Để cho ngành thuỷ sản nói chung và các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu nói riêng có thể phát triển ổn định và bền vững, không ngừng tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng hiệu quả hoạt
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế thế giới càng phát triển mạnh mẽ hơn, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng ảnh hưởng sâu sắc hơn và trở thành một xu thế tất yếu, kinh tế thế giới là sự hòa quyện của tất cả các nền kinh tế của nhiều quốc gia chứ không phải của riêng một vài quốc gia nào cả Việc giao thương buôn bán giữa các quốc gia diễn ra dưới các hình thức
đa dạng và phong phú hơn Hiếm có một quốc gia nào có thể phát triển mà lại nằm ngoài các mối quan hệ kinh tế đan xen đó
Như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cũng luôn tích cực tham gia hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, bắt kịp xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế thế giới là con đường duy nhất để chúng ta không bị tụt hậu lại phía sau và để có thể tạo điều kiện đưa nước ta sớm trở thành một nước CNH-HĐH, vươn lên sánh ngang cùng các cường quốc năm châu Muốn thực hiện điều này chúng ta cần phải có một lượng vốn lớn Và thúc đẩy xuất khẩu chính là một trong các lựa chọn hàng đầu để làm tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước, bằng nguồn ngoại tệ ấy, chúng ta sẽ đầu tư cho các hoạt động kinh tế phát triển đất nước
Trong giai đoạn vừa qua, xuất khẩu Việt Nam liên tục tăng, và một trong các ngành chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
đó chính là ngành thuỷ sản.Với những đóng góp to lớn của ngành thuỷ sản, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định xuất khẩu thuỷ sản chính là một trong các ngành kinh
tế mũi nhọn của cả nước Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản ngày càng chú trọng đầu tư cải tiến và đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến phù hợp vào chế biến, bên cạnh đó là các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu mới ra đời, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, nhằm tạo ra nhiều các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao Để cho ngành thuỷ sản nói chung và các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu nói riêng có thể phát triển ổn định và bền vững, không ngừng tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh thì đòi hỏi phải có được thị trường xuất khẩu thuỷ sản không những ổn định mà còn cần phải rộng lớn Chính vì vậy mà Bộ thuỷ sản đã xác định: bên cạnh việc duy thì thị trường xuất khẩu truyền thống thì các doanh nghiệp cần tìm kiếm nhiều thị trường xuất khẩu mới, có nhiều tiềm năng
về nhập khẩu thuỷ sản, và EU là một trong các lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam Nếu trước đây các doanh nghiệp hầu hết chỉ tập trung xuất sang thị trường Nhật Bản (chiếm khoảng trên 60% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam), thì nay các doanh nghiệp đã điều chỉnh
để hàng thuỷ sản của mình xuất sang nhiều các thị trường khác nhau, đặc biệt coi
Trang 2trọng là Mỹ và EU, hình thành một cơ cấu thị trường xuất khẩu hợp lý EU là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới và cũng là thị trường khó tính nhất thế giới, vì vậy nếu giành được một chỗ đứng ổn định trên thị trường này sẽ giúp các doanh nghiệp có thể phát triển ổn định và bền vững
Hiện nay, theo hướng đi chung của toàn ngành, và dựa trên những thế mạnh của Công ty, bên cạnh việc duy trì thị trường truyền thống là Nhật Bản, và tiếp tục phát triển trên thị trường Mỹ, Công ty cổ phần Nha Trang Seafoods xác định EU là thị trường mục tiêu, và đang tập trung nguồn lực đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này Trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Công ty sang EU liên tục tăng mạnh, từng bước thực hiện mục tiêu đề ra của Công ty, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này của Công ty chưa lớn, vẫn chưa phát huy hết nội lực của Công ty
Xuất phát từ thực tiễn trên em đã chọn đề tài là “ Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU tại Công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17”
Mục đích nghiên cứu:
Với phần phân tích của mình, em mong muốn những giải pháp em đưa ra
có thể đóng góp một phần nhỏ bé để góp phần đẩy mạnh công tác xuất khẩu sang
EU - thị trường tiềm năng lớn về nhập khẩu thuỷ sản Nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu của công ty, giúp Công ty hình thành một
cơ cấu thị trường xuất khẩu hợp lý, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
mở rộng qui mô sản xuất, phát triển ổn định và bền vững
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về hoạt động sản xuất kinh doanh chế biến thuỷ sản xuất khẩu
tại Công ty F17
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được phân tích và đánh giá chủ yếu là thông qua các số liệu, dữ kiện kinh doanh của Công ty cũng như quan sát phỏng vấn các đối tượng liên quan trong Công ty trên cơ sở áp dụng các phương pháp như: phân tích thống kê,
so sánh đối chiếu, đồ thị, phỏng vấn, cùng các số liệu, tài liệu thứ cấp của các trang web liên quan và các tạp chí chuyên ngành
Phạm vi nghiên cứu:
Là nghiên cứu hoạt động sản xuất chế biến thuỷ sản xuất khẩu của Công
ty trong thời gian qua, trong đó đi sâu phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Công ty sang thị trường EU, cũng như so sánh đối chiếu với tình hình nhập khẩu của thị trường này (nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng, xu hướng tiêu dùng, các rào cản
Trang 3nhập khẩu), nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU trong thời gian qua, để có được cái nhìn đầy đủ hơn và trên cơ sở đó em xin đề xuất những biện pháp nhằm góp phần đẩy manh hoạt động xuất khẩu của Công
ty sang thị trường đầy tiềm năng – EU
Nội dung và kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty sang EU
Chương 3: Một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Công ty sang EU
Em xin chân thành cảm ơn thầy Võ Hoàn Hải cùng các thầy cô trong trường đã tận tình cung cấp cho em những kiến thức quý báu, giúp em có cơ sở
lý luận để phân tích các hoạt động của Công ty, đồng thời em xin cảm ơn các cô, chú, anh chị trong Công ty F17 đã tận tình chỉ bảo cho em những thắc mắc, và toàn thể các bạn đã đóng góp ý kiến Nhưng vì thời gian có hạn, và tầm kiến thức còn nhiều hạn chế nên những phân tích của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong các thầy cô, các cô chú, anh chị trong Công ty tận tình chỉ bảo, và các bạn đóng góp ý kiến để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 11 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Nguyệt
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh tế trong đó các chủ thể kinh doanh của các nước bán các sản của mình cho các chủ thể kinh doanh khác ở nước ngoài trong những điều kiện nhất định
2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu
2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta Để công nghiệp hoá đất nước trong một thờì gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
+ Đầu tư nước ngoài
+ Vay nợ, viện trợ
+ Thu từ hoạt động du lịch, hoạt động thu ngoại tệ
+ Xuất khẩu sức lao động …
Các nguồn đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ tuy quan trọng, nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là nguồn vốn thu từ hoạt động xuất khẩu
Ở nước ta, thời kì 1986-1990 nguồn thu về từ hoạt động xuất khẩu đảm bảo trên 55% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, thời kì 1991- 1995 là 75,3%, thời
kì 1996-2000 là 84,5%
Trong tương lai nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên Nhưng mọi cơ hội đầu
tư, vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư nước ngoài cho vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả
nợ trở thành hiện thực
2.2 Xuất khẩu đóng vai trò trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Trang 5Cơ cấu xuất khẩu và tiêu dùng trên thế giới đã và đang có sự thay đổi mạnh mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với
sự phát triển kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng Nếu chỉ thụ động chờ sự “ thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn chỉ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ diễn ra rất chập chạp
- Hai là, coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm này chính là xuất phát từ thị trường thế giới, từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó tác dụng tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động này tới sản xuất thể hiện ở:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi Chẳng hạn như khi phát triển ngành thuỷ sản thì sẽ kéo theo sự phát triển của công nghiệp chế biến, nuôi trồng, khai thác thuỷ sản
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo ra vốn, kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới + Thông qua xuất khẩu hàng hoá chúng ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về cả giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới công nghệ và hoàn thiện công tác quản trị sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị trường
2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
Trang 6Tác động của xuất khẩu đến đời sống nhân dân thể hiện ở nhiều mặt Trước hết xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc vơi mức thu nhập không thấp Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân dân
2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ hợp tác đối ngoại của nước ta
Chúng ta thấy xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các quan hệ kinh
tế đối ngoại khác và tạo điệu kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu
tư, mở rộng vận tải quốc tế… mặt khác chính các quan hệ đối ngoại tạo tiền đề cho việc mở rộng các hoạt động xuất khẩu
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế đất nước và thực hiện công nghiệp hoá đất nước
2.5 Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Giúp doanh nghiệp nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng nước ngoài để cải thiện sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu
Xuất khẩu có vai trò thúc đẩy đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Bởi vì thị trường thế giới luôn đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao và vệ sinh an toàn ngày một tốt hơn Do vậy, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững lâu dài thì đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị, công nghệ, máy móc, bên cạnh đó cần phải nâng cao tay nghề, trình độ người lao động, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro trong kinh doanh
Xuất khẩu còn giúp kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
Nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu được coi là một yếu tố quan trọng
để kích thích sự phát triển của doanh nghiệp Xuất khẩu giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế xã hôị, cho phép doanh nghiệp
mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao thu nhập cho người lao động
Xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp nâng cao vị thế và uy tín trên thương trường thế giới
3 Các hình thức xuất khẩu
3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Trang 7Là hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp phải tự lo bán trực tiếp các sản phẩm của mình ra nước ngoài Hình thức này thường áp dụng đối với doanh nghiệp có trình độ và qui mô sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, có kinh nghiệm trên thương trường thế giới, sản phẩm của doanh nghiệp có đã được khách hàng trên thế giới ưa chuộng, thông thạo các nghiệp vụ xuất khẩu Xuất khẩu trực tiếp thường đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp vì doanh nghiệp không phải chia sẻ lợi nhuận cho các trung gian Nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cũng sẽ gặp không ít rủi ro nếu không am hiểu về thị trường xuất khẩu, không am hiểu về khách hàng và đối thủ cạnh tranh, thiếu kinh nghiệm trong xuất khẩu
3.2 Xuất khẩu gián tiếp ( uỷ thác xuất khẩu )
Đây là hình thức xuất khẩu qua trung gian Doanh nghiệp sẽ uỷ quyền cho một doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ hàng hoá làm nghiệp vụ xuất khẩu hàng cho mình Bên nhận uỷ thác sẽ tiến hành ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng xuất khẩu với bên thứ ba và nhận phí uỷ thác Với hình thức này thì doanh nghiệp đã chia sẻ một phần lợi nhuận cho nhà nhận uỷ thác Hình thức này thường phổ biến với những doanh nghiệp có qui mô sản xuất nhỏ, chưa có đủ điều kiện để thực hiện xuất khẩu trực tiếp, hoặc không được phép xuất khẩu trực tiếp, chưa có kinh nghiệm trong việc xuất khẩu, hoặc chưa quen biết thị trường, khách hàng, chưa thông thạo các nghiệp vụ xuất khẩu
4 Tổ chức công tác xuất khẩu trong một doanh nghiệp
4.1 Nghiên cứu thị trường
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành bán sản phẩm của mình tới một thị trường nào đó thì đều phải tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu về thị trường
đó Doanh nghiệp có thể bán hàng tại thị trường nội địa hoặc là đem xuất khẩu hàng hoá, và việc xuất khẩu hàng là phức tạp hơn nhiều so với việc tiêu thụ tại thị trường nội địa bởi vì xuất khẩu chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, không chỉ của hệ thống pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ, thuế quan trong nước mà còn chịu của cả thị trường xuất khẩu
Bên cạnh đó, nhu cầu, thị hiếu, sở thích, mức độ chi trả của thị trường từng nước là khác nhau Hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc xuất khẩu của doanh nghiệp Chính vì vậy các doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứu thị trường xuất khẩu để thu thập được các thông tin cần thiết như: nhu cầu tiêu dùng của người dân về hàng hoá của doanh nghiệp, mức thu nhập bình quân đầu người, hệ thống kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh, nhu cầu nhập khẩu của nước đó, hạn ngạch, các qui định của chính phủ nước sở tại về việc nhập khẩu hàng hoá đó
Trang 84.2 Tìm kiếm khách hàng
Khi doanh nghiệp đã có những hiểu biết nhất định về thị trường thì bước tiếp theo là phải tìm kiếm và lựa chọn khách hàng Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp Vì không phải bất cứ khách hàng nào doanh nghiệp cũng có thể thiết lập quan hệ làm ăn, mua bán Việc kinh doanh xuất khẩu là công việc lâu dài, có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp cần phải lựa chọn được những khách hàng đáng tin cậy, có thể thiết lập quan hệ lâu dài Việc tìm kiếm thông tin về bạn hàng có thể thông qua:
- Doanh nghiệp cử người trực tiếp đi sang thị trường xuất khẩu để tìm hiểu Phương pháp này thì tốn kém chi phí
- Thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu khác
- Thông qua nhà cung cấp
- Các tổ chức tham tán thương mại
- Qua ngân hàng
- Qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo, tạp chí chuyên ngành, internet…
- Cũng có thể thông qua tình báo kinh tế
4.3 Đánh giá khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp đã có được đối tác thì doanh nghiệp cần đánh giá lại khả năng xuất khẩu của mình trước khi đi đến giao dịch đàm phán để kí kết hợp đồng Doanh nghiệp cần phải xem xét các vấn đề sau:
- Nguồn nguyên liệu có đủ để cung ứng cho sản xuất không?
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp có đủ để thực hiện thương vụ đó không?
- Trình độ, tay nghề của người lao động, năng suất lao động và công suất của máy móc có đảm bảo đáp ứng đủ và đúng về khối lượng và chất lượng lẫn thời gian giao hàng hay không?
- Và còn một số vấn đề khác
4.4 Lập phương án kinh doanh
Công ty cần xác định rõ ràng cụ thể các vấn đề sau:
- Mục tiêu của việc kí kết hợp đồng
- Các biện pháp cần thực hiện để đạt được mục tiêu đó
Trang 9- Dự báo hiệu quả xuất khẩu để xác định có nên tiến hành giao dịch đi đến
kí kết hợp đồng hay không?
4.5 Giao dịch đàm phán
- Sau khi đã lựa chọn được khách hàng doanh nghiệp tiến hành đàm phán
để đi đến kí kết hợp đồng Các bước giao dịch chủ yếu là:
+ Chào sản phẩm: giới thiệu cho khách hàng biết sản phẩm của mà doanh nghiệp muốn cung cấp
+ Chào giá: doanh nghiệp cung cấp giá bán hàng và điều kiện thương mại cho đối tác Qua đây hai bên sẽ tiến hành đàm phán để thống nhất giá cả
Thoả thuận các vấn đề về khối lượng, giá cả, chất lượng, mẫu mã bao bì, phương thức thanh toán, giao nhận, vận chuyển, các điều khoản về bảo hiểm, giải quyết khiếu nại, tranh chấp…
- Giao dịch đàm phán có các hình thức sau:
+ Giao dịch đàm phán qua thư tín:
Ngày nay trong giao dịch quốc tế, đàm phán qua thư tín là một phuơng thức đàm phán đơn giản và dễ thực hiện và nó là phương thức giao dịch chủ yếu của các nhà xuất nhập khẩu So với việc gặp gỡ trực tiếp thì hình thức này tiết kiệm được nhiều chi phí Trong cùng một lúc có thể giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới Tuy nhiên nó đòi hỏi nhiều thời gian chờ đợi đôi khi cơ hội mua bán sẽ qua đi, và lời lẽ trong thư thì chúng ta không thể đoán biết hết được ý đồ của họ một cách chính xác
+ Đàm phán qua điện thoại Việc đàm phán qua điện thoại nhanh chóng, giúp người giao dịch tiến hành đàm phán khẩn chương đúng vào thời điểm cần thiết Nhưng do cước phí giao dịch bằng điện thoại quốc tế thường là rất cao nên cuộc trao đổi bằng điện thoại thường bị hạn chế về thời gian do đó hai bên không thể cụ thể chi tiết hết các vấn đề cần bàn Mặt khác do việc trao đổi qua điện thoại không có cơ sở giấy
tờ pháp lý làm bằng nên rất khó để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra Bởi vậy hình thức này chỉ đụơc sử dụng trong các trường hợp cần thiết cấp bách hoặc với khách hàng tin cậy
Trang 10những hợp đồng lớn, những hợp đồng có tích chất phúc tạp…việc hai bên gặp gỡ nhau tạo điều kiện cho hai bên hiểu biết về nhau tốt hơn và duy trì được quan hệ lâu dài với nhau
4.6 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
4.6.1 Xin giấy phép xuất khẩu (nếu cần ) Các doanh nghiệp xin giấy phép xuất khẩu gửi về Bộ Thương mại một bộ
hồ sơ bao gồm:
- Đơn xin kinh doanh xuất khẩu
- Giấy phép thành lập doanh nghiệp (bản sao công chứng)
- Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh (bản sao công chứng)
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh có thêm bản xác nhận về vốn theo quy định của luật pháp đối với từng doanh nghiệp
4.6.2 Chuẩn bị đầu khâu thanh toán Đối với một số phương thức sau đây người bán và người mua cần có những công việc chuẩn bị nhất định:
- Phương thức L/C: chỉ cần người bán xuất ra một bộ chứng từ đúng theo yêu cầu thì ngân hàng sẽ trả tiền ngay cho người bán Người bán yêu cầu người mua mở L/C, ký quỹ tiền Người mua sẽ lên ngân hàng mở L/C và ký quỹ Sau khi nhà nhập khẩu mở L/C và ngân hàng thông báo L/C cho nhà xuất khẩu thì nhà xuất khẩu sẽ tiến hành xem xét L/C, nếu có gì chưa hợp lệ thì đề nghị tu chỉnh L/C
- Phương thức COD, CAD: hai phương thức này thì trước khi giao hàng người bán yêu cầu người mua ký quỹ 100% tại ngân hàng Khi ngân hàng bên mua báo có thì người bán mới giao hàng
4.6.3 Chuẩn bị hàng hoá
- Thu gom hàng hoá:
+ Đối với doanh nghiệp không sản xuất hàng xuất khẩu thì cần phải tính toán thời gian thu mua nguyên liệu chế biến sản xuất cần thiết để đảm bảo thời gian của hợp đồng qui định
+ Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thì cần phải tính toán thu mua nguyên liệu như thế nào, sản xuất như thế nào để đảm bảo thời gian của hợp đồng quy định
- Đóng gói bao bì: bao bì phải phù hợp với hợp đồng ngoại thương, phương tiện vận tải, yêu cầu về bảo quản, thẩm mỹ
Trang 11- Kẻ ký mã hiệu bên ngoài 4.6.4 Kiểm tra, kiểm dịch hàng hoá Kiểm tra về số lượng, chất lượng, quy cách…của hàng hoá xuất khẩu Kiểm dịch xem hàng hoá có vi trùng, vi khuẩn, lây lan bệnh hay không…thường là áp dụng đối với động thực vật
4.6.5 Làm thủ tục hải quan Bao gồm các công việc:
- Đăng ký tờ khai hải quan
- Kiểm tra
- Thanh lý 4.6.6 Thuê hoặc nhận phương tiện vận tải Nếu xuất khẩu theo nhóm C&D thì người bán phải chịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải Còn các điều kiện khác thì việc thuê phương tiện vận tải thuộc về người mua
Người xuất khẩu có thể lựa chọn một trong các phương thức thuê tàu sau:
- Thuê tàu chợ
- Thuê tàu chuyến
- Thuê tàu định hạn 4.6.7 Giao hàng
Chủ hàng liên lạc với hãng tàu để gửi các thông tin về hàng hoá của mình Trên cơ sở này chủ tàu sẽ cấp một sơ đồ xếp hàng Sau khi đã thoả thuận với chủ tàu về điều kiện bốc dỡ vào đúng ngày giờ qui định, chủ hàng sẽ tập kết hàng ra bãi Sau khi hàng được bốc qua tàu chủ hàng sẽ nhận một biên lai thuyền phó Sau khi chủ hàng đã thanh toán chi phí vận chuyển hoặc bên mua kí xác nhận thanh toán chi phí thì chủ hàng có thể đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển
4.6.8 Mua bảo hiểm (nếu có) Nếu hợp đồng được kí theo giá CIF, CIP thì người xuất khẩu phải kịp thời tới Công ty bảo hiểm mua bảo hiểm cho hàng hoá trước khi bốc hàng
4.6.9 Lập bộ chứng từ thanh toán Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu nhanh chóng lập bộ chứng từ thanh toán, trình lên ngân hàng để lấy tiền hàng Yêu cầu đối với bộ chứng từ này là phải
Trang 12hoàn toàn chính xác và phù hợp với L/C về cả nội dung và hình thức (nếu thanh toán bằng L/C)
Bộ chứng từ gồm:
+ Hối phiếu + Vận đơn hoàn hảo (bản chính)
+ Đơn hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (nếu bán theo CIF)
+ Hoá đơn thương mại + Giấy chứng nhận phẩm cấp hàng hoá
Hồ sơ khiếu nại gồm:
+ Đơn khiếu nại
+ Hợp đồng mua bán ngoại thương
+ Các thư từ, điện, fax…giao dịch giữa hai bên
4.6.11 Thanh lý hợp đồng Sau khi đã thực hiện xong hợp đồng, nếu không có gì vướng mắc thì hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng
II LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
1 Khái niệm về thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu là nơi tập hợp người mua và người bán có quốc tịch khác nhau để xác định giá cá, số lượng hàng hoá mua bán giao dịch, chất lượng hàng hoá và các điều kiện mua bán theo hợp đồng, thanh toán chủ yếu bằng ngoại tệ và phải làm thủ tục hải quan qua biên giới
2 Các yếu tố của thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu cũng bao gồm các yếu tố chung của thị trường là cung, cầu, giá cả, cạnh tranh Tuy nhiên do việc kinh doanh xuất khẩu được tiến
Trang 13hành bởi các bên ở những quốc gia khác nhau nên ngoài những nét chung thì các yếu tố này còn có những nét riêng biệt do chịu tác động nhiều hơn và rộng hơn
2.1 Yếu tố cầu
Cầu của thị trường xuất khẩu là tổng cầu của tất cả các thị trường ngoài nước đối với hàng hoá của doanh nghiệp và nhu cầu đó phải có khả năng thanh toán Tổng cầu sẽ phản ánh qui mô của thị trường xuất khẩu Do là tập hợp của nhiều nước nên thường lớn hơn rất nhiều so với thị trường nội địa Cầu phụ thuộc vào các yếu tố như giá cả của hàng hoá đó và của các hàng hoá có liên quan, thu nhập của người tiêu dùng, thị hiếu và các kỳ vọng của họ, tập quán tiêu dùng, mức chi trả cho hàng hoá, chu kỳ sống của sản phẩm…
2.2 Yếu tố cung
Tổng hợp các nguồn cung ứng hàng hoá cho khách hàng trên thế giới ở một thời gian cụ thể tạo nên cung hàng hoá xuất khẩu Cung chịu sự tác động của các yếu tố sau: giá cả các yếu tố đầu vào, số lượng người sản xuất, công nghệ, giá
cả hàng hoá, lợi nhuận thu được từ sản xuất hàng hoá…bên cạnh đó nó còn chịu tác động của các chính sách và công cụ quản lý của nhà nước
2.3 Yếu tố giá cả
Giá cả của một loại hàng hoá được hình thành thông qua sự cân bằng giữa cung và cầu hàng hoá ở địa điểm và thời gian cụ thể Trên thị trường xuất khẩu với sự cạnh tranh của nhiều nhà cung cấp thì giá có xu hướng giảm Tuy nhiên nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như mức thuế suất nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan, các chính sách chính trị của quốc gia nhập khẩu, chi phí vận chuyển hàng hoá, chi phí sản xuất hàng hoá, khoảng cách giữa các quốc gia…
2.4 Cạnh tranh
Khi hàng hoá tham gia vào thị trường để thực hiện giá trị của nó thì nó luôn phải chị sự tác động của yếu tố cạnh tranh trong thị trường Khi kinh doanh tại thị trường nội địa mức độ cạnh tranh chưa cao, nhưng khi tham gia vào thị trường thế giới thì sự cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt hơn do có nhiều chủ thể tham gia kinh doanh và cạnh tranh, đồng thời có nhiều chủng loại hàng hoá hơn và có nhiều sản phẩm thay thế hơn
3 Phân loại thị trường xuất khẩu
ü Căn cứ vào vị trí địa lý
Trang 14- Trị trường truyền thống: là những thị trường mà doanh nghiệp có quan
hệ làm ăn lâu năm, có uy tín và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp
- Thị trường mới: là thị trường mà doanh nghiệp mới thiệt lập quan hệ làm
ăn hợp tác
- Thị trường tiềm năng: là những thị trường có khả năng và nhu cầu mua sản phẩm của doanh nghiệp và doanh nghiệp cũng đang hướng tới thị trường này trong tương lai
ü Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trrường :
- Thị trường độc quyền mua bán
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- Thị trường độc quyền nhóm
ü Căn cứ vào phương thức xuất khẩu:
- Thị trường xuất khẩu trực tiếp
- Thị trường xuất khẩu gián tiếp
ü Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu
- Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch
- Thị trường xuất khẩu không có hạn ngạch
Hạn ngạch là qui định của chính phủ về số lượng và chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được chính phủ phê duyệt hàng năm với mục đích là đảm bảo những cân đối của nền kinh tế của nước đó và bảo hộ sản xuất trong nước
ü Căn cứ vào đặc điểm sản xuất hàng hoá:
- Thị trường hàng hoá gia công
- Thị trường xuất khẩu sản phẩm chính
ü Căn cứ vào tỷ trọng hàng hoá:
- Thị trường xuất khẩu chính
- Thị trường xuất khẩu phụ
ü Căn cứ vào đối tượng hàng hoá đem lưu thông
- Thị trường hàng hoá
- Thị trường tiền tệ
4 Phân khúc thị trường xuất khẩu
Trong mỗi thị trường thì có nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tuỳ theo độ tuổi, giới tính, thu nhập, sở thích, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, trình độ học vấn…họ sẽ có cách tiêu dùng hàng hoá khác nhau Sự khác nhau này càng nhiều hơn khi khách hàng là người nước ngoài Hàng hoá của mỗi doanh nghiệp chỉ có thể đáp ứng đối với mỗi đối tượng khách hàng nhất định Vì vậy khi quyết định tham gia vào hoạt động kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định được phân khúc thị trường cụ thể Đó là xác định nhu cầu khách hàng mà mình có khả
Trang 15năng cung ứng, hướng vào thị trường là hướng vào khách hàng chính, đó là mục tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp Vậy để xác định nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp phải tiến hành phân khúc thị trường
ü Phân khúc thị trường theo đơn vị hành chính Cách phân khúc này sẽ phân khúc thị trường thành: vùng, miền, tỉnh, thành phố, quốc gia và những khu vực được đánh giá theo tiềm năng phát triển của chúng bằng cách khảo sát các yếu tố về kinh tế, xã hội Để từ đó doanh nghiệp tiếp cận khách hàng tiềm năng của mình
ü Phân khúc thị trường theo kinh tế học và nhãn hiệu học Phương pháp này dựa và các yếu tố về tuổi tác, giới tính, tỷ lệ sinh nở, việc làm, thu nhập, mức dộ tiết kiệm…để doanh nghiệp dự đoán được sức mua hàng hoá của từng nhóm khách hàng
ü Phân khúc thị trường theo đặc điểm tâm sinh lý Phương pháp này chú trọng vào các đặc điểm tâm sinh lý đặc thù của khách hàng, từ đó biết được mối quan tâm và hành động của họ để đề ra chiến lược thích hợp
ü Phân khúc thị trường theo lợi ích Phương pháp phân khúc này dựa trên việc xác định các lợi ích được khách hàng mong đợi mà sản phẩm có thể mang lại cho khách hàng Có những sản phẩm được đối tượng khách hàng này đánh giá cao nhưng lại không có giá trị gì đối với đối tượng khách hàng khác Vì vậy doanh nghiệp cần phải xác định chính xác những gì mà khách hàng mong đợi ở sản phẩm của mình, và sản phẩm của mình phù hợp với đối tượng khách hàng nào
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp
5.1 Môi trường kinh doanh quốc tế
Khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường thế giới doanh nghiệp nào cũng phải chịu sự tác động của các yếu tố do thị trường thế giới mang lại Những ảnh hưởng này có khi là tích cực nhưng cũng có khi là gây nhiều khó khăn cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp Những điều này có tác động rất lớn đối với các doanh nghiệp tham gia nền kinh tế toàn cầu Những yếu tố này là khách quan, doanh nghiệp không thể kiểm soát được, mà chỉ có thể thích nghi với chúng Các nhân tố này là do sự khác nhau về:
Môi trường kinh tế: Bao gồm các yếu tố về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ
lệ lạm phát, lãi suất, thu nhập bình quân đầu người…Nền kinh tế càng phát triển
Trang 16kéo theo sự cạnh tranh trong thị trường các quốc gia càng gay gắt hơn, nhưng đồng thời mức tiêu dùng có khả năng chi trả của người dân cũng tăng lên
Môi trường chính trị : Kinh tế có phát triển hay không phụ thuộc rất lớn
vào tình hình chính trị của quốc gia Một quốc gia có nền chính trị ổn định tạo thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh tại quốc gia đó, ngược lại một quốc gia
có tình hình chính trị bất ổn sẽ là một nguy cơ, rủi ro lớn cho những doanh nghiệp nào kinh doanh tại thị trường quốc gia đó
Môi trường pháp luật: Doanh nghiệp phải tuân thủ hệ thống pháp luật
của quốc gia mà mình kinh doanh Hiện nay các doanh nghiệp chịu sự tác động lớn của luật “chống bán phá giá”, luật bảo vệ người tiêu dùng, các qui định về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng hàng hoá nhập khẩu…
Môi trường văn hoá:Các yếu tố thuộc môi trường này có tác động rất lớn
tới hoạt động tiêu thụ của các doanh nghiệp Doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng bởi tập quán tiêu dùng, thói quen, sở thích, nhu cầu, mức độ chi tiêu, tôn giáo, ngôn ngữ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thói quen,…Cần phải chú ý tới môi trường văn hoá vì các yếu tố này được hình thành hành từ lâu và nhiều khi rất khó để thay đổi Vì vậy mà khi tiến hành kinh doanh doanh nghiệp phải tính toán xem có nên thay đổi các yếu tố văn hoá của thị trường ấy không hay là nên làm sản phẩm phù hợp với nền văn hoá đó
Bên cạnh các yếu tố trên thì các chính sách, công cụ quản lý kinh tế của nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp xuất khẩu Đó
là các hàng rào bảo hộ mậu dịch, các hàng rào phi thuế quan Trong đó dặc biệt mức thuế qui định đối với hàng nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu đối với mỗi loại hàng hoá, các qui định về công nghệ, về đảm bảo vệ sinh môi trường…
Hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố trên mà nó còn phụ thuộc vào quan hệ kinh tế chính trị, ngoại giao giữa các quốc gia Việc một nước đối xử như thế nào đối với hàng hoá của một nước phụ thuộc vào quan
hệ giữa hai quốc gia, mối quan hệ tốt đẹp sẽ thúc đẩy và tạo điều kiện cho quan
hệ thương mại, giao thương phát triển Khi đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường nước ngoài doanh nghiệp phải chịu tác động của hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mức độ của các rào cản này phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu
Hiện nay, trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, nhiều các liên minh kinh
tế đã hình thành, điều này tạo một hành lang thông thoáng hơn cho quan hệ thương mại giữa các quốc gia, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ thương mại khu vực
và trên thế giới thông qua một loạt các điều chỉnh Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng tham gia hoặc được tham gia vào các liên minh này, mỗi nước khác
Trang 17nhau sẽ có một lợi thế khác nhau và điều này ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp
5.2 Môi trường vĩ mô
Doanh nghiệp kinh doanh chịu ảnh hưởng của các nhân tố chính trị, pháp luật, kinh tế… ngay tại quốc gia mình
ü Môi trường kinh tế tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong
hoạt động kinh doanh Các nhân tố này như là cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc ,
hệ thống ngân hàng, tốc độ phát triển kinh tế, tỷ lệ lạm phát…
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Được đánh giá thông qua GDP và mức độ thu nhập bình quân người/năm Tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo sự tăng trưởng
về nhu cầu, số lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ…Thu nhập bình quân người/năm tăng lên sẽ kéo theo nhu cầu tăng và mức chi tiêu cho mua sắm hàng hoá dịch vụ tăng lên…Những điều này sẽ tạo thời cơ cho doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tiêu thụ của doanh nghiệp, tăng doanh số bán, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Hệ thống cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc: cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông, hệ thống điện nước phát triển luôn là nhân tố được các nhà đầu tư xem xét hàng đầu khi quyết định đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại một địa phương nào đó
- Hệ thống tài chính tiền tệ: phát triển tạo thị trường vốn cho các doanh nghiệp, một nhân tố đầu vào không thể thiếu đối với việc bắt đầu sản xuất kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để mở rộng sản xuất, tạo điều kiện cho xuất khẩu Thị trường vốn rộng mở thì tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình huy động vốn
- Lãi suất ngân hàng: nếu lãi suất cao thì sẽ khuyến khích việc gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, và hạn chế đầu tư mua sắm của người dân cũng như các nhà đầu tư Nó gây khó khăn cho các doanh nghiệp vì khi vay thì phải chịu chi phí rất cao, tăng giá thành sản xuất, hạn chế việc mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh
- Tỷ lệ lạm phát: một mức tỷ lệ lạm phát cao làm cho hàng hoá sản xuất ra
có giá đắt hơn, nó làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị thị trường thế giới Lạm phát cao có thể làm mất ổn định nền kinh tế, thúc đẩy việc nâng cao tỷ lệ phần trăm cho vay tiền, và tăng sự dao động của tỷ giá hối đoái
ü Môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật hoàn thiện, cơ chế hành chính thông thoáng, gọn nhẹ tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hoạt động
sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp giao thương, tìm kiếm bạn hàng, phát triển, tạo điều kiện phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu
Trang 18Cơ chế hành chính phức tạp, chậm chạp là một trong nhiều nguyên nhân khiến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh, vì thế những nơi mà có cơ chế hành chính thông thoáng sẽ thu hút các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh
ü Môi trường xã hội:
Yếu tố dân số thuộc môi trường xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh Một lực lượng lao động dồi dào, với giá nhân công rẻ, hay trình độ tay nghề người lao động cao góp phần cho việc giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm…tạo lợi thế cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hoá Tốc độ phát triển dân số cao, lượng dân cư đông đúc là nguồn khách hàng lớn cho doanh nghiệp Hay việc dịch chuyển dân cư từ vùng này sang vùng khác cũng kéo theo sự dịch chuyển tiêu dùng, sự thay đổi hoặc khác biệt trong chọn lựa mua sản phẩm
ü Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên của quốc gia đó
Sự khác nhau về tài nguyên và thái độ sử dụng tài nguyên sẽ dẫn đến sự khác nhau về mức độ khan hiếm hay phong phú, dồi dào tài nguyên Điều kiện tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu đất đai…điều này đem đến lợi thế hoặc bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhất
là những doanh nghiệp mà việc xuất khẩu hàng hoá là những sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên như thuỷ sản
ü Các chính sách công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước
Mỗi quốc gia sẽ có những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của riêng mình
để nhằm quản lý điều tiết hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh xuất khẩu nói riêng Một chính sách hạn chế hay khuyến khích xuất khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Các công cụ được sử dụng như thuế, hạn ngạch, tín dụng…
Thuế xuất khẩu được dùng làm công cụ điều tiết và quản lý xuất khẩu Nếu những hàng hoá được khuyến khích xuất khẩu thì sẽ được hưởng mức thuế suất bằng 0 hoặc mức thuế suất ưu đãi và ngược lại Mức thuế suất của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tới giá cả hàng hoá, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới, và ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Hạn ngạch xuất khẩu: là việc nhà nước qui định khối lượng xuất khẩu cao nhất của một loại hàng hoá trong một thời kỳ nhất định Hạn ngạch được dùng để bảo vệ nền kinh tế trong nước Khi chính phủ qui định hạn ngạch xuất khẩu đối với một hàng hoá nào đó là muốn hạn chế việc xuất khẩu hàng hoá đó Điều này
sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp vì chỉ được xuất khẩu một lượng nhất
Trang 19định, hạn chế doanh nghiệp tìm kiếm bạn hàng, phát triển, mở rộng thị trường xuất khẩu, và còn làm phát sinh tiêu cực trong việc cấp quota xuất khẩu …
Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tớI doanh thu, hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu Khi tỷ giá hối đoái tăng thì làm cho giá cả hàng hoá của nước xuất khẩu rẻ hơn so với hàng hoá của nước nhập khẩu, làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá ở thị trường nước ngoài, làm tăng thêm doanh thu cho doanh nghiệp nhờ việc chênh lệch tỷ giá Chính phủ có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm tỷ giá để khuyến khích hoặc hạn chế xuất khẩu
Tín dụng cho xuất khẩu: nếu việc xuất khẩu được khuyến khích thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng trong việc vay vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, và mức lãi suất có thể được ưu đãi
5.3 Môi trường tác nghiệp
Môi trường này bao gồm 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh hiện tại, khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế Nhà cung cấp là những người cung ứng các yếu tố đầu vào cho cả doanh nghiệp mình lẫn đối thủ cạnh tranh Họ có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp có được mối quan hệ thân thiết với các nhà cung cấp thì sẽ có thể đảm bảo việc cung ứng đúng, đầy đủ, kịp thời về số lượng, chất lượng hàng hoá và đảm bảo cân đối về giá cả Ngược lại nếu doanh nghiệp
bị phụ thuộc vào nhà cung cấp và các nhà cung ứng là độc quyền, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các nhà cung ứng lỏng lẻo… thì rất dễ dẫn đến tình trạng
ép giá, cung cấp hàng hoá không đạt yêu cầu về chất lượng hoặc thiếu… Vì vậy
mà hiện nay hình thành nhiều mối liện kết dọc, ngược chiều giữa doanh nghiệp
và nhà cung ứng để đảm bảo lượng đầu vào sản xuất kinh doanh Đối thủ cạnh tranh: Khi kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn đối mặt với nguy cơ bị chiếm lĩnh thị trường, khách hàng, chiếm mất nhà cung cấp hay kênh phân phối…từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại Không những vậy nếu doanh nghiệp nào chủ quan, sơ hở có thể các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào sẽ đánh vào điểm yếu của doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp không phòng bị Việc các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn ra nhập ngành dễ hay khó phụ thuộc vào hàng rào cản trở ra nhập ngành
Khách hàng: Khách hàng sẽ mang tới cơ hội cho doanh nghiệp khi họ mua sản phẩm, ưa chuộng, yêu thích tiêu dùng sản phẩm của mình Nhưng ngược lại nếu sản phẩm của doanh nghiệp không đáp ứng được những đòi hỏi mà khách hàng kỳ vọng hoặc vì lý do nào đó mà doanh nghiệp gây phản cảm với khách hàng thì nguy cơ đem lại cho doanh nghiệp còn lớn gấp nhiều lần những cơ hội
mà họ đã đem đến Bởi không những họ không mua sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 20nữa mà còn làm giảm uy tín của doanh nghiệp với tốc độ và phạm vi lan rộng nhanh chóng
Sản phẩm thay thế nhiều và rẻ thì khách hàng có thể chuyển sang tiêu dùng các sản phẩm ấy
5.4 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Đây là những yếu tố thuộc về bản thân doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể kiểm soát và điều khiển được nó, nó tạo ra sức mạnh hoặc là điểm yếu của doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải phát huy điểm mạnh của mình và hạn chế các điểm yếu để có thể tận dụng tốt các cơ hội và né tránh tốt các nguy cơ từ môi trường bên ngoài
Nguồn nhân lực: để tiến hành sản xuất kinh doanh thì nhân lực là một
trong hai yếu tố không thể thiếu được Người lao động tạo ra sản phẩm, và sản phẩm ấy có đảm bảo được chất lượng không, có hợp qui cách không phụ thuộc rất lớn vào tay nghề người lao động, và ý thức của họ Trên thế giới dù có nhiều ngành công nghiệp được tự động hoá hoàn toàn, nhưng vẫn phải có bàn tay con người để điều khiểm kiểm tra hệ thống ấy, và suy cho cùng thì mọi máy móc, công nghệ dù có hiện đại tới đâu thì cũng do con người tạo ra và phải nhờ có con người thì nó mới có giá trị Trong kinh doanh nói chung và xuất khẩu nó riêng thì doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường, phải thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, lập các phương án kinh doanh …tất cả các hoạt động ấy đều tiến hành bởi đội ngũ cán bộ nhân viên của công ty Và chiến lược, kế hoạch kinh doanh có
đi đến thành công hay không, có hiệu quả không phụ thuộc lớn vào trình độ, kinh nghiệm, khả năng chuyên môn nghiệp vụ của người lập và những người thực hiện chúng Một doanh nghiệp có đội ngũ công nhân viên dày dạn kinh nghiệm,
có trình độ cao, có kinh nghiệm quản lý tốt… góp phần quyết định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh: Bên cạnh nhân tố lao động thì vốn là nhân tố không thể
thiếu được để cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Để quá trình hoạt động của doanh nghiệp được liên tục và doanh nghiệp muốn mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh thì đều phải cần vốn Khi tham gia kinh doanh quốc
tế, các doanh nghiệp có nguồn lực tài chính mạnh sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được các chiến lược cạnh tranh mà cần lượng tài chính lớn Tuy nhiên quan trọng hơn là doanh nghiệp phải biết sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp một cách hợp lý, tiết kiệm để nguồn vốn ấy mang lại hiệu quả, để vốn thực sự là một công
cụ giúp doanh nghiệp nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thương trường
Uy tín của doanh nghiệp: Đây là tài sản vô hình của doanh nghiệp Khi
kinh doanh xuất khẩu thì nó rất quan trọng Mỗi doanh nghiệp xuất khẩu cần phải
Trang 21xây dựng cho mình thương hiệu riêng, thái độ của khách hàng đối với thương hiệu ấy sẽ đánh gía uy tín của công ty Muốn xây dựng được uy tín thì đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ tạo được các sản phẩm tốt, hợp nhu cầu mà còn kèm theo các dịch vụ, các hoạt động, các mối quan hệ với các đối tượng hữu quan…
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN TRONG THỜI GIAN QUA CỦA VIỆT NAM
1 Thành tựu đạt được
Với sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của các doanh nghiệp cũng như các cơ quan ban ngành có liên quan, thời gian qua ngành xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã gặt hái được những thành công to lớn:
ü Giá trị xuất khẩu thuỷ sản tăng nhanh, đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh
tế đối ngoại quan trọng
Từ giá trị 817 triệu đô la vào năm 1998, xuất khẩu thuỷ sản đã nhanh chóng vượt lên đạt 1,478 tỷ đô vào năm 2000, vượt 2 tỷ đô năm 2002, và trên 2,7
tỷ đô năm 2005 Như vậy chỉ trong vòng 7 năm (1998-2005), giá trị thuỷ sản xuất khẩu của nước ta đã tăng gấp hơn 3,2 lần, tương đương tốc độ tăng bình quân 18%/năm, năm cao nhất là năm 2000, tăng trên 50% so với năm trước Thuỷ sản luôn là một trong những lĩnh vực kinh tế có giá trị xuất khẩu cao nhất Thuỷ sản luôn đứng ở vị trí thứ 3 hay 4 trong các ngành xuất khẩu hàng đầu Việt Nam, và luôn đứng đầu về giá trị xuất khẩu thuần, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước
ü Nâng cao hẳn vị thế thuỷ sản Vệt Nam trên thương trường thế giới
Từ vị trí thứ 30 trong danh sác các nước có xuất khẩu thuỷ sản, Việt Nam nhạnh chóng vươn lên chiếu trên của thế giới Năm 2004, Việt Nam đứng thứ 7 trong 10 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu thế giới Năm 2005, với giá trị thuỷ sản xuất khẩu đạt trên 2,7 tỷ đô, được xuất khẩu tới 107 quốc gia và vùng lãnh thổ, vị thế đó chắc chắn được nâng lên Thành công đó có ý nghĩa càng sâu sắc hơn trong bối cảnh cạnh tranh thương mại thuỷ sản trên thế giới diễn ra ngày càng gay gắt hơn
Với sự hỗ trợ của dự án Seaqip của chương trình thúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia, của Bộ thuỷ sản, sự chủ động của VASEP, nhiều hoạt động tiếp thị đã được thực hiện tại các thị trường chính Các gian hàng Việt Nam đã có mặt thường xuyên, qui mô ngày càng lớn hơn, chuyên nghiệp hơn tại các hội chợ quốc tế lớn tại Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Bắc Mỹ, EU
Nhiều hoạt động cũng được chủ động để tiến hành tiếp cận các thị trường nhỏ như Nga, Đông Âu, Trung đông, Nam phi, Trung và Nam Mỹ, bước đầu đã
Trang 22mang lại kết quả Chỉ tính riêng trong 10 tháng đầu năm 2005, xuất khẩu thuỷ sản vào một số thị trường đã gia tăng mạnh mẽ: EU tăng 108%, Nga tăng 196%, Bỉ tăng 53%, Hà Lan tăng 82%, Pháp tăng 55%
Thuỷ sản Việt Nam đã trở thành một hiện tượng thành công được thế giới ghi nhận, tạo được vị thế xứng đáng và uy tín cao trong thương mại thuỷ sản toàn cầu
ü Cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản chuyển đổi mạnh theo hướng đa dạng hoá
và hợp lý
Về cơ cấu thị trường :
Từ chỗ hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào Nhật và châu Á với tỷ trọng 60% vào những năm cuối thế kỷ trước, năm 2005 chúng ta đã hình thành được cơ cấu thị trường hợp lý và bền vững hơn, với Nhật –30%, Mỹ- 23%, EU-16%, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Asean mỗi thị trường từ 5-5%, các thị trường khác
là 12%
Về cơ cấu sản phẩm:
So với năm 1998, năm 2005 sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đã được thay đổi đáng kể, đa dạng và phong phú hơn nhiều Sản phẩm tôm từ 67% giảm xuống còn 51%, cá từ 14,06% tăng lên 25%, nhuyễn thể chân đầu 7%, hàng khô 5% Đã hình thành các nhóm sản phẩm chủ lực đóng vai trò quyết định trong xuất khẩu như tôm đông lạnh, các tra, các ngừ, nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ…tôm sú và các tra phille Việt Nam đã nổi tiếng toàn cầu không chỉ qua vụ kiện “chống bán phá giá” tại Mỹ, mà chủ yếu bằng giá cả, chất lượng và năng lực cạnh tranh cao
Nhờ đổi mới thiệt bị công nghệ và phát triển thị trường, tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đã tăng từ 17,5%/năm lên 40-45% vào năm 2005, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản Nhiều sản phẩm giá trị gia tăng độc đáo đã được các tập đoàn hàng đầu thế giới ưa chuộng, đưa vào bán tại các siêu thị lớn
ü Hiện đại hoá thành công công nghiệp chế biến thuỷ sản và hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm
Bằng quyết tâm đúng đắn, giám chấp nhận tiêu chuẩn cao nhất, khắt khe nhất của thị trường, Bộ Thuỷ sản đã hướng dẫn và yêu cầu các doanh nghiệp nâng cấp điều kiện sản xuất, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, áp dụng các tiếp cận mới như GMP, HACCP, ISO về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Chỉ trong vòng 7 năm (1998-2005), hầu hết các cơ sở chế biến cũ đã được nâng cấp,
mở rộng đầu tư chiều sâu, bên cạnh các cơ sở chế biến mới ra đời với công nghệ
Trang 23tiên tiến Tổng số cơ sở chế biến công nghiệp tăng từ 164 (1998) lên 439 cơ sở (2005), trong đó có 296 cở sở chế biến thuỷ sản đông lạnh Công suất chế biến từ
800 tấn/ngày (1998) tăng lên 3250 tấn/ngày (225) Nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản hiện nay đã ngang với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và bước đầu tiếp cận với trình độ công nghệ của thế giới
Từ 18 cơ sở chế biến thuỷ sản được phép xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU hồi thăng1/1999, đến 2005 đã lên đến hơn 170 cơ sở, 300 đơn vị đã áp dụng HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất hàng vào Mỹ, 295 đơn vị đủ tiêu chuẩn xuất hàng vào Trung Quốc Những doanh nghiệp tiên tiến đã có giá trị xuất khẩu chiếm trên 80% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản toàn ngành
Năng lực kiểm soát an toàn vệ sinh cấp ngành và địa phuơng đã được chú trọng nâng cao Hàng trăm lượt cán bộ quản lý, thanh tra viên, kiểm nghiệm viên
đã được đào tạo trong và ngoài nước
Đội ngũ cán bộ các doanh nghiệp có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng cao, được thử thách trong cơ chế thị trường, tham gia thành công quá trình hội nhập và cạnh tranh kinh tế quốc tế
ü Xuất khẩu thuỷ sản tăng mạnh đã tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất nguyên liệu, hình thành mối liên kết dọc và ngang
Việc mở rộng thị trường tiêu thụ đã tạo đầu ra cho nguyên liệu, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất Người nuôi trồng thuỷ sản đã nhận thức rõ hơn về những hạn chế và rủi ro về giá cả sản phẩm tiêu thụ do sự phát triển tự phát gây
ra, hiểu và chấp nhận các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của thị trường
Có sự chuyển biến lớn trong nhận thức của cán bộ địa phương về xuất khẩu thuỷ sản Hầu hết các địa phương như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bình Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Quảng Ninh…đã xây dựng chính sách sạch, chương trình ưu tiên nguồn lực cho phát triển xuất khẩu thuỷ sản, tạo nên phong trào thi đua xuất khẩu thuỷ sản giữa các địa phương trong cả nước
2 Những hạn chế
Công nghệ chế biến đã được quan tâm đổi mới, nhưng chưa bắt kịp với tốc độ tiến bộ của công nghệ tiên tiến trên thế giới Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến chưa cao và không ổn định Tỷ trọng hàng chế biến giá trị gia tăng có tăng nhưng nhìn chung còn nghèo nàn Hầu hết các doanh nghiệp chưa đủ khả năng phát triển sản phẩm độc đáo của riêng mình
Đến nay vẫn còn khoảng 25% các cơ sở chế biến chưa đạt tiêu chuẩn quốc gia về đảm bảo an toàn thực phẩm Mặc dù đó là các doanh nghiệp nhỏ, chỉ
Trang 24chiếm tỷ trọng dưới 20% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản, nhưng gây ảnh hưởng bất lợi đến uy tín sản phẩm thuỷ sản Việt Nam
Khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng đủ nhu cầu của chế biến xuất khẩu thuỷ sản về cả số lượng và chất lượng Trình độ công nghệ trong khai thác thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản chưa cao, giá thành nguyên liệu nhìn chung còn cao hơn các nước trong khu vực Công nghệ bảo quản sau thu hoạch rất lạc hậu, công tác quản lý an toàn thực phẩm chưa được thực hiện tốt ở khu vực sản xuất nguyên liệu và sau thu hoạch Tình trạng tiêm trích tạp chất còn diễn ra phổ biến
ở nhiều nơi Việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng sản xuất nguyên liệu chưa được kiểm soát hữu hiệu Tất cả những nhân tố này dẫn đến chất lượng sản phẩm thuỷ sản chế biến xuất khẩu không đảm bảo về chất lượng hoặc có chất lượng không đáp ứng yêu cầu của thị trường, làm giảm uy tín của thuỷ sản Việt Nam Mối liên hệ giữa các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trong từng nhóm mặt hàng chưa tốt, hiện tượng cạnh tranh nội bộ không lành mạnh còn diễn ra phổ biến, thiếu chia sẻ thông tin về giá cả, thị trường, khách hàng, dễ bị chia rẽ nội bộ, lợi dụng dìm giá, dẫn đến tranh chấp thương mại
Chưa xây dựng được chiến lược phát triển thị trường dài hạn cho các nhóm sản phẩm chủ lực, chưa xây dựng được thương hiệu hàng hoá ở cấp quốc gia và cấp doanh nghiệp Công tác dự báo thị trường xuất khẩu chưa được quan tâm một cách đúng mức, còn thiếu cụ thể, chưa thật sự góp phần hướng dẫn sản xuất phát triển theo nhu cầu của thị trường
Năng lực giải quyết tranh chấp thương mại còn thấp, doanh nghiệp chưa chủ động nắm bắt các luật lệ, qui định về thương mại quốc tế, thiếu những luật sư
có đủ trình độ và có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp nên thường xuyên
bị thua thiệt trong quá trình xử lý tranh chấp
Năng lực của các cơ sở đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ về nghiên cứu thị trường và công nhân kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu về cả số lượng và chất lượng
Trang 25CHƯƠNG II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA CÔNG TY F17 VÀO THỊ
TRƯỜNG EU
I TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY F17
1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên đầy đủ : Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods-F17 Tên giao dịch : Nha Trang Seaproduct Company
Tên viết tắt : Nha Trang Seafoods Nhãn hiệu đăng ký : Nha Trang Seafoods- F17 Địa chỉ : 58B, đường 2/4, Vĩnh Hải, Nha Trang Điện thoại : (84)(58)831040-831041-831042-831043
có 70 công nhân viên, hệ thống trang thiết bị, máy móc cũ kỹ, nghèo nàn, lạc hậu, không đồng bộ Công suất của máy chỉ đạt 300 kg sản phẩm/ngày, kho bảo quản rách nát chỉ chứa được 20 tấn, nhà xưởng chế biến chật hẹp chưa đầy 200m2 Tiền vốn, kỹ thuật điện lạnh, công nghệ chế biến đều không có, điều kiện lao động cũng rất khó khăn, chủ yếu là lao động thủ công Lúc này Công ty chỉ chế biến tôm hùm luộc xuất khẩu và một số mặt hàng nội địa khác
Với quyết tâm đưa Xí nghiệp phát triển, Ban Giám đốc Công ty không ngại gian khổ đã lên tận tư lệnh vùng 4 hải quân Cam Ranh xin tháo gỡ một số máy móc thiết bị đông lạnh và 2 máy phát điện về sửa chữa và tạm sử dụng Đồng thời cũng vào tận thành phố Hồ Chí Minh để tuyển dụng 14 công nhân chế biến đông lạnh giỏi về làm hạt giống để đào tạo công nhân cho Công ty
Năm 1977 Công ty được UBND tỉnh Phú Khánh trang bị cho một hệ thống máy lạnh Mycom và một dàn máy lạnh, 2 tủ cấp đông với công suất 100kg sản phẩm/ngày, một kho bảo quản đông lạnh 60 tấn Từ đó Công ty đi vào ổn
Trang 26định sản xuất với sản lượng sản phẩm các loại là 229 tấn/năm với kim ngạch xuất khẩu là 739.803 USD
Tháng 8/1978 Công ty rời cơ sở sản xuất tới địa điểm mới tại 58B Vĩnh Hải, Nha Trang để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh đồng thời hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường
Ở thời kỳ bao cấp Xí nghiệp có các trạm thu mua trải rộng khắp tỉnh Phú Khánh, cán bộ công nhân viên lúc này đã lên tới 300 người, sản xuất nhiều mặt hàng hơn Tuy nhiên Xí nghiệp chưa được phép xuất khẩu trực tiếp nên phụ thuộc rất nhiều vào các Seaprodex Xí nghiệp chỉ sản xuất cầm chừng, và sản xuất những mặt hàng đã kí hợp đồng với các đơn vị xuất khẩu, đời sống công nhân viên còn nhiều khó khăn
Giai đoạn 1985-1990 khi nước ta vừa ở giai đoạn đầu của thời kỳ cải cách kinh tế, bắt đầu hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đua nhau phát triển Vì vậy giá cả nguyên liệu cũng biến động không ngừng Bên cạnh đó thì sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh nhà lại không đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất, chế biến Để khắc phục tình trạng đó Xí nghiệp đã mở rộng thị trường thu mua nguyên liệu ra ngoài tỉnh, trên địa bàn toàn quốc Đồng thời thay vì việc sản xuất cầm chừng, chủ yếu là gia công cho các đơn vị khác xí nghiệp đã mạnh dạn kí kết các hợp đồng xuất khẩu với khách hàng và nhờ xuất khẩu uỷ thác qua các đơn vị bạn Tháng 4/1992 Xí nghiệp được phép xuất khẩu trực tiếp
Xí nghiệp đông lạnh Nha Trang là đơn vị hạch toán độc lập theo nghị định
số 388/HĐBT, là doanh nghiệp nhà nước thành lập theo thông báo số 2313 – TS/TB ngày 8/12/1992 của Bộ thuỷ sản
Ngày 14/12/1993 Xí nghiệp đổi tên thành Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Nha Trang và tên giao dịch nước ngoài là Nha Trang Seaproduct company, viết tắt là Nha Trang Seafoods
Năm 1995, sản lượng sản phẩm các loại của Công ty đạt 2.786 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 14.287.664 USD chiếm 1/3 doanh số ngành thuỷ sản Tỉnh Khánh Hoà, và nộp ngân các đứng thứ 3 của tỉnh Cuối 1997, Công ty đã tăng cường thêm năm cơ sở sản xuất kinh doanh và một xưởng chế biến thuỷ sản (F90) của Công ty thiết bị vật tư Khánh Hoà
Từ năm 2000-2005 Công ty đã đầu tư trên 20 tỷ để nâng cấp nhà xưởng đạt yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, đổi mới máy móc thiết bị có tính năng
kỹ thuật tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế Hiện nay năng suất cấp đông các mặt hàng thuỷ sản của Công ty đạt 78,3 tấn/ngày, thể tích kho lạnh có thể bảo quản
Trang 27trên 1740 tấn Ngày 20/7/2004 Công ty chính thức đổi tên thành Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods-F17, tên giao dịch với nước ngoài là Nha Trang Seafoods Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển với bao khó nhăn, hiện nay Công
ty đang giữ vai trò đầu đàn trong ngành thuỷ sản Khánh Hoà Là Công ty xuất khẩu có uy tín trên thị trường, có nhiều kế hoạch ổn định, đội ngũ công nhân lành nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt Nhiều năm qua Công ty luôn dẫn đầu các tỉnh khu vực miền Trung về giá trị kim ngạch xuất khẩu
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng khốc liệt Công ty đã không ngừng nâng cao chất luợng, cải tiến mẫu mã và đa dạng hoá sản phẩm Công ty áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP, đảm bảo vệ sinh theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế Từ năm 2000 đến nay hệ thống quản lý chất lượng của Công ty được tổ chức quốc tế BVQI Vương quốc Anh cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000
Với những thành tích đạt được và những đóng góp không nhỏ của mình cho ngành và địa phương Công ty nhận được những hình thức khen thưởng như huân chương lao động hạng nhất, cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh Khánh Hoà
và của Sở thuỷ sản Khánh Hoà và Bộ thủy sản:
Trong 10 năm trở lại đây với phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật Công ty đã có hơn 135 sáng kiến làm lợi cho Công ty hơn 3,5 tỷ đồng, góp phấn lớn vào việc nâng cao uy tín, hình ảnh của Công ty trên thương trường thế giới Nhiều sản phẩm của Công ty đạt huy chương vàng tại các hội chợ kinh tế -
kỹ thuật Việt Nam và hội chợ triển lãm Vietfish
Hiện nay, với đội ngũ công nhân lành nghề, nhiệt tình trong công việc và đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ khá cao và đồng đều, tâm huyết với công việc Công ty luôn cố gắng phấn đấu để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu của Công ty, tăng doanh thu, tăng đóng góp cho ngân sách nhà nước, giữ vững và phát huy vai trò là con chim đầu ngành trong chế biến xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh nhà
2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
2.1 Chức năng
Công ty có chức năng hoạt động trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản, chuyên sản xuất các mặt hàng thuỷ sản tươi, đông lạnh, tẩm gia vị, luộc, khô … để xuất khẩu, nhập khẩu các thiết bị nghề cá, hợp tác đầu tư nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, nhận sửa chữa các thiết bị lạnh, kho lạnh, thiết bị sản xuất nước đá…
Trang 282.2 Nhiệm vụ
- Tổ chức thu mua nguyên liệu, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản theo đúng quy trình công nghệ, đảm bảo theo đúng số lượng, chất lượng và thời gian giao hàng
- Kí kết hợp đồng thu mua nguyên liệu thuỷ sản với các đơn vị nuôi trồng, đánh bắt tại địa phương, cung cấp vật tư, thiết bị máy móc, phương tiện đánh bắt cho ngành thuỷ sản
- Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh chính trị và làm tròn nghĩa vụ quốc phòng,
- Thực hiện nguyên tắc phân công theo lao động, điều phối lao động cá nhân, đơn vị đảm bảo công bằng, hợp lý
- Đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm lấy thu bù chi, có lãi
để tái sản xuất và thực hiện nộp thuế với nhà nước
- Thực hiện pháp luật hạch toán kinh tế, tài chính và báo cáo thường xuyên, trung thực, theo đúng quy định tài chính, quản lý xuất nhập khẩu của nhà nước
- Tạo nguồn vốn, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đó Đảm bảo đầu tư sản xuất, đổi mới trang thiết bị, công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nghiên cứu các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường khối lượng xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm thu hút ngoại tệ
3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Tổ chức quản lý là sự sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty theo những bộ phận đảm nhiệm chức năng khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức
Bộ máy tổ chức quản lý luôn là nhân tổ ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Một bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất tinh gọn, quyền hạn và trách nhiệm được phân rõ sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trôi chảy, không bị gián đoạn, tránh được những thiệt hại xảy ra trong sản xuất Ngược lại một bộ máy quản lý và sản xuất cồng kềnh, quyền hạn
và trách nhiệm chồng chéo nhau, lao động sử dụng không có hiệu quả sẽ dẫn đến những thiệt hại đáng tiếc như sản xuất bị gián đoạn, cán bộ công nhân viên làm việc không hết mình, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc…dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh bị giảm sút
Trang 29Đặc biệt trong ngành chế biến thuỷ sản thì bộ máy tổ chức và quản lý phải được quan tâm, chú trọng hơn bởi giá cả trong ngành luôn có sự biến động và cạnh tranh mạnh mẽ, nhất là sự biến động của giá cả nguyên liệu đầu vào Vừa phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không bị gián đoạn nhưng vẫn đảm bảo mức giá mua nguyên liệu ở mức chấp nhận được Muốn vậy, đòi hỏi công tác tổ chức quản lý và sản xuất phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, người thực hiện nhiệm vụ phải năng động nhạy bén để có thể đưa
ra quyết định kịp thời, đúng đắn
Chính vì vậy việc xây dựng một bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất hợp
lý, tinh gọn luôn là vấn đề mà lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm Qua nhiều năm hoạt động Công ty đã xây dựng được một bộ máy quản lý và sản xuất tương đối tinh gọn, hợp lý thể hiện qua sơ đồ sau:
Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
H XNK
P TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG
P KỸ THUẬT
- KCS
CỬA HÀNG VẬT
TƯ
NHÀ HÀNG SEAFOOD
Trang 30Hội đồng quản trị
Do Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý toàn quyền Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để giải quyết các vấn đề liên quan tới mục đích và quyền lợi của Công ty Đề xuất kế hoạc kinh doanh, đưa ra các phương hướng đầu tư phát triển hoặc các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty Khi Công ty có những biến động lớn thì Hội đồng quản trị đưa ra các biện pháp nhằm khắc phục biến động đó
- Nhiệm vụ của Giám đốc:
+ Phụ trách công tác xuất nhập khẩu, đầu tư phát triển, liên doanh, liên kết
+ Quản lý chỉ đạo giá mua bán thành phẩm xuất khẩu, nội địa
+ Quan hệ kháck hàng trong và ngoài nước, ký kết các hợp đồng kinh tế, chịu trách nhiệm những tổn thất do sản xuất kinh doanh không hiệu quả, làm hao hụt, lãng phí tài sản vốn, vật tư theo quy định của pháp luật
+ Là đại diện của pháp nhân trước pháp luật
- Phó Giám đốc + Khác với thời kỳ bao cấp trước đây, Công ty chỉ có một phó Giám đốc phụ trách về mặt kỹ thuật và sản xuất hiện nay do sực cạnh tranh khốc liệt trên thị truờng, do sự phát triển của Công ty nên Công ty đã có hai Phó Giám đốc, gồm có: Phó Giám đốc kinh doanh và Phó Giám đốc sản xuất Phó Giám đốc có nhiệm vụ giúp cho Giám đốc về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty + Phó Giám đốc sản xuất điều hành phòng Tổ chức, phòng Kỹ thuật, phân xưởng Chế biến, phân xưởng Cơ điện, phân xưởng Bình Tân Phó Giám đốc sản xuất chịu trách nhiệm về công tác quản lý, chỉ huy hoạt động sản xuất về mặt kỹ thuật từ khâu sản xuất đến khâu bố trí điều kiện lao động, tổ chức cấp phát vật tư Hiện tại phó Giám đốc kiêm luôn là quản đốc phân xưởng chế biến + Phó Giám đốc kinh doanh phụ trách trực tiếp phòng Kinh doanh, phân xưởng Đặc sản, Cửa hàng vật tư Phó Giám đốc kinh doanh phụ trách mảng kinh doanh, công tác đối ngoại của Công ty, nắm bắt những thông tin biến động trên
Trang 31thị trường để kịp thời đưa ra những định hướng, chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Phòng Tài vụ
Phòng này có nhiệm vụ quản lý tài chính của Công ty, phụ trách công tác hỗn hợp, quyết toán báo cáo, có nhiệm vụ kế toán thành phẩm, vật tư, tài sản cố định, tiền mặt, tiền gởi, ngoại tệ
Xây dựng kế hoạch của Công ty bao gồm kế hoạch sản xuất kinh doanh,
kế hoạch tài chính, kế hoạch xây dựng cơ bản
Phòng tài vụ căn cứ vào nhu cầu tiền vốn, vật tư của các đơn vị cung ứng tiền vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và có trách nhiệm quản lý việc sử dụng tiền vốn đúng quy định của Công ty, sở tài chính Các đơn vị có nhiệm vụ báo cáo tình hình sử dụng tài chính của đơn vị từng ngày, từng tháng, từng quý, từng năm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng
Phòng tài vụ gồm có các nhân viên: kế toán tổng hợp, kế toán công nợ và ngân hàng, kế toán tiền lương, kế toán tài sản bằng tiền, thủ quỹ
Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc
về phương hướng sản xuất kinh doanh, về công tác quản lý tài chính, hạch toán
kế toàn theo đúng quy định của pháp luật
Soạn thảo các hợp đồng kinh tế, tổ chức thực hiện và theo dõi tình hình thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu
Xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu, chi phí vật tư, bao bì, vận chuyển Chịu trách nhiệm tiêu thụ hàng hoá, giao dich với khách hàng trong và ngoài nước, ngiên cứu thị trường tiêu thụ, kế hoạch tiêu thụ, chất lượng marketing
Giao dịch với ngân hàng để thu hoặc thanh toán tiền hàng, chiết khấu hoặc khiếu nại khách hàng khi có trở ngại xảy ra
Tổ chức công tác thu mua, gia công chế biến thành phẩm xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, đồng thời xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị bạn Phòng kinh doanh phối hợp với các phân xưởng điều chỉnh nguồn hàng, giá cả bán hàng Sau khi ký hợp đồng phòng kinh doanh thông báo cho phân xưởng giá thành phẩm, chất lượng, qui trình sản xuất, thời gian sản xuất, để cùng nhau thực hiện hợp đồng Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm cung ứng vật tư, bao bì cho các phân xưởng Còn các phân xưởng có trách nhiệm thu mua, chế biến sản xuất thành
Trang 32phẩm đúng theo quy định xuất khẩu để phòng kinh doanh thực hiện đúng hợp đồng đã ký
Báo cáo thống kê, tổng hợp đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu, tham mưu cho Giám đốc về những biện pháp nhằm thực hiện kế hoạch của Công ty
Phòng Tổ chức lao động tiền lương
Phụ trách công tác hành chính, quản lý nhân sự, quản lý lao động như chất lượng lao động, trình độ lao động, quản lý công tác tiền lương tiền thưởng, BHXH, BHYT, KPCĐ, cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty Bao gồm các
bộ phận như: văn thư, lao động tiền lương, đội bảo vệ, nhân viên nhà ăn, đội vệ sinh, lái xe
Trưởng phòng có nhiệm vụ tham mưu giúp Giám đốc Công ty làm các nhiệm vụ như:
Công tác tổ chức, bộ máy quản lý Công ty và các phòng ban, phân xưởng Xây dựng kế hoạch đào tạo nhân sự, và theo dõi thực hiện
Xây dựng kế hoạch tăng cường nhân sự và thực hiện
Công tác tiếp nhận, điều chuyển, bố trí sắp xếp các bộ
Tham gia hội đồng xem xét khen thưởng, kỷ luật, tuyển dụng lao động
Phòng Kỹ thuật - KCS
Chịu trách nhiệm với Giám đốc về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá, vật tư, bao bì, các công trình xây dựng cơ bản, máy móc thiết bị của Công ty Quản lý kỹ thuật cơ điện lạnh, máy móc và phương tiện vận chuyển, kho hàng Phối hợp với các đơn vị xây dưng công trình, quản lý chất lượng sản phẩm từ cơ
sở thu mua, chế biến, tới xuất khẩu, kiểm tra chất lượng sản phẩm khi nhập kho Công ty Quản lý các định mức tiêu hao nguyên liệu, định mức kỹ thuật kịp thời chấn chỉnh đảm bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh
Một trưởng phòng phụ trách và chịu trách nhiệm chung về các vấn đề thuộc kỹ thuật của Công ty Một phó phòng phụ trách chất lượng máy móc thiết
bị, kiểm tra vật tư, phụ tùng, quản lý định mức tiêu hao nguyên liệu, định mức sử dụng vật tư thay thế Các nhân viên phụ trách chất lượng sản phẩm Công ty sản xuất hay thu mua
4 Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty
Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là sự phối hợp chặt chẽ giữa sức lao động và tư liệu sản xuất cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, quy mô sản xuất và công nghệ sản xuất Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản trị Vì vậy, để có phương án tổ
Trang 33chức sản xuất kinh doanh có hiệu qủa thì đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu mối quan hệ và sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
Đối với ngành chế biến thuỷ sản thì việc tổ chức sản xuất có ảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng có hiệu qủa, tiết kiệm nguyên liệu Nếu việc tổ chức sản xuất trong mỗi doanh nghiệp được ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến thì nó cho phép sử dụng đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm nguyên nhiên liệu, tận dụng tối đa công suất của máy móc thiết bị, sức lao động, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất kinh doanh
Trang 35SƠ ĐỒ 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY
Công ty Cổ phần Nha Trang
Bộ phận sản xuất phụ trợ Bộ phận sản xuất chính Bộ phận phục vụ sản xuất
Nhà máy CBTS90
Nhà máy CBTS 17
Phân xưởng cơ điện Cửa hàng vật tư Nhà hàng
Nhà ăn
Y tế Kho hàng
Phân xưởng đặc sản
Phân xưởng chế biến
Phân xưởng chế biến
Phân xưởng đặc sản
Phân xưởng chế biến hàng cao cấp
Trang 36Bộ phận sản xuất chính: Bao gồm hai nhà máy CBTS 17&90:
Nhà máy CBTS 17 được đặt tại trụ sở chính của Công ty–58B đường 2/4,Vĩnh Hải, Nha Trang Nhà máy CBTS 90 được đặt tại số 1- Phước Long- Bình Tân - Nha Trang
Phân xưởng chế biến: chuyên sản xuất các thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu như: tôm, cá, cua, ghẹ, mực, đông lạnh Đây là phân xưởng chính của Công ty, sản phẩm của phân xưởng chủ yếu là phục vụ cho xuất khẩu, sơ chế cho phân xưởng đặc sản và một phần cho tiêu thụ nội địa Doanh thu của phân xưởng này chiếm khoảng 70% doanh thu toàn Công ty
Phân xưởng đặc sản: Phân xưởng này chuyên chế biến các mặt hàng thuỷ sản dưới dạng khô, tẩm gia vị, luộc, sản phẩm ăn liền…Đây là phân xưởng sản xuất những mặt hàng cao cấp đặc trưng cho tỉnh Khánh Hoà như: mực khô, các thu fillet, mực tẩm gia vị, tôm hùm…Những sản phẩm này được người tiêu dùng thuỷ sản trên thế giới rất ưa chuộng Ngoài ra, phân xưởng còn chế biến các mặt hàng cao cấp có độ tinh luyện cao và các sản phẩm chế thử theo yêu cầu mới của khách hàng
Nhà hàng Seafood:
Được đặt tại số 46 Nguyễn Thị Minh Khai- Nha Trang Nhà hàng chuyên phục vụ ăn uống các món đặc hải sản của tỉnh Khánh Hoà, đồng thời giới thiệu sản phẩm của Công ty tới các khách hàng trong và ngoài nước
Trang 37Hệ thống kho tàng của Công ty: kho vật tư và kho thành phẩm Kho vật tư dùng để bảo quản, dự trữ nguyên liệu thu mua chưa chế biến Kho thành phẩm dùng để bảo quản thành phẩm sau khi đã sản xuất xong
Nhà ăn: phục vụ cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty
Phòng y tế: có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi chăm lo sức khoẻ cho cán
bộ công nhân viên của Công ty
Trang 38SƠ ĐỒ 3: SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT CHUNG CỦA CÔNG TY
Xử lý, gỡ thịt
Lên hàng
Hút chân không
Cấp đông
Trang 395 Vai trò vị trí của Công ty đối với địa phương và nền kinh tế
Công ty cổ phần Nha Trang Seafoods - F17 trải qua 30 năm phát triển đã gây dựng được một quy mô tương đối lớn, có vai trò và vị trí quan trọng đối với địa phương và nền kinh tế thể hiện qua các điểm chính sau:
Với tổng lực lượng lao động gần 2000 người, như vậy hàng năm Công ty
đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động với mức thu nhập tương đối ổn định Vào thời vụ thuỷ sản hàng về nhiều Công ty còn tuyển thêm một lực lượng lớn lao động nhàn rỗi vào làm khoán cho Công ty
Hàng năm Công ty xuất ra một lượng hàng hoá tương đối lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và nhu cầu tiêu thu nội địa Sự phát triển của Công ty góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành chế biến thuỷ sản, ngành khai thác, nuôi trồng Điều này kéo theo sự phát triển của ngành thuỷ sản
Hàng năm, Công ty đã góp phần đóng góp cho ngân sách nhà nước một khoản không nhỏ và tăng qua hàng năm Bên cạnh đó thông qua việc xuất khẩu Công ty còn đem về một lượng ngoại tệ góp phần ổn định kinh tế đất nước Với uy tín về chất lượng Công ty đã góp phần xây dựng, nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên thương trường thế giới Công ty còn góp phần và xu hướng hội nhập kinh tế Việt Nam vào thương mại thế giới
6 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
6.1.Nhân tố về nguyên liệu
Nguyên liệu là nhân tố đầu vào đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất kinh doanh Đặc biệt đối với ngành chế biến thuỷ sản xuất khẩu thì chất lượng nguyên liệu có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Việc cung ứng đầy
đủ, kịp thời nguyên liệu với chất lượng tốt, chủng loại phong phú, giá cả hợp lý
có vai trò cực kỳ quan trọng đối với họat động chế biến của doanh nghiệp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chế biến hàng xuất khẩu hoạt động một cách nhịp nhàng, liên tục, sử dụng tốt lao động và tư liệu sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất, đặc biệt đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu của khách hàng, giữ uy tín với khách hàng, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Hiện nay nhu cầu về thủy sản trên thế giới ngày một tăng cao, nhu cầu về nguyên liệu cho chế biến hàng xuất khẩu cũng vì thế mà tăng Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về yếu tố đầu vào ngày một gay gắt, giá thu mua nguyên liệu không ngừng biến động
Nguồn nguyên liệu cung cấp cho doanh nghiệp có thể từ 3 nguồn là nuôi trồng, khai thác và nhập khẩu Trong đó nguồn nguyên liệu chủ yếu của Công ty
Trang 40là từ nuôi trồng và khai thác của tỉnh Khánh Hoà và một số tỉnh lân cận, trong đó nguyên liệu từ khai thác là chủ yếu Trước đây Công ty chỉ thu mua nguyên liệu
bó hẹp trong địa bàn tỉnh Khánh Hoà làm cho Công ty không chủ động được trong sản xuất, trong việc lựa chọn nguyên liệu tốt với giá cả hợp lý Bên cạnh đó còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong tỉnh làm cho sản lượng thu mua không đủ Để khắc phục tình trạnh này Công ty đã mở rộng địa bàn thu mua sang các tỉnh lân cận và trên toàn quốc, thiết lập quan hệ mật thiết với các nhà cung ứng để được ưu tiên cung ứng nguyên liệu trong thời gian trái vụ Việc thu mua nguyên liệu được mở rộng ra các tỉnh lân cận như: Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên… Đây là những tỉnh có sản lượng nguyên liệu thuỷ sản khá cao, đồng thời công nghệ chế biến còn hạn chế, giao thông tương đối thuận lợi, khoảng cách lại gần nên việc thu mua diễn ra khá dễ dàng Bên cạnh đó Công ty mở rộng địa bàn thu mua nguyên liệu tới các tỉnh xa hơn như:Thành Phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Phan Thiết, Quảng Ngãi …để có nguyên liệu trong các tháng trái mùa đảm bảo cho sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục
Nguyên liệu của Công ty được các ngư dân cung cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua các đầu nậu, đầu vựa Lượng nguyên liệu của Công ty đuợc cung cấp qua các đầu nậu, đầu vựa là chủ yếu, họ sẽ tiến hành xử lý sơ bộ trước khi vận chuyển tới Công ty, do kỹ thuật xử lý còn thấp nên chất lượng nguyên liệu phần nào bị giảm sút Với chính sách giá thu mua hợp lý và mua với số lựơng lớn nên có rất nhiều khách hàng như các chủ nậu, chủ vựa, đại lý thu mua, hợp tác xã khi có nguyên liệu đều bán cho Công ty và một số khách hàng khác cũng tự tìm đến Công ty để bán nguyên liệu
BẢNG 1: SẢN LƯỢNG VÀ DIỆN TÍCH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CỦA CẢ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2002-2005
Năm
Tổng sản lượng thuỷ sản (tấn)
Sản lượng khai thác hải sản (tấn)
Sản lượng nuôi trồng (tấn)
Diện tích mặt nước NTTS (ha)