thử nghiệm để chọn ra các dòng ưu tú Do vậy công tác chọntạo dòng vẫn được thực hiện nhằm tạo ra được những dòng ưu tú Trên cơ sở đó,

đề tài này chúng tôi tiếp tục tiến hành đánh giá khảo sát các giống, dòng hiện có

để tiếp tục chọn ra những dòng ưu tú nhất để phục vụ cho công tác thử khả năngkết hợp ở giai đoạn sau

5.2 Cơ sở thực tiễn.

Thừa Thiên Huế là một trong ngững tỉnh có diện tích trồng ngô lớn trong

cả nước Trong đó, các giống ngô nếp chiếm một diện tích lớn trong tổng diệntích trồng ngô của tỉnh Cây ngô nếp đã có mặt ở đây từ rất lâu đời nhưng chủyếu là giống của địa phương, năng suất và chất lượng không cao Trong khi đó,đây lại là vùng rất có tiềm năng để phát triển cây ngô nếp nhằm cung cấp nguồnnguyên liệu để chế biến ra các món đặc sản cho khách du lịch như chè bắp, bắpnướng, bắp luộc

Một trong những khó khăn cho việc phát triển cây ngô nếp tại Thừa ThiênHuế là bộ giống ngô nếp còn rất nghèo nàn, chưa đáp ứng được mục tiêu của thịtrường Mặt khác, một số giống một số giống ngô nếp có phẩm chất cao, đã cómặt tại Thừa Thiên Huế từ rất lâu nhưng hiện nay đã bị thoái hoa, phẩm chất vànăng suất bị giảm sút nghiêm trọng Vì vậy, việc nghiên cứu, chọn tạo và làmthuần một số dòng, giống ngô nếp có năng suất cao, phẩm chất tốt và thích hợp

Trang 16

với điều kiện khí hậu Thừa Thiên Huế để đưa vào khuyến khích mở rộng sản,nâng cao thu nhập của người dân là rất khả quan và cấp thiết.

Trang 17

PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành trên 5 dòng giống tương ứng với 5 công thức,trong đó lấy giống ngô nếp Cồn Hến làm đối chứng

I (Đối chứng) Giống ngô nếp Cồn Hến TT Huế

2 Nội dung nghiên cứu.

Xuất phát từ mục đích của đề tài, nội dung nghiên cứu gồm các vấn đề:

2.1 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và phát triển của các dòng, giốngngô nếp

2.2 Nghiên cứu về khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ củacác dòng, giống ngô nếp

2.3 Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số dòng,giống ngô nếp

2.4 Nghiên cứu về độ đồng đều của các dòng, giống ngô nếp

3 Phương pháp nghiên cứu.

3.1 Phương pháp bố trí thí nhiệm.

3.1.1 Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (RCD)với 5 công thức, 3 lần nhắc lại

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Trang 18

3.1.4.Khoảng cách cây - cây: 30cm.

3.1.5.Mỗi hốc gieo 3 hạt theo hình tam giác điều

3.1.6.Các chỉ tiêu theo dõi được theo dõi ngẫu nhiên trên 10 cây của mỗi ôthí nghiệm và được cắm cọc theo dõi

3.1.7.Các chỉ tiêu theo dõi được thu thập bằng cách quan trắc và đo đếmtrực tiếp trên đồng ruộng

3.2 Điều kiện thí nghiệm

3.2.1.Đất thí nghiệm.

Thí nghiệm được bố trí trên đất cát pha tại trung tâm nghiên cứu giống cây

trồng tứ Hạ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

3.2.2 Diễn biến khí hậu thời tiết.

Trang 19

Khí hậu thời tiết là yếu tố ảnh hưởng đến thời vụ, khả năng sinh trưởng pháttriển và chống chịu, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và phẩm chấtcủa ngô.

Ảnh hưởng của khí hậu thời tiết đến thí nghiệm trong vụ xuân 2008 đượctrình bày qua bảng sau

Bảng 3.1 Diễn biến khí hậu, thời tiết trong vụ Xuân 2008

Chỉ tiêu

Tháng

Nhiệt độ (oC) Độ ẩm (%) Lượng mưa

Số giờnắng

Trungbình

Max Min Trung

bình

Min Số

ngày

Lượngmưa

Trang 20

Tháng 1/2008, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chịu ảnh hưởng của 5 đợtkhông khí lạnh và không khí lạnh tăng cường vào các ngày 1-2, 14-15, 22-24,27-28 và 31 Do vậy rét và mưa phùn thường xuyên xẩy ra, trời âm u kéo dài.

Tháng 2/2008 tiếp tục chịu sự khống chế của không khí lạnh với 4 đợttăng cường vào ngày 7-8, 11-12, 17-18 và 26-27 Suốt tháng không có một gìơnắng, trời nhiều mây, có mưa, thời tiết tiếp tục rét hại kéo dài

Đặc điểm của thời tiết tháng 2 là nền nhiệt độ thấp, thấp nhất kể từ năm

1956 đến nay Thời tiết này không những có tác động mạnh đến các hoạt động

xã hội mà còn gây thiệt hại lớn cho sản xuất của nông nghiệp

Do điệu kiện thời tiết như vậy nên trong thời gian trên chúng tôi chưa tiếnhành gieo ngô

Sang tháng 3 mặc dù tại Huế còn chịu ảnh hưởng của không khí lạnh suyyếu nhưng thời tiết cũng có những chuyển biến tích cực Cả tháng có 132 giờnắng, thời tiết ấm dần lên Nhận thấy sự chuyển biến thuận lợi của thời tiếtchúng tôi đã tiến hành gieo ngô vào giai đoạn đầu tháng (4/3) Trong thời giannày số giờ nắng đã tăng lên tạo điệu kiện tương đối thuận lợi cho sự nảy mầmcủa hạt ngô Vào giai đoạn cuối tháng, thời tiết tiếp tục chuyển biến theo chiềuhướng thuận lợi, nhờ vậy cây ngô sinh trưởng phát triển tốt

Trong tháng 4/2008, đầu tháng thời tiết diễn biến tốt nắng ấm thuận lợicho cây ngô phát triển Giữa tháng do ảnh hưởng của đợt không khí lạnh tăngcường vào ngày 23-25/4 nên thời tiết thay đổi, gây mưa rào rải rác, một số nơimưa to đến rất to Cuối tháng thời tiết nắng ấm, xen kẻ có mưa, thuận lợi cho cây

Trang 21

Đất được làm tơi xốp, bằng phẳng, nhặt sạch cỏ dại có rãnh tưới và thoátnước.

Thúc lần1: Khi ngô 3 lá : 1/3 đạm + 1/2 kali

Thúc lần2: Khi ngô 7 lá : 1/3 đạm + 1/2 kali

3.2.3.4 Chăm sóc

Lần1: Khi cây được 3-5 lá: Vun xới quanh gốc kết hợp bón thúc đợt 1

Lần2: Khi cây được 7-9 lá: Xới xáo diệt cỏ dai kết hợp bón thuc đợt 2 Phảichú ý tưới nước đầy đủ, đặc biệt là trong giai đoạn trổ cờ, tung phấn, phun râuđến chín sữa

3.2.3.5 Phòng trừ sâu bệnh

Thường xuyên điều tra phát hiện sâu bệnh phòng trừ kịp thời

3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi.

Mỗi ô thí nghiệm lấy 10 cây theo 5 điểm chéo góc để theo dõi Dùng cọc trecắm sát các cây đó và đánh số thứ tự từ 1 đến 10 để tiến hành theo dõi

Tiến hành theo dõi những chỉ tiêu sau

Thời gian sinh trưởng:

- Gieo đến mọc: Khi có 50% số cây mọc

- Gieo đến 3 lá: Khi có 50% số cây có 3 lá

- Gieo đến 7 lá: Khi có 50% số cây có 7 lá

- Gieo đến xoắn ngọn: Khi có 50% số cây xoắn ngọn

- Gieo đến trổ cờ: Khi có 50% số cây trổ cờ

- Gieo đến tung phấn: Khi có 50% số cây tung phấn

Trang 22

- Gieo đến phun râu: Khi có 50% số cây có râu dài 2 – 3 cm.

- Gieo đến chín sữa: Khi có 50% số cây chín sữa

- Gieo đến chín sáp: Khi có 50% số cây chín sáp

Chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

- Số lá trên cây: Dùng sơn đánh dấu lá thứ 5 ( kể cả lá mầm ) và lá thứ 10 đểđếm số lá được chính xác Theo dõi 10 ngày một lần đến khi đạt số lá tối đa

- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến mút lá cao nhất để lấy chiều cao từngthời kỳ, theo dõi 10 ngày một lần

- Diện tích lá đóng bắp: Đo chiều rộng đo ở vị trí rộng nhất của lá, chiều dài

đo phiến lá Đo lúc ngô chín sữa

- Tổng số lá của cây: Lấy số lá cuối cùng của cây khi cây đã trổ cờ

- Chiều dài bắp ( cm ): Đo từ đầu bắp đến mút bắp Đo bắp của các cây theodõi

- Đường kính bắp ( cm ): Đo ở phần giữa của bắp Đo bắp của các cây theodõi

- Dạng bắp: Cho điểm 1 – 5 lúc thu hoạch:

Điểm 1( tốt nhất ): Bắp hình trụ, hạt đều, múp đầu, sít hạt, không sâu bệnh.Điểm 2 đến 5 bắp xấu dần, điểm 5 là dạng xấu nhất

- Đánh giá lá bi: Cho điểm 1 – 5 lúc thu hoạch

Điểm 1( tốt ): Lá bi phủ kín đầu bắp, chặt

Điểm 2 ( khá ): Lá bi phủ vừa kín đầu bắp

Điểm 3 ( hở đầu ): Phủ không chặt

Điểm 4 ( hở hạt ): Không phủ hết bắp, hở ở đầu hạt

Điểm 5: Không chấp nhận được, hạt lộ rỏ đầu bắp, lá bi xấu

- Dạng hạt: Đá, nữa đá, bán răng ngựa, răng ngựa

Trang 23

- Màu sắc hạt: Trắng, vàng nhạt, vàng, vàng đậm, đỏ, nâu đỏ, tím.

- Màu sắc lõi: Trắng, nâu, đỏ

Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

- Số bắp hữu hiệu trên cây: Đếm toàn bộ các cây có trên ô

- Số hàng trên bắp: Đếm các bắp của cây theo dõi

- Số hạt trên hàng: Đếm mỗi bắp một hàng của các cây theo dõi

- Trọng lượng 1000 hạt (gam)

Về khả năng chống chịu sâu bệnh

- Sâu đục thân: Theo dõi giai đoạn trổ cờ đến chín sáp Tính tỷ lệ % số cây

- Tính chỉ số chiều cao đóng bắp/chiều cao cây ( % )

- Tính phần trăm số cây bị nghiêng một góc 30o so với chiều thẳng đứng củacây sau khi có mưa to

3.2.5 Hệ số biến động của một số chỉ tiêu chính.

Trang 24

- Tính hệ số biến động của một số chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao cuối cùng,chiều cao đóng bắp, số lá trên cây, chiều dài bắp, đường kính bắp, trọng lượngngàn hạt.

Trong đó: n: Số cá thể theo dõi

xi: Cây theo dõi

X : Giá trị trung bình của xi

3.2.6 Xử lý thống kê kết quả thí nghiệm

Kết quả thí nghiệm được xử lý trên phần mềm SXW

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 14/08/2014, 18:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới trong năm 2005 - 2006 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới trong năm 2005 - 2006 (Trang 6)
Bảng 3. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001-2006 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001-2006 (Trang 7)
Bảng 4: Tình hình sản xuất ngô trong nước       Chỉ tiêu - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Tình hình sản xuất ngô trong nước Chỉ tiêu (Trang 9)
Bảng 4: Tình hình sản xuất ngô ở một số tỉnh khu vực Miền Trung - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Tình hình sản xuất ngô ở một số tỉnh khu vực Miền Trung (Trang 10)
Bảng 2.4:Tình hình sản xuất ngô ở Thừa Thiên Huế từ năm 2000-2006 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Thừa Thiên Huế từ năm 2000-2006 (Trang 11)
Bảng 3.1. Diễn biến khí hậu, thời tiết trong vụ Xuân 2008 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.1. Diễn biến khí hậu, thời tiết trong vụ Xuân 2008 (Trang 19)
Bảng 1:Thời gian sinh trưởng và phát triển của một số giống, dòng ngô nếp. - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1 Thời gian sinh trưởng và phát triển của một số giống, dòng ngô nếp (Trang 26)
Bảng 2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống, dòng ngô nếp. - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống, dòng ngô nếp (Trang 30)
Bảng 3: Động thái ra lá của các giống, dòng qua các giai đoạn - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3 Động thái ra lá của các giống, dòng qua các giai đoạn (Trang 34)
Hình thái là một chỉ tiêu quan trọng trong việc phân loại giống, dòng cũng như việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và cho năng suất của các giống, dòng - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Hình th ái là một chỉ tiêu quan trọng trong việc phân loại giống, dòng cũng như việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và cho năng suất của các giống, dòng (Trang 36)
Bảng 4 : Một số chỉ tiêu về hình thái của các giống, dòng - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Một số chỉ tiêu về hình thái của các giống, dòng (Trang 37)
Bảng 5: Tình hình sâu ,bệnh hại của các giống,dòng ngô nếp - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 5 Tình hình sâu ,bệnh hại của các giống,dòng ngô nếp (Trang 40)
Bảng 22: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất của một số dòng, giống ngô nếp trong vụ xuân 2008 tại trung tâm nghiên cứu giống cây trồng tứ hạ, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 22 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w