HUYỆT TỔNG TRỊ : Trấn thống, hay Thông lạc, Xả cân Phong thấp làm cho sưng đau.. – Huyệt Áp thống đánh tan các tà khí Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt tại khu đau... Ba huyệt này dùng để trấn th
Trang 1PHẦN THỨ BA
CHÂM CỨU TRỊ
MỤC LỤC
1 KHÁI THUYẾT
1.1 CHÂM
1.2 CỨU
2 HUYỆT TỔNG TRỊ : Trấn thống, hay Thông lạc, Xả cân
2.1 HUYỆT ÁP THỐNG
2.2 HUYỆT CHUYỂN KINH
2.3 HUYỆT THÔNG KINH
3 HUYỆT CHUYÊN KHOA
3.1 PHONG MẠNH
3.1.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
3.1.2 HUYỆT TỔNG TRỊ
3.2 HÀN MẠNH
3.2.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
3.2.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
3.3 THẤP MẠNH
3.3.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
3.3.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
3.4 NHIỆT MẠNH
3.4.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
3.4.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁC
4.1 ĐIỆN CHÂM
4.1.1 DÙNG ĐỂ TRẤN TĨNH CƠN ĐAU
4.1.2 DÙNG ĐỂ KÍCH THÍCH KIM
4.2 NHĨ CHÂM PHÁP
4.2.1 HUYỆT TỔNG TRỊ,
4.2.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
5 CỨU TRỊ
6 THỦY CHÂM PHÁP
7 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU KHÁC
8 SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
8.1 CHÂM THÂN
8.2 ĐIỆN CHÂM
8.3 NHĨ CHÂM
8.4 CỨU TRỊ
Trang 28.5 THỦY CHÂM
9 LƯU KIM
10 PHƯƠNG PHÁP THAO TÁC
11 ĐIỀU TRỊ
11.1 CÁC BỆNH CẤP TÍNH, và PHONG THẤP NHIỆT
11.2 CÁC BỆNH KINH NIÊN (MÃN TÍNH )
Trang 3CHÂM CỨU TRỊ
1 KHÁI THUYẾT
Theo quan niệm cổ của y học Việt Nam và Trung Hoa, châm cứu trị bao gồm :
1.1 CHÂM
Thường người ta chỉ biết có châm thân, tức dùng các huyệt của 12 đường kinh và Kỳ
kinh bát mạch Nhưng vào đầu thế kỷ thứ 20, căn cứ theo khoa Anatomy của Tây y,
các châm cứu gia tìm ra trên loa tai, bàn tay, bàn chân, mũi, đầu có những điểm
phản xạ tương ứng với các bộ phận của cơ thể Châm vào những điểm đó, cũng các
kết quả như châm thân Hiện có các loại châm sau :
Châm thân, châm các huyệt đạo của 12 đường kinh và Kỳ kinh bát mạch
Nhĩ châm, châm trên loa tai Trên loa tai có hình một người nằm ngược
Thủ châm, châm trên bàn tay Trên bàn tay cũng có hình một người nằm co chân
Dùng kim châm vào các huyệt đặc biệt trên bàn tay,cũng có kết quả
Túc châm, cũng như nhĩ châm, thủ châm, túc châm là châm trên bàn chân Khoa
này dùng những huyệt đặc biệt trên bàn chân, chứ không phải những kinh huyệt tại
bàn chân
1.2 CỨU : Ôn cứu, nhiệt cứu, giác hơi, xông hơi
Bởi vậy trong phần này bao gồm tất cả phương pháp châm, cứu trên
Trái với những trình độ trước, khi học điều trị về chứng đau nhức, chỉ học cách châm
sao cho cơn đau nhức giảm, không đi vào những biện chứng sâu xa Ở đây châm
cứu trị được sử dụng vào việc điều trị tận căn nguyên của bệnh
Biện chứng và nguyên tắc thi trị cũng giống như phần dược trị
Bệnh Phong thấp thấp do bốn tà :
Dương tà : Phong, nhiệt,
Âm tà : Hàn, thấp,
2 HUYỆT TỔNG TRỊ : Trấn thống, hay Thông lạc, Xả cân
Phong thấp làm cho sưng đau Vì vậy trị pháp đầu tiên là sao tuyệt sưng đau Tuyệt
sưng đau phải dùng huyệt tổng trị Huyệt tổng trị là những huyệt áp dụng chung cho
tất cả các loại Phong thấp, dù là Hành tý, Thống tý, Trứ tý hay Nhiệt tý Huyệt tổng
trị dùng để chống sưng (viêm), triệt tiêu đau nhức Hay nói theo chuyên môn :
Thông lạc, Xả cân.Y kinh định rõ : Bất thông tắc thống Nghĩa là không thông thì
đau Ngược lại, thông tắc bất thống Nghĩa là thông thì hết đau Lâm sàn, có ba loại
huyệt tổng trị : Áp thống, Thông kinh, Chuyển kinh
– Huyệt Áp thống đánh tan các tà khí Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt tại khu đau
Trang 4– Huyệt Chuyển kinh, giúp tà khí tản ra khắp kinh
– Huyệt Thông kinh làm tà khí thoát ra khỏi cơ thể
Ba huyệt này dùng để trấn thống hay trong khoa Phong thấp còn gọi là
Thông lạc, Xả cân.
2.1 ÁP THỐNG
Huyệt Áp thống, cổ y học gọi là dĩ thống vi du, tức lấy chỗ đau làm huyệt Bệnh
Phong thấp gây ra đau là do kinh lạc huyết mạch bế tắc, gây sưng nhức và đau nhất
định Muốn thông lạc phải châm huyệt áp thống Nguyên tắc định huyệt Áp thống
như sau : Trong khu đau nhất định đó, có :
– Một, hai hay ba kinh chạy qua Trên các kinh ấy, đoạn nằm trong khu đau có
những huyệt nào thì gọi là huyệt Áp thống có tên
Tỷ dụ : Đầu gối sưng, thì huyệt áp thống là : Độc tỷ(E35), Tất nhãn (Kỳ huyệt),
Dương lăng tuyền (VB34), Âm lăng tuyền (RP9), Khúc tuyền (F8), Tất
dương quan (VB33), Huyết hải (RP10), Lương khâu (E34) Như cả bàn tay
sưng thì dùng huyệt : Hiệp cốc (GI4) hướng bàn tay, Thủ bát phong, Dương
khê (GI5), Dương trì (TR4), Dương cốc (IG5).
Cần cổ sưng đau thì dùng Hoa Đà giáp tích huyệt tương ứng với khu đau nhức
Gót chân sưng đau thì dùng huyệt Giải khê (E41), Khâu hư (VB40), Thương
khâu (RP5), Trung phong (4), Thủy tuyền R5), Thân mạch (V62)
– Nhưng khu đau nhức nhiều khi không có kinh chạy qua, hoặc khu này quá lớn,
nằm xa huyệt Áp thống có tên, trường hợp này y sĩ tự định lấy những huyệt, gọi là
huyệt Áp thống không tên Cách định huyệt Áp thống không tên gọi là dĩ thống vi du
tức lấy chỗ đau làm huyệt Khi lâm sàn, thầy thuốc lấy mỗi cm2 là một huyệt
Tùy theo khu, dù huyệt Áp thống có tên hay không đều dùng kim lớn, nhập kim
nhanh, mạnh
2.2 HUYỆT CHUYỂN KINH
Huyệt chuyển kinh là huyệt nằm trên kinh chạy qua khu đau nhức Trên đoạn kinh
chạy qua khu đau nhức, hai huyệt tiếp giáp với khu đau gọi là huyệt chuyển kinh
Tỷ dụ : Khu đau là phần giữa xương sống từ D2 đến D5 Khu này có Túc thái dương
bàng quang kinh và Đốc mạch
Huyệt Áp thống có tên :
– Trên Bàng quang kinh gồm : Phong môn (V12), Phế du (V13), Khuyết âm du
(V14) Tâm du (V15).
– Trên Đốc mạch gồm : Đào đạo (VG13), Thân trụ (VG12), Thần đạo (VG11).
Huyệt Áp thống không tên :
Trang 5– Trên Bàng quang kinh : Không cần, vì huyệt Áp thống có tên đã đầy đủ.
– Trên Đốc mạch : Vưu danh (Nằm giữa Đào đạo (VG13) và Thân trụ
(VG12)), Cự khuyết du (Nằm giữa Thân trụ (VG12) và Thần đạo (VG11)).
Huyệt chuyển kinh : :
– Trên Đốc mạch gồm : Đào đạo (VG13), Linh đài (VG10).
– Trên Bàng quang kinh gồm : Đại trữ (V11), Cách du (V17).
Hầu như tất cả các châm cứu gia dù trình độ thấp hay cao đều biết xử dụng hai loại
huyệt này Tuy nhiên nếu không biết xử dụng huyệt Thông kinh nói dưới đây thì :
– Không trấn áp cơn đau tại chỗ được,
– Bệnh lâu khỏi hay không khỏi
2.3 HUYỆT THÔNG KINH
Huyệt Thông kinh, phải châm sau huyệt Áp thống và Chuyển kinh Huyệt Thông
kinh, không có nguyên tắc nào cả Dưới đây là những huyệt Thông kinh dùng cho
từng khu :
– HẬU KHÊ (IG3) : Khu phía ngoài lưng bàn tay, cánh tay, sau vai sau, cần cổ, sau
đầu, đỉnh đầu, trán
– HIỆP CỐC (GI4) : Khu phía trong lưng bàn tay, cánh tay, vai trước, phía trước
cổ, toàn bộ khu mặt từ mắt trở xuống
– NỘI QUAN (MC6), CÔNG TÔN (RP4) : Toàn bộ mặt trong bàn tay, cánh tay,
lồng ngực Mặt trong bàn chân, ống chân, đùi Tâm, Phế, Vị, Tỳ, Can
– TAM ÂM GIAO (RP6) : Mặt trong ống chân, đùi, bộ phận sinh dục, tiểu trường,
đại trường Bụng dưới
– TRƯỜNG CƯỜNG (VG1), NHÂN TRUNG (VG25) : Thông Đốc mạch bao gồm
khu mặt, đầu, cổ, sống lưng, ngang lưng, mông
– TÚC TAM LÝ (E36) : Hiệp huyệt của Túc dương minh vị kinh Dùng cho toàn bộ
bụng trên, bụng dưới
Ngoài ra còn có thể dùng Kinh huyệt của các kinh Vì Y kinh nói : Sở hành vi Kinh
Nghĩa là khí có thể chạy khắp kinh kể từ Kinh huyệt
3 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Huyệt chuyên khoa là huyệt đặc trị dành cho bốn loại Phong thấp khác nhau : Hành
tý, Thống tý, Trứ tý, Nhiệt tý Nếu chỉ châm các huyệt Áp thống, Thông kinh, Chuyển
kinh thì :
– Bệnh lâu khỏi hay đôi khi không thuyên giảm,
Trang 6– Bệnh tuy bớt, nhưng mau tái phát.
3.1 PHONG MẠNH (Phong phong thấp chạy, Tê thấp chạy, Hành tý)
3.1.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Sơ phong làm chính,
Thông lạc, lợi thấp, xả cân làm phụ
3.1.2 HUYỆT TỔNG TRỊ : Trấn thống để Thông lạc, Xả cân.
Đã trình bày ở trên, mục đích thông lạc, xả cân, gồm Áp thống, Chuyển kinh, Thông
kinh
3.1.3 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Huyệt sơ phong :
Phong, Hàn, Thấp cùng xâm nhập mà phong mạnh Phong là Dương tà, tính của
phong là Thiện hành, đa biến Nên thường nay sưng chỗ này mai sưng chỗ khác
Nếu cứ châm huyệt áp thống, chuyển kinh, thông kinh thì khó trị được Sau khi châm
huyệt tổng trị, thêm một số huyệt chuyên khoa sơ phong và lợi thấp nữa
Phong là Dương tà, nên khi nhập vào cơ thể thường theo các Dương kinh, nhất là
Thái dương kinh và Đốc mạch Bởi vậy dùng một số huyệt trên dương kinh, để giải
biểu thì Phong sẽ nhạt đi
TAM PHONG HUYỆT, tức ba huyệt có tính năng khu phong : PHONG TRÌ
(VB20), Giao hội huyệt của Túc thiếu dương và Dương duy, hiệu năng để Sơ phong,
và giải nhiệt PHONG PHỦ (VG16), PHONG MÔN (V12)
ĐẠI TRÙY (VG14), BÁCH HỘI (VG20), Giao hội huyệt của Lục dương kinh (sáu
kinh dương) và Đốc mạch hiệu năng là Giaỉ biểu, thông dương bởi ngoại phong là
biểu chứng
HIỆP CỐC (GI4), Nguyên huyệt của thủ dương minh kinh, hiệu năng Sơ phong,
giải biểu, thông lạc
HẬU KHÊ (IG3), Du huyệt của Thủ thái dương; một trong Bát mạch giao hội huyệt
thông với Đốc mạch, hiệu năng để xả cân mạch
KHÚC TRÌ (GI11), Hiệp huyệt của Thủ dương minh kinh Hiệu năng Sơ phong giải
biểu, thanh nhiệt lợi thấp
KIÊN NGUNG (GI15), Giao hội của Thủ dương minh và Dương kiêu mạch Hiệu
năng để thông dương khí giữa Thủ dương minh kinh và Duơng duy
Trang 7DƯƠNG LĂNG TUYỀN (VB34), Hiệp huyệt của Thủ thiếu dương kinh, hội huyệt
của cân Hiệu năng để thanh thấp nhiệt, cường cân cốt
HUYỀN CHUNG (VB39) còn có tên là Tuyệt cốt, Thuộc Túc thiếu dương kinh,
cũng là Lạc huyệt của ba kinh dương chân Đây là huyệt tổng hội tủy trong cơ thể Y
kinh nói Tủy hội tuyệt cốt Hiệu năng thông ba kinh dương chân, làm mạnh gân,
tủy
Sau khi trị một vài lần như vậy, thì Phong dương tà đã bị sơ tán đi, ba tà Phong,
Hán, Thấp còn lại bằng nhau, trên thân chỉ ứ đọng lại một vài chỗ đau Bây giờ còn
phải châm huyệt áp thống, chuyển kinh, thông kinh để Thông lạc, Xả cân mà thôi
Lợi thấp : Tỳ chủ vận hóa thấp, vì vậy phải thêm huyệt kích thích tỳ Nhưng tỳ và vị
tương thông biểu lý Tỳ thuộc lý, vị thuộc biểu, nên dùng huyệt Túc tam lý (E36) là
Hiệp huyệt của Túc dương minh vị kinh hầu kích thích vị Thêm huyệt Trung uyển
(VC12) là mộ huyệt của vị
Tóm lược trị Hành tý
Huyệt khu phong, giải biểu :
Tam phong (Phong phủ VG16, Phong trì VB20, Phong môn V12), Đại chùy (VG14),
Hiệp cốc (GI4), Hậu khê (IG3), Khúc trì (GI11), Kiên ngung (GI15), Dương lăng
tuyền (VB34), Huyền chung (VB39),
Huyệt thông lạc xả cân : Huyệt Áp thống, chuyển kinh, thông kinh.
Huyệt lợi thấp, Túc tam lý (E36), Trung uyển (VC12)
3.2 HÀN MẠNH, Phong thấp lạnh,Tê thấp lạnh, Thống-tý
3.2.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Ôn kinh, thông lạc, tán hàn, trừ thấp,
3.2.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Phong, Hàn, Thấp cùng xâm nhập, mà Hàn mạnh thì sinh ra Thống-tý Hàn là Âm tà
Khi Âm tà nhập được vào thì tức là Khí bị hư Bởi nguyên do mắc bệnh là trong
người khí, huyết hư Khi khí hư, thì dương biểu không đủ để bảo vệ cơ thể Khí đây
là Nguyên khí Gốc của Nguyên khí là thận Khi thận dương hư thì Nguyên dương hư,
sinh ra Phong-thấp-lạnh
Huyệt sơ phong
Phong thấp lạnh, tuy Hàn mạnh, Phong và Thấp nhẹ, nhưng Phong tà là thủ phạm
đầu tiên gây ra, nên vẫn phải dùng huyệt sơ phong : Tam phong huyệt (Phong
trì (VB20), Phong phủ (VG16), Phong môn (V12) Phong là dương tà, sễ làm
biến đi, nên khi trị ba, bốn lần, thì không cần nữa
Trang 8Huyệt trừ thấp
Thêm các huyệt trừ thấp : Trung-uyển (VC12), Túc tam lý (E36).
Ôn kinh tán hàn, thông lạc
Dùng huyệt Thận du (V23), để thông Thận khí, thêm Quan nguyên (VC4) là gốc
của Nguyên khí, thêm Khí Hải (VC6) là bể của khí Châm xong thì dùng cứu cách
gừng, cách tỏi hay ôn cứu Cứu càng lâu càng tốt Như vậy Nguyên khí sẽ mạnh, làm
tan hàn
Phong-thấp-lạnh thì chân tay lạnh, bởi thiếu Dương khí Vậy tùy theo nặng nhẹ mà
thêm một số huyệt làm cho chân tay khí huyết lưu thông, làm ấm lên
Nếu bàn tay lạnh thêm : Ngoại quan (TR5), Dương trì (TR4), Dương khê
(GI5), Dương cốc (IG5)
Nếu lạnh cả cánh tay thì thêm Khúc Trì (GI11), Hiệp cốc (GI4) hướng Lao cung
(MC8) Nếu lạnh tới cùi chỏ thì thêm Kiên ngung (GI15).
Nếu chân lạnh thì thêm Huyền chung (VB39), Thân mạch (V62), Túc bát
phong Nếu lạnh tới ống quyển thì thêm Dương lăng tuyền (VB34), Thừa sơn
(V57).
Bảng tóm lược trị Thống tý
Sơ phong, Tam phong huyệt (Phong trì VB20, Phong phủ VG16, Phong môn V12)
Chỉ dùng từ 3 đến 4 lần đầu
Ôn kinh, Châm rồi cứu các huyệt Thận du (V23), Quan nguyên (VC4), Khí hải (VC6)
Thông lạc, tán hàn , Huyệt Áp thống, huyệt chuyển kinh, huyệt thông kinh
Tùy theo khu vực chân, tay, vai lạnh, thêm ít huyệt tại chỗ đau
Huyệt trừ thấp, Thêm Trung uyển (VC12), Túc tam lý (E36)
3.3 THẤP MẠNH, Phong-thấp-ướt, Tê-thấp, Trứ-tý
3.3.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Trừ thấp, xả cân,
Sơ phong, Tán hàn thông lạc,
3.3.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Khi Khí huyết hư, mà bịPhong thấp-ướt thì có nghĩa là bị Thấp mạnh Thấp là Âm tà
Khi âm tà xâm nhập tức là Dương khí hư Chứng thấp mạnh thì trong người nhiều
Trang 9nước, chân tay tê, đi đứng nặng nề Thấp mạnh tức là Tỳ vị khí hư hao vận hóa
không được
Phải dùng các huyệt :
Trừ thấp :
Trung uyển (VC 12) mộ huyệt của vị,
Túc tam lý (E36) hiệp huyệt của vị để kiên tỳ vị
Công tôn (RP4), Nội quan (MC6) để tổng trị vị, tâm, lồng ngực.
Giải khê (E41), là Kinh huyệt của Túc dương minh vị kinh để thông kinh Y kinh nói
: Sở hành vi kinh
Kinh nghiệm cho biết những người bị Phong-thấp-nước thường ở trạng thái giống
như phù thủng Sau khi châm cứu, nước thoát ra ngoài, người gầy đi Điều mà phụ
nữ rất ưa thích Muốn nước thoát ra mau thì thêm huyệt Trung cực (VC2), mộ
huyệt của Bàng quang như, Thủy đạo (E28), Thái khê (R3), Phục lưu (R4) để
nước ra ngoài mau
Sơ phong
Dùng Tam phong huyệt (Phong trì VB20, Phong phủ VC16, Phong môn V12).
Tán hàn thông lạc, xả cân,
Thêm một số huyệt tại những khu vực bị tê trên chân tay như Khúc trì (GI11),
Hiệp Cốc (GI4), Phong long (E40), Tam âm giao (RP6) Huyệt Áp thống,
chuyển kinh, thông kinh.
Bảng tóm lươc trị Trứ tý
Huyệt trừ thấp : Trung uyển (VC12), Túc tam lý (E36), Công tôn (RP4), Giải khê
(E41), Trung cực (VC2), Thủy đạo (E28), Thái khê (R3) Phục lưu (R4)
Huyệt sơ phong : Tam phong huyệt (Phong trì VB20, Phong phủ VC16, Phong môn
V12)
Huyệt tán hàn thông lạc xả cân : Áp thống, Chuyển kinh, Thông kinh.
3.4 NHIỆT MẠNH, Phong-thấp-nhiệt, Tê-thấp-nhiệt, Nhiệt-tý, Y thư Trung
Hoa thường dùng chữ Nhiệt-thắng
3.4.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Thanh nhiệt,
Trừ thấp,
Sơ phong, thông lạc,
3.4.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Phong thấp nhiệt là do khí huyết hư suy, bị Phong, Thấp, Nhiệt xâm nhập gây ra, mà
trong đó Nhiệt thịnh hoặc là Nhiệt uất ở trong, rồi gặp Phong thấp ngoại nhập, hoặc
là do Thấp nhiệt bên trong mà Nhiệt mạnh
Sơ phong thanh nhiệt : Tam phong (Phong trì VB20, Phong phủ VG16,
Phong môn V12),
– Nhiệt là dương tà, khi nhiệt nhập được vào thân thể là do Khí huyết hư Nhưng khi
huyết âm hư thì dương nhiệt mới nhập được Vậy Phong-thấp-nhiệt là do huyết hư
Trang 10– Để bổ huyêt dùng các huyệt Cách du (V17) là hội huyệt của huyết Huyết hải
(RP10) là bể của huyết, Thái xung (F3) là Nguyên huyệt của can, vì Y kinh nói
Can tàng huyết
– Dùng các huyệt thanh nhiệt, sơ phong : Đại trùy (VG14), Bách hội (VG20),
Khúc trì (GI11), Hiệp cốc (GI4), Hậu khê (IG3), Kiên ngung (GI15), Dương
lăng tuyền (VB34) và Huyền chung (VB39)
Nếu sốt thêmThiếu trạch (IG1), Thiếu thương (P11)
Thông lạc, Huyệt Áp thống, chuyển kinh, thông kinh,
Trừ thấp, Túc tam lý (E36), Trung uyển (VC12).
Bảng tóm lược trị Nhiệt tý
Huyệt sơ phong thanh nhiệt : Tam phong (Phong trì VB20, Phong phủ (VC16),
Phong môn (V12)), Đại trùy (VG14), Bách hội (VG20), Khúc trì (GI11), Hiệp cốc
(GI4), Hậu khê (IG3), Kiên ngung (GI15), Dương lăng tuyền (VB34) và Huyền chung
(VB39) Sốt thêm Thiếu trạch (IG1), Thiếu thương (P11)
Huyệt thông lạc : Áp thống, chuyển kinh, thông kinh
Trừ thấp : Túc tam lý (E36), Trung uyển (VC12)
Bổ huyết : Cách du (V17), Huyết hải (RP10).
4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁC
4.1 ĐIỆN CHÂM , Trong tất cả các loại bệnh điều trị bằng châm cứu, thì
Tê-thấp là loại trị bằng điện châm kết quả mau nhất Những huyệt dùng để
châm trị, đều dùng điện châm được cả Điện châm có tác dụng :
- Dùng để trấn tĩnh cơn đau tức thời
- Dùng để thay y sĩ xoay kim
4.1.1 DÙNG ĐỂ TRẤN TĨNH CƠN ĐAU
Bệnh nhân đang lên cơn đau nhức, dùng kim châm ngay các áp thống, xoay kim cho
đến khi bệnh nhân cảm thấy chỗ châm tê rần mới thôi Bấy giờ gắn diện châm
- Cường độ để thấp hoặc trung bình (Không ghi vào đây, vì còn tùy máy)
- Tần số thực cao, cao bằng cách làm tê để giải phẫu Khi bệnh nhân cảm thấy tê
rần, không biết đau, không còn cảm giác đau, thì tăng dần cường độ lên, và hạ tần
số xuống
4.1.2 DÙNG ĐỂ KÍCH THÍCH KIM
Thông thường khi châm rồi, thì cứ 5 hay 10 phút y sĩ phải kích thích kim một lần
Như vậy thì mất nhiều thời giờ, dùng điện châm thay thế Sau khi châm, xoay kim
cho đến khi bệnh nhân cảm thấy tê rần, thì gắn điện châm, tần số thấp, cường độ
trung bình hoặc cao
- Những huyệt sau đây không nên dùng điện châm : Phong trì (VB20), Phong
phủ (VG16), Á môn (VG15) Đã có một vài tai nạn xảy ra khi dùng điện châm với
cường độ cao tại các huyệt này