1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở Nhà máy bia Đông Nam Á pptx

77 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm này phản ánh được chính xác, đầy đủ, baoquát nhất những vấn đề liên quan tới chất lượng sản phẩm, từ các yếu tố, đặctính cơ lý hoá liên quan đến nội tại sản phẩm tới nhứng yếu

Trang 1

"Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm

ở Nhà máy bia Đông Nam Á

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu 1

Phần I Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm 3

I-Chất lượng sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.3 1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm 3

2 Phân loại chất lượng sản phẩm 7

a) Phân loại chất lượng theo hệ thống ISO 9000 7

b) Phân loại theo mục đích công dụng của sản phẩm 8

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm 8

a) Nhóm nhân tố khách quan 8

b) Nhóm các nhân tố chủ quan 11

4 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm 13

a) Nhóm các chỉ tiêu không so sánh được 14

b) Nhóm chỉ tiêu có thể so sánh được 14

II- Quản lý chất lượng sản phẩm 16

1 Một số quan điểm về quản lý chất lượng sản phẩm và các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm 16

a) Một số quan điểm về quản trị chất lượng sản phẩm 16

b) Các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm 17

2 Nội dung công tác quản lý chất lượng trong doanh nghiệp 19

a) Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế 19

b) Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu đầu vào 20

c) Quản lý chất lượng khâu sản xuất 20

d) Quản lý chất lượng trong và sau khi bán 21

3 Các công cụ sử dụng trong quản lý chất lượng sản phẩm 22

a) Biểu đồ luồng 22

b) Mô hình Ishikawa (mô hình xương cá) 23

c) Biểu đồ Pareto 24

d) Các mô hình phân tán (Biểu đồ tán xạ) 26

4 Một số mô hình quản lý chất lưọng 26

a) Mô hình quản lý chất lượng sản phẩm toàn diện 26

b) Mô hình tổ chức quản lý chất lượng ISO-9000 28

III-Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sản phẩm 30

Trang 3

1.Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam 30

2.Vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm 31

Phần II Phân tích thực trạng chất lượng sản phẩm của nhà máy bia đông nam Á 33

I Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của nhà máy bia đông nam á ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm 33

1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy bia Đông Nam Á 33

2 Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý 35

a Nhiệm vụ của một phòng ban chính của nhà máy 35

b Đặc điểm lao động của nhà máy 36

3 Đặc điểm về quy trình công nghệ chế biến sản phẩm 38

4 Đặc điểm về vốn kinh doanh 41

a Tài sản cố định 41

b Tài sản lưu động 42

II Phân tích thực trạng CLSP của nhà máy bia Đông nam Á 42

1 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà máy 42

2 Tình hình sản phẩm và chất lượng sản phẩm của nhà máy 45

3 Thực trạng quản lý chất lượng sản phẩm của nhà máy 47

4 Tính toán các chỉ tiêu so sánh chất lượng ở nhà máy 48

III Đánh giá chung tình hình quản lý chất lượng sản phẩm của Nhà máy bia ĐNA 50

1 Thành tựu 50

2 Tồn tại: 51

3 Nguyên nhân tồn tại 52

Phần III Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm của Nhà máy Bia Đông Nam Á 53

I - Phương hướng sản xuất kinh doanh của Nhà máy Bia Đông Nam Á 53

1 Những thuận lợi và khó khăn của nhà máy 53

2 Mục tiêu và phương hướng sản xuất kinh doanh 54

II Một số biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm của nhà máy bia Đông Nam Á 56

1 Đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất 56

a/ Căn cứ đề xuất giải pháp : 56

b/ Nội dung và điều kiện áp dụng biện pháp : 56

2 Biện pháp bảo đảm chất lượng nguyên vật liệu : 58

a/ Căn cứ đề xuất giải pháp : 58

b Nội dung và điều kiện áp dụng biện pháp 58

3 Biện pháp về quản lý chất lượng sản phẩm 60

a Căn cứ đưa ra giải pháp 60

b Nội dung và điều kiện áp dụng biện pháp 61

4 Biện pháp về nhân sự 62

a Căn cứ đưa ra giải pháp 62

b Nội dung và điều kiện áp dụng biện pháp 63

Trang 4

Kết luận 65

Phụ lục 1: Sơ đồ bộ máy quản lý Nhà Máy 666 Phụ lục 2: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bia 677 Phụ lục 3: Bảng cân đối kế toán Nhà máy bia Đông Nam Á năm 1999 688

Danh mục tài liệu tham khảo 70

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Từ sau Đại hội VI, nền kinh tế Việt Nam bước sang một giai đoạn mới,chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước.Các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau tham gai vào nềnkinh tế ngày càng nhiều và phức tạp Điều đó đã tạo điều kiện cho người tiêudùng có nhiều cơ hội để lựa chọn các sản phẩm khác nhau theo nhu cầu riêng

Do vậy, để có thể tiêu thụ được sản phẩm của mình các doanh nghiệp phảicạnh tranh với nhau về nhiều phương diện Đặc biệt trong điều kiện hiện nay,chất lượng sản phẩm được coi là phương tiện cạnh tranh hiệu quả nhất đểgiành thắng lới Có thể nói, từ khi có chính sách mở cửa nền kinh tế thì sảnxuất kinh doanh đã thực sự trở thành "trận chiến nóng bỏng" với sự cạnhtranh gay gắt giữa các doanh nghiệp

Thêm vào đó, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu củacon người đối với các sản phẩm, hàng hoá không chỉ dừng lại ở số lượng mà

cả chất lượng sản phẩm cũng ngày càng được người tiêu dùng quan tâmnhiều Để đạt được các mục tiêu của mình, các doanh nghiệp phải tiêu thụ

Trang 6

được sản phẩm của mình Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vàonhiều yếu tố, đáng kể nhất vẫn là chất lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ Dovậy, các doanh nghiệp cần phải tìm ra cho mình những giải pháp tối ưu để cóđược sản phẩm có chất lượng cao, thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu củangười tiêu dùng - đó chính là con đường duy nhất để doanh nghiệp tồn tại vàphát triển lâu dài.

Nhà máy bia Đông Nam Á, tiền thân là Hợp tác xã Ba Nhất, trải quahơn 30 năm phát triển Nhà máy đã từng bước vươn lên thành một doanhnghiệp có uy tín trên thị trường Nhà máy luôn luôn đặt mục tiêu chất lượngsản phẩm lên hàng đầu Vì hơn bao giờ hết Nhà máy biết rằng không chỉ cócác doanh nghiệp Việt Nam, mà còn có cả các hãng nước ngoài cùng tham giavào việc cung ứng loại nước giải khát này trên thị trường Chính vì vậy màCông ty luôn đầu tư vào việc cải tiến đổi mới công nghệ, trang thiết bị, đàotạo nhân tố con người nhằm nâng cao chất lượng của mình Trong quá trìnhthực tập tại Nhà máy bia Đông Nam Á em đã chọn đề tài:

"Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở Nhà máy bia Đông Nam Á"

Nhằm góp phần vào việc tìm ra những quan điểm hướng đi và biệnpháp để nâng cao chất lượng sản phẩm của Nhà máy

Đề tài được xây dựng và triển khai theo các phần sau:

Phần I : Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm.

Phần II : Phân tích thực trạng chất lượng sản phẩm của Nhà máy bia

đề này

Trang 7

PHẦN I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

I-CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.

1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm.

Trong cuộc sống hàng ngày, thuật ngữ chất lượng thường xuyên đượcnhắc tới, nhưng không phải ai cũng có thể hiểu được thấu đáo và sử dụngđúng các thuật ngữ này

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau được các nhà nghiên cứu đưa ratrên cơ sở nghiên cứu ở các góc độ khác nhau

Theo Philip.B.Groby cho rằng: "Chất lượng là sự phù hợp với nhữngyêu cầu hay đặc tính nhất định"

J.Jujan lại cho rằng: : "Chất lượng là sự phù hợp với các mục đích vàviệc sử dụng"

Các khái niệm trên được nhìn nhận một cách linh hoạt và gắn liền nhucầu, mục đích sử dụng của người tiêu dùng

Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: " Chất lượng là tổng thể những tínhchất, những thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sựvật khác"

Theo tiêu chuẩn số 8402-86 (Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO) và tiêuchuẩn số TCVN 5814-94 (Tiêu chuẩn Việt nam): "Chất lượng là tập hợp cácđặc tính của 1 thực thể, đối tượng; tạo cho chúng khả năng thoả mãn nhữngnhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn":

Trang 8

Các khái niệm đưa ra trên đây cho dù được tiếp cận dưới góc độ nàođều phải đảm bảo được 2 đặc trưng chủ yếu.

-Chất lượng luôn luôn gắn liền với thực thể vật chất nhất định, không

có chất lượng tách biệt khỏi thực thể Thực thể được hiểu theo nghĩa rộng,không chỉ là sản phẩm mà còn bao hàm cả các hoạt động, quá trình, doanhnghiệp hay con người

-Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn nhu cầu Nhu cầu bao gồm cảnhững nhu cầu đã nêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn được phát hiện trong quátrình sử dụng

Trong những năm trước đây, quan điểm của các quốc gia thuộc hệthống XNCN cho rằng chất lượng sản phẩm đồng nhất với giá trị sử dụng củasản phẩm Họ cho rằng, :"Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính kỹthuật, kinh tế của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sảnphẩm đó" Quan điểm này được xem xét dưới góc độ của nhà sản xuất Theo

đó, chất lượng sản phẩm được xem xét biệt lập, tách rời với nhu cầu, sự biếnđộng của thị trường, hiệu quả kinh tế và các điều kiện của một doanh nghiệp.Tuy nhiên, quan điểm này lại phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ Trong nềnkinh tế kế hoạch hoá tập trung mọi vấn đề đều được thực hiện theo chỉ tiêu

kế hoạch, sản phẩm sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường Đồngthời, các doanh nghiệp cũng ít chú ý tới vấn đề chất lượng sản phẩm, mà nếu

có cũng chỉ trên giấy tờ, khẩu hiệu mà thôi

Nhưng năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh, cũng như chịu mọi tráchnhiệm về sự phát triển của công ty mình Cùng tồn tại trong một môi trường,điều kiện, các doanh nghiệp vừa bình đẳng vừa cạnh tranh với nhau để vươnlên tồn tại, phát triển, suy cho cùng vấn đề tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyếtđịnh đến sự tồn tại cảu doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Chính vì vậy,

mà nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm theo hướng công nghệ là tập hợp các đặc tính kỹthuật, công nghệ và vận hành sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, nóphản ánh giá trị sử dụng và chắc năng của sản phẩm đáp ứng được nhu cầucủa người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm Trong những điều kiện xác định

về kinh tế xã hội, quan điểm này đã phản ánh đúng bản chất của sản phẩm vềmặt kỹ thuật Nhưng ở đây, nó chỉ là 1 chỉ tiêu kỹ thuật, không gắn liền vớinhững biến đổi của nhu cầu thị trường, cũng như điều kiện sản xuất và hiệu

Trang 9

quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, mỗi nước mỗi khu vực cụ thể Do vậy,điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ chất lượng sản phẩm không cải tiến kịp thời, khảnăng tiêu thụ kém và không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Tuy nhiênquan điểm này để dùng đánh giá được chất lượng sản phẩm, đồng thời có thểcải tiến, hoàn thiện sản phẩm (về mặt kỹ thuật) thông qua việc xác đinh rõnhững đặc tính hoặc chỉ tiêu của sản phẩm.

Chất lượng sản phẩm tiếp cận theo hướng khách hàng là các đặc tínhcủa sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng và có khả năng thoả mãnnhu cầu của họ Theo cách tiếp cận này thì chỉ có những đặc tính của sảnphẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng mới được coi là chất lượng sản phẩm.Mức độ thoả mãn nhu cầu là cơ sở để đánh giá chất lượng sản phẩm ở đây,chất lượng sản phẩm không cần thiết phải tốt nhất, cao nhất mà chỉ cần nóphù hợp và đáp ứng được các nhu cầu của người tiêu dùng Khách hàng chính

là người xác định chất lượng của sản phẩm chứ không phải nhà sản xuất haynhà quản lý Do đó, sản phẩm hàng hoá cần phải được cải tiến, đổi mới mộtcách thường xuyên và kịp thời về chất lượng để thoả mãn 1 cách tốt nhất nhucầu của người tiêu dùng Đây cũng chính là khó khăn lớn mà nhà sản xuất-kinh doanh phải tự tìm ra câu trả lời và hướng đi lên của doanh nghiệp

Theo các hướng tiếp cận trên đây, để giảm đi những hạn chế của từngquan niệm, tổ chức ISO đã đưa ra khái niệm về chất lượng sản phẩm như sau:

"Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các đặc tính của một thực thể (đốitượng); tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn nhu cầu xácđịnh hoặc tiềm ẩn" Quan niệm này phản ánh được chính xác, đầy đủ, baoquát nhất những vấn đề liên quan tới chất lượng sản phẩm, từ các yếu tố, đặctính cơ lý hoá liên quan đến nội tại sản phẩm tới nhứng yếu tố chủ quan trongquá trình mua sắm và sử dụng của người tiêu dùng: đó là khả năng thoả mãnnhu cầu Chính vì sự kết hợp này mà khái niệm trên đây được chấp nhận kháphổ biến

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp phảikhông ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Nhưng trái lại, việc nâng caochất lượng sản phẩm lại bị giới hạn bởi công nghệ và các điều kiện kinh tế xãhội khác Do đó, chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế thị trường được coi là

hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm, được xác định bằng nhữngthông số có thể đo được hoặc so sánh được và phù hợp với những điều kiênjkinh tế - xã hội và kỹ thuật hiện tại, thoả mãn được nhu cầu nhất định của xãhội Gắn liền với quan niệm này là khái niệm chất lượng tối ưu và chất lượng

Trang 10

toàn diện Điều này có nghĩa là lợi ích thu được từ chất lượng sản phẩm nằmtrong mối tương quan chặt chẽ với những chi phí lao động xã hội cần thiết.

Ngày nay, chất lượng sản phẩm còn gắn liền với các yếu tố giá cả vàdịch vụ sau khi bán hàng Vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn, thanhtoán thuận tiện ngày càng trở nên quan trọng hơn Và khi các phương phápsản xuất mới: Just in time; Non stock production ngày càng phát triển đến 1hình thái mới là chất lượng tổng hợp phản ánh 1 cách trung thực trình độ quản

lý của mỗi doanh nghiệp thông qua 4 yếu tố chính được thể hiện trên mô hìnhsau

Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn mà nhu cầu, không gian, điềukiện sử dụng

Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đếnmọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụthể

Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêuchuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sửdụng có thể đảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quátrình sử dụng

Trang 11

Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá như tavẫn hiểu hàng ngày Chất lượng còn áp dụng cho mọi thực thể, đó có thể làsản phẩm, hay một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một conngười.

Mặt khác, khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tốgiá cả và dịch vụ sau khi bán Đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũngquan tâma sau khi thấy sản phẩm của họ định mua thoả mãn nhu cầu của họ.Ngoài ra vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn là yếu tố vô cùng quantrọng trong sản xuất hiện đại, nhất là các phương pháp dự trữ bằng khôngđang phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây

2 Phân loại chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là 1 phạm trù tổng hợp cả về kinh tế-kỹ thuật, xãhội gắn với mọi mặt của quá trình phát triển Do đó, việc phân loại chất lượngsản phẩm được phân theo hai tiêu thức sau tuỳ thuộc vào các điều kiện nghiêncứu thiết kế, sản xuất, tiêu thụ

a) Phân loại chất lượng theo hệ thống ISO 9000.

Theo tiêu thức này, chất lượng sản phẩm được chia thành các loại sau:-Chất lượng thiết kế

Chất lượng thiết kế của sản phẩm là bảo đảm đúng các thông số trongthiết kế được ghi lại bằng văn bản trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường,các đặc điểm của sản xuất, tiêu dùng và tham khảo các chỉ tiêu chất lượng cảcác mặt hàng cùng loại

-Chất lượng tiêu chuẩn

Là mức chất lượng bảo đảm đúng các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm

do các tổ chức quốc tế, nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền quy định.+Tiêu chuẩn quốc tế: Là tiêu chuẩn do các tổ chức chất lượng quốc tếnghiên cứu, điều chỉnh và triển khai trên phạm vi thế giới và được chấp nhận

ở các nước khác nhau

+Tiêu chuẩn quốc gia: Là tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành, được xâydựng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới phùhợp với điều kiện kinh tế của đất nước

+Tiêu chuẩn ngành: Là chất lượng do các bộ, ngành ban hành được ápdụng trong phạm vi nội bộ ngành

Trang 12

+Tiêu chuẩn doanh nghiệp: Là chỉ tiêu chất lượng do doanh nghiệp tựnghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình.

-Chất lượng tối ưu:

Là mức chất lượng mà tại đó lợi nhuận đạt được do nâng cao chất lượnglớn hơn chi phí đạt mức chất lượng đó

Ngày nay, các doanh nghiệp phấn đầu đưa chất lượng của sản phẩmhàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là một trong những mục đích quan trọngcủa quản lý doanh nghiệp nói riêng và quản lý kinh tế nói chung Tuy nhiên,mức chất lượng tối ưu tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng cụ thể của từng nước,từng vùng trong những thời điểm khác nhau Nâng cao chất lượng sản phẩmtrên cơ sở giảm tỷ suất lợi nhuận trên từng đơn vị sản phẩm với mức chi phíhợp lý, tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và thoả mãnnhu cầu của người tiêu dùng

b) Phân loại theo mục đích công dụng của sản phẩm.

-Chất lượng thị trường

Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp lý nhấttrong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định Nói cách khác, chất lượng là thịtrường, là khả năng sản phẩm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng có khảnăng cạnh tranh trên thị trường, sức tiêu thụ nhanh hiệu quả cao

Trang 13

nhất định, một số bộ phận tạo nên chất lượng toàn diện, đáp ứng nhu cầu theo

ở mức như thế nào?

Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sảnxuất để có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cảhợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định Bởi vìsản phẩm có chất lượng cao không phải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngượclại chất lượng có thể không cao nhưng người tiêu dùng lịa mua chúng nhiều.Điều này có thể do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường khácnhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm Điều này đượcphản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuâttheo mùa vụ

Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thìyêu cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt

xã hội của sản phẩm Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chấtlượng cũng tăng theo Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rấtcao để có thể thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình

Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sảnphẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà còn phải quantâm tới khía cạnh tẩm mỹ, an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụsản phẩm

-Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật

Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền vớitiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình

độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng vàphát triển kinh tế Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá

Trang 14

quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới: Tự động hoá, điện tử, tin học,công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot đã tại ra những thay đổi to lớntrong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệunâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng đặt ra nhữngthách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác vàvận hành công nghệ có hiệu quả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoahọc kỹ thuật thì thời gian để chếtạo công nghệ mới thay thế công nghệ cũ dầndần được rút ngắn lại Sự ra đời của một công nghệ mới thường đồng nghĩavới chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, đào tạo nhânlực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ không thểngày một ngày hai mà phải có thời gian Đây cũng là những khó khăn của cácdoanh nghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡngkhông nhiều

-Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước

Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quátrình thúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp.Việc ban hành các hệ thống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sảnphẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm việc sản xuất hàng giả, hành kém chấtlượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, thuế quan, các chính sách ưu đãi chođầu tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng, tạo động lựcphát huy tính tự chủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm

Rõ ràng, các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn

có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị,kinh tế, xã hội, đặc biệt phải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước

Cơ chế quản lý vừa là môi trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đếnphương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm

-Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng caochất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt dới,nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá củasản phẩm, làm giảm đi chất lượng của sản phẩm, của hàng hoá trong quá trìnhsản xuất cũng như trong trao đổi, lưu thông và tiêu dùng

Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnhhưởng trực tiếp tới chất lượng các, nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng,

Trang 15

bến bãi Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị,máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời Khíhậu, nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho côn trùng, vi sinh vật hoạt động làm chosản phẩm bị phân huỷ, nấm mốc, thối rữa ảnh hưởng tới hình thức và chấtlượng của sản phẩm Điều này dễ dàng gặp ở các sản phẩm có nguồn gốc từnông nghiệp,ngư nghiệp.

-Văn minh và thói quen tiêu dùng

Trình độ văn hoá, thói quen và sở thích tiêu dùng của mỗi người là khácnhau Điều này phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố tác động như: Thu nhập,trình độ học vấn, môi trường sống, phong tục, tập quán tiêu dùng của mỗiquốc gia, mỗi khu vực Do đó, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu,phân đoạn thị trường theo các tiêu thức lựa chọn khác nhau trên cơ sở cácnhân tố ảnh hưỏng để xác định các đối tượng mà sản phẩm mình phục vụ vớichất lượng đáp ứng phù hợp với từng nhóm khách hàng riêng biệt

Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển, đời sống ngày càng được nângcao thì văn minh và thói quen tiêu dùng cùng đòi hỏi ở mức cao hơn Vì thế,doanh nghiệp cần phải nắm bắt được xu hướng đó, hoàn thiện và nâng cảo sảnphẩm của mình để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của người tiêu dùng

b) Nhóm các nhân tố chủ quan.

Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp, màdoanh nghiệp có thể( hoặc coi như có thể) kiểm soát được Nó gắn liến vớicác điều kiện của doanh nghiệp như: lao động, thiết bị, công nghệ, nguyên vậtliệu, trình độ quản lý Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sảnphẩm của doanh nghiệp

-Trình độ lao động của doanh nghiệp

Trong tất cả các hoạt động sản xuất, xã hội, nhân tố con người luôn luôn

là nhân tố căn bản, quyết định tới chất lượng của các hoạt động đó Nó đượcphản ánh thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, ýthức trách nhiệm của từng lao động trong doanh nghiệp Trình độ của ngườilao động còn được đánh giá thông qua sự hiểu biết, nắm vững về phươngpháp, công nghệ, quy trình sản xuất, các tính năng, tác dụng của máy móc,thiếtbị, nguyên vật liệu, sự chấp hành đúng quy trình phương pháp công nghệ

và các điều kiện đảm bảo an toàn trong doanh nghiệp

Trang 16

Để nâng cao chất lượng quản lý trong doanh nghiệp cũng như nâng caotrình độ năng lực của lao động thì việc đầu tư phát triển và bồi dưỡng cầnphải được coi trọng

Mỗi doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức lao động khoa học, đảmbảo và trang bị đầy đủ các điều kiện, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh chongười lao động Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có các chính sách độngviên, khuyến khích nhằm phát huy khả năng sáng tạo trong cải tiến, nâng caochất lượng sản phẩm thông qua chế độ thưởng phạt nghiêm minh Mứcthưởng phạt phải phù hợp, tương ứng với phần giá trị mà người lao động làmlợi hay gây thiệt hại cho doanh nghiệp

-Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng

Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố

cơ bản, quyết định tới chất lượng sản phẩm

Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnhhưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm Trong điều kiện hiện nay, thật khó tinrằng với trình độ công nghệ, máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đờicác sản phẩm có chất lượng cao Ngược lại, cũng không thể nhìn nhận rằng cứđổi mới công nghệ là có thể có được những sản phẩm chất lượng cao, mà chấtlượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguyên vật liệu, trình độ quản

lý, trình độ khai thác và vận hành máy móc, thiết bị

Đối với các doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sảnxuất hàng loạt thì chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều Do đó, trình

độ của các doanh nghiệp về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc vào rấtnhiều và không thể tách rời trình độ công nghệ thế giới Bởi nếu không, cácnước, các doanh nghiệp sẽ không thể theo kịp được sự phát triển trên thế giớitrong điều kiện đa dạng hoá, đa phương hoá Chính vì lý do đó mà doanhnghiệp muốn sản phẩm của mình có chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trênthị trường thì doanh nghiệp đó cần có chính sách công nghệ phù hợp và khaithác sử dụng có hiệu quả các công nghệ và máy móc, thiết bị hiện đại, đãđang và sẽ đầu tư

-Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp

Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động

dù có ở trình độ cao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng

bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sảnphẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khí nó còn gây thất thoát, lãng

Trang 17

phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanh nghiệp Do đó, công tác tổ chứcsản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp đóngmột vai tròn hết sức quan trọng.

Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạtđộng có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung

và quản lý chất lượng nói riêng một trong những nhân tố cơ bản góp phần cảitiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Điều này gắn liều vớitrình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sáchchất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mụctiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến

Trên thực tế, sự ra đời của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩnquốc tế ISO 9000 đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của quản lý trongqúa trình thiết kế, tổ chức sản xuất, cung ứng và các dịch vụ sau khi bán hàng.-Chất lượng nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sảnxuất, cấu thành thực thể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụthuộc trực tiếp vào chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứngnguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu có chất lượngtốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm cho quá trình sản xuất diễn ra liêntục , nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngược lại, không thể cóđược những sản phẩm có chất lượng cao từ nguyên liệu sản xuất không bảođảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu.Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào mà doanh nghiệp có thể bảo đảmđược việc cung ứng nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất với chất lượng cao,kịp thời, đầy đủ và đồng bộ ? Điều này chỉ có thể thực hiện được, nếu nhưdoanh nghiệp xác lập thiết kế mô hình dự trữ hợp lý; hệ thống cung ứngnguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở nghiên cứu đáng giá nhu cầu về thịtrường (cả đầu vào và đầu ra), khả năng tổ chức cung ứng, khả năng quản lý -Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp

Theo quan điểm quản trị chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù côngnhân là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng người quản lý lại là ngườiphải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm sản xuất ra Trong thực tế, tỷ lệ tỷ lệliên quan đến những vấn đề trong quản lý chiếm tới 80%

Do vậy, họ phải nhận thức được rằng đó không chỉ do lỗi ở trình độ taynghè người công nhân mà còn do chính bản thân mình Trên thực tế, liệu đã

Trang 18

có nhà quản lý nào đặt cho chính họ những câu hỏi như: Họ bố trí lao động đãhợp lý chưa? Việc bố trí có phát huy được khả năng, trình độ tay nghề củangười công nhân hay không? Sản phẩm sản xuất với chất lượng kém có phải

do con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay do nguyên nhân nàokhác

Thêm vào đó, chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng được lập radựa trên những nghiên cứu, thiết kế của các lãnh đạo doanh nghiệp Quanđiểm của họ có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện chất lượng trong toàncông ty Điều này chứng tỏ rằng, chỉ có nhận thức được trách nhiệm của lãnhđạo doanh nghiệp thì mới có cở sở thực hiện việc cải tiến và nâng cao chấtlượng sản phẩm của doanh nghiệp

4 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm

Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm là đặc tính, định lượng của tính chất cấuthành hiện vật sản phẩm Có rất nhiều các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sảnphẩm Chúng được phân thành hai loại:

-Nhóm các chỉ tiêu không so sánh được

-Nhóm các chỉ tiêu so sánh được

a) Nhóm các chỉ tiêu không so sánh được

-Chỉ tiêu công dụng: Đây là chỉ tiêu đặc trưng cho các thuộc tính, xácđịnh những chức năng chủ yếu của sản phẩm, quy định giá trị sử dụng của sảnphẩm

-Chỉ tiêu độ tin cậy: Phản ánh sự ổn định của các đặc tính sử dụng củasản phẩm, khả năng sản phẩm và dịch vụ có thể tiếp tục đáp ứng các yêu cầucủa người tiêu dùng

-Chỉ tiêu công nghệ: Là những chỉ tiêu đặc trưng cho phương pháp, quytrình sản xuất nhằm tiết kiệm các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất (tốithiểu hoá các chi phí sản xuất) sản phẩm:

-Chỉ tiêu lao động học: Phản ánh mối quan hệ giữa con người với sảnphẩm, đặc biệt là sự thuận lợi mà sản phẩm đem lại cho người tiêu dùng trongquá trình sử dụng

-Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trưng cho mức độ truyền cảm, hấp dẫn của sảnphẩm, sự hài hoà về hình thức, nguyên vẹn về kết cấu

Trang 19

-Chỉ tiêu độ bền: Đây là chỉ tiêu phản ánh khoảng thời gian từ khi sảnphẩm được hoàn thiện cho tới khi sản phẩm không còn vận hành, sử dụngđược nữa.

-Chỉ tiêu dễ vận chuyển: Phản ánh sự thuận tiện của các sản phẩm trongquá trình di chuyển, vận chuyển trên các phương tiện giao thông

-Chỉ tiêu an toàn: Chỉ tiêu đặc trưng cho mức độ an toàn khi sản xuấthay tiêu dùng sản phẩm

-Chỉ tiêu sinh thái: Phản ánh mức độ gây độc hại, ảnh hưởng đến môitrường xung quanh trong quá trình sản xuất và vận hành sản phẩm

-Chỉ tiêu tiêu chuẩn hoá, thống nhất hoá Đặc trưng cho khả năng lắpđặt và thay thế của sản phẩm khi sử dụng

-Chỉ tiêu kinh tế: Phản ánh các chi phí cần thiết từ khi thiết kế, chế tạođến khi cung ứng sản phẩm và các chi phí liên quan sau khi tiêu dùng sảnphẩm

b) Nhóm chỉ tiêu có thể so sánh được

-Tỷ lệ sai hỏng: Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng sản phẩm trongcác doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm không phân thứ hạng chất lượngsản phẩm:

+Sử dụng thước đo hiện vật

Số lượng sản phẩm sai hỏng

Tổng sản phẩm sản xuất +Sử dụng thước đo giá trị:

Chi phí cho các sản phẩm hỏng

Tổng chi phí cho toàn bộ sản phẩm

-Hệ số phẩm cấp bình quân: áp dụng đối với những doanh nghiệp sảnxuất có phân hạng chất lượng sản phẩm

) (

p qi pi qi

Trang 20

Trong đó

H: Hệ số sản phẩm bình quân

qi: Số lượng sản phẩm loại i

pi: Đơn giá sản phẩm loại i

p1: Đơn giá sản phẩm loại 1

-Trong quản lý chất lượng sản phẩm người ta chủ yếu tính toán độ lệchchuẩn và tỷ lệ đạt chất lượng để biết được chất lượng sản phẩm

+Độ lệch chuẩn (ọ)

ọ=

1

) (

n i

Trang 21

II- QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.

1 Một số quan điểm về quản lý chất lượng sản phẩm và các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm.

a) Một số quan điểm về quản trị chất lượng sản phẩm

Chúng ta biết rằng, để đạt được "chất lượng" như mong muốn, nó đòihỏi phải có sự kết hợp hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau.Một trong những yếu tố hết sức quan trọng là "quản lý chất lượng" Phải cóhiểu biết đúng đắn về chất lượng và quản lý chất lượng thì mới có thể giảiquyết tốt vấn đề chất lượng Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong nhiềungành, nhiều loại hình doanh nghiệp với quy mô lớn nhỏ khác nhau Nhờ có

nó mà các doanh nghiệp có thể xác định đúng đắn những nhiệm vụ quan trọng

và phương pháp nâng cao khả năng cạnh tranh

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hiểu và vận dụng đúng nghĩa của

nó Từ các khía cạnh, góc độ khác nhau mỗi nhà nghiên cứu có những cáchtiếp cận riêng

Theo nhà quản lý người Anh A.G Robetson: "Quản lý chất lượng sảnphẩm là ứng dụng các biện pháp , thủ tục, kỹ thuật, đảm bảo cho sản phẩmphù hợp với thiết kế, yêu cầu trong hợp đồng kinh tế bằng con đưòng hiệu quảnhất, kinh tế nhất"

Theo Ishikawa - nhà nghiên cứu chất lượng người Nhật cho rằng:

"Quản lý chất lượng sản phẩm có nghĩa là nghiên cứu - thiết kế- triển khai sảnxuất và bảo dưỡng, một sản phẩm có chất lượng phải kinh tế nhất và bao giờcũng thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng"

Quản lý chất lượng sản phẩm theo định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩnquốc tế ISO là một hoạt động có chức năng quản lý nhằm đề ra các chínhsách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như:Hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiếnchất lượng

Nhìn chung các khái niệm trên đây đều có những điểm giống nhau:Quản lý chất lượng là hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng thoảmãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất, có hiệu quả kinh tế cao nhấtđược tiến hành ở tất cả các công đoạn hình thành chất lượng sản phẩm từnghiên cứu-thiết kế-triển khai sản xuất-bảo quản và vận chuyển đến tiêudùng Quản lý chất lượng cần được bảo đảm trong tất cả các khâu, đó là trách

Trang 22

nhiệm của toàn bộ nhân sự trong công ty từ cán bộ lãnh đạo cho tới các nhânviên, công nhân trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

b) Các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm

Trong lịch sử phát triển của sản xuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đãkhông ngừng tăng lên do tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngàycàng trở nên khốc liệt Cùng với sự phát triển đó thì khoa học quản lý đượcphát triển và hoàn thiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạpcủa vấn đề chất lượng, phản ánh sự thích ứng với môi trường và điều kiệnkinh doanh mới Quá trình nhận thức và ứng dụng về quản lý chất lượng sảnphẩm đã vận động qua các giai đoạn khác nhau:

-Kiểm tra chất lượng

Các sản phẩm sau quá trình sản xuất mới tiến hành kiểm tra các khuyếttật Khi phát hiện ra các khuyết tật mới đề ra các biện pháp xử lý, thôngthường phương pháp này không phát hiện ra được nguyên nhân đích thực

Tuy nhiên, để khắc phục những sai sót này thì các doanh nghiệp đãtăng cường các cán bộ KCS Đi kèm với việc này là việc tăng chi tiêu rấtnhiều mà công tác kiểm tra không đảm bảo, trong nhiều trường hợp độ tin cậyrất thấp

-Kiểm soát chất lượng

Là việc đề ra các biện pháp đề phòng ngừa các sai sót, hay khuyết tật

có thể xảy ra trong quá trình sản xuất thông qua

+Kiểm soát con người

+Kiểm soát phương pháp và quy trình sản xuất

+Kiểm soát người cung ứng ( nguyên, nhiên vật liệu )

+Kiểm soát trang thiết bị dùng trong thử nghiệm và sản xuất

+Kiểm soát thông tin

-Đảm bảo chất lượng

Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cầnphải duy trì mức chất lượng đã đạt được thông qua việc đảm bảo chất lượngsản phẩm Đây là quá trình cung cấp các hồ sơ chứng minh việc kiểm soátchất lượng và các bằng chứng việc kiểm soát chất lượng sản phẩm cho kháchhàng

Trang 23

Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch và hệ thống, đượckiểm định nếu cần để đem lại lòng tin thoả đnág sản phẩm thoả mãn các yêucầu đã định đối với chất lượng.

Quan điểm đảm bảo chất lượng lần đầu tiên được áp dụng đối với cácngành công nghiệp đòi hỏi độ tin cậy cao sau đó phát triển rộng sang các sảnphẩm bình thường khác độ tin cậy không cao

-Quản lý chất lượng

Là việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng, đồng thời tính toánhiệu quả kinh tế để có thể có được giá thành rẻ nhất Bằng việc đề ra cácchính sách thích hợp, quản lý chất lượng cho phép tiết kiệm tối đa và giảmthiểu các chi phí không cần thiết

-Quản lý chất lượng toàn diện

Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của quản lý chất lượng sản phẩmbao gồm có 4 quá trình trên

Quản lý chất lượng toàn diện là một phương phá quản lý trong một tổchức định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên vànhằm đến sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi íchcủa mọi thành viên trong công ty và xã hội

Chất lượng (sản phẩm) toàn diện là sự thoả mãn sự mong đợi của ngườitiêu dùng có liên quan đến doanh nghiệp cả bên trong và bên ngoài Quản lýchất lượng toàn diện được thực hiện trên quy mô tổng thể với sự tham gia củamọi thành viên trong doanh nghiệp, nhằm đạt được: "chất lượng toàn diện"trên cơ sở đảm bảo đầy đủ các điều kiện cần thiết để có:

+Chất lượng thông tin

+Chất lượng đào tạo

+ Chất lượng trong hành vi thái độ cư xử trong nội bộ doanh nghiệpcũng như đối với khách hàng bên ngoài

2 Nội dung công tác quản lý chất lượng trong doanh nghiệp.

a) Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế.

Công tác thiết kế có tầm quan trọng rất lớn thể hiện ý đồ có tính chấtquyết định trong chiến lược sản phẩm, chính sách chất lượng của một doanhnghiệp Các sản phẩm được thiết kế một cách đúng đắn, phù hợp với nhu cầucủa người tiêu dùng sẽ góp phần rất lớn trong thành quản hoạt động, khả năngcạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Công tác thiết kế được hiểu là sự kết hợpgiữa nghiên cứu của bộ phận Marketing và triển khai thực hiện của phòng

Trang 24

quản lý sản xuất Nó được xem như cầu nối giữa chức năng marketing vàchức năng tác nghiệp trong một doanh nghiệp Do đó, công tác thiết kế phụthuộc rất nhiều vào kết quả, hiệu quả, chất lượng của các hoạt động nghiêncứu thị trường Hoạt động này có ảnh hưởng rất nhiều tới khả năng tiêu thụ,cạnh tranh của sản phẩm trong tương lai, nó đưa ra những đề xuất cho thiết kếsản phẩm mới phù hợp hơn với nhu cầu thị trường.

Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này:

-Tập hợp và chuyển hoá những nhu cầu của khách hàng thành đặc điểmcủa sản phẩm thông qua nghiên cưú đề xuất của tất cả các bộ phận trongdoanh nghiệp: marketing, tài chính, tác nghiệp, cung ứng nhằm thiết kế sảnphẩm Thiết kế là quá trình bảo đảm thực hiện những đặc điểm sản phẩm đãxác định để thoả mãn nhu cầu khách hàng Kết quả của các quá trình này làcác bản sơ đồ thiết kế, ích lợi mà người tiêu dùng nhận được từ đặc điểm củasản phẩm

-Đưa ra các phương án khác nhau cho quá trình thiết kế để đáp ứngđược nhu cầu thị trường Các đặc điểm sản phẩm có thể lấy từ sản phẩm cũhay cải tiến cho phù hợp với những đòi hỏi mới, hoặc đưa ra những đặc điểmhoàn toàn mới

-Thử nghiệm, kiểm tra các phương án nhằm lựa chọn phương án tối ưu.-Quyết định những đặc điểm đã lựa chọn Đáp ứng nhu cầu thích hợpvới khả năng, bảo đảm tính cạnh tranh, tối ưu hoá chi phí

-Phân tích kinh tế: đánh giá mối quan hệ giữa những lợi ích mà sảnphẩm đem lại với chi phí để sản xuất sản phẩm

Những chỉ tiêu cần kiểm tra trong giai đoạn này bao gồm:

-Trình độ chất lượng sản phẩm thiết kế

-Chỉ tiêu tổng hợp về tài liệu thiết kế, công nghệ và chất lượng chế thử.-Hệ số khuyết tật của sản phẩm chế thử và các biện pháp điều chỉnh.-Hệ số chất lượng của chuẩn bị thiết bị, công nghệ sản xuất hàng loạtsau đó

b) Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu đầu vào

Mục tiêu của giai đoạn này là nhằm đáp ứng đúng chủng loại số lượng,thời gian, địa điểm và các đặc tính kinh tế- kỹ thuật cần thiết của nguyên vật

Trang 25

liệu đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành thường xuyên, liên tục, tiếtkiệm chi phí.

-Lựa chọn người cung ứng có khả năng đáp ứng chất lượng vật tư,nguyên liệu cho sản xuất

-Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ và thường xuyên, cậpnhật

-Thoả thuận việc bảo đảm chất lượng thường xuyên nguyên vật liệucung ứng

-Thoả thuận phương pháp thẩm tra, xác minh

-Thoả thuận phương pháp giao nhận

-Xác định những điều khoản giải quyết khi có tranh cháp xảy ra

c) Quản lý chất lượng khâu sản xuất.

Mục đích của khâu quản lý quá trình sản xuất không phải là loại bỏnhững sản phẩm xấu, kém chất lượng sau quá trình sản xuất, mà phải ngănchặn những nguyên nhân làm xuất hiện sản phẩm xấu trong quá trình sảnxuất Mặt khác, việc ngăn chặn những sản phẩm xấu không chỉ dựa vào bộphận KCS hoặc xem phương pháp này là công cụ chủ yếu để loại bỏ phếphẩm, thứ phẩm

Bởi vậy, phải quản lý ngay từ đầu khâu đầu tiên của quá trình hìnhthành chất lượng sản phẩm Trong sản xuất, phải phát hiện ngay những sai sóttrong mọi công đoạn càng sớm càng tốt, đặc biệt là những khâu đầu - xử lýnguyên vật liệu, tạo hình sản phẩm, gia công chế biến Ngoài ra cần có nhậnthức đúng đắn việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như quản lý quá trìnhsản xuất, không chỉ là trách nhiệm của nhà quản lý, mà là trách nhiệm củamọi thành viên trong doanh nghiệp Tất cả thành viên từ lãnh đạo đến côngnhân, cán bộ phòng ban đều phải tham gia vào quá trình quản lý chất lượngsản phẩm, trong đó khâu quản lý quá trình sản xuất là giai đoạn quan trọngquyết định sự hình thành các đặc tính, chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm Mụcđích của quản lý quá trình sản xuất

-Đảm bảo chất lượng sản phẩm được hình thành ở mức cao nhất (theoyêu cầu thiết kế), thoả mãn yêu cầu thị trường ở mức độ thích hợp nhất

-Đảm bảo chi phí sản xuất ở mức thấp nhất

-Đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất (số lượng, chất lượng) đúngthời gian quy định

Trang 26

-Đảm bảo duy trì chất lượng sản phẩm trong quá trình lưu thông, giảmtối đa sự biến đổi về chất lượng.

Để thực hiện các mục tiêu trên đây, các công việc cần thực hiện trongquá trình quản lý

-Cung ứng vật tư nguyên vật liệu đúng số lượng, chất lượng, chủngloại, thời gian, địa điểm

-Tổ chức lao động hợp lý, để các thành viên là người sáng tạo ra chấtlượng, tự mình kiểm tra và khắc phục kịp thời mọi sai sót

-Thiết lập và thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục, thao tác thựchiện các công việc

-Kiểm tra chất lượng các chi tiết, bán thành phẩm sau từng côngđoạn, để khắc phục sai sót và khắc phục, loại bỏ các nguyên nhân

-Kiểm tra chất lượng sản phẩm hoàn chỉnh

-Kiểm tra, hiệu chỉnh thường kỳ các dụng cụ kiểm tra, đo lường chấtlượng

-Kiểm tra thường xuyên kỹ thuật công nghệ để có kế hoạch bảo dưỡngkịp thời

Những chỉ tiêu chất lượng cần xem xét đánh giá trong giai đoạn này.-Thông số kỹ thuật của các chi tiết bộ phận, bán thành phẩm và thànhphẩm

-Các chỉ tiêu về tình hình thực hiện kỷ luật công nghệ, kỷ luật lao độngtrong các bộ phận cả hành chính và sản xuất

-Các chỉ tiêu về chất lượng quản trị của cán bộ quản lý

-Các chỉ tiêu về tổn thất, thiệt hại do sai lầm, vi phạm kỷ luật lao động,quy trình công nghệ

d) Quản lý chất lượng trong và sau khi bán.

Mục tiêu của quản lý chất lượng trong giai đoạn này, nhằm đảm bảothoả mãn khách hàng nhanh nhất, thuận tiện nhất với chi phí thấp nhất, nhờ

đó tăng được uy tính và danh tiếng của doanh nghiệp Không chỉ có thế, cácdoanh nghiệp cần phải nhận thức được rằng muốn tiêu thụ được sản phẩm vàlôi cuốn ngày càng nhiều khách hàng thì cần phải phát triển những hoạt độngdịch vụ sau khi bán hàng Đồng thời đây còn là lĩnh vực hấp dẫn nhất hiệnnay, đem lại phần lớn nguồn thu của không ít doanh nghiệp Vì vậy, những

Trang 27

năm gần đây công tác bảo đảm chất lượng trong và sau khi bán hàng được cácdoanh nghiệp rất chú ý và mở rộng phạm vi.

Nhiệm vụ chủ yếu của quản trị chất lượng trong giai đoạn này là:-Tạo được danh mục các sản phẩm hợp lý

-Tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm, dịch vụ thuận lợi, nhanhchóng kịp thời

-Thuyết minh, hướng dẫn đầy đủ các thuộc tính sử dụng, điều kiện sửdụng, quy trình, quy phạm sử dụng sản phẩm

-Dự kiến lượng, chủng loại phụ tùng thay thế cần phải đáp ứng nhu cầukhi sử dụng sản phẩm

-Nghiên cứu đề xuất những phương án bao gói, vận chuyển, bảo quản,bốc dỡ hợp lý, nhằm tăng năng suất,hạ giá thành

-Tổ chức bảo hành, dịch vụ kỹ thuật sau bán hàng

3 Các công cụ sử dụng trong quản lý chất lượng sản phẩm

Trong quá trình tổ chức và thực hiện việc quản lý chất lượng sản phẩmcác doanh nghiệp cần có các công cụ để đánh giá và đưa ra những giải pháptối ưu cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm Có rất nhiều các công cụ quản

lý khác nhau được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới, tuy nhiên ở ViệtNam, hầu hết các doanh nghiệp đều chưa hiểu rõ và áp dụng còn rất hạn chế.Như vậy, việc tìm hiểu nội dung và ý nghĩa của các công cụ này là hết sứccần thiết Một số công cụ quản lý sau đây có thể ứng dụng trong hoạt độngkinh doanh tại Việt Nam

Khách Quy trình sản xuất

Trang 28

Đầu vào Đầu ra

Mô hình cải tiến sản phẩm, quy trình tổng hợp

Để có thể thực hiện được quá trình sản xuất, các doanh nghiệp phảimua sắm các thiết bị, yếu tố đầu vào (nguyên, nhiên vật liệu ) từ các nhàcung cấp Sự phối hợp giữa các yếu tố đầu vào với máy móc, thiết bị, phươngpháp sản xuất và nhân lực sẽ tạo ra sản phẩm Nhìn vào mô hình trên ta dễdàng nhận thấy các nhân tố ảnh hưởng đối với chất lượng sản phẩm, từ đóphát hiện kịp thời các nguyên nhân gây ra sai sót để có sự điều chỉnh, cải tiếnnhanh chóng hơn

*Ý nghĩa của biểu đồ luồng

-Giúp cho người thực hiện trong quy trình hiểu rõ toàn bộ quy trình mộtcách thống nhất

-Tạo mối quan hệ tốt giữa người cung cấp, khách hàng và các phòngban, cải tiến quá trình truyền thông tin giữa các phòng ban và các khu vực

b) Mô hình Ishikawa (mô hình xương cá)

Là mô hình biểu thị mối liên hệ giữa các đặc tính chất lượng với cácnhân tố làm ảnh hưởng tới sự phân tán các đặc tính này

Mô hình xương cá có hình dạng tương tự như xương ca ở giữa là 1 trụcmũi tên (xương sống), hai bên có nhiều nhánh nhỏ biểu thị các yếu tố ảnhhưởng tới các đặc tính chất lượng Mô hình sau là một ví dụ tìm ra nguyênnhân gây phế phẩm trong quy trình sản xuất

Con người Công nghệ máy móc Đ o lường

công nghệ

Lắp rạp

Bố trí sản xuất

Trang 29

Mô hình Ishikawa phát hiện nguyên nhân phế phẩm

Nhìn vào mô hình ta có thể thấy rõ có 5 nguyên nhân chính gây ra phếphẩm

*Ý nghĩa của mô hình

-Mô hình Ishikawa được sử dụng trong việc đào tạo cán bộ, nhân viêncủa doanh nghiệp

-Là chìa khoá để phát hiện nguyên nhân, cho phép tìm ra nhân tố ảnhhưởng chủ yếu đến đối tượng để có hướng khắc phục và cải tiến chất lượngsản phẩm

Trang 30

-Phân loại theo thứ tự quan trọng các hiện tượng hoặc các nguyên nhân.-Sắp xếp dữ liệu từ lớn đến nhỏ các sự việc hoặc chi phí sai sót nhằmphát hiện, xử lý, loại bỏ.

-Các nguyên nhân gây sai sót phổ biến

-Thứ tự ưu tiên các vấn đề cần khắc phục

Đơn vị đo

Các nhân tố

Mô hình Pareto tổng hợp.

-Đơn vị đo có thể bao gồm

+Thời gian giảm xuống

Trang 31

+Thiết bị.

+

*Ý nghĩa của biểu đồ

-Cho thấy rõ nhân tố nào xuất hiện với tần số lớn nhất để hành độngkhắc phục kịp thời

-Cho phép biểu thị bằng đồ thị hiệu quả của bất kỳ cải tiến nào và nhờ

đó động viên được tinh thần trách nhiệm của nhân viên và công nhân trongcải tiến đó

d) Các mô hình phân tán (Biểu đồ tán xạ)

Mô hình phân tán là một kỹ thuật đồ thị để nghiên cứu mối quan hệgiữa 2 bộ số liệu liên hệ xảy ra theo cặp Mô hình phân tán được trình bàycác cặp như một tập hợp điểm Mối quan hệ giữa các bộ số liệu liên hệ đượcsuy ra từ hình dạng của tập hợp đó Mối quan hệ thuận giữa hình dạng của cácđám mây đó Mối quan hệ thuận giữa x và y là các giá trị tăng lên của x đượcgắn với các giá trị tăng lên cuả y Mối quan hệ nghịch có nghĩa là các giá trịtăng lên của x kéo theo các giá trị giảm đi của y

Trong nhiều trường hợp, chúng ta có các dữ liệu liên quan đến một sốđặc tính hoặc liên quan tới các dữ liệu khác Các dữ liệu này được lấy từ cácnguồn khai thác khác nhau; từ người sản xuất, dịch vụ, quản lý Ví dụ, chúng

ta có thể muốn biết công việc dở dang có ảnh hưởng tới tỷ lệ lỗi của việc nhập

dữ liệu vào máy tính hay không Mối quan hệ này có thể được đánh giá màkhông mang tính toán học bằng cách sử dụng biểu đồ tán xạ

Trên trục số, trục tung biểu thị cho những đặc trưng Y mà chúng tamuốn khảo cứu, trục hoành biểu thị cho những biến số X mà ta đang xem xét

*Ý nghĩa của mô hình

Mô hình tán xạ cho phép chúng ta biết được mối liên hệ giữa các biến

số và đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tố này đến nhân tố kia

4 Một số mô hình quản lý chất lưọng.

a) Mô hình quản lý chất lượng sản phẩm toàn diện.

Những năm gần đây, cùng với sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mớigóp phần nâng cao hoạt động quản lý chất lượng, hệ thống quản lý Just intime đã là cơ sở cho lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện Hệ thống quản lý

Trang 32

chất lượng toàn diện được ra đời từ các nước phương Tây gắn liền với tên tuổicủa Deming, Juran

*Khái niệm

Quản lý chất lượng toàn diện là một phương pháp quản lý của một tổchức định hướng vào chất lượng dựa trên sự tham gia của mọi thành viênnhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợiích của mọi thành viên của công ty đó và xã hội

*Mục tiêu của quản lý chất lượng toàn diện

-Nâng cao uy tín, lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập của cácthành viên, cải tiến chất lượng sản phẩm và thoả mãn nhu cầu khách hàng ởmức tốt nhất có thể

-Tiết kiệm tối đa các chi phí, giảm những chi phí không cần thiết

-Tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản xuất sản phẩm

-Rút ngắn thời gian giao hàng

*Đặc điểm

Đặc điểm nổi bật của quản lý chất lượng toàn diện so với các phươngpháp quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp hệ thống toàn diện củacông tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huyđộng sự tham gia của mọi bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chấtlượng đặt ra

Sự nhất thể mọi hoạt động trong quản lý chất lượng toàn diện đã giúpcông ty tiến hành hoạt động phát triển sản xuất, tác nghiệp và các dịch vụ hỗtrợ để duy trì được chất lượng sản phẩm với tiến độ ngắn nhất, chi phí thấpnhất Khác với cách triển khai tuần tự nó đòi hỏi sự triển khai đồng thời củamọi quá trình trong một hệ thống tổng thể

Công ty áp dụng quản lý chất lượng toàn diện có thể bao quát được mộtgiai đoạn tư duy chất lượng khác nhau và luôn cải tiến khả năng đáp ứng nhucầu của khách hàng

Cần phải xác định vai trò và mối quan hệ giữa các thành viên trong hệthống, đảm bảo cho thông tin luôn được thông suốt

*Nội dung:

Theo cách tiếp cận của một số nhà nghiên cứu thì quản lý chất lượngtoàn diện bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Trang 33

-Am hiểu chất lượng: Là cái nhìn và sự am hiểu về chất lượng, cácthuật ngữ, các khái niệm, các quá trình, các lĩnh vực liên quan đến chất lượng.

-Cam kết và chính sách: Là giai đoạn hoạch định và phổ biến các chínhsách chất lượng cho tất cả mọi thành viên

-Tổ chức chất lượng: Là giai đoạn thiết lập và tổ chức bộ máy nhân sựtrong đó xác định rõ trách nhiệm, chức năng của mỗi cá nhân, bộ phận cáccấp lãnh đạo trung gian, các phòng ban

-Đo lường chất lượng: Là giai đoạn xác định và phân tích các chi phíchất lượng như chi phí sai hỏng bên trong, chi phí sai hỏng bên ngoài, chi phíthẩm định, chi phí phòng ngừa, trên cơ sở đó đề rác biện pháp để giảm thiểucác chi phí đó

-Lập kế hoạch chất lượng: Là một văn bản đền cập riêng đến từng sảnphẩm, hoạt động dịch vụ và vạch ra những hoạt động cần thiết có liên quanđến chất lượng trên cơ sở thiết lập các đồ thị lưu hình

-Thiết kế chất lượng: Là tổng hợp các hoạt động nhằm xác định nhucầu, triển khai những gì thoả mãn nhu cầu, kiểm tra sự phù hợp với nhu cầu

và đảp bảo là các nhu cầu được thoả mãn

-Xây dựng hệ thống chất lượng: Là một hệ thống cấp I liên quan đếnthiết kế, sản xuất hoặc thao tác và lắp đặt, được áp dụng khi khách hàng định

rõ hàng hoá hoặc dịch vụ phải hoạt động như thế nào chứ không phải nói theonhững thuật ngữ kỹ thuật đã được xác lập

-Kiểm tra chất lượng: Là việc sử dụng các công cụ SPC (Các công cụthống kê) để kiểm tra xem quy trình có được kiểm soát, có đáp ứng được cácyêu cầu hay không

-Hợp tác về chất lượng: Là một nhóm ngưoiừ cùng làm một hoặc một

số công việc giống nhau, một cách tự nguyên đều đặn nhằm xác minh, phântích và giải quyết những vấn đề liên quan đến công việc và kiến nghị nhữnggiải pháp cho ban quản lý

-Đào tạo và huấn luyện về chất lượng: Quá trình lập kế hoạch và tổchức triển khai các nội dung đào tạo và huấn luyện cho cấp lãnh đạo cao nhấtcho đến nhân viên mới nhất và thấp nhấp hiểu rõ trách nhiệm cá nhân của mỗingười về đáp ứng yêu cầu của khách hàng

-Thực hiện quản lý chất lượng toàn diện: Chính là quá trình triển khai

và thực hiện các nội dung đã trình bày ở trên

Trang 34

b) Mô hình tổ chức quản lý chất lượng ISO-9000

Bộ tiêu chuẩn ISO-9000, do tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO)ban hành năm 1987, nhằm mục đích đưa ra một số mô hình quản lý chấtlượng được chấp thuận ở phạm vi quốc tế và có thể áp dụng rộng rãi tronglĩnh vực sản xuất, kinh doanh

ISO-9000 đề cập tới các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng:Chính sách chất lượng, thiết kế sản phẩm, cung ứng; kiểm soát quátrình ,phân phối dịch vụ sau bán hàng, đánh giá nội bộ, đào tạo, huấn luyện.ISO-9000 là tập hợp những kinh nghiệm quản lý chất lượng đã được thực thitại nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển

Bộ tiêu chuẩn ISO-9000 bao gồm các hệ thống tiêu chuẩn sau đây:

*ISO-9001

Đây là hệ thống quản lý chất lượng trong khâu thiết kế, triển khai, sảnxuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật, là hệ thống có phạm vi áp dụng lớn nhất Nóđược sử dụng trong các doanh nghiệp có trách nhiệm thiết kế - triển khai, sảnxuất - lắp đạt và dịch vụ cho sản phẩm

Tiêu chuẩn này bao gồm một loạt các yêu cầu về hệ thống quản lý chấtlượng của doanh nghiệp, bắt đầu từ trách nhiệm của quản trị cấp cao, chuẩn bịcác chỉ tiêu để thẩm tra các yếu tố chính trong quản lý chất lượng toàn diệncho đến việc thẩm tra chất lượng nội bộ để xác minh hiệu quả của hệ thốngquản lý chất lượng

*ISO-9002

Là hệ thống quản lý chất lượng trong sản xuất, lắp đặt tương tự nhưISO-9001, song nó khác ở chỗ chỉ giới hạn cho triển khai làm dịch vụ cho sảnphẩm Đối với doanh nghiệp chỉ sản xuất và lắp đặt sản phẩm thì ISO-9002thoả mãn các yêu cầu cơ bản

*ISO-9003

Là hệ thống quản lý chất lượng trong khâu kiểm tra và thử nghiệm cuốicùng ISO-9003 được áp dụng cho các doanh nghiệp mà sản phẩm ít liên quantới thiết kế, lắp đặt

ISO-9003 bảo đảm với khách hàng về mặt kiểm tra và thử nghiệm cuốicùng của doanh nghiệp đối với số liệu về chất lượng là đảm bảo tích trungthực, phản ánh thực tế chất lượng sản phẩm bán cho khách hàng Nếu doanh

Trang 35

nghiệp thực hiện đúng theo ISO-9003 thì sản phẩm mà khách hàng nhận được

là sản phẩm có chất lượng đúng với tiêu chuẩn thiết kế quy định

*ISO-9004

Quản trị chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất lượng này là tiêuchuẩn hướng dẫn cách thức triển khai và áp dụng hệ thống quản lý chấtlượng mà ISO-9001,ISO-9002, ISO-9003 đòi hỏi Tiêu chuẩn này lưu tâm tớitrách nhiệm của nhà quản trị, các nguyên tắc để triển khai hệ thống chấtlượngcũng như các yêu cầu phải đạt trước khi thực hiện

III-TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

1 Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Là nước đi sau trong phát triển kinh tế,Việt Nam có nhiều thuận lợitrong việc thừa kế những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại cùng nhưngxkinh nghiệm quản lý kinh tế tiên tiến của các nước phát triển.Với chính sách

mở cửa, Việt Nam đã ngày càng thu hút được nhiều các công ty, các ttạp đoànkinh doanh đầu tư tham gia vào nền kinh tế Diều đó tạo điều kiện thuận lợicho việc tiếp cận và phát huy các phương pháp quản lý chất lượng mới, hiệnđại trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

Với đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước đãtạo ra động lực cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vàophát triển nền kinh tế Đặc biệt trong những năm gần đây,Nhà nước đã quantâm nhiều hơn tới vấn đề chất lượng sản phẩm Đồng thời các doanh nghiệpđãdần dần nhận thức được vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm và đổimới tư duy trong phương pháp quản lý chất lượng Hàng hoá của Việt Namđang dần khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường trong nước vàquốc tế

Cùng với những thuận lợi trên đây, các doanh nghiệp Việt Nam còngặp không ít những khó khăn thách thức trong quá trình hội nhập và khẳngđiịnh chất lượng sản phẩm Việt Nam

Cho tới nay, nước ta vẫn chưa có một chính sách quốc gia về chấtlượng sản phẩm Sự thiếu hụt các chính sách, các chiến lược dài hạn về chấtlượng sản phẩm dẫn đến sự thiếu định hướng trong phát triển, nâng cao chấtlượng sản phẩm phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế nước ta Thêm vào

đó, việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới AFTA, OPEC và gần đây

Trang 36

nhất là hiệp định thương mại Việt Mỹ sẽ tạo ra một sức ép rất lớn đối với cácdoanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường Điều đó buộc các doanhnghiệp Việt Nam muốn có chỗ đứng trên thị trường cần phải tăng cường đầu

tư đổi mới thiết bị công nghệ, lựa chon mô hình quản lý chất lượng phù hợp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường

Sự ra đời của hệ thống quản lý chất lượng mới như ISO 9000, TQM vô hìnhchung đã trở thành hàng rào ngăn cản đối với các sản phẩm của Việt Nam vìkhi muốn thâm nhập vào thị trường, đặc biệt là thị trường các nước phát triển,đòi hỏi các sản phẩm phải có chứng nhận đã áp dụng một hệ thống quản lýchất lượng phù hợp, Như vậy, trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá việcnâng cao chất lượng sản phẩm, khẳng định thương hiệu của mình là một việclàm tất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam đó là phương cách duy nhất đảmbao cho sự tồn tại và phát triển của họ trong quá trình hội nhập vào nền kinh

tế trong nước và quốc tế

2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nâng cao chất lượng sản phẩm làbiện pháp hữu ích nhất để có thể cạnh tranh thu hút khách hàng Công việcnày không những có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp mà còn quantrọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vai trò đó được thể hiện như sau

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần nâng cao uy tín của quốcgia, khẳng định thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế Không những lợiích kinh tế - văn hoá mà nó còn thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập, rút ngắnkhoảng cách chêch lệch về phát triển kinh tế

- Đối với các doanh nghiệp, nó cho phép nâng cao uy tín, góp phần mởrộng thị trường trong nước, chiếm lĩnh thị trường thế giới, tăng thu nhập vàtạo tích luỹ đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống vật chấttinh thần cho người lao động

- Đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao cho người tiêu dùng, tạo niềm tinđối với khách hàng, thoả mãn ngày càng tốt hơn yêu cầu của họ, tiến tới thaythế hàng ngoại bằng hàng nội

Trong môi trường kinh doanh ngày nay, nếu muốn giữ vững tỷ lệchiếm lĩnh thị trường - chưa nói gì đến việc tăng tỷ lệ đó - cần thiết phải xâydựng được hệ thống bảo đảm chất lượng trong doanh nghiệp Ngày nay,người tiêu dùng coi trọng giá trị của chất lượng hơn là lòng trung thành đốivới nhà sản xuất trong nước, và giá cả chưa hẳn trong mọi trường hợp đã là

Trang 37

nhân tố quyết định trong sự lựa chọn của người tiêu dùng Chất lượng đã thaythế giá cả, và điều đó đúng với cả công nghiệp, dịch vụ và nhiều thị trườngkhác Vì vậy, quản trị chất lượng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việcđảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp Nó quyết định

sự sống còn của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Quản trị chấtlượng được thể hiện trên toàn hệ thống bao gồm tất cả các khâu, các quá trình

từ nghiên cứu thiết kế đến chế tạo, phân phối và tiêu dùng sản phẩm Quản trịchất lượng là một quá trình liên tục và mang tính hệ thóng thể hiện sự gắn bóchặt chẽ giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài Nó có ý nghĩa chiếnlược và mang tính tác nghiệp Nếu quản trị chất lượng tốt, nó sẽ mang lại hiệuquả cao trong sản xuất kinh doanh giảm đến mức thấp nhất các chi phí phátsinh trong quá trình sản xuất như chi phí sai hỏng bên trong, chi phí sai hỏngbên ngào, chi phí thẩm định và chi phí phòng ngừa từ đó giảm được giáthành của một sản phẩm, thoả mãn tốt nhu cầu khách hàng Phân tích chi phíchất lượng là một công cụ quản lý quan trọng cung cấp cho chúng ta mộtphương pháp đánh giá hiệu suất tổng hợp của quản lý chất lượng, một phươngpháp để xác định các khu vực có trục trặc và các chỉ tiêu hành động

Quản trị chất lượng tốt sẽ bảo đảm tốt cho chu trình sản xuất được tiếnhành liên tục và có hiệu quả cao - sản phẩm được tuân thủ theo chất lượng đãđược thiết kế Rõ ràng muốn sản xuất được một sản phẩm đáp ứng được yêucầu khách hàng, thì cần phải xác định, theo dõi và kiểm soát các đầu vào củaquy trình: Vật liệu, thủ tục, phương pháp thông tin, con người, kỹ năng, kiếnthức, đào tạo, máy móc thiết bị Như vậy, mỗi một nhiệm vụ trong toàn bộmáy tổ chức sản xuất được coi trọng và kiểm soát chặt chẽ

Quản trị chất lượng tốt, chất lượng sản phẩm được đảm bảo và nângcao dẫn đến tính năng tác dụng, tiết kiệm nguồn tài nguyên tăng giá trị sảnphẩm trên một đơn vị đầu vào Nhờ đó tăng tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng,tăng năng suất lao động và tăng thu nhập cho người lao động

Khi chất lượng được bảo đảm và nâng cao thì sản phẩm được tiêu thụnhiều hơn, tạo điều kiện cho doanh ngiệp chiếm lĩnh được thị trường, tăngdoanh thu và lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh nhờ đó doanh nghiệp ngày càngđáp ứng vững, phát triển và mở rộng sản xuất, mang lại lợi ích cho mọi đốitượng trong nền kinh tế xã hội

Trang 38

PHẦN II

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CỦA

NHÀ MÁY BIA ĐÔNG NAM Á

I ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT CỦA NHÀ MÁY BIA ĐÔNG NAM Á ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.

1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy bia Đông Nam á

Địa chỉ của nhà máy Đông Nam Á: 167B - Đường Minh Khai - QuậnHai Bà Trưng - Hà Nội

Nhà máy bia Đông Nam Á (tên tiếng Anh là: South - East AsiaBrewery, Ltd) là liên doanh giữa nhà máy bia Việt Hà với công ty biaCarlsberg Quốc tế (Danbrew) và quỹ công nghiệp hóa dành cho các nướcđang phát triển của Chính phủ Đan mạch Tiền thân của nhà máy bia Việt Hà

là hợp tác xã Ba Nhất chuyên sản xuất các sản phẩm m chính, nước chấmphục vụ cho khu vực Hà Nội và các vùng lân cận Trải qua hơn 30 năm pháttriển, nhà máy đã từng bước vươn lên thành một doanh nghiệp có uy tín trênthị trường Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy gắn liền nhữngmốc quan trọng:

Giai đoạn 1966 - 1981: Trên cơ sở trang thiết bị, vốn và nhân lực củahợp tác xã Ba Nhất, tháng 6 năm 1966, nhà nước đã ra quyết định cho chuyểnhình thức sở hữu tập thể thành sở hữu toàn dân với quyết định 11379/QĐ -TCCQ của UBND thành phố Hà Nội và mang tên Xí nghiệp nước chấm thuộc

sở công nghiệp thành phố Hà Nội Trong giai đoạn này, xí nghiệp đã hoànthành các chỉ tiêu do thành phố đề ra một cách đầy đủ

Giai đoạn 181 - 1986: Theo Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ V, các xí nghiệp được quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch sảnxuất chính, sản xuất của xí nghiệp đã chuyển sang đa dạng hoá Được sự chophép của UBND thành phố Hà Nội, xí nghiệp đã đổi tên thành Nhà máy thựcphẩm Hà Nội theo quyết định số 1625/ QĐUB Mặc dù đã đa dạng hoá sảnphẩm, nhưng cũng như các doanh nghiệp khác, nhà máy vẫn sản xuất theo cácchỉ tiêu pháp lệnh và các chỉ tiêu mang tính bao cấp, do đó các sản phẩm sảnxuất ra, nói chung là chất lượng thấp, chi phí cao

Ngày đăng: 14/08/2014, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quản trị chất lượng - Nguyễn Quang Toản - NXB Thống kê, 1995 Khác
2. Quản trị chất lượng - Tại Thị Kiều An, Ngô Thị Ánh, Viện ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, 1998 Khác
3. Quản lý chất lượng là gì? - Trần Quang Tuệ - NXB Lao động, 1999 Khác
4. Quản lý chất lượng trong công nghiệp - Lê Khắc - NXB Khoa học kỹ thuật, 1976 Khác
5. Quản trị chất lượng theo phương pháp Nhật Bản - Kaôru Txikawa - NXB Khoa học kỹ thuật, 1991 Khác
6. Quản lý chất lượng đồng bộ - J.S Oakland - NXB Thống kê, 1994 Khác
7. Thời báo kinh tế năm 1998, 1999, 2000 Khác
8. Luận văn tốt nghiệp K37, K38 Khác
9. Tài liệu của Nhà máy bia Đông Nam Á Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 1: SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ MÁY - Luận văn: Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở Nhà máy bia Đông Nam Á pptx
1 SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ MÁY (Trang 72)
PHỤ LỤC 2: SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIA - Luận văn: Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở Nhà máy bia Đông Nam Á pptx
2 SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIA (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w