Trong quá trình hình thành và phát triển của Công ty từ trước đến nay bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì Công ty cũng đã trải qua không ít
Trang 1LỜI MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Sân chơi kinh doanh ngày nay là toàn cầu, các biên giới quốc gia không phải là biên giới kinh doanh nữa Những tiến bộ về khoa hoạc kỹ thuật và những biến động lớn về tình hình chính trị thế giới đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn,
sự phát triển của quốc gia không thể tách khỏi sự phát triển của thế giới Trước bối cảnh đó các tập đoàn kinh tế, các Công ty ở tất cả các nước trên thế giới dần dần chuyển từ nhãn quan hành động trong nước sang hội nhập toàn cầu và lúc này mở cửa nền kinh tế trở thành xu thế khách quan của thời đại Thực chất của việc phát triển mạnh của nền kinh tế mở chính là việc phát triển mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó ngoại thương đặc biệt là xuất khẩu giữa vị trí trọng tâm có vai trò rất quan trọng, là động lực trực tiếp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một đất nước Việt Nam cũng đã bắt nhịp với xu thế này cho nên Đảng và Nhà nước đã đưa chủ trương làm bạn với tất cả các nước trên thế giới thông qua chính sách”đa dạng hóa thị trường, đa phương hóa quan hệ kinh tế”, cần thiết phải tìm được thị trường ổn định, lâu dài thông qua hợp tác phân công lao động quốc tế và xuất khẩu hàng hóa
Có thể nói rằng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là chìa khóa mở cửa giao dịch quốc tế trong xu hướng hiện nay, đặc biệt giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Trong những năm gần đây cùng với một số sự kiện kinh tế chính trị trọng đại diễn ra như Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN năm
1995, hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký kết và có hiệu lực thi hành ngày 10/12/2001, đến nay quan hệ này ngày càng phát triển hơn và Việt Nam đang trong những bước cuối cùng của vòng đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã càng góp phần thúc đẩy hoạt động giao dịch mua bán giữa Việt Nam với các nước trên thế giới diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn và quy mô lớn hơn Hàng hóa Việt Nam đã dần dần khẳng định được vị thế và sức cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế Trong đó ngành Dệt may Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước
Trong thập kỷ vừa qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực của ngành Dệt may nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, có vị trí chiến lược trong nền kinh tế quốc dân xứng đáng với vị thế của nó đã được xác định một cách vững chắc trong các văn kiện của Đảng như là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Ngoài ra chính sách khuyến khích, đẩy mạnh xuất khẩu của Nhà nước nên
Trang 2dẫn đến sự ra đời hàng loạt của các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu Đến nay cả nước
có hơn 2000 doanh nghiệp làm hàng dệt, may xuất khẩu
Do sự gia tăng rất nhanh của nhiều doanh nghiệp dệt may xuất khẩu nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này càng trở nên gay gắt trong đó Công ty Cổ Phần may Nhà bè Vì vậy muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi Công ty phải có hướng đi phù hợp với thời đại hay nói cách khác cần phải xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh hợp
lý, đặc biệt là chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu vì đây là lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Công ty
Trong quá trình hình thành và phát triển của Công ty từ trước đến nay bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì Công ty cũng đã trải qua không ít vấp ngã, khó khăn: nguồn nguyên liệu đầu vào không đủ phục vụ cho sản xuất, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất chưa cao, gặp rủi ro trong thanh toán, khó khăn trong công tác tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm… Vì vậy vấn đề đặt ra là giải pháp nào để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc cũng như việc mở rộng thị trường xuất khẩu của Công ty trong thời gian tới góp phần đưa Công ty Cổ Phần may Nhà Bè trở thành một trong những doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc hàng đầu của Việt Nam trên thị trường nước ngoài Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề trên em quyết định chọn đề tài:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN MAY NHÀ BÈ”làm đề tài tốt nghiệp của mình
2 Mục đích của đề tài
- Củng cố, bổ sung và mở rộng kiến thức đã được trang bị ở nhà trường, hệ thống
và khái quát lý luận chung về thị trường và mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
- Vận dụng nững kiến thức đã được học ở trường vào giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội
- Phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu của Công ty trong những năm qua Trên cơ sở đó thấy được những thành tựu đã đạt được
và những hạn chế còn tồn tại cũng như những nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu mở rộng thị trường xuất khẩu hàng may mặc của Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
Trang 3Phạm vi nghiên cứu: Mở rộng thị trường là một chuỗI các khâu từ nghiên cứu thị trường, nguồn nguyên liệu đầu vào, khả năng tài chính cũng như nguồn nhân lực của Công ty …cho đến khâu tiêu thụ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp em đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích kinh tế, xã hội
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY NHÀ BÈ
Qua thời gian thực tập được sự hướng dẫn tận tình của thầy Trần Công Tài và các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Trường Đại Học Thủy Sản, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, anh chị công nhân viên trong Công ty em đã hoàn thành đề tài này Tuy nhiên do thời gian thực tập và kiến thức bản thân còn hạn chế nên luận văn của
em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn
Sài Gòn, tháng 11 năm 2006 Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Thuận
Trang 4Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ
MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về thị trường
1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế ra đời từ nền kinh tế hàng hoá Nói đến thị trường người ta hình dung đó là nơi xảy ra các hoạt động kinh doanh mua bán Thị trường gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá ở đó có thị trường
Tuy nhiên thị trường được nhiều nhà kinh tế nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều mục đích và nhiều giai đoạn phát triển của thị trường Và trên mỗi khía cạnh, lĩnh vực thị trường lại được định nghĩa khác nhau
Theo CacMac, thị trường là nơi thực hiện giá trị hàng hoá, thị trường không còn
bị giới hạn về không gian và thời gian và điạ điểm cụ thể, nói cách khác thị trường là tổng hoà những mối quan hệ về cung cầu hàng hoá
Theo khái niệm hiện đại của Samuelson thì:”Thị trường là một quá trình mà người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá
cả và số lượng hàng hoá”
Theo MC Cathy thì”Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự và những người bán đưa ra sản phẩm khác nhau với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó”
Với nhiều định nghiã khác nhau về thị trường nhưng tổng quát nhất có thể hiểu đây là toàn bộ các giao dịch mua bán hàng hoá dịch vụ giữa người có hàng hoá và những người cần hàng hoá
Trên thực tế, thị trường chỉ có thể ra đời, tồn tại và phát triển khi có đầy đủ 3 yếu tố:
- Một là, phải có khách hàng, điều đó có nghĩa là thị trường không phải là khu vực đại lý
- Hai là, khách hàng phải có nhu cầu chưa được thoả mãn Đây chính là động lực chủ yếu thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ
- Ba là, khách hàng phải có sức mua, tức là phải có tiền tệ mua hàng Nếu chỉ có nhu cầu nhưng không có tiền thì quá trình mua bán, trao đổi không được thực hiện ở
Trang 5những nước, những vùng kinh tế kém phát triển, thu nhập của dân cư thấp thì sức mua rất nhỏ bé mặc dù nhu cầu chưa được thoả mãn của họ không phải là thấp
1.1.2 Vai trò của thị trường
- Đối với sản xuất hàng hoá: Thị trường là khâu lưu thông, là nơi kiểm tra các
chi phí sản xuất và lưu thông có được xã hội thừa nhận hay không…
- Đối với kinh doanh: Thị trường là một bộ phận của môi trường kinh doanh Nó giúp các doanh nghiệp nhận biết được nhu cầu xã hội, tiếp cận để thích ứng với nhu cầu và để thẩm định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với quản lý kinh tế vĩ mô: Thị trường là căn cứ để Nhà nước hoạch định các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô hoạt động của nền kinh tế và điều tiết vĩ mô đối với các doanh nghiệp thông qua môi trường kinh doanh
Vì vậy thông qua thị trường, người mua và người bán đều có một mục đích duy nhất đi đến giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản:
+ Những loại hàng hoá và dịch vụ nào cần được sản xuất?
+ Những loại hàng hoá và dịch vụ đó sản xuất cho ai ? + Khối lượng hàng hoá và dịch vụ cần được tạo ra là bao nhiêu và tạo ra như thế nào?
1.1.3 Chức năng của thị trường
Thị trường là khâu tất yếu của quá trình tái sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất hàng hoá, ở đó phải có thị trường Thị trường là”cầu nối”giữa sản xuất và tiêu dùng, là”tấm gương”phản ánh và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp Chức năng của thị trường chính là những tác dụng khách quan vốn có và bắt nguồn từ bản chất của nó đối với quá trình tái sản xuất hàng hóa Thị trường có các chức năng:
- Chức năng thừa nhận: Bất cứ doanh nghiệp nào, sản phẩm hay dịch vụ làm
ra không phải để họ tiêu dùng mà là để bán Khi sản phẩm, dịch vụ đem bán thì đó mới
là hàng hoá Hàng hoá được thông qua chức năng thừa nhận của thị trường Hàng hoá không bán được tức là thị trường không thừa nhận Muốn được thị trường thừa nhận thì hàng hoá đó phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng về chủng loại, số lượng, chất lượng, mẫu mã, giá cả và nghệ thuật bán hàng
- Chức năng thực hiện: Mọi hoạt động mua bán đều diễn ra trong một không gian
và thời gian nhất định Thông qua thị trường, nơi diễn ra cạnh tranh trong các hoạt động mua – bán, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá được thực hiện, từ đó, mối quan hệ lợi ích kinh tế của người bán và người mua cũng được thực hiện, đó chính là điều kiện cần thiết bảo đảm quá trình tái sản xuất hàng hoá được diễn ra thông suốt
Trang 6bình thường Chức năng thực hiện của thị trường diễn ra một cách khách quan dưới tác động của quy luật giá trị và quy luật cung – cầu Từ đó, nó bảo đảm cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả Xét về tổng thể, sự thực hiện đó của thị trường là sự thực hiện tổng khối lượng hàng hoá cung ứng ra thị trường trong một thời gian với một
cơ cấu và quan hệ cung – cầu thích hợp Thông qua việc thực hiện mà thị trường cân bằng cung - cầu hàng hoá, hình thành giá trị trao đổi của hàng hoá…
- Chức năng điều tiết và kích thích: Thị trường có quy luật và cơ chế vận hành
của nó Chính nhờ các quy luật và cơ chế đó mà thị trường thực hiện được chức năng điều tiết và kích thích Thông qua cạnh tranh giữa các ngành, thị trường điều tiết di chuyển vốn từ ngành sinh lợi thấp sang ngành sinh lợi nhiều, nhờ đó một số loại sản phẩm được tăng lên về số lượng, trong khi một số sản phẩm khác lại giảm về khối lượng sản xuất Sự vận động này góp phần tạo ra sự cân bằng cung – cầu hàng hoá và dịch vụ Thông qua cạnh tranh trong nội bộ ngành thị trường kích thích các doanh nghiệp tận dụng lợi thế và thời cơ, đồng thời phải tính toán kỹ chi phí sản xuất và lưu thông để có thể thu được lợi nhuận siêu ngạch
- Chức năng thông tin: Chức năng thông tin là chức năng phát tín hiệu của thị
trường đối với sản phẩm và tiêu thụ một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó Đó là những thông tin rất quan trọng, cần thiết đối với quản lý kinh tế vĩ mô và đối với người mua, người bán Đó là những thông tin về tổng số cung, tổng số cầu, về cơ cấu cung cầu, giá
cả thị trường, điều kiện mua, bán, v v đối với một loại hàng hóa dịch vụ nào đó Những thông tin này là căn cứ quan trọng giúp các doanh nghiệp đưa ra các quyết định về chiến lược kinh doanh để có hiệu quả, tối đa hoá lợi nhuận; đồng thời, còn là động lực thúc đẩy áp dụng tiến độ kỹ thuật, đổi mới quá trình công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, đổi mới mặt hàng, cải tiến lưu thông và thực hiện văn minh thương nghiệp
Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này Do đó khó có thể đánh giá chức năng nào là chủ yếu
1.1.4 Phương pháp nghiên cứu thị trường 1.1.4.1 Nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu thị trường trong kinh doanh xuất nhập khẩu
Nghiên cứu thị trường là công việc có ý nghĩa rất quan trọng quyết định sự tồn tại
và phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nào Vì thế công tác nghiên cứu thị trường phải được tiến hành thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Trang 7Nghiên cứu thị trường là hoạt động phức tạp, bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
a) Nghiên cứu đặc điểm của thị trường
Thị trường được biểu hiện bằng các hoạt động mua bán trao đổi cùng với các quan hệ do chúng sinh ra Thị trường thực hiện trao đổi hàng hoá, thực hiện tổng cung
và cầu… Nghiên cứu về đặc điểm của thị trường là nghiên cứu tính quy luật của việc hình thành nhu cầu trên thị trường, nghiên cứu về cơ cấu của cung cầu, về thị hiếu và tập quán tiêu dùng của thị trường đó…, có những thị trường được xem là”dễ tính”nhưng cũng có những thị trường thuộc loại”khó tính” Tất cả các điều này đòi hỏi các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu muốn xâm nhập vào thị trường phải tìm hiểu và nắm bắt được thông tin về thị trường đó Mặt khác mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều có những luật lệ riêng của nó, thị trường cũng vậy, nghiên cứu những luật lệ, những quy tắc của thị trường, tập quán của thị trường để có biện pháp thâm nhập vào thị trường, thích ứng với thị trường đó
Trong quá trình tái sản xuất hàng hoá, thị trường nằm trong khâu lưu thông, thị trường là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hoá Nó chính là nơi hình thành và xử lý các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với Nhà nước và cả nền kinh tế quốc dân
Trong quản lý nền kinh tế quốc dân, thị trường vừa là đối tượng, vừa là căn cứ của kế hoạch hoá Nó là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Thị trường là nơi mà thông qua đó Nhà nước tác động vào quá trình kinh doanh của các đơn vị cơ sở Vì vậy để quản lý thị trường Nhà nước phải có các biện pháp, chính sách quản lý chặt chẽ đặc biệt đối với thị trường xuất nhập khẩu, chẳng hạn như các chính sách về thuế, các công cụ hành chính, các điều ước, hiệp định mậu dịch… các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu nắm bắt được của thị trường để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu quả
Nghiên cứu đặc điểm của thị trường là một khâu vô cùng quan trọng trong công tác nghiên cứu thị trường, là cơ sở để các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu xác định chiến lược marketing phù hợp với thị trường mà họ muốn xâm nhập
b) Nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng
Trong bước này nhà kinh doanh cần nghiên cứu các khía cạnh sau:
- Về quy mô của thị trường: Ở đây các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần nghiên cứu xem quy mô của thị trường lớn hay nhỏ, có các đối thủ cạnh tranh nào…để từ đó
có thể xác định được hướng kinh doanh của mình, giúp tạo vị thế cho Doanh nghiệp trên thị trường
Trang 8Bên cạnh đó cần phải nghiên cứu dung lượng của thị trường tức là nghiên cứu về khối lượng hàng hoá giao dịch trên thị trường trong thời gian nhất định Vấn đề khá quan trọng trong giai đoạn này là thu được lợi nhuận tối đa Để xác định được khối lượng hàng hoá xuất khẩu, nhà kinh doanh phải nắm vững nguồn hàng xuất khẩu, hiệp định ký kết, hạn ngạch được cấp, dự toán chi phí trong quá trình kinh doanh xuất khẩu Ngoài ra, khi nghiên cứu nhà kinh doanh còn phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của dung lượng thị trường, đánh giá đúng ảnh hưởng của chúng, xác định nhân tố nào là có ý nghĩa quyết định xu hướng phát triển của thị trường trong giai đoạn hiện tại và tương lai
- Về sản phẩm: Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu về những yêu cầu của thị trường đối với hàng hoá như quy cách sản phẩm, bao bì… Để chủ động trong việc mua bán còn cần phải nắm vững tình hình sản xuất của mặt hàng như thời vụ, khả năng cung cấp nguyên liệu, tay nghề lao động…
Khi nghiên cứu về sản phẩm, không thể không quan tâm đến vấn đề chất lượng sản phẩm và chủng loại sản phẩm Đây là yếu tố giúp cho các Doanh nghiệp có được
vị thế vững chắc trên thị trường, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Nghiên cứu khía cạnh này, Doanh nghiệp xuất nhập khẩu nắm được những thông tin cần thiết để đưa ra các chính sách phù hợp như chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng… từ đó có thể thoả mãn tối đa nhu cầu thị trường, đáp ứng thị hiếu khách hàng
Kết thúc bước này nhà kinh doanh phải xác định được mặt hàng dự định kinh doanh là mặt hàng gì? Quy cách sản phẩm chất lượng như thế nào? Chủng loại ra sao?
- Về giá cả: Khi xây dựng chiến lược chung Marketing, các Doanh nghiệp phải tính toán được khả năng sinh lời của từng mặt hàng, của từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm Mặt khác còn tính toán đến các giải pháp kinh doanh hiệu quả nhất khi xây dựng giá cả từng mặt hàng
Nghiên cứu để tìm hiểu thị trường có thể chấp nhận được mức giá thấp hay cao,
từ đó định hướng được phương thức sản xuất sản phẩm sao cho giá thành của chúng phù hợp, vừa có thể đem lại lợi nhuận cho Doanh nghiệp, vừa được khách hàng chấp nhận Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì việc đánh giá của Doanh nghiệp cũng phải tuân theo quy tắc bất di bất dịch đó là:
Giá bán = Giá vốn + Tiền lãi
Nghiên cứu về giá cả sản phẩm tức là các doanh nghiệp kinh doanh phải nghiên cứu về động thái gía cả, các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả, từ đó sử dụng các công cụ, các phương pháp kiểm tra, tính giá một cách hợp lý
Trang 9- Về phân phối: Nghiên cứu các yếu tố trên rất cần thiết trong việc chiếm lĩnh và
mở rộng thị trường của Doanh nghiệp, nhưng chúng ta chỉ đáp ứng được các đòi hỏi, những chuẩn mực mà thị trường đặt ra khi có một mạng lưới phân phối hợp lý vì chỉ
có mạng lưới phân phối sản phẩm thích hợp mới thoả mãn được người tiêu dùng Người tiêu dùng có nhiều cách mua hàng khác nhau, có thể mua trực tiếp từ nhà sản xuất cũng có thể mua gián tiếp thông qua các trung gian phân phối như các nhà bán sỉ, bán lẻ… Như vậy trong hoạt động xuất nhập khẩu, việc nghiên cứu hình thành hệ thống phân phối sản phẩm thích hợp với từng thị trường và để từ đó Doanh nghiệp có thể thâm nhập và mở rộng thị trường là rất cần thiết
c) Nghiên cứu xu hướng vận động của thị trường
Ở bước này gồm nhiều hoạt động nhằm vạch ra các xu hướng phát triển mang tính quy luật của các hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường tuy nhiên, mục tiêu hàng đầu cần phải nghiên cứu đó là nghiên cứu khối lượng hàng hoá sẽ tiêu thụ và giá
cả hàng hoá trên thị trường tương lai Nghiên cứu xu hướng vận động của thị trường
có thể nghiên cứu ngắn hạn (một vài tuần), nghiên cứu trung hạn(một vài tháng đến vài năm), và cũng có thể nghiên cứu dài hạn Ở mỗi loại, độ chính xác và yêu cầu với nội dung nghiên cứu cũng khác nhau
Ở bước nghiên cứu đã nêu trên là cơ sở đảm bảo nhiệm vụ cung cấp thông tin cho quá trình nghiên cứu xu hướng vận động của thị trường Bước nghiên cứu sau sử dụng kết quả các bước nghiên cứu quyết định hiệu quả của toàn bộ hoạt động nghiên cứu thị trường, là cơ sở để xây dựng các bước nghiên cứu tiếp theo, là cơ sở để xây dựng chính sách Marketing hợp lý
d) Lựa chọn thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu của Doanh nghiệp là Thị trường trọng tâm và có triển vọng nhất trong các Thị trường mà các Doanh nghiệp muốn xâm nhập và mở rộng
Khi đã xác định được thị trường mục tiêu tức là Thị trường mà sản phẩm của Công ty có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường đó, tiến hành phát triển các ưu thế của mặt hàng đó trên thị trường Lựa chọn thị trường mục tiêu để doanh nghiệp có thể phát huy được thế mạnh của mình, phát triển được chiến lược vị trí sản phẩm nhằm cho khách hàng phân biệt được sự khác biệt của Công ty với các đối thủ cạnh tranh Trên đây là một số công việc cơ bản của nghiên cứu thị trường mà bất cứ một Doanh nghiệp nào muốn câm nhập và mở rộng thị trường cũng phải tiến hành
Trang 101.1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thị trường
Nội dung của công tác nghiên cứu thị trường quyết định phương pháp thị trường Qúa trình nghiên cứu thị trường bao gồm một số công việc nhất định như: xác định nhu cầu về thông tin, thu thập và xử lý thông tin, ra quyết định Tuỳ theo từng giai đoạn mà người ta sử dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau Quan trọng nhất là lựa chọn các phương pháp để thu thập và xử lý thông tin
a) Thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Đây là phương pháp thông dụng nhất, phương pháp này ít tốn chi phí nhưng độ tin cậy không cao, nó được dùng khi nghiên cứu khái quát thị trường Có hai nguồn thông tin chủ yếu đó là: nguồn thông tin bên trong và nguồn thông tin bên ngoài của Công ty
Nguồn thứ nhất được cung cấp từ những báo cáo của Công ty về tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính… hoặc báo cáo của các chi nhánh đại lý cho Công ty hoặc những thông tin do nhân viên của Công ty thu nhập được trong chuyến đi công tác Đặc biệt là những phân tích của Phòng tài vụ, phòng kỹ thuật, Phòng kinh doanh cũng như những trao đổi của Công ty với người cung cấp và khách hàng
Nguồn thứ hai được cung cấp từ những sách báo thương mại, các bản tin kinh tế hàng ngày, các tạp chí…
Phương pháp nghiên cứu tài liệu sử dụng số liệu thống kê như là những hàng thông tin quan trọng nhất Đó là những số liệu thống kê về sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu… nhờ những số liệu mà các Công ty có thể đánh giá khái quát tình hình phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế nói riêng cũng như có cái nhìn bao quát về Thị trường và xu hướng phát triển của nó
- Phương pháp nghiên cứu thị trường:
Phương pháp này đòi hỏi chi phí cao và có tính phức tạp Do đó, người ta sử dụng phương pháp này sau khi đã có kết quả của phương pháp nghiên cứu tài liệu Nội dung chủ yếu của phương pháp này là tiến hành điều tra đặc biệt về người tiêu dùng Trong một ít trường hợp, khi số lượng người tiêu dùng không lớn, người ta
có thể tiến hành điều tra với tất cả cá nhân, đó chính là điều tra toàn bộ Nhưng thường xuyên nhất vì người tiêu dùng qúa nhiều nên người ta sử dụng phương pháp điều tra bằng thăm dò
Trang 11Lý thuyết thăm dò đánh giá người tiêu dùng bằng việc quan sát và nghiên cứu bộ phận mẫu của người tiêu dùng Độ chính xác của những đánh giá này tuỳ thuộc phần lớn vào số mẫu hay quy mô tổng thể mẫu
Để hình thành nên bộ phận mẫu mang tính chất đại diện chung của người tiêu dùng phải xác định tổng thể chung của người tiêu dùng mà Công ty quan tâm, sau đó tiến hành chọn mẫu theo các phương pháp chọn mẫu khác nhau:
+ Chọn ngẫu nhiên hai xác suất: Là phương pháp chọn mẫu trong tổng thể chung một cách hết sức ngẫu nhiên thông qua sự sắp xếp nào trước, phương pháp này gồm hai gia đoạn:
· Lập danh sách toàn bộ người tiêu dùng của Công ty
· Rút thăm, quay số hoặc theo hành trình: Là phương pháp tổ chức chọn mẫu trong đó mỗi đơn vị được chọn căn cứ vào những khoảng cách nhất định Nó được kết hợp với phương pháp ngẫu nhiên để chọn điểm tra trên hành trình đó
b) Xử lý thông tin
Xử lý thông tin là giai đoạn quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường Mục đích của nó là trên cơ sở những thông tin đã được thu nhận về tình hình của thị trường, công ty cần xác định cho mình những thị trường mục tiêu chuẩn bị cho việc xác lập các chính sách về Marketing thích ứng trên thị trường đó
Nội dung chủ yếu của việc xử lý thông tin là:
- Xác định thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm của Công ty
- Lựa chọn thị trường mục tiêu mà công ty có khả năng xâm nhập và phát triển việc tiêu thụ sản phẩm của mình
Tương ứng với hai nội dung mà người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng thông thường nhất là:
+ Lập mô hình giải thích thái độ chung + Lập mô hình so sánh thị trường
· Mô hình giải thích thái độ chung:
Việc giải thích thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm của Công ty
có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì thái độ của người tiêu dùng là nhân tố tác động mạnh
mẽ đến hành động mua của người tiêu dùng, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh Hơn nữa công ty không xác lập những chính sách Marketing thích ứng với tình hình thị trường mà thường xuyên ảnh hưởng đến làm thay đổi thái độ của người tiêu dùng theo
Trang 12chiều hướng có lợi nhất cho công ty Do đó, công ty cần biết rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng
Hiện nay người ta sử dụng mô hình đa tiêu chuẩn để đánh giá thái độ và ý thức của người tiêu dùng đối với một loạt sản phẩm do nhiều công ty sản xuất và cung ứng
ra thị trường (đánh giá những hiệu khác nhau)
Nội dung của mô hình đa tiêu chuẩn là:
- Trong những nhãn hiệu của một loạt sản phẩm nhất định, ý thích của người tiêu dùng là kết quả của việc tự so sánh các nhãn hiệu đó theo những tiêu chuẩn khác nhau
mà người ta cho là quan trọng (các tiêu chuẩn này thay đổi theo loại sản phẩm)
- Đối với mỗi loại tiêu chuẩn của từng nhãn hiệu, người tiêu dùng sẽ đánh giá chúng bằng cách cho điểm (những đánh giá này thu được từ các cuộc điều tra, phỏng vấn)
- Rút ra nhận xét về trình tự nhãn hiệu mà người tiêu dùng thích mua, thích sử dụng Để làm được điều đó có thể sử dụng các phương pháp sắp xếp mô hình đa tiêu chuẩn khác nhau:
P1: Sắp xếp theo tổng số điểm bằng cách cộng đơn giản: theo cách này người tiêu dùng tính tổng số điểm của các tiêu thức, nhãn hiệu mà người tiêu dùng thích là nhãn hiệu có số điểm cao nhất
P2: Sắp xếp theo tổng số điểm bằng cách cộng các hệ số cân bằng các tiêu chuẩn khác nhau Khác với cách trên, tổng số điểm của các tiêu thức là tổng số điểm được cân bằng nhờ hiệu số biểu thị tầm quan trọng của từng tiêu thức Tất nhiên hệ số này thay đổi theo từng loại sản phẩm, tuỳ đối tượng khách hàng
Ngoài hai cách sắp xếp thứ tự cơ bản trên, người ta còn sử dụng các mô hình như:
Mô hình thể loại, mô hình từng loại hay mô hình hỗn hợp
Khi sử dụng các mô hình giải thích chung, nghĩa là đối với mỗi tập tính của ngừơi tiêu dùng cần phải sử dụng một mô hình giải thích riêng biệt
+ Các mô hình giải thích có thể có mức độ chính xác khác nhau
+ Các mô hình này không bao giờ chính xác tuyệt đối mà chỉ tương đối
·Lập bảng so sánh thị trường:
Để lựa chọn thị trường mục tiêu, người ta thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng thông thường nhất là lập bảng so sánh Phương pháp này bao gồm hai bước:
+ Giới hạn điều tra: Giới hạn thị trường điều tra nhằm thực hiện sự nghiên cứu tập trung, tránh tràn lan, tránh lãng phí thời gian, tiền của mà không đạt kết quả như
Trang 13mong muốn Để giới hạn thị trường điều tra, có thể dựa vào những căn cứ chủ yếu như:
- Khả năng sản xuất và cung ứng tại chỗ những sản phẩm cùng loại với công ty
- Đặc điểm chung về tiêu dùng những sản phẩm của công ty (tập quán tiêu dùng, đặc điểm văn hoá xã hội ở vùng đó…)
+ So sánh các thị trường: Mục đích của bước này là trên cơ sở giới hạn một số thị trường tiến hành phân tích, phân loại thị trường để xác định thị trường có triển vọng nhất Thông thường người ta lập bảng so sánh thị trường theo những tiêu thức quan trọng như vị trí của thị trường, triển vọng tăng thu nhập, khả năng xúc tiến bán hàng, điều kiện cạnh tranh, cơ hội tiêu thụ nhiều hay ít
1.2 Nội dung và ý nghĩa của việc mở rộng thị trường xuất khẩu 1.2.1 Các chiến lược cơ bản nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Bất cứ một Doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ muốn tồn tại và phát triển đều phải lựa chọn cho mình một chiến lược kinh doanh cho riêng mình Có thể mục tiêu trước mắt của Doanh nghiệp đó là vì sự an toàn của Doanh nghiệp trước những biến động bất lợi trên thị trường hoặc là muốn giữ vững thị phần chứ không phải là lợi nhuận thì việc mở rộng thị trường luôn luôn được hướng đến.”Không ai bỏ nhiều trứng vào một rổ”là phương châm bất hủ của tất cả mọi doanh nhân dù kinh doanh trên bất cứ lĩnh vực nào trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.2.1.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung
Chiến lược tăng trưởng tập trung là các chiến lược chủ đạo đặt trọng tâm vào việc cải tiến các sản phẩm và / hoặc thị trường hiện có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào khác Khi theo đuổi chiến lược này, Doanh nghiệp phải hết sức cố gắng để khai thác mọi cơ hội có được về sản phẩm hiện đang sản xuất và/ hoặc các thị trường hiện đang tiêu thụ bằng cách thực hiện tốt hơn các công việc mà họ đang tiến hành
Bảng 1: Bảng thay đổi chiến lược tăng trưởng tập trung
Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
Hiện đang sản xuất hoặc mới
Hiện tại hoặc mới
Ba phương án chủ đạo trong chiến lược tăng trưởng tập trung:
Trang 14- Thâm nhập thị trường: Thâm nhập thị trường là Doanh nghiệp tìm cách tăng
trưởng tập trung các sản phẩm hiện đang sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên thị trường hiện đang tiêu thụ Doanh nghiệp có thể thực hiện theo hai cách:
Thứ nhất, Doanh nghiệp có thể tăng thị phần nếu có thể thực hiện một trong các điều kiện sau:
+ Tăng sức mua sản phẩm: Sức mua của khách hàng là hàm số biểu thị mối liên
hệ giữa tần suất mua hàng và khối lượng hàng mua được Vì vậy, Doanh nghiệp cố gắng thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm một cách thường xuyên hơn hoặc sử dụng mỗi lần với số lượng sản phẩm nhiều hơn bằng các chiến lược Marketing: Quảng cáo, khuyến mãi, dịch vụ sau bán …
+ Lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh: Hình thức lôi kéo khách hàng từ phía đối thủ cạnh tranh là chú trọng đến một trong các khâu của công tác Marketing (sản phẩm, giá, nơi tiêu thụ và khuyến mãi)
+ Mua lại đối thủ cạnh tranh: Nếu các cơ hội tăng thị phần khác không hấp dẫn thì Doanh nghiệp có thể xem xét việc mua đứt một trong các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của mình Việc mua lại công ty có thể được coi là chiến lược thâm nhập thị trường khi nào công ty bị mua lại sản xuất cùng một mặt hàng và cạnh tranh trong cùng một thị trường với hãng mua lại Nếu không thực tế đó chỉ là đa dạng hoá ngang
Thứ hai, việc xâm nhập thị trường cũng có thể bao hàm việc tăng quy mô tổng thể thị trường bằng cách làm cho những người trước đến nay không sử dụng sản phẩm của Doanh nghiệp tại thị trường đích hiện tại bắt đầu sử dụng sản phẩm đó
Lưu ý, nếu khách hàng mới nằm ngoài thị trường hiện tại thì chiến lược được tiến hành có thể được coi là chiến lược phát triển thị trường
Bảng 2: Bảng thay đổi chiến lược thâm nhập thị trường
Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
- Phát triển thị trường: Phát triển thị trường là tìm cách tăng trưởng bằng con
đường thâm nhập vào các thị trường mới để tiêu thụ các sản phẩm hiện đang sản xuất của Doanh nghiệp Có 3 cách thực hiện công việc này là:
+ Thị trường trên các địa bàn mới: Doanh nghiệp sẽ nỗ lực tìm kiến cho mình một thị trường mới về mặt địa lý, có thể là một quốc gia hoàn toàn mới hoặc một vùng khác trong nước bằng cách:
Trang 15++ Về mặt đối nội: Doanh nghiệp sẽ tìm các nhà phân phối mới, mở rộng lực lượng bán hàng hoặc mở thêm một mạng lưới tiêu thụ mới
++ Về mặt đối ngoại: Doanh nghiệp có thể hội nhập ngang với một hãng đang cần một thị trường đích khác
+ Tìm các thị trường mục tiêu mới: Doanh nghiệp sẽ tìm kiến các nhóm đối tượng khách hàng mục tiêu hoàn toàn mới trong cùng một địa bàn thị trường hiện tại bằng cách có thể phát triển các kênh tiêu thụ mới, sử dụng các phương tiện quảng cáo thông báo những đặc tính của sản phẩm phù hợp với nhóm khách hàng thuộc thị trường mới của Doanh nghiệp
+ Tìm ra giá trị sử dụng mới của sản phẩm: Nhiều sản phẩm có nhiều công dụng
mà Doanh nghiệp có thể khai thác Mỗi công dụng của sản phẩm có thể tạo ra một thị trường hoàn toàn mới Trong trường hợp này, quả thực chiến lược phát triển thị trường tạo ra chu kỳ sống của sản phẩm Vì vậy chiến lược này nên được phối hợp với các chiến lược phát triển sản phẩm
Bảng 3: Bảng thay đổi chiến lược phát triển thị trường
Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
- Phát triển sản phẩm: Phát triển sản phẩm là tìm cách tăng trưởng thông qua việc
phát triển sản phẩm mới để tiêu thụ trên các thị trường hiện tại của Doanh nghiệp Chiến lược này có thể nhằm vào các sản phẩm riêng biệt hoặc toàn bộ các mặt hàng của Doanh nghiệp
+ Phát triển sản phẩm riêng biệt, có 4 cách:
++ Cải tiến tính năng của sản phẩm: Có thể tạo ra các sản phẩm mới bằng cách hoán cải, bổ sung thêm hoặc bố trí lại các tính năng hoặc nội dung của sản phẩm cũ Nói chung những thay đổi này là nhằm cải tiến sản phẩm bằng cách mở rộng tính đa dạng, an toàn và tiện lợi của sản phẩm Lợi ích từ chiến lược này mang lại là có thể thực hiện một cách nhanh chóng và gây được lòng nhiệt tình của người bán hàng, đại
lý và khách hàng
++ Cải tiến về chất lượng: Mục đích của cách làm này là tăng độ tin cậy, tốc độ tin cậy, độ bền khẩu vị hoặc tính năng khác của sản phẩm Cũng có thể phát triển các phiên bản khác nhau của cùng một loại sản phẩm bằng cách sản xuất những sản phẩm với chất lượng khác nhau
Trang 16++ Cải tiến kiểu dáng: Có thể cải tiến hình thức thẩm mỹ của sản phẩm bằng cách thay đổi màu sắc, thiết kế bao bì, kết cấu của sản phẩm
++ Thêm mẫu mã: Có thể phát triển thêm các mẫu mã và kích cỡ sản phẩm khác nhau Kết quả của bất kỳ một phương cách nêu trên đều dẫn đến việc tạo ra một sản phẩm”đời mới” Các loại sản phẩm mới còn được tạo ra bằng cách xem xét lại toàn bộ
cơ cấu mặt hàng mà hãng đang sản xuất
+ Phát triển cơ cấu ngành hàng: Các phương án chủ yếu của việc cải tiến cơ cấu ngành hàng có thể là bổ sung thêm các mặt hàng mới hoặc cải tiến các sản phẩm hiện đang sản xuất
Thứ nhất, Kéo dãn cơ cấu mặt hàng, có nghĩa là nối dài cơ cấu mặt hàng Có ba cách: ++ Kéo dãn xuống phía dưới: Khi cơ cấu ngành hàng của hãng đang ở đỉnh điểm của thị trường thì hãng cần xem xét tới việc tăng thêm các mặt hàng nhất định để lấp kín khoảng trống ở phía dưới bằng cách tạo ra những sản phẩm rẻ tiền hơn … Nếu không lấp kín phần dưới thị trường thì sẽ tạo cơ hội cho đối thủ cạnh tranh xâm nhập Tuy nhiên, chiến lược này cũng không phải không có những vướng mắc có thể gặp phải Thứ nhất, các loại sản phẩm mới có thể quyến rũ khách hàng xa rời các sản phẩm hiện thời Thứ hai, các sản phẩm mới này có thể khiến đối thủ cạnh tranh tìm cách xâm nhập phần trên của thị trường
++ Kéo dãn lên phía trên: Là bổ sung các loại sản phẩm phục vụ cho phần trên của thị trường bằng cách tạo ra những sản phẩm tinh xảo hơn, chất lượng cao hơn … Nhược điểm lớn nhất của phương cách này là sản phẩm mới thường gặp phải sự cạnh tranh cứng rắn, quyết liệt và khó lòng thuyết phục được khách hàng tin vào chất lượng gia tăng của sản phẩm mới
++ Kéo dãn hai chiều: Khi doanh nghiệp đang chiếm vị trí khu giữa của thị trường thì có thể xem xét việc kéo dãn theo hai hướng bằng cách đưa ra các sản phẩm mới phục vụ cho cả phần trên và phần dưới của thị trường
Thứ hai, quyết định lập kín cơ cấu mặt hàng, tức là tăng thêm số danh mục mặt hàng trong cơ cấu mặt hàng hiện tại Mục đích chính của quyết định này nhằm đảm bảo sao cho khách hàng thực sự thấy được cái mới khác biệt của sản phẩm và họ sẽ mua loại sản phẩm mới này không phải vì mua cái cũ mà mua thêm khi đã có cái cũ đó Thứ ba, ra quyết định hiện đại hoá cơ cấu mặt hàng khi chiều dài cơ cấu mặt hàng vẫn còn chấp nhận được nhưng cần thiết phải có những điều chỉnh nhằm đổi mới kiểu dáng hoặc đưa vào việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ
Trang 17Bảng 4: Bảng thay đổi chiến lược phát triển sản phẩm
Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
1.2.1.2 Chiến lược tăng trưởng bằng cách đa dạng hoá
Chiến lược này thích hợp đối với Doanh nghiệp nào không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng trong ngành với các sản phẩm và thị trường mà doanh nghiệp đang kinh doanh Các lý do khác khiến Doanh nghiệp phải đa dạng hoá là:
+ Thị trường của doanh nghiệp đang tiến tới điểm bão hoà hoặc suy thoái trong chu kỳ sống của sản phẩm
+ Doanh nghiệp đang hoạt động có số dư tiền vốn có thể đầu tư vào một nơi khác
có lợi nhuận cao hơn
+ Doanh nghiệp mới có thể mang lại lợi nhuận vượt dự kiến (thí dụ, các loại sản phẩm cùng có một bộ phận cấu thành chung, các phí tổn có thể phân bổ cho nhiều đơn
vị của Doanh nghiệp)
+ Luật pháp về chống độc quyền cấm mở rộng kinh doanh trong ngành mà hiện tại Doanh nghiệp đang tham gia
+ Có thể trưng dụng các giám đốc điều hành có kinh nghiệm
Ba chiến lược tăng trưởng bằng cách đa dạng hoá:
+ Đa dạng hoá đồng tâm: Đa dạng hoá đồng tâm là Doanh nghiệp tìm kiếm sự
tăng trưởng về doanh số và quy mô bằng cách hướng tới các thị trường mới các sản phẩm mới phù hợp với công nghệ và các chiến lược Marketing mà Doanh nghiệp đang thực hiện Để thành công trong việc thực hiện chiến lược đa dạng hoá đồng tâm là tranh thủ chí ít một trong các ưu thế nội bộ chủ yếu của Doanh nghiệp
Bảng 5: Bảng thay đổi chiến lược đối với chiến lược đa dạng hoá đồng tâm Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
mới
mới
++ Đa dạng hoá hàng ngang: Đa dạng hoá ngang là Doanh nghiệp tìm kiếm sự
tăng trưởng về doanh số và quy mô bằng cách hướng vào thị trường hiện đang tiêu thụ với những sản phẩm mới mà về mặt công nghệ không liên quan đến các sản phẩm hiện đang sản xuất
Trang 18Bảng 6: Bảng thay đổi chiến lược đối với chiến lược đa dạng hoá hàng ngang Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
Cần lưu ý là mặc dù trong trường hợp này Doanh nghiệp không tìm tòi sự thích hợp về công nghệ nhưng cũng phải có sự phù hợp có ý nghĩa chiến lược trong một phương diện nào đó của sản phẩm Thí dụ, một sản phẩm mới nhưng không liên quan đến công việc có thể phù hợp với mục tiêu của Doanh nghiệp liên quan đến các kênh tiêu thụ hiện thời hoặc nhu cầu của người sử dụng cuối cùng
Trước khi theo đổi chiến lược đa dạng hoá ngang, ban lãnh đạo cần xem xét lại Doanh nghiệp có hoặc có thể có được những khả năng cần thiết đảm bảo cho sự thành công hay không? Như trình độ công nghệ, sản xuất và marketing
+ Đa dạng hoá tổng hợp: Là Doanh nghiệp tìm kiếm sự tăng trưởng về doanh số
và quy mô bằng cách hướng tới các thị trường mới với các sản phẩm mới mà về mặt công nghệ không liên quan gì đến các sản phẩm mà Doanh nghiệp hiện đang sản xuất
Bảng 7: Bảng thay đổi chiến lược đối với chiến lược đa dạng hoá tổng hợp Sản phẩm Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
1.2.2 Các chỉ tiêu về đánh giá việc mở rộng thi truờng tiêu thụ sản phẩm:
1.2.2.1 Sản lượng và doanh thu hàng hoá:
Sản lượng chính là số lượng sản phẩm mà Doanh nghiệp tiêu thụ trong một khoảng thời gian nhất định
Doanh thu là số tiền thu được qua việc bán hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định của hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh thu được tính theo công thức:
TR = P*Q
Trong đó:
TR: Doanh thu
P: Giá bán bình quân cho một đơn vị sản phẩm
Q: Số lượng sản phẩm được bán ra trong một đơn vị thời gian
Trang 191.2.2.4 Thị phần hay phân suất thị phần
Thị phần là tỷ lệ giữa kết quả hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường chia cho tổng nhu cầu trên thị trường quốc tế
Thị phần của doanh ngghiệp là chỉ tiêu nói lên sự cống hiến của doanh nghiệp với tất cả các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Thị phần của doanh nghiệp có thể được tính bằng cách:
·Thị phần tuyệt đối
TP = r/ TR
Trong đó: TP : Thị phần của doanh nghiệp
r : Doanh thu tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường a
TR : Tổng doanh thu của doanh nghiệp
·Thị phần tương đối : Là tỷ lệ giữa thị phần của doanh nghiệp và thị phần
của đối thủ cạnh tranh
TP = r/R
Trong đó: TP : Thị phần tương đối của doanh nghiệp
r : Doanh thu của doanh nghiệp
R : Doanh thu của Công ty đứng đầu hoặc của đối thủ hoặc của đối thủ đối đầu hoặc của 3 Công ty đứng đầu
Nếu thị phần của doanh nghiệp tăng lên thì doanh nghiệp đang hưởng lợi trên đối thủ cạnh tranh Nếu thị phần giảm xuống thì doanh nghiệp đang thua thiệt so với đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên kết luận rút ra từ việc phân tích thị trường còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh môi trường và mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Nếu như có sự gia nhập của đối thủ tiềm năng hoặc việc rút ra khỏi thị trường của đối thủ cạnh tranh hoặc sản phẩm nhập khẩu thay đổi thì thị phần của doanh nghiệp cũng thay đổi theo Đôi
Trang 20khi doanh nghiệp dựa vào thành tích bình quân của các doanh nghiệp khác trên thị trường để phán đoán thành tích của các Doanh nghiệp khác, định ra mục tiêu của Doanh nghiệp Hoặc một số doanh nghiệp có ý nghĩ giảm thị phần của doanh nghiệp
vì lợi nhuận của doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với thị phần
1.2.2.5 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
- Lợi nhuận được sử dụng như một chỉ tiêu gián tiếp đánh giá việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Để mở rộng thị truờng tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp phải thường xuyên mở rộng thị phần của mình Đôi khi các doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí khá lớn để mua thị phần và từ đó có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận Như vậy có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá hiệu quả của việc mở rộng thị trường Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận
là phần dôi ra giữa doanh thu và chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu nói hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả của việc mở rộng thị trường của Doanh nghiệp Tuy nhiên, cả lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là mục tiêu lâu dài của Doanh nghiệp Nếu Doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại của Doanh nghiệp thì chúng không phải là mục tiêu hàng đầu và trước mắt, chưa phải là hiệu quả để đánh giá việc mở rộng thị trường của Doanh nghiệp
Mặc dù vừa là kết quả, vừa là hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và mở rộng thị trường nói riêng, nhưng lợi nhuận chỉ là trong những mục tiêu của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh, bảo đảm sự tồn tại của doanh nghiệp thì lợi nhuận không phải là mục tiêu hàng đầu, không phải là chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá việc mở rộng thị trường
Trang 211.2.3 Mục tiêu và ý nghĩa của việc mở rộng thị trường 1.2.3.1 Mục tiêu của việc mở rộng thị trường
Bất cứ một doanh nghiệp nào cúng muốn sản phẩm của mình vươn ra xa thị trường thế giới mà không dừng lại lợi nhậu ngày càng tăng, muốn vậy các doanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực tìm mọi biện pháp mở rộng thị trường Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được mở rộng đồng nghĩa với doanh thu của doanh nghiệp tăng lên rõ rệt, từ đó chi phí sản xuất bình quân một đơn vị sản phẩm giảm, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tăng lên và tỷ xuất lợi nhuận trên doanh thu ngày càng được cải thiện Mặt khác thị trường tiêu thụ của sản phẩm được mở rộng làm uy tín của sản phẩm được nâng cao và đồng thời nâng cao uy tín của doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp củng cố thế lực cạnh tranh trên thị trường
1.2.3.2 Ý nghĩa của việc mở rộng thị trường
Đảm bảo an toàn và phát triển cho doanh nghiệp: Trong tình hình cạnh tranh gay
gắt như hiện nay, nhiều doanh nghiệp vấp phải các khó khăn thì mục tiêu đầu tiên của doanh nghiệp là an toàn của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng Có an toàn doanh nghiệp mới có thể tạo ra thế lực cạnh tranh và mới kiếm được lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường có rủi ro này, nếu các doanh nghiệp mở rộng thị trường thì có thể bảo đảm được an toàn cho doanh nghiệp Khi thị trường được mở rộng thì doanh nghiệp co nhiều lợi thế để tránh được những rủi ro xảy ra
Nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh: Một trong những mục đích của
việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và
tỷ suất lợi nhuận Trên cơ sơ mục tiêu này, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, trong khi nghiên cứu thị trường, nhu cầu, sơ thích của khách hàng, các phản ứng đã và sẽ có đối thủ cạnh tranh,
sự biến động của môi trường kinh doanh… các doanh nghiệp sẽ hoạt động có hiệu quả hơn khi các nghiên cứu trên chính xác, kịp thời vì sản xuất phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng, không có nhu cầu thì không có sản xuất
Củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường: Thị phần càng cao thì doanh
nghiệp càng có vị trí cao trên thị trường Tuỳ thuộc vào quy mô của thị phần trong quá trình mở rộng thị trường của từng doanh nghiệp mà có thể có những vị thế khác nhau trong thị trường Với vị thế của doanh nghiệp trên thị trường mà doanh nghiệp có những chiến lược cạnh tranh khác nhau Thị trường tiêu thụ phát triển mạnh mẽ sẽ tạo
ra thị phần lớn, từ đó doanh nghiệp củng cố được vị thế cạnh tranh trên thị trường
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động tới cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp Thị trường có chức năng điều tiết sản xuất, trên cơ sở điều tiết đó các doanh
Trang 22nghiệp xác định phương hướng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình Việc
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, loại bỏ những tổn thất không đáng có, đem lại lợi ích cho người tiêu
dùng với phí tổn thấp nhất
1.2.4 Một số chính sách hỗ trợ hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu
Để tiến hành việc mở rộng thị trường các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu thường
áp dụng một số chính sách như: chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến Bốn công cụ trên cấu thành Marketing – Mix
1.2.4.1 Chiến lược sản phẩm
Sản phẩm là bất kỳ thứ gì có thể đưa vào một thị trường để đạt được sự chú ý, sự chấp thuận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thoả mãn được một ước muốn hay một nhu cầu
Chính sách sản phẩm là tổng thể những quy tắc chỉ huy việc tung sản phẩm vào thị trường để củng cố, gạt bỏ hoặc bổ sung đổi mới sản phẩm cho thị trường được chọn của doanh nghiệp
Nội dung của chiến lược sản phẩm:
v Chiến lược chủng loại sản phẩm: Trong kinh doanh hiện đại có rất ít những
doanh nghiệp nào chỉ có một sản phẩm duy nhất Kinh doanh duy nhất một sản phẩm tương đối nguy hiển trong điều kiện thị trường luôn luôn thay đổi theo thời gian, không gian, giới tính, tuổi tác Với duy nhất một sản phẩm doanh nghiệp khó tránh khỏi rủi ro và khó thực hiện được mục tiêu an toàn Vì vậy, doanh nghiệp cần có chiến lược chủng loại hợp lý, bao gồm:
+ Chiến lược thiết lập chủng loại: Để việc kinh doanh được an toàn, có hiệu quả
cần thiết lập một chủng loại sản phẩm thích hợp và từng bước củng cố chủng loại đó
về chất cũng như về lượng để thế lực của doanh nghiệp ngày càng tăng
+ Chiến lược phát triển chủng loại: Việc phát triển chủng loại sản phẩm khi
doanh nghiệp kéo dài mặt hàng hơn tầm mức hiện tại Để thực hiện điều đó doanh nghiệp có thể dãn lên dãn xuống theo cả hai chiều
Nhiều doanh nghiệp ban đầu ổn định ở đầu cao của Thị trường rồi sau đó dãn xuống hay ngược lại hoặc doanh nghiệp nằm ở khoảng tầm trung trong thị trường có thể quyết định dãn mặt hàng của mình theo cả hai hướng
+ Chiến lược hạn chế chủng loại: Trong quá trình kinh doanh, cạnh tranh trên thị
trường chắc chắn doanh nghiệp sẽ phát hiện những sản phẩm không còn hiệu quả nữa
Trang 23và phải nhanh chóng từ bỏ các sản phẩm ấy để dồn mọi tiềm lực phát huy những sản phẩm đang còn có hiệu quả
+ Chiến lược biến cải chủng loại: Trong chiến lược này, các sản phẩm hiện được
sửa đổi ít nhiều như cải tiến về hình dáng, cỡ khổ, vật liệu, màu sắc, bao bì, nhãn hiệu,
từ đó làm cho khách hàng ưa chuộng hơn và bắt mắt hơn
v Chiến lược hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một trong những tính chất của sản phẩm có khả năng thoả mãn được nhu cầu xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm đó trong một điều kiện kinh tế xã hội nhất định
Theo quan điểm Marketing, nâng cao chất lượng sản phẩm là phải nhằm hoàn thiện các thông số kỹ thuật, đặc tính sử dụng phải phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng và người tiêu dùng sẽ hoàn trả lại sự cố gắng của doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm qua hành động chấp nhận mua hàng đó trên thị trường, nghĩa
là phải nghiên cứu chất lượng sản phẩm trong quan hệ biện chứng giữa hai quá trình
kỹ thuật và kinh tế nếu không chất lượng sản phẩm sẽ bị lệch hướng
Chiến lược này được triển khai theo phương hướng sau:
+ Hoàn thiện về cấu trúc kỹ thuật của sản phẩm
+ Nâng cao các thông số về độ bền, độ an toàn, độ tin cậy, thẩm mỹ, bổ dưỡng + Hạn chế những chi tiết hay hư hỏng, ít phù hợp với công chúng và thay bằng những chi tiết phù hợp với nhưng đòi hỏi của khách hàng
+ Thay đổi vật liệu chế tạo
+ Cải tiến kiểu dáng, kích cỡ
+ Tăng cường tính thực dụng của hàng hoá
+ Có thể phát triển các phiên bản khác của cùng một loại sản phẩm bằng cách sản xuất sản phẩm có chất lượng cao
v Chiến lược đổi mới chủng loại
Chiến lược này hướng vào việc phát triển sản phẩm mới cho thị trường hiện tại, cho khu vực mới của khách hàng Việc đổi mới chủng loại thường làm cho khối lượng tiêu thụ tăng lên, đặc biệt là trong giai đoạn trưởng thành của các sản phẩm Nó giúp doanh nghiệp vừa củng cố được thị trường hiện tại vừa có khả năng tấn công vào các phân khu mới của thị trường như việc mở rộng khả năng thoả mãn nhu cầu bằng các sản phẩm mới
Điều quan trọng là doanh nghiệp luôn đảm bảo có sản phẩm mới để khi thị trường trì trệ thì nó phát huy tác dụng là”quả đấm”chiến lược tung ra ngay Đối với những mặt hàng
Trang 24tiêu dùng bền như ô tô, ti vi, tủ lạnh… Việc đổi mới sản phẩm không khó khăn lắm, nhưng đối với các mặt hàng như may mặc thì cần phải thực hiện điều này
Tóm lại, điều cốt lõi của sản phẩm là phải linh hoạt, nhạy bén và quyết định kịp thời để thực hiện phương châm Marketing: “Bán cái người ta cần chứ không phải bán cái mình sẵn có”
1.2.4.2 Chiến lược giá cả
Việc xác định một giá cho tất cả mọi khách hàng mua là một ý tưởng tương đối hiện đại Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý khi mà người bán kinh doanh nhiều chủng loại hàng hoá khác nhau và nắm trong tay một lực lượng quá đông đảo
Vậy, giá cả là lĩnh vực thể hiện sự cạnh tranh giành lợi ích kinh tế và vị trí độc quyền của các thế lực
Việc xác lập một chiến lược giá đúng đắn sẽ đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh có lãi và chiếm được thị trường Tuỳ theo mục tiêu của doanh nghiệp, đặc tính của sản phẩm, tính chất cạnh tranh trên thị trường, số cầu và một số yếu tố khác mà doanh nghiệp định ra một chiến lược giá thích hợp Một số phương pháp định giá thường được sử dụng:
- Định giá dựa vào chi phí:
Phương pháp định giá này hướng vào mục tiêu chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp Theo đó người ta sẽ cộng một mức lời tiêu chuẩn vào phí tổn của một sản phẩm
Vì vậy nó mang tính chủ quan nhiều hơn
- Định giá theo thị trường:
Khác với định giá theo phí tổn, luc snày doanh nghiệp xem xét các mức giá trên thị trường để định giá cho sản phẩm của mình
Có thể phân biệt theo 3 chiến lươc:
Trang 25+ Định gía thâm nhập thị trường:
Ngay từ đầu doanh nghiệp đã định giá sản phẩm mới của mình tương đối thấp nhằm thu hút một lượng khách mua lớn và chiếm được một thị trường lớn Để sử dụng thành công việc định giá thâm nhập thị trường cần có các điều kiện sau:
++ Thị trường rất nhạy bén với giá cả và một giá thấp sẽ kích thích sức tăng trưởng của thị trường hơn nữa
++ Các chi phí về sản xuất và phân phối sẽ giảm theo cùng với mức kinh nghiệm tích luỹ
++ Giá thấp giải trừ được sự cạnh tranh
+ Định giá nhằm chắt lọc thị trường:
Chính sách này chủ trương xác định một mức giá cao nhất có thể có cho các sản phẩm mới nhằm đạt được lợi nhuận cao trên một đơn vị sản phẩm để bù đắp cho thị trường hạn chế Sau khi khai thác hết đoạn thị trường này có thể hạ dần giá bán để mở rộng các đoạn thị trường khác Bằng cách này doanh nghiệp đã vớt được doanh thu tối
đa từ những đoạn thị trường khác nhau
Chính sách này có thể áp dụng một cách hiệu quả trong những điều kiện sau: + Một số lượng khách hàng đủ để có mức cầu hiện hành cao
+ Phí tổn trên mỗi đơn vị sản phẩm khi sản xuất với khối lượng nhỏ không quá cao đến độ làm triệt tiêu lợi thế của việc đề ra mức giá mà khách hàng sẽ chấp nhận + Dung lượng thị trường nhỏ không đủ để thu hút cạnh tranh
+ Giá cao gây ra ấn tượng là một sản phẩm hảo hạng
+ Định giá theo thời giá:
Theo phương pháp này, khi định giá doanh nghiệp chủ yếu dựa vào gía cả của các đối thủ cạnh tranh mà ít chú trọng vào phí tổn hay số cầu của riêng mình Doanh nghiệp có thể định giá bằng, cao hơn hoặc thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh chính Trong những ngành có sự độc quyền theo nhóm như thép, giấy các doanh nghiệp thường đề ra mức giá cao hơn nhưng họ giữ được chênh lệch đó
Phương pháp định giá theo thừoi gía áp dụng khá phổ biến trong những trường hợp độ co dãn của cầu khó đo lường được Các doanh nghiệp cho rằng giá thịnh hành tiêu biểu cho sự sáng suốt của cả ngành và do đó việc áp dụng giá hiện hành sẽ đảm bảo sự hoà hợp của cả ngành
Trang 26- Định giá dựa trên người mua:
Ngày nay càng có nhiều doanh nghiệp định giá đã xuất phát giá trị cảm nhận được từ hàng hoá của mình Họ xem sự cảm nhận về giá trị của người mua là chìa khoá định giá Người ta thấy rằng khi người mua bỏ ra một giá trị là họ muốn đổi lấy một giá trị khác tức là những lợi ích từ việc sở hữu hàng và sử dụng sản phẩm Các lợi ích bao gồm cả hữu hình và vô hình Những giá trị này sẽ khác nhau với những người tiêu dùng không giống nhau Nếu người tiêu dùng cảm thấy giá cao hơn giá trị của sản phẩm thì họ sẽ không mua sản phẩm đó Cho nên nếu người bán đề nghị giá cao hơn mức giá trị được cảm nhận thì doanh số sẽ sút giảm
- Định giá tâm lý:
Theo phương pháp này người bán không chỉ lưu ý đến những chỉ tiêu kinh tế mà còn đến cả những yếu tố của tâm lý của người mua để định giá Ta có hai loại giá ứng với phương pháp này:
+ Giá thể hiện chất lượng: Có những sản phẩm rất khó xác định được chất
lượng cho nên người mua thường xác định chất lượng căn cứ vào giá bán của sản phẩm Giá cao đối với họ có nghĩa là chất lượng cao và ngược lại Do đó người bán thường định giá sản phẩm rất cao ngầm báo cho người tiêu dùng biết rằng đây là sản phẩm chất lượng cao Trong rất nhiều trường hợp việc thay đổi giá từ thấp đến cao đã làm cho doanh thu tăng lên rất nhiều
+ Giá có số lẻ: Thay vì làm tròn số, các doanh nghiệp thường đưa ra một giá có
số lẻ ở sau hoặc ở con số tròn làm cho người mua có tâm lý là giá rẻ và người bán đã tính tỉ mỉ, cẩn thận các yếu tố khi định giá
- Định giá theo thời vụ:`
Một số sản phẩm mang tính thời vụ rất rõ: Thời vụ sản xuất và tiêu dùng Ứng với mỗi thời vụ cso một mức giá khác nhau Cách định giá này được gọi là định giá theo mùa bởi nó linh động với nhu cầu theo từng thời điểm trong năm Các nhà sản xuất lẫn người định giá đã điều chỉnh mức sản xuất thích hợp và đề ra một chính sách cao hoặc thấp để kích thích cũng như duy trì việc sản xuất kinh doanh đều đặn
1.5.4.3 Chiến lược phân phối
Chiến lược phân phối góp phần không nhỏ trong quá trình cung cấp cho khách hàng đúng sản phẩm, đúng thời gian, đúng vị trí trên cơ sở đúng kênh hay luồng hàng Phân phối là các hoạt động có liên quan đến việc tổ chức điều hành và vận chuyển các hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến ngời tiêu dùng nhằm đạt được hiệu quả tối đa với các chi phí tối thiểu Nó bao gồm toàn bộ các quá trình hoạt động
Trang 27theo thời gian và không gian từ lúc kết thúc sản xuất đến lúc khách hàng cuối cùng nhận được sản phẩm tiêu dùng
Để đưa hàng hoá, sản phẩm hoặc dịch vụ đến người tiêu dùng, doanh nghiệp phải
sử dụng những con đường khác nhau hay nói cách khác là đưa hàng đi theo những luồng hàng khác nhau Những con đường hay những luồng khác nhau đó gọi là những kênh phân phối Kênh phân phối thường phức tạp và phong phú, tuỳ theo từng loại sản phẩm, từng thị trường và từng doanh nghiệp mà số lượng kênh và cấu trúc của kênh sẽ khác nhau Tuy nhiên, việc vận động và phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng thường được tiến hành qua bốn kênh phân phối chủ yếu sau:
+ Kênh trực tiếp: Nhà sản xuất đưa ra sản phẩm của mình đến các nhà bán kẻ và
từ đó đưa hàng hoá đến người tiêu thụ
+ Kênh truyền thống: Đây là loại kênh phổ biến với nhà sản xuất – nhà buôn sỉ - nhà bán lẻ - người tiêu dùng
+ Kênh dài suốt: Cấu trúc của kênh này dài nhất bao gồm nhà sản xuất – đại lý – nhà buôn sỉ - nhà bán lẻ - người tiêu thụ
Lựa chọn kênh phân phối là quá trình phân tích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng như mục tiêu của doanh nghiệp, đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm của thị trường, khả năng quản lý kênh, giai đoạn của vòng đời sản phẩm, năng lực của các trung gian, pháp luật và đối thủ cạnh tranh để lựa chọn những kênh và các trung gian thích hợp để tiêu thụ sản phẩm Đây là một trong những quyết định phức tạp mà doanh nghiệp phải thông qua Nếu lựa chọn được nhứng kênh phân phối hợp lý thì quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ đạt được những kết quả như mong muốn như: bán được nhanh, nhiều sản phẩm, tiết kiệm chi phí tiêu thụ, thu nhiều lợi nhuận… Một hệ thống phân phối thích hợp không có nghĩa là cố định, lâu dài mà phải linh hoạt để thích ứng với thị trường luôn biến động và phải đạt được mục tiêu cụ thể đã đề ra cho mỗi thời kỳ Có nhiều điều kiện phân phối khác nhau, nhìn chung thường gặp ba kiểu phân phối sau đây:
· Phân phối rộng rãi:
Doanh nghiệp sử dụng nhiều kênh trung gian để tiêu thụ sản phẩm và sử dụng nhiều đại lý bán lẻ, trung gian bán lẻ Kiểu phân phối này thường áp dụng cho những sản phẩm thông dụng liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng
· Phân phối chọn lọc:
Doanh nghiệp lựa chọn một số trung gian ở một số nơi nhất định để tiêu thụ sản phẩm, mà không cần phân tán lực lượng ra nhiều điểm bán, nhằm giành được phần thị trường cần thiết với sự kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm chi phí tiêu thụ Hình thức này
Trang 28thường áp dụng cho loại hàng hoá có giá trị cao, khách hàng thường suy nghĩ tính toán nhiều mới quyết định mua
· Phân phối độc quyền:
Doanh nghiệp sử dụng một số trung gian rất hạn chế ở một khu vực thị trường để tiêu thụ sản phẩm Trung gian này thường là đại lý độc quyền Nhà sản xuất yêu cầu đại lý chỉ được bán hàng của mình, không được bán hang của đối thủ cạnh tranh Kiểu phân phối này có thể giúp nhà sản xuất kiểm soát chặt chẽ hơn trung gian làm đại lý về mặt giá cả, thanh toán…
Với cách phân phối này góp phần đề cao hình ảnh của sản phẩm và có thể mang lại cho nhà sản xuất nhiều thành công hơn và thường áp dụng cho nhiều mặt hàng khác nhau
1.5.4.4 Chiến lược xúc tiến
Xúc tiến là nỗ lực của doanh nghiệp nhằm thiết lập kênh thông tin và thuyết phục khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ của họ Mục đích của xúc tiến là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở khách hàng mục tiêu về doanh nghiệp hoặc về sản phẩm của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu truyền thống này doanh nghiệp cần sử dụng một cách hợp
lý và hài hoà các công cụ cơ bản của chiến lược xúc tiến bao gồm:
+ Quảng cáo: Là sử dụng phương tiện thông tin để truyền đạt thông tin đến
khách hàng Mục tiêu của quảng cáo là ảnh hưởng tới các tập tính của quần chúng, đặc biệt là của khách hàng
+ Khuyến mãi: Là loại hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp nhằm kích thích
khách hàng mua hàng và làm tăng doanh số bán hàng trong ngắn hạn bằng cách giành những lợi ích nhất định cho khách hàng
+ Hội chợ triển lãm: Là hoạt động của doanh nghiệp nhằm giới thiệu hoặc nhắc
lại sản phẩm của Doanh nghiệp đến khách hàng thông qua các buổi hợp chợ, triển lãm
+ Quan hệ công chúng (PR): là việc điều những chương trình hành động nhằm
tranh thủ sự hiểu biết và chấp nhận của công chúng giành cho sản phẩm bằng cách sử dụng hàng loạt kỹ thuật truyền thông để giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau Tóm lại, bốn thành phần trên thường được sử dụng song song, kết hợp, nhưng tuỳ điều kiện cụ thể của thị trường từng lúc, từng nơi mà có thể chú trọng hơn một hay một số thành phần nào đó
Trang 29Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ Phần may Nhà Bè 2.1.1 Sơ lược về Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
Tên công ty: Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
Tên giao dich quốc tế: Nhà Bè Garment Import – Export Company
Địa chỉ: Đường Bến Nghé, phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Tp HCM
Điện thoại: 08 8720077 Fax: 08 87225107
Vốn đăng ký kinh doanh:11,564 tỷ
Vốn đầu tư hiện nay: 61,624 tỷ
Giấy phép chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 102550
Số tài khoản: 361111064
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, từ hai xí nghiệp ban đầu, đến nay Công
ty Cổ Phần may Nhà Bè đã có 27 đơn vị, xí nghiệp thành viên, trên 12.000 cán bộ, công nhân viên, và các loại máy móc, thiết bị chuyên dùng hiện đại hoạt động tại nhiều địa phương trong cả nước như Tp HCM, Tiền Giang, An Giang, Bình Dương, Bình Thuận, Đà lạt, Komtum, Gia Lai, Nam Định…
· Giai đoạn 1: Trước năm 1975
Khởi đầu của NHABECO là hai xí nghiệp may Ledgine và Symi thuộc khu chế xuất Sài Gòn vốn đã hoạt động từ trước năm 1975
Sau ngày thống nhất, Bộ Công Nghiệp tiếp nhận và đổi tên khu chế xuất thành Xí nghiệp may khu chế xuất
Năm 1976 Xí nghiệp được chia thành 2 xí nghiệp:
- Xí nghiệp Độc Lập
- Xí nghiệp Cửu long
Trang 30Theo quyết định số 225/TCQL ngày 3/6/1980 hai xí nghiệp trên được sáp lập lại
và đổi tên thành Xí nghiệp may Nhà Bè
· Giai đoạn 2: Tháng 3/1992 đến nay
Thập niên 90, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, ngành dệt may lớn mạnh không ngừng, sớm trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, chủ lực
Trong tiến trình phát triển chung đó, Công ty may Nhà Bè chính thức được thành lập theo quyết định của Bộ Công Nghiệp
Tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Bộ Công Nghiệp đã có quyết định số 74/2004/QĐ/BCNngày 6/8/2004 và quyết định số 88/2004/QĐ/BCN ngày 8/9/2004 về việc hcuyển Công ty may Nhà Bè thành Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
Năm 2004, với thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất kinh doanh và xây dựng đơn vị, Công ty được vinh dự đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới do Đảng và Nhà nước trao tặng
Đến nay, sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
đã trưởng thành về mọi mặt, tiếp tục khẳng định là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành dệt may Việt nam
Công ty có mặt bằng rộng rãi khoảng 100.000m2, nhà xưởng khang trang thoáng mát, máy móc thiết bị chuyên dùng hiện đại đặc biệt đội ngũ cán bộ, công nhân Công ty có trình độ tay nghề cao, năng lực và kinh nghiệm quản lý
Các sản phẩm cao cấp như veston, sơ – mi, jacket và các sản phẩm thời trang khác tiếp tục nhận được sự tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng trong và ngoài nước
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Trang 31- Công ty có nhiệm vụ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với nhà nước Lợi nhuận của công ty một phần được để lại xây dựng tái đầu tư, phần còn lại góp vào ngân sách nhà nước
- Công ty có trách nhiệm báo cáo và nộp thuế đầy đủ cho nhà nước, chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách và luật pháp của nhà nước Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong công ty, tham gia vào các hoạt động xã hội đoàn thể như cứu trọ dồng bào gặp khó khăn, giữ gìn trật tự an toàn
xã hội và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa
2.1.4 Lĩnh vực hoạt động chủ yếu
Công ty Cổ Phần may Nhà Bè chủ yếu kinh doanh các lĩnh vực chủ yếu sau:
- Sản xuất, mua bán sản phẩm dệt – may, nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị, phụ tùng linh kiện phục vụ ngành dệt may
- Hiện nay NHABECO đang thực hiện hai mảng hoạt động – thị trường chủ yếu Thứ nhất là thị trường trong nước Thứ hai là thị trường xuất khẩu và gia công quốc tế + Thị trường trong nước
NHABECO trực tiếp thiết kế, tạo mẫu và sản xuất, phân phối các sản phẩm may mặc, thời trang
Sản phẩm sẽ đem đến tay người tiêu dùng thông qua hệ thống cửa hàng, đại lý của NHABECO và các siêu thị Các điểm bán hàng NHABECO đã hiện diện ở đầu khắp các tỉnh như: Tp HCM, Đà Nẵng, An Giang, Lạng Sơn, Cà Mau, Bình Dương, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng, Thái Bình…
Các sản phẩm chủ lực mà NHABECO dang phục vụ khách hàng trong nước gồm các bộ Veston, sơmi, jacket, quần và các hàng thời trang khác Mỗi chủng loại đều có nhiều kiểu dáng, chất liệu, màu sắc đa dạng
Ngoài ra, NHABECO còn nhận thiết kế và sản xuất đồng phục cho các đơn vị, công ty, trường học
+ Thị trường xuất khẩu và gia công quốc tế
Trang 32NHABECO thực hiện đơn đặt hàng theo yêu cầu của các khách hàng quốc tế NHABECO và các đối tác sẽ thoả thuận các vấn đề liên quan đến đơn đặt hàng như nguồn nguyên phụ liệu, thời hạn, số lượng, điều kiện sản xuất như về màu sắc, kiểu dáng, thành phần…
Thị trường và đối tượng khách hàng có thể khác nhau Nhưng các sản phẩm của NHABECO có một điểm chung, đó là đều được tạo ra từ những dây chuyền sản xuất hiện đại, bởi những người công nhân lành nghề và dưới cơ chế giám sát chất lượng chặt chẽ
- Sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu các mặt hàng Vải, Sợi, hàng may mặc phân phối rộng rãi cả trong và ngoài nước
Ngoài ra để đảm bảo hoạt động kinh doanh của Công ty được hoạt động liên tục Công ty còn kinh doanh các lĩnh vực khác:
- Mua bán các sản phẩm chế biến từ nông, lâm, hải sản; máy móc thiết bị, phụ tùng kim khí điện gia dụng và công nghiệp, điện tử, công nghệ thông tin
- Xây dựng và kinh doanh nhà, môi giới bất động sản
- Dịch vụ kho bãi, kinh doanh vận tải xăng dầu nằng ô tô và bằng đường thuỷ nội địa
- Tổ chức đại lý, dịch vụ giao nhận, bảo quản vận chuyển hàng cho các doanh nghiệp, các Công ty trong và ngoài nước
2.1.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Một bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất gọn nhẹ, mọi việc dều có người điều hành và chịu trách nhiệm, đảm bảo sử dụng lao động hiệu quả sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trôi chảy, không bị gián đoạn, tránh được những thiệt hại xảy ra trong sản xuất, góp phần ổn định và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngược lại, một bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất kồng kềnh, quyền hạn và trách nhiệm chồng chéo nhau, lao động sử dụng không có hiệu quả sẽ dẫn đến những thiệt hại đáng tiếc như ngừng sản xuất, cán bộ công nhân viên làm việc không hết mình, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc… Điều này làm tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc biệt đối với ngành may mặc thì bộ máy tổ chức và quản lý càng phải được quan tâm hơn, để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không bị gián đoạn nhưng vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ nguyên liệu đầu vào Vì vậy đòi hỏi công tác tổ chức quản lý và sản xuất có sự phù hợp chặt chẽ với nhau, năng động nhạy bén để đưa
ra quyết định đúng đắn kịp thời Một bộ máy quản lý và sản xuất gọn nhẹ giúp cho các
Trang 33doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả Vì vậy qua nhiều năm công ty có bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất tương đối gọn nhẹ thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ Phần May Nhà Bè
PHÒNG TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
GĐ ĐH PHỤ TRÁCH HÀNH CHÍNH
GĐ ĐH PHỤ TRÁCH KẾ HOẠCH THỊ TRƯỜNG
GĐ ĐH PHỤ TRÁCH KINH DOANH
GĐ ĐH PHỤ TRÁCH QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
PHÒNG HÀNH CHÍNH BẢO
VỆ ĐOÀN THỂ
PHÒNG KẾ HOẠCH THỊ TRƯỜNG
PHÒNG KINH DOANH
PHÒNG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
PHÒNG
KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
PHÒNG XUẤT NHẬP KHẨU
Trang 34- Chịu trách nhiệm: Phê duyệt mua sắm các loại máy móc thiết bị hành chính, duyệt các loại vật tư hàng hoá xuất ra ngoài công ty Duyệt mua các loại vật tư cung cấp cho sản xuất (có uỷ quyền cụ thể)
- Phụ trách ký: Ký các hợp đồng lao động, các hợp đồng xuất nhập khẩu, các hợp đồng mua bán vật tư, các uỷ nhiệm chi, các phiếu thu chi, các hoá đơn tài chính VAT, các bảng lương, L/C
· Phó tổng giám đốc phụ trách sản xuất:
- Giữ nhiệm vụ: Phụ trách công tác sản xuất, xuất nhập khẩu, cơ điện, tưởng ban
khoa học kỹ thuật
- Chịu trách nhiệm: Phê duyệt các chi phí phục vụ sản xuất, các sửa chữa nhỏ về
cơ điện, định mức lao động, định mức vật tư, duyệt mua một số thiết bị vật tư cho sản xuất (có giấy uỷ quyền cụ thể), duyệt các bảng giá thành sản phẩm kinh doanh xuất khẩu Duyệt các đề xuất lập hợp đồng xuất nhập khẩu
- Phụ trách ký: Các hợp đồng gia công trong nước, lện cấp phát vật tư ngoài định mức và vật tư bổ sung, lệnh điều động và các chứng từ đề xuất nhập khẩu
· Giám đốc điều hành phụ trách hành chính:
- Giữ nhiệm vụ: Phụ trách công tác hành chính, y tế, bảo vệ, trật tự an toàn, an
ninh, vệ sinh môi trường, vệ sinh công nghiệp, nhà ăn, căn tin, đánh giá theo tiêu chuẩn SA8000 của khách hàng
Trang 35- Chịu trách nhiệm: Phê duyệt sửa chữa nhỏ khu vực văn phòng, tiền ăn hàng ngày, duyệt mua sắm các dụng cụ phục vụ cho nhà ăn, căn tin dụng cụ cho vệ sinh và môi trường, các chi phí về điện thoại, dịch vụ bưu điện, sắp xếp các phương tiện giao thông
- Phụ trách ký: Ký các phiếu xuất nhập vật tư nội bộ, các hoá dơn xuất kho thuê ngoài chế biến, các bản sao phục vụ cho xuất nhập khẩu và sản xuất
· Giám đốc phụ trách kế hoạch – thị trường:
- Giữ nhiệm vụ: Phụ trách công tác kế hoạch, vật tư, kinh doanh xuất nhập khẩu,
giao nhận, kho vận, khách hàng, xúc tiến xuất khẩu và thị trường xuất khẩu kiêm trưởng phòng kế hoạch thị trường
- Chịu trách nhiệm: Tìm kiếm thị trường, tìm kiếm khách hàng đáp ứng đủ năng lực sản xuất của công ty, lập các kế hoạch tháng, quý, năm, các mã hàng, cân đối về sản lượng các loại vật tư, hàng hoá phục vụ sản xuất, phụ trách các xí nghiệp gia công, phương tiện vận tải
- Phụ trách ký: Ký các bảng thông báo giao hàng, packing list, các văn bản đòi nợ hàng xuất khẩu, các lện cấp phát vật tư trong hạn mức
· Giám đốc phụ trách kinh doanh:
- Giữ nhiệm vụ: Phụ trách kinh doanh nội điạ
- Chịu trách nhiệm: Phê duyệt mua bán vật tư để sản xuất hàng kinh doanh nội địa, duyệt giá mua và bán hàng nội địa, các mẫu mã hàng nội địa, duyệt các bảng giá bán sản phẩm hàng nội địa, các đề xuất lập hợp đồng nội địa
- Phụ trách ký: Ký các hợp đồng đại lý, các văn bản quyết toán với đại lý và các cửa hàng, siêu thị, ký các lệnh xuất hàng nội địa, ký các đơn đặt hàng sản xuất nội địa,
ký các hợp đồng uỷ thác phục vụ nội địa (không quá 30% so với doanh thu nội địa)
· Giám đốc điều hành phụ trách công tác kỹ thuật chất lượng:
- Giữ nhiệm vụ: Phụ trách công tác kỹ thuật, công tác chất lượng, phụ trách phòng
kỹ thuật công nghệ, thiết kế sản phẩm, ra các văn bản định mức nguyên phụ liệu
- Chịu trách nhiệm: Phê duyệt các chi phí liên quan đến kỹ thuật chất lượng
- Phụ trách ký: Ký xuất áo mẫu cho khách hàng, ký tài liệu kỹ thuật
c) Phòng kế hoạch thị trường:
· Chức năng:
- Tham mưu cho tổng giám đốc về các vấn đề sản xuất, thị trường, khách hàng,
quản lý vật tư Tổ chức triển khai, thực hiện các chính sách, chiến lược, kế hoạch,
Trang 36chương trình tiếp thị kinh doanh của ban giám đốc, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, bán hàng tại thị trường xuất khẩu
- Tổ chức thực hiện việc mua bán, cung cấp nguyên phụ liệu cho các xí nghiệp sản xuất theo đúng kế hoạch sản xuất, tìm kiếm các nguồn cung cấp nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất phù hợp với từng thời kỳ, từng thị trường
- Tổ chức quản lý điều hành bốc xếp vận chuyển, giao nhận tại các cửa khẩu
- Tham gia điều hành tiến độ sản xuất, giải quyết mọi khó khăn vướng mắc trong sản xuất
· Nhiệm vụ:
- Xây dựng kế hoạch sản xuất – tiêu thụ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Tổng hợp,
báo cáo, phân tích, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình kế hoạch thị trường của công ty trong từng thời kỳ
- Xây dựng các tiến độ chuẩn bị sản xuất, tiến độ sản xuất, tiến độ giao hàng đối với các xí nghiệp và các phòng nghệp vụ có liên quan Kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện tiến độ sản xuất
- Tìm kiếm khách hàng, tiến hành xem xét và đề xuất ký các hợp đồng gia công
- Quản lý kho hàng và cấp phát vật tư Thanh lý nguyên phụ liệu do khách hàng cung cấp với khách hàng
- Đền xuất lập hợp đồng ngoại thương hàng gia công
- Kiểm tra tất cả các đơn vị liên quan đến quá trình sản xuất, kiểm tra việc sử dụng nguyên phụ liệu
d) Phòng hành chính bảo vệ đoàn thể
· Chức năng:
- Quản lý đề xuất mua sắm, bảo trì và thực hiện chế độ sử dụng các dụng cụ và phương tiện làm việc, thiết bị thông tin, thiết bị văn phòng, nhà xưởng
- Quản lý và điều động phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất và công tác
- Quản lý con dấu của Công ty
Trang 37- Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, cung cấp các dịch vụ theo quy định của Công ty cho cán bộ công nhân viên của Công ty
- Chuẩn bị mẫu mã, nguyên liệu phù hợp với thị hiếu của khách hàng ở từng thời
kỳ khác nhau
- Tổ chức cung cấp nguyên phụ liệu theo đúng kế hoạch sản xuất cho các xí nghiệp
- Giải quyết vấn đề phát sinh về số lượng và chất lượng nguyên phụ liệu với nhà cung cấp
- Phụ trách các vấn đề về hội chợ, triển lãm, tiếp thị hàng hoá, marketing, thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm của Công ty tại thị trường nội địa
- Xúc tiến thương mại và tổ chức khuyến mãi, đề xuất cải tiến các vấn đề phụ trách để đảm bảo phát triển thị trường một cách bền vững
g) Phòng xuất nhập khẩu
· Chức năng:
- Tham mưu cho ban giám đốc về công tác đối ngoại, các luật quốc tế về thương
mại, thanh toán, bảo hiểm, vận tải, pháp chế, chính sách khách hàng và thị trường quốc tế
· Nhiệm vụ:
quan, hạn ngạch, chính sách khu vực, các chính sách xuất nhập khẩu của Nhà nước
- Tổ chức hệ thống xuất nhập khẩu theo quy chế và quy định của Công ty
- Tổ chức khai báo hải quan xuất nhập khẩu trên cơ sở phiếu đề xuất lập hợp đồng
đã được tổng giám đốc duyệt
- Thanh lý nguyên phụ kiện với hải quan
Trang 38- Đăng ký sở hữu nhãn hiệu trên thị trường quốc tế
h) Phòng quản trị chất lượng
· Chức năng:
- Tham mưu cho Tổng giám đốc về việc thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng
- Tham gia điều hành, quản lý và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về chất lượng toàn bộ sản phẩm của Công ty
· Nhiệm vụ:
- Xây dựng ban hành các quy trình kiểm tra chất lượng
- Tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát chất lượng nguyên phụ liệu đầu vào (riêng đối với nguyên liệu chỉ kiểm tra đối với hàng FOB) và đầu vào của quá trình sản xuất
- Giám sát việc thực hiện các quy trình chất lượng tại các xí nghiệp thanh viên
- Thống kê, phân tích tình hình chất lượng theo định kỳ, nhận xét và đánh giá chất lượng các đơn vị thành viên
- Đước kiểm tra toàn bộ vật tư hàng hoá, thành phẩm trong toàn Công ty
- Được quyền đình chỉ sản xuất đối với những trường hợp vật tư hàng hoá, công đoạn sản xuất không đạt tiêu chuẩn về chất lượng
- Có quyền cho ngưng quá trình sản xuất khi phát hiện các vi phạm về vấn đề kỹ thuật
k) Phòng kế toán
- Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kế toán, xử lý các chứng từ cho toàn công ty
Trang 39-Xác định kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty và từng bộ phận để đánh giá tính hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh
- Thực hiện báo cáo thuế theo đúng quy định
n) Phòng tổ chức lao động
· Chức năng:
- Giúp giám đốc quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ lao động, thực hiện
các chính sách và nghĩa vụ đối với người lao động theo đúng luật định
- Lập phương án phân phối các quỹ và phương án trả lương sản phẩm, tính toán quỹ lương hàng tháng cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
· Nhiệm vụ:
- Tổ chức quản lý lao động tiền lương, tổ chức lưu trữ hồ sơ, tài liệu và thực hiện
các văn bản cấp trên giao phó
- Giải quyết trực tiếp với người lao động về các vướng mắc trong quá trình tuyển dụng lao động sản xuất
- Tổ chức công tác đời sống, y tế, giáo dục cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
2.1.6 Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty
Cơ cấu tổ chức sản xuất của Doanh nghiệp công nghiệp là tập hợp tất cả các bộ phận sản xuất, hình thức tổ chức các bộ phận đó, sự phân bố về không gian và mối quan hệ sản xuất giữa chúng với nhau
Cơ cấu sản xuất thể hiện hình thức tổ chức của quá trình sản xuất, tính chất phân công lao động giữa các bộ phận sản xuất, đặc điểm của sự kết hợp lao động với tư liệu lao động và đối tượng lao động trong qúa trình sản xuất Đối với Công ty Cổ Phẩn may Nhà Bè, mang những nét đặc thù riêng của ngành may, do đó cơ cấu tổ chức sản xuất được bố trí cho phù hợp đặc thù riêng của công việc may gia công, thường xuyên
có sự thay đổi mặt hàng Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 40Sơ đồ 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty Cổ Phần may Nhà Bè
Chức năng từng bộ phận trong cơ cấu sản xuất của Công ty:
có lỗi khi sản xuất
Quản lý định mức tiêu hao nguyên phụ liệu, định mức kỹ thuật kịp thời chấn chỉnh đảm bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh
· Khu sản xuất
Chia ra rất nhiều khu:
Khu sản xuất A1: chuyên sản xuất veston A, veston B Khu sản xuất A2: chuyên sản xuất veston C, veston D Khu sản xuất B: chuyên sản xuất jecket
PHÓ TỔNG SX
XN VESTON (A, B, C)
XN SƠ -
MI (6A,6B)
XN JECKET (3,4)
BỘ PHẬN
KỸ THUẬT
BỘ PHẬN KCS
KHU
CƠ ĐIỆN
KHO THÀNH PHẨM