1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Điều trị bệnh phong thấp bằng Y Học Á Châu ( Trần Đại Sỹ ) - Phần 2 ppt

26 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 726,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thang thuốc điều trị Khu phong thang, Phong, hàn, thấp, ba tạp khí đều xâm nhập, hợp lại là tý chứng.. Thang thuốc điều trị Chứng bệnh này phát tác đa số do mưa khí nặng nề, vào tháng 3,

Trang 1

PHẦN THỨ NHÌ

BIỆN CHỨNG và DƯỢC TRỊ

MỤC LỤC

1 TRIỆU CHỨNG, PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TRONG SÁCH CỔ

1.1 Sách Thiên Kim Phương Tôn Tư Mạo (581-682) đời Đường

1.2.2 Thang thuốc điều trị

1.3 Sách Tam Nhân Phương của Trần Vưu Trạch (1174) đời Tống

1.3.1 Nguyên nhân phát bệnh

1.3.2 Triệu chứng của bệnh

1.3.3 Thang thuốc điều trị

1.4 Sách Nho Môn Sự Tán của Lưu Hà Giản (1217 - 1221) đời Kim, Nguyên

1.4.1 Nguyên nhân phát bệnh

1.4.2 Triệu chứng của bệnh

1.4.3 Thang thuốc điều trị

1.5 Sách Chứng Nhân Mạch Trị của Trần Cảnh Minh (1644) đời Minh

1.5.1 Nguyên nhân phát bệnh

1.5.2 Triệu chứng của bệnh

1.5.3 Thang thuốc điều trị

1.6 Sách Chứng Trị Hối Bổ của Lý Dụng Túy (1687) đời Thanh

1.6.1 Nguyên nhân phát bệnh

1.6.2 Triệu chứng của bệnh

1.6.3 Thang thuốc điều trị

1.7 Sách Y Tông Kim Giám của Ngô Khiêm (1742) đời Thanh

1.7.1 Nguyên nhân phát bệnh

1.7.2 Triệu chứng của bệnh

1.7.3 Thang thuốc điều trị

2 NGUYÊN DO PHÁT SINH

Trang 2

2.1 HOÀN CẢNH SINH HOẠT : Thấp tà nhập

2.2 KHÍ HẬU THAY ĐỔI : Phong tà, Hàn tà nhập

2.3 NGƯỜI YẾU DƯƠNG HƯ : Phong, Hàn, Thấp nhập

2.4 BIỂU HÌNH NGUYÊN DO CHỨNG PHONG THẤP

3.6 CHÂN TAY RUN

3.7 MẠCH VÀ LƯỠI CỦA CHỨNG PHONG THẤP

4 CHỨNG PHONG THẤP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

7.1 THỨ NHẤT : Sơ phong trừ thấp, ôn kinh thông lạc

7.2 THỨ NHÌ : Thanh nhiệt trừ thấp, ôn kinh thông lạc

7.3 THỨ BA : Trị bệnh Phong thấp cần phải có phụ trợ

7.4 LỜI KHUYÊN CĂN BẢN

7.5 TÓM LƯỢC BỐN LOẠI PHONG THẤP

7.5.1 HÀNH TÝ, phong thấp chạy, tê thấp chạy

7.5.2 THỐNG TÝ, phong thấp lạnh, tê thấp lạnh

7.5.3 TRỨ TÝ, phong thấp tê, tê thấp tê

7.5.4 NHIỆT TÝ, phong thấp nhiệt, tê thấp nhiệt

8 LIỆT KÊ 17 DANH GIA CỔ TRỊ BỆNH PHONG THẤP

8.1 Ô DẦU THANG trong sách Kim Quĩ Yếu Lược

8.2 QUẾ CHI PHỤ TỬ THANG trong sách Thương Hàn Luận

8.3 ĐỘC HOẠT KỲ SINH THANG trong sách Thiên Kim Phương

8.4 TIỂU HOẠT LẠC ĐƠN trong sách Cúc Phương

8.5 CAN TÝ THANG trong sách Thọ Thế Bảo Nguyên

8.6 ĐẠI TẦN GIA TÝ THANG trong sách Chứng Nhân Mạch Trị

8.7 KHƯƠNG HOẠT THẮNG THẤP THANG trong sách Chứng Trị Hối Bổ

8.8 CẢI ĐỊNH TÂM TÝ THANG trong sách Trương Thị Y Thông

Trang 3

8.9 HÀNH TÝ CHỦ PHƯƠNG trong sách Cố Thị Y Cảnh

8.10 QUYÊN TÝ THANG trong sách Y Học Tâm Ngữ

8.11 TAM TÝ THANG trong sách Y Tông Kim Giám

8.12 XẢ CÂN TÁN trong sách Lan Đài Qui Hoàn

8.13 THÂN THỐNG TRỤC Ô THANG trong sách Y Lâm Cải Thác

8.14 GIA VỊ TAM DIÊU TÁN trong sách Nghiệm Phương

8.15 HỔ TIỀM HOÀN trong sách Đơn Khê Phương

8.16 KHU PHONG THANG, TÁN HÀN THANG, TÁO THẤP THANG, TÁN NHIỆT

THANG trong Y Học Cổ Phương

8.17 PHONG THẤP ĐƠN trong sách Y Học Cải Phương

Trang 4

PHẦN THỨ NHÌ

BIỆN CHỨNG và DƯỢC TRỊ

1 TRIỆU CHỨNG, PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TRONG SÁCH CỔ

Chứng phong thấp đã được nói đến trong bộ sách cổ nhất là Nội Kinh Nội Kinh ra

đời trước Thiên Chúa Người sau, học Nội Kinh, nghiên cứu rộng thêm, thu thái kinh

nghiệm, đưa ra phương pháp diều trị, mỗi thời một hoàn hảo hơn Trong bài nghiên

cứu này, chỉ xin trình bầy những nghiên cứu có giá trị nhất để độc giả có cái nhìn

rộng hơn Đa số những lý thuyết này nay chỉ còn dùng được một phần Nhưng,

những nhà nghiên cứu hay những thầy vườn, đọc đâu dó, được một phần trong các

sách này, vội cho rằng đó là thuốc tiên, thuốc thánh, rồi khoe rằng gia truyền Thực

là hủ lậu, thực là ngớ ngẩn Một số nhà nghiên cứu Tây phương không biết chữ

Trung quốc, được một người dịch cho vài bộ sách cổ dưới đây, rồi cho rằng đó là bộ

sách toàn khoa Phong thấp

Tuy chứng Phong thấp sớm tìm ra, nhưng phải đến thế kỷ thứ sáu, Tôn Tư Mạo mới

thực sự đặt thành cơ sở vững chắc:

– Nguyên do mắc bệnh (lý)

– Triệu chứng của bệnh (pháp)

– Phương thuốc điều trị (phương)

Kể ra có ít nhất vài trăm y gia để lại công trình, nhưng tôi chỉ trình bày mỗi thời một

công trình tiêu biểu nhất Tuy nhiên những công trình này, ngày nay hầu như lỗi

thời

1.1 Sách Thiên Kim Phương của Tôn Tư Mạo (581-682) đời Đường

1.1.1 Nhuyên nhân phát bệnh

Dương khí ít mà âm khí nhiều, làm cho thân mình hàn, lạnh Người dương khí nhiều

mà âm khí ít thì sinh tý nhiệt,

1.1.2 Triệu chứng của bệnh

Chân như đi vào đôi giày lạnh, lúc nào cũng như ở trong nước Gân cốt yếu, lạnh,

tâm phiền, nhức đầu, mồ hôi xuất, hơi thở ngắn, tinh thần hỗn loạn, da, thịt đau

nhức, khớp xương nóng sưng, không thể tự di chuyển được

1.1.3 Thang thuốc điều trị

Độc hoạt kỳ sinh thang

Khương hoạt thang

Tiêu độc hợp thang

1.2 Sách Y Học Cổ Phương (thế kỷ thứ 11-12)

1.2.1 Nguyên nhân phát bệnh

Cơ thể suy nhược vì khí, huyết hư, do Tiên thiên hoặc Hậu thiên Cư trú trong vùng

bùn lầy, gặp phong, hàn, thấp, nhiệt phong, hàn, thấp cùng xâm nhập mới sinh

bệnh Phong mạnh thì đau nhức không định, bởi phong là dương tà, "giỏi chạy" và

"hay biến", đó là Phong thấp chạy Nếu hàn lãnh, thì đau tại một chỗ nhất định Bởi

hàn la âm tà, vì vậy khi đau, gặp nóng giảm ngay, đó là Phong thấp lạnh Nếu thấp

Trang 5

mạnh, thì người nhiều nước, đi đứng nặng nề, cơ thể khớp xương đau ít, nhưng cảm

giác tê nhiều, đó là Phong thấp tê Nếu như nhiệt mạnh thì là Phong thấp nhiệt

1.2.2 Triệu chứng của bệnh

Toàn người đau nhức, các khớp xương đau nhức Khi đau khi không Phong thấp

chạy thường nhẹ, Phong thấp lạnh thường gây ra Phong thấp xương, Phong thấp tê

thường gây ra phù thủng Bệnh lâu nhập tim thành Phong thấp tim, nhập phổi thành

suyễn

1.2.2 Thang thuốc điều trị

Khu phong thang,

Phong, hàn, thấp, ba tạp khí đều xâm nhập, hợp lại là tý chứng Tam khí làm bế tắc

kinh lạc, nhập vào kinh mạch, da thịt, lâu ngày không chữa trị nhập vào tim

1.3.2 Triệu chứng của bệnh

Các khớp xương đau nhức, da sần sùi, bắp thịt tê đau ngâm ngẩm Tứ chi chậm

chạp, chân tay, mình phù sưng Trong lồng ngực khò khè có đờm, có phong

1.3.3 Thang thuốc điều trị

Chứng bệnh này phát tác đa số do mưa khí nặng nề, vào tháng 3, tháng 9 (Âm lịch),

đó là tháng Thái dương gặp thủy, cho nên cây cỏ khô, thủy hàn nhiều, hoặc ở vào

đất ẩm ướt, người lao lực tân khổ nhiều, bị cảm mạo mưa bão, ngủ ở chỗ ướt,

chứng phong thấp do đó nhập vào người

1.4.2 Triệu chứng của bệnh

Các tà xâm nhập có thứ ít, có thứ nhiều, hoặc đau, hoặc không đau, hoặc gân cốt

không co duỗi được, hàn thì chạy nhiều, nhiệt thì chậm hoãn

1.4.3 Thang thuốc điều trị

Phòng phong thang,

Thăng ma thang,

1.5 Sách Chứng Nhân Mạch Trị của Trần Cảnh Minh (1644) đời Minh

1.5.1 Nguyên nhân phát bệnh

Tý chứng là do nguyên khí không đầy đủ, sau khi bị bệnh, cơ thể hư nhược, làm việc

quá độ, đói khát, phong tà nhân đó xâm nhập Hàn tý là do lao khí không đủ, vệ khí

Trang 6

phía dương biểu không chắc chắn, bì mao không có khí luân lưu, hoặc bị trúng hàn,

mạo, mưa, sương, do vậy, phong, hàn tà nhập

Thấp tý, làm tỳ bị ướt, thấp khí vào người, trúng phong, cảm mạo mưa thấp đọng lại

ở da thịt, hoặc gặp năm mà mưa, thấp nhiều, Nhiệt tý, do âm huyết bất túc, dương

khí vượng lên, nhiết quá thì sinh hàn, phong hàn từ ngoài nhập vào phong nhiệt từ

đó phát

1.5.2 Triệu chứng của bệnh

Hành tý thì chạy, đọng lại, đau nhức, trên dưới, phải trái, chạy không ngừng Hàn tý

thì đau đớn khổ sở, chân tay buốt nhức, gặp nhiệt thì giảm, gặp lạnh thì tăng Nhiệt

tý thì cơ nhục nóng, lưỡi môi khô nóng, gân cốt đau không thể đụng vào được, trên

người cảm thấy như chuột chạy

1.5.3 Thang thuốc điều trị

Đại tần gia thang,

Gia bì khương hoạt thang,

Tứ vị lưu cân thang,

Hổ tiềm hoàn,

1.6 Sách Chứng Trị Hối Bổ của Lý Dụng Túy (1687) đời Thanh

1.6.1 Nguyên nhân phát bệnh

Nguyên khí, tinh khí bên trong hư, tam khí xâm nhập, không biết cách làm tan đi, để

tam khí lưu trú tại kinh lạc, lâu ngày thành chứng tê thấp

1.6.2 Triệu chứng của bệnh

Xương cử động khó khăn, huyết ngưng không lưu thông, co duỗi khó khăn, tứ chi

đau nhức, ngoài da như bị tê, quá hàn, hoặc nhiệt nặng thì suyễn, mửa, tâm phiền,

Da bị tê, thịt, mạch, mầu sắc thay đổi, gân tê, xương đau

1.7.3 Thang thuốc điều trị

Tăng vị ngũ thang,

Tam tý thang,

Ngoài ra, do ở ngoại cảm phong, hàn, thấp, tà xâm nhập toàn thân, tổn hại đến cơ

biểu, kinh lạc, khớp xương mà thành Lại phải kể đến do ở :

– Hoàn cảnh khí hậu địa phương,

Trang 7

– Sự dinh dưỡng,

Gây ra bệnh đau ở gân, xương, da, mạch, thịt, ngày xưa gọi là bệnh Phong thấp

chung cho tất cả Những danh xưng đó, chẳng qua là tùy theo các y gia cổ Nhưng

nguyên nhân và bệnh trạng thì vẫn giống nhau

2 NGUYÊN DO PHÁT SINH

Chứng Phong thấp, phát sinh do tạp khí phong, hàn, thấp xâm nhập gây tổn hại cho

toàn thân Ngoại tà nhập được là do hoàn cảnh sinh hoạt, khí hậu, cơ thể có khả

năng chống bệnh hay không?

2.1 HOÀN CẢNH SINH HOẠT : Thấp tà nhập

– Sinh sống trong vùng ao hồ, bùn lầy, hoặc sống trên mặt nước, dễ bị thấp tà nhập

– Hoặc ăn uống không điều độ, tổn thương tỳ vị, vận hóa không đủ, sinh ra thủy

thấp ngưng lại ở trong, rồi thấp ở trong và ở ngoài cùng dẫn đến

Nội Kinh nói :

"Ẩm thực, cư xứ, vị kỳ bệnh bản"

Nghĩa là ăn uống, nơi ở là gốc rễ của sự phát bệnh

2.2 KHÍ HẬU THAY ĐỔI : Phong tà, Hàn tà nhập

– Khí hậu thay đổi, đêm lạnh, ngày nóng vệkhí phía ngoài không thể chống đỡ nổi,

dễ bị hàn khí và phong lạnh xâm nhập gây bệnh

Trương Tử Hòa nói :

"Bệnh tê thấp do 4 mùa mưa ấm, gặp tháng 3 tháng 9, là tháng Thái dương gặp

thủy cho nên cây cỏ khô héo, thủy hàn nhiều"

Đó là nói vì thời khí thay đổi mà sinh ra bệnh

– Bởi vậy tại các nước Âu châu, các nước Bắc Mỹ, những vùng núi non khí hậu hàn

lãnh, thay đổi đột ngột nhiều, khiến cho cơ thể dễ sinh bệnh, các vùng này Phong

thấp phát sinh trầm trọng

– Hoặc những người đang từ vùng nhiệt đới tới vùng ôn đới hoặc hàn đới, cơ thể

vốn quen với khí hậu nhiệt, nay gặp hàn khí, vệ khí không đủ giữ cơ thể nên dễ sinh

bệnh

2.3 NGƯỜI YẾU DƯƠNG HƯ : Phong, Hàn, Thấp nhập

– Người yếu đuối, dương khí hư, vệ khí dương không đủ bảo vệ cơ thể, phong, hàn,

thấp tà xâm nhập

Y Tông Kim Giám nói :

"Do nguyên khí, tinh khí bên trong trống rỗng, cho nên 3 khí tà phong, hàn, thấp

xâm nhập, không biết giải trừ đi, thì nó sẽ lưu trú tại kinh lạc, lâu ngày thành chứng

tê thấp"

Đây là nguyên do chủ yếu của chứng bệnh

Nhiệt tý hình thành là do ngoại cảm phong, hàn, thấp tà ứ đọng lâu ngày hóa nhiệt,

hoặc phong thấp nhiệt tà từ ngoài xâm nhập, vào người mà cơ thể vốn có dương

thịnh, trong người vốn đã ôn nhiệt Cho nên Y Học Cổ Phương nói :

Trang 8

" Tạng, phủ, kinh lạc, trước vốn đã tích nhiệt, sau còn bị phong, hàn, thấp ở ngoài

kinh nhập vào, nhiệt bị hàn làm ứ đọng lại, khí không thông được, lâu quá hàn hóa

nhiệt mà thành Phong thấp Nhiệt"

Chứng Phong thấp không khỏi, trị bệnh không đúng cách, hoặc lại bị cảm tà, nhiễm

trùng, từ cơ biểu nhập vào huyết mạch, do huyết mạch chạy vào tâm tạng Cho nên

Nội Kinh đã nói:

"Ngũ tạng giai hữu hợp mạch tý bất di, nội xá vu kỳ hợp dã" "Mạch tý bất di,

ngoại phục vu tà, nội xá vu tâm "

2.4 BIỂU HÌNH NGUYÊN DO CHỨNG PHONG THẤP

2.4.1 Biểu hình huyết hư, không đủ sức chống bệnh, phong là dương tà,

thừa cơ nhập vào người.

2.4.2 Biểu hình thận dương hư, hàn là âm tà, thừa cơ nhập cơ thể.

2.4.3 Biểu hình tỳ dương hư, không đủ sức vab hóa thấp ra khỏi cơ thể

Hoặc không đủ sức phòng vệ, ngoại thấp nhập cơ thể.

2.4.4 Biểu hình : Tỳ dương, thận dương hư, huyết hư Ba tà khí phong,

hàn, thấp nhập cơ thế, thành chứng Phong thấp.

3 ĐẶC TÍNH CỦA CHỨNG PHONG THẤP

3.1 BỆNH PHÁT TOÀN THÂN : Diễn tiến

Trang 9

Chứng Phong thấp thường thì các khớp xương tổn hại là nhân tố chính yếu Bệnh

nhân trình diện thầy thuốc, với một vài khu đau nhức Nhưng toàn thân cơ thể bị

bệnh, nơi đau là chỗ trầm trọng nhất mà thôi Bệnh toàn thân đa số là lúc mới phát,

thường là biểu chứng

Phát nhiệt, ác phong

Ác hàn, tiếng nói nặng

Toàn thân đau nhức

Khớp xương sưng nóng đau

Cổ hầu khô nóng

Miệng đắng, khô hoặc trơn nhẵn

Sau đó thường thấy các chứng trạng :

Tự nhiên mồ hôi xuất

Người yếu không có lực

Ăn vào đầy ứ

Tiểu tiện bất lợi

Sắc mặt trắng nhợt

Tâm ủy, phiền táo

Lồng ngực nghẹn khí

Bệnh khi hoãn, khi phát

Khỏi rồi lại phát

3.2 KHỚP XƯƠNG TỔN THƯƠNG

Sau đó trị không đúng, hoặc không trị, tà khí nhập xương, có triệu chứng:

Khớp xương sưng đau hoặc nhức như dao cắt

Co duỗi khó khăn hoặc không được

Hoặc các khớp xương sưng đỏ

Phát nhiệt, đau nhức

Hoặc khớp xương chân tay đau, tại khu vực đau hàn, lạnh

Xương biến dạng : Các ngón chân tay, cùi chỏ, đầu gối, vai, xương sống

Thường thấy gót chân, đầu gối, cườm tay, cùi chỏ, bả vai, cần cổ bị nhiều nhất Các

bộ phận khác thì ít Bệnh có thể phát tác toàn thể các khớp xương hoặc một vài

khớp xương Có thể bệnh nhân nay sưng khớp xương này, mai sưng khớp xương

khác, chân tay nặng nề, hoặc tê hoặc co rút, hoạt động không linh hoạt

3.3 TÂM TẠNG BỊ TỔN THƯƠNG

Bệnh lâu, tà khí nhập tâm, phát sinh Tâm tý chứng:

Tự nhiên mồ hôi xuất dầm dề

Hô hấp khó khăn

Bệnh nhẹ thì khi lao lực chứng phát

Bệnh nặng thì bất cứ lúc nào cũng phát được

Trang 10

Lồng ngực đau ngâm ngẩm hoặc đau thốn

Phía bên trái của tim đau nặng hơn

Bệnh nặng thì tim lớn

Lồng ngực thường đau, tâm âm, tâm dương tổn thương

Tâm khí bị hao tổn Khi phát nhiệt, thì tâm ủy, phiền táo, hoặc lo sợ kinh hãi vô lý

Mạch, nhịp tim không đều Chứng này không trị thì sinh ra bệnh phù thủng do tim

hoặc tình trạng tâm khí thoát ra ngoài : Tâm lực suy yếu, Phong thấp tim

3.4 THẤP KẾT LẠI (calcification)

Tại cùi chỏ, đầu gối, sau gáy, và khu vực trán thịt phù ra như mập, ít ngày sau biến

mất Hiện tượng này thường xuất hiện sau những cơn đau nhức Lâm sàn thường

thấy bệnh nhân sưng ở gót chân, đến độ không thấy xương mắt cá đâu Phía cùi

chỏ, đầu gối tròn to lớn lên, nhất là sau cổ từ C5 đến D4 thường sưng lên như chiếc

bát úp vào Bệnh lâu thì xương cốt biến dạng thay đổi kỳ lạ, hoặc mục nát

3.5 BỆNH CHẨN NGOÀI DA

Phong thấp còn sinh ra chứng bệnh ngoài da, y học ngày nay gọi là Hoàn trạng hồng

ban, vết thấp chẩn sắc lợt ở giữa, xung quanh hồng mà sắc thâm, thường thấy ở

chân tay, bệnh xuất hiện ít tháng rồi mất, hoặc lâu ngày không biến đi, nay chỗ này,

mai chỗ khác Sách Tố Vấn thiên Tứ thời nghịch lượng luận đã nói đến bệnh này gọi

là Bì tý ẩn chẩn tức là chứng tê thấp đã ẩn thấp chẩn

Y Học Cổ Phương nói:

"Phong, hàn, thấp hợp lại mà ra chứng tê thấp Chứng xuất ở da thì thành thấp

chẩn, khi hiện khi ẩn, khi ở chỗ này, khi chạy chỗ khác Lâu ngày không chữa trị thì

chạy vào máu, thành chứng chung ẩn chẩn, thành mụn bọc, ấn vào không thấy đau”

3.6 CHÂN TAY RUN

Chân tay run, hoặc nhiều khi có những cử động không tự chủ được:

" Bệnh mới phát không chữa trị, để lâu thì nhập gân, xương Hoặc nhập vào địa

phận gan Gan chủ cân, bởi vậy sinh ra chứng chân tay run rẽ, hoặc hoạt động

không tự chủ được như người điên loạn Hoặc định làm cử chỉ này thì lại làm cử chỉ

khác " (Y Học Cổ Phương, chứng Phong thấp)

3.7 MẠCH VÀ LƯỠI CỦA CHỨNG PHONG THẤP

- Nếu Phong thấp mà Phong mạnh, mạnh hơn thì mạch Phù xác hoặc Phù khẩn

Chất lưỡi lợt, bợn lưỡi trắng hoặc vàng

- Nếu Phong thấp mà Hàn mạnh thì mạch Trầm khẩn hoặc Trầm trì Chất lưỡi lợt

hoặc xanh, bợn lưỡi trắng hoặc trắng dầy

- Nếu Phong thấp mà thấp mạnh thì mạch Nhu hoặc Hoạt Chất lưỡi lợt, bợn lưỡi

trắng hoạt hoặc trắng trơn

- Nếu Phong thấp mà nhiệtø mạnh thì mạch Phù xác hoặc Sác khẩn Bợn lưỡi vàng,

trơn hoặc vàng khô, hoặc vàng dầy

- Nếu Phong thấp xâm nhập tổn thương tới tim thì mạch đa số Thoát tật hoặc Kết

đai hoặc Trì hư Bợn lưỡi trắng hoặc vàng, hoặc ít bợn lưỡi chất lưỡi hồng có vằn

hoặc tím hoặc có ố điểm Bộ phận lưỡi dầy, lớn, sắc trắng lợt

4 CHỨNG PHONG THẤP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

Trang 11

Chứng Phong thấp y học hiện đại gọi là Phong thấp (Rhumatology) Phong thấp là

một bệnh phát tác cấp tính hoặc mãn tính trên toàn thân, nguyên nhân phát bệnh

hoàn toàn chưa minh bạch Khi bệnh phát thì liên hệ tới nhiễm trùng hoặc tới tốc độ

(VS, Vitesse de sédimentation) và số lượng huyết quản (NFS Numérotation de la

formule sanguine)

Trước khi phát tác, thường thấy thịt dư ở cổ sưng, hầu sưng, đường hô hấp nhiễm

trùng, sau đó thấy toàn thân phát bệnh liên hệ tới khớp xương, tâm tạng Hệ thống

trung khu thần kinh, và các chứng phát nhiệt, ác hàn, khớp xương sưng đỏ, có

những vết hồng ban, dưới da kết lại từng khu sưng cứng Sau cùng đưa tới : Phong

Thấp tim, các mạch sưng, thận sưng, phế sưng, vv

5 PHƯƠNG PHÁP CHẨN BỆNH

5.1 TỨ CHẨN

5.1.1 VỌNG

Sắc mặt, sắc lưỡi, các vết ban chẩn, trạng thái tinh thần, và những chỗ sưng đau,

họng sưng, vận động đi đứng nằm ngồi, còn phải quan sát miệng, hầu, nhất là xem

những chỗ sưng để giải đoán

– Hiện trạng sức khỏe vào quí tiết

– Bệnh mới phát có bị mụn trong miệng, trong cổ họng, ho hoặc phát nhiệt không

– Hỏi chứng trạng hiện tại, như biểu hiện hàn nhiệt, khớp xương đau, sưng, đau

nóng hoặc đau lạnh Chỗ đầu cổ di chuyển hay không

– Sau đó giải đoán toàn thân và phân chứng thẳng âm dương, biểu lý, hư thực, hàn

nhiệt Cuối cùng quyết định phương thức điều trị

– Nghe nhịp tim Tim đập mau, tiếng đập cải biến Động mạch phế khu thứ nhì âm

thanh lớn Khu đầu tim thì tiếng đập nhu, hoặc luôn luôn có những tạp âm, đệ nhất

tâm âm giảm nhược

– Quang tuyến X Hình dạng quả tim đa số không có gì đặc biệt Hoặc đôi khi phía

ngăn trái lớn hơn, hoặc lưng quả tim đầy ứ

Trang 12

– Tâm điện đồ ECG Không có gì đặc biệt hoặc đôi khi P-R dài, tâm luật hỗn loạn

chuyển vận bị ngăn trở ứ đọng, QS dài, ST tới T cải biến

6 BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH PHONG THẤP

6.1 BIẾN CHỨNG THỨ NHẤT

Bệnh chạy vào xương Chủ yếu là các khớp xương sưng, tổn hại Đa số thấy co các

các ngón chân tay, bàn chân tay, cần cổ Nếu không điều trị, chứng bệnh chạy vào

địa phận của tim thì hóa ra điên giản Trong sách Kim Quĩ Yếu Lược, thiên Trúng

phong thương tiết, sách Thương Hàn Luận cũng luận về Phong thấp nhiệt, cũng đưa

ra luận chứng như trên.Thông thường : cột sống mọc gai (Bec de perroquet), xương

đầu gối, bàn chân, bàn tay dị dạng

6.2 BIẾN CHỨNG THỨ NHÌ

Biến chứng nữa là xương cốt dính liền với nhau Lúc đau thì chỉ thấy sưng nhức đau

tại các khớp xương Bệnh xuất hiện tại biểu, lâu ngày không trị chạy vào tới xương,

xương thay hình đổi dạng, mục nát, chân tay co rút, người nóng, mồ hôi xuất, ăn

vào đầy ứ, phiền táo không ngủ được

7 NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

Trị bệnh tê thấp, trong y sử Trung, Việt thực là phong phú, triều đại nào cũng có

những danh y nghiên cứu điều đã qua, phát minh phương thức mới Những phương

thức điều trị bao gồm :

Dược trị : Trung Hoa, Việt Nam

Châm cứu trị : Trung Hoa, Việt Nam (bao gồm cả lấy máu)

Tẩm quất : Trung Hoa, Việt Nam

Khí công trị : Việt Nam

Dinh dưỡng : Việt Nam, Trung Hoa,

Giác hơi : Việt Nam.

" Người luyện tập võ, trước hết là đạt được cái đạo, khi đạo cao, thì không còn lo

sợ tà khí nhập người Muốn đạo cao thì phải luyện sao cho thăng bằng tinh, thần,

khí Muốn tinh, thần khí sung mãn, thì phải biết tìm ở khí công Trong khoa khí công,

các tư thức luyện tập như rừng như biển, người luyện phải nắm vững từng tư thức

Trước khi chọn tư thức phải trở về với bản thân, tìm nguyên do Tiên thiên, Hậu

thiên, cái nào yếu đuối, thì luyện tập những thức phụ trợ

Người bị Phong thấp do tiên thiên, dù cha mẹ, ông bà mấy đời bị di truyền lại,

nhưng biết luyện từ nhỏ, há sợ gì bệnh

Bản bệnh phát sinh do khí, huyết hư hao Người bị bệnh Tiên thiên, thì bất quá cha

mẹ, tổ tiên vốn đã có khí huyết hư nhược Nếu con cháu không biết điều trị bệnh sẽ

nặng thêm lên Ngược lại con cháu biết dùng khí công luyện tập ngay từ nhỏ, thì

không đáng lo sợ

Người bị tê thấp do Hậu thiên khí thì cũng giống như trường hợp thông thường :

Bị thọ lãnh phong, hàn, nhiệt, thấp mà thành Nhưng sở dĩ phong, hàn, nhiệt, Thấp

xâm nhập vì chân khí yếu, vệ khí ngoại biệt không đủ che cho cơ thể

Bởi vậy bệnh mới phát của Hậu thiên hoặc Tiên thiên đều có thể luyện khí công mà

phòng vệ Khí công để điều hòa tinh, thần, khí, làm cho vệ khí sung mãn "

Trang 13

Nhưng khoa Khí công là một khoa nửa võ học nữa y học, trình bày phương thức điều

trị vào đây sẽ rất dài Các võ sư cũng nhận xét giống các y gia : Người ta sở dĩ bị

Phong thấp là do khí, huyết hư hao vệ khí không đủ che cho cơ thể

" Người bản chất yếu đuối, do Tiên thiên hay Hậu thiên khí, hoặc vì lao sinh quá

độ, hoặc vì thần chí, hoặc vì cư trú trong vùng ẩm thấp, khí hậu thay đổi

Phong, hàn, thấp, nhiệt xâm nhập mà thành tê thấp Vậy bản bệnh sở dĩ phát sinh

hầu hết do khí huyết hư hao Trị bệnh phải trị tận gốc : Ngoài thì giải phong, hàn,

thấp, nhiệt, trong phải bổ dưỡng khí, huyết Bổ dưỡng khí huyết bằng dược vật,

bằng ăn uống Giải phong, hàn, thấp, nhiệt bằng dược vật, bằng châm cứu Nhưng

bổ dưỡng khí không gì mạnh bằng Khí công”

Dương Cảnh Nhạc nói :

" Người bị phong, vũ, âm ám mạnh, thì đó là bệnh âm tà che mất dương Hoặc

gặp nhiệt quá, đó là chứng thấp nhiệt, làm âm bị thương Chứng nhiệt thì phải giải

nhiệt, chứng hàn thì phải làm ôn nhiệt Nếu gân mạch đều bị ứ đọng, đó là huyết

hư, huyết táo vậy, nếu không dưỡng huyết dưỡng tâm thì không xong"

Lý Dụng Túy đời Thanh nói :

" Phong thì phải sơ tán, hàn thì làm ôn kinh, thấp thì phải thanh táo, hư thực thì

tìm về gốc mà trị Nếu dư thì làm tản, đánh tan tà đi, nếu không đủ thì bổ dưỡng khí

huyết"

Đó là ba luận cứ trị liệu, đời sau theo đó làm áp dụng Riêng về Y Học Cổ Phương thì

có lời khuyên thực nghiệm hơn Ngoài thì giải phong, hàn, thấp, nhiệt, trong bổ

dưỡng khí huyết Bổ huyết bằng dược vật ăn uống, bổ khí bằng Khí công và cũng

bằng dược vật ăn uống Còn giải ngoại tà bằng châm cứu, mau hơn bằng các

phương pháp khác

Dưới đây là bảng liệt kê phương thuốc điều trị chứng tê thấp qua các thời đại Trong

bảng này, thu tóm lại được các nguyên lý sau :

7.1 THỨ NHẤT : Sơ phong trừ thấp, ôn kinh thông lạc

Phong, hàn, thấp ba khí làm thành tê thấp Trong đó :

– Phong mạnh, thì Sơ phong thông lạc làm chủ, trừ thấp, ôn kinh là phụ

– Hàn mạnh, thì Tán hàn, ôn kinh làm chủ, sơ phong lợi thấp là phụ

– Thấp mạnh, hơn thì Trục thấp, xả cân làm chủ, tán phong trừ hàn là phụ

7.2 THỨ NHÌ : Thanh nhiệt trừ thấp, ôn kinh thông lạc

Phong hàn từ ngoài nhập vào ứ đọng lại lâu thì hóa thành nhiệt Hoặc thấp nhiệt tà

ứ đọng trong người, đưa đến Nhiệt Hấp Trị Pháp phải thanh nhiệt trừ thấp, sơ phong

thông lạc

7.3 THỨ BA : Trị bệnh Phong thấp cần phải có phụ trợ

– Một là cơ dược vật lý huyết (điều hòa huyết).

Phong, hàn, thấp, nhiệt tà nhập vào kinh lạc, làm ngăn trở ứ đọng khí huyết đưa

đến khí huyết ô đới, kinh lạc ngăn trở, trị pháp phải:

"Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự phân" (chữa phong thì trước phải

chữa huyết, huyết lưu thông được thì phong tự chạy mất)

Ngày đăng: 14/08/2014, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm