Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây lương thực quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Âu người ta sử dụng ngô làm lương thực chính cho con người với phương thức rất đa dạng theo từng vùng địa lý và tập quán từng nơi. Theo lịch sử phát triển nông nghiệp, từ khi con người chuyển việc tìm kiếm thức ăn bằng hái lượm sang trồng trọt để chủ động sản xuất lấy thức ăn cho mình thì sản xuất nông nghiệp ra đời.Cũng qua việc sản xuất nông nghiệp con người đã nhận thức được tầm quan trọng của độ phì nhiêu đất. Chính vì thế mà từ nền nông nghiệp du canh, chặt đốt cây lấy tro bón, đến việc luân canh cây họ đậu để nâng cao độ phì của đất, làm cho đất tốt hơn, rồi dùng phân hữu cơ để bón, con người đã nhận thức được vai trò của phân bón ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Và bắt đầu từ sự nhận thức đó con người đã biết chủ động dùng phân bón để cải tạo đất nhằm ổn định và nâng cao năng suất và phẩm chất cây trồng. Bón phân là một biện pháp nằm trong hệ thống các biện pháp liên hoàn nhưng lại là tác nhân quan trọng phát huy tác dụng của các biện pháp liên hoàn khác. Nó là yếu tố quyết định lớn đến năng suất và phẩm chất cây trồng. Từ nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng phân bón có khả năng làm tăng năng suất lên khoảng 3035%. Tổng kết trên phạm vi toàn thế giới, năm 1989 tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) đưa ra nhận xét :“Mỗi tấn chất dinh dưỡng sản xuất được 10 tấn ngũ cốc”.Nhận xét này khẳng định vai trò hàng đầu của phân bón đối với việc sản xuất lương thực trên thế giới. Riêng ở châu Á Thái Bình Dương phân bón đóng góp trên 75% trong việc tăng sản lượng lương thực trong 100 năm qua. Xayơ (1995) cho rằng cây ngô là loại cây yêu cầu một lượng dinh dưỡng cao cho các nhu cầu thiết yếu của nó, chính vì thế mà để tạo ra được một lớn nông sản thì hằng năm cây ngô đã lấy đi khỏi đất một lượng lớn các chất như đạm, lân, kali trên một hecta canh tác.Vì vậy để năng suất ngô cao và ổn định hằng năm cần bổ sung một lượng lớn chất dinh dưỡng cho đất thông qua việc bón phân. Ở nước ta hiện nay việc sử dụng ngô làm thực phẩm cũng là một hướng đang được quan tâm.Và xu thế hiện nay người ta đang sử dụng bắp bao tử để làm rau cao cấp. Bắp ngô non (dạng bao tử) là loại rau có chứa nhiều dinh dưỡng như: Vitamin, đường, các axit amin không thay thế cao hơn hẳn ngô hạt. Ngô bao tử thu hoạch vào giai đoạn cây ngô sinh trưởng phát triển mạnh, ít sâu bệnh nên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là không cần thiết. Do đó không có dư lượng các hợp chất bảo vệ thực vật. Trong những năm gần đây, chính vì nhu cầu về ngô làm thực phẩm ngày càng cao nên một số nhà khoa học đã nhập nội và lai tạo một số giống ngô rau, trong đó giống LVN23 là giống đang được sản xuất rộng rãi trên nhiều địa phương ở miền Bắc.
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây lương thực
quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Âu người ta sử dụng ngô làm lương thực chính cho con người với phương thức rất đa dạng theo từng vùng địa
lý và tập quán từng nơi.
Theo lịch sử phát triển nông nghiệp, từ khi con người chuyển việc tìm kiếm thức ăn bằng hái lượm sang trồng trọt để chủ động sản xuất lấy thức ăn cho mình thì sản xuất nông nghiệp ra đời.Cũng qua việc sản xuất nông nghiệp con người đã nhận thức được tầm quan trọng của độ phì nhiêu đất Chính vì thế mà từ nền nông nghiệp du canh, chặt đốt cây lấy tro bón, đến việc luân canh cây họ đậu để nâng cao độ phì của đất, làm cho đất tốt hơn, rồi dùng phân hữu cơ
để bón, con người đã nhận thức được vai trò của phân bón ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Và bắt đầu từ sự nhận thức đó con người đã biết chủ động dùng phân bón để cải tạo đất nhằm ổn định
và nâng cao năng suất và phẩm chất cây trồng.
Bón phân là một biện pháp nằm trong hệ thống các biện pháp liên hoàn nhưng lại là tác nhân quan trọng phát huy tác dụng của cácbiện pháp liên hoàn khác Nó là yếu tố quyết định lớn đến năng suất và phẩmchất cây trồng Từ nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng phân bón cókhả năng làm tăng năng suất lên khoảng 30-35%
Tổng kết trên phạm vi toàn thế giới, năm 1989 tổ chức Nông lươngLiên Hợp Quốc (FAO) đưa ra nhận xét :“Mỗi tấn chất dinh dưỡng sản xuấtđược 10 tấn ngũ cốc”.Nhận xét này khẳng định vai trò hàng đầu của phân bónđối với việc sản xuất lương thực trên thế giới Riêng ở châu Á Thái BìnhDương phân bón đóng góp trên 75% trong việc tăng sản lượng lương thựctrong 100 năm qua
Xayơ (1995) cho rằng cây ngô là loại cây yêu cầu một lượng dinhdưỡng cao cho các nhu cầu thiết yếu của nó, chính vì thế mà để tạo ra đượcmột lớn nông sản thì hằng năm cây ngô đã lấy đi khỏi đất một lượng lớn cácchất như đạm, lân, kali trên một hecta canh tác.Vì vậy để năng suất ngô cao
Trang 2và ổn định hằng năm cần bổ sung một lượng lớn chất dinh dưỡng cho đấtthông qua việc bón phân.
Ở nước ta hiện nay việc sử dụng ngô làm thực phẩm cũng là mộthướng đang được quan tâm.Và xu thế hiện nay người ta đang sử dụng bắpbao tử để làm rau cao cấp Bắp ngô non (dạng bao tử) là loại rau có chứanhiều dinh dưỡng như: Vitamin, đường, các axit amin không thay thế cao hơnhẳn ngô hạt Ngô bao tử thu hoạch vào giai đoạn cây ngô sinh trưởng pháttriển mạnh, ít sâu bệnh nên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là không cầnthiết Do đó không có dư lượng các hợp chất bảo vệ thực vật
Trong những năm gần đây, chính vì nhu cầu về ngô làm thực phẩmngày càng cao nên một số nhà khoa học đã nhập nội và lai tạo một số giốngngô rau, trong đó giống LVN23 là giống đang được sản xuất rộng rãi trênnhiều địa phương ở miền Bắc
Năm 2004, Trường Đại Học Nông Lâm Huế đã liên kết với viện ngôQuốc Gia đưa giống ngô rau này vào trồng thí điểm tại xã Hương Long, bướcđầu cho thấy nó rất phù hợp với điều kiện nơi đây Đây chính là tiền đề choviệc phát triển giống ngô rau này tại Thừa Thiên Huế và nhiều tỉnh lân cậnthuộc Miền Trung
Một trong những biện pháp làm tăng năng suất ngô rau như đã nói ởtrên là việc bón phân cân đối và hợp lý Bón phân cân đối và hợp lý khôngnhững làm tăng năng suất, phẩm chất sản phẩm mà còn giảm được ô nhiễmmôi trường.Việc nghiên cứu để tìm ra một loại phân bón với liều lượng hợp
lý đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất có ý nghĩa rất lớn đối với ngành trồngtrọt và sản xuất ngô nói chung và ngô rau nói riêng Và đây cũng là mong đợicủa các nhà kỹ thuật và người sản xuất Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng các loại phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô rau LVN 23 vụ xuân 2010 tại hợp tác xã nông nghiệp Hương Long – TP Huế ”.
1.2 Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giốngngô rau LVN 23 ở các loại phân hữu cơ khác nhau, từ đó tìm ra loại phân hữu
cơ thích hợp nhất cho năng suất cao và phẩm chất tốt để đưa vào quy trình kỹ thuậtbón phân cho ngô rau tại Thừa Thiên Thiên Huế
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Vai trò và giá trị dinh dưỡng của ngô rau
2.1.1 Vai trò của ngô rau:
Ngô bao tử là loại rau cao cấp được thị trường quốc tế rất ưa chuộng,bởi vì nó không chỉ là loại rau có chất lượng thương phẩm tốt mà ngô bao tửcòn là loại rau an toàn nhất trên thế giới hiện nay Do đó nó đã trở thành mộtmặt hàng xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều nước trên thế giới
đã xem mặt hàng này như là một mặt hàng xuất khẩu chính yếu của họ màđiển hình là Thái Lan
Ở Thừa Thiên Huế, hiện nay việc trồng và sản xuất ngô rau mặc dùchưa thật sự phổ biến nhưng xét về tiềm năng phát triển thì đây là một nơi cótiềm lực phát triển mạnh mẽ Bởi lẽ Thừa Thiên Huế là một thành phố có
Trang 4ngành du lịch phát triển, có nền văn hóa ẩm thực phong phú đa dạng Lượngkhách du lịch đến Huế hàng năm đang ngày càng nhiều Do vậy nhu cầu sửdụng các loại thực phẩm sạch, an toàn và có chất lượng ngày một tăng Ngôbao tử là một mặt hàng đang được thế giới ưa chuộng mặt khác nó lại đảmbảo chât lượng, sạch và an toàn Vì vậy việc xây dựng các vùng chuyên canhsản xuất các loại thực phẩm phong phú, đa dạng, có chất lượng và có hiệuquả kinh tế cao nói chung và ngô bao tử nói riêng là một định hướng quantrọng, thiết thực trong chiến lược phát triển kinh tế vùng.
2.1.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau:
Ngô rau cũng là loại ngô có thể lấy hạt nhưng được thu hoạch sớm ởgiai đoạn ngô non Ngô rau trong điều kiện trồng trọt bình thường, được đảmbảo hoàn thành chu kỳ sinh trưởng cũng có thể thu hoạch như ngô bìnhthường Tuy nhiên không phải tất cả ngô lấy hạt khi thu hoạch non đều có thểlàm ngô rau
Khi phân tích 100g ăn được, so với một số loại rau ăn quả và ăn hoa,hàm lượng chất béo trong sản phẩm ngô rau gấp 5 lần Súp lơ Ngô rau cóhàm lượng Hidratcacbon cao nhất (8,2g), cao gấp 2 lần cà chua (4,1g) và caohơn hẳn các sản phẩm khác Hàm lượng Protein trong sản phẩm ngô rau(1,9g) chỉ kém Súp Lơ, và cao gấp 3 lần dưa chuột (0,6g) Hàm lượngPhotspho trong ngô rau là 86mg, cao gấp 7 lần dưa chuột (12 mg), 4 lần càchua (18 mg), cao gấp 3 lần cải bắp và cà, và nó đều lớn hơn các sản phẩmkhác Sản phẩm ngô rau cũng có hàm lượng Canxi và một số loại Vitamincao
Mặt khác ngô rau là một loại rau sạch không chứa kim loại nặng,không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, không có các loại vi khuẩn gâybệnh cho con người Vì ngô rau thu hoạch lúc còn non, khi cây ngô còn ít bịcác loại sâu hại gây hại nên chưa sử dụng hoặc sử dụng rất ít Ngô rau cònđược bọc kín trong lá bi, phần sử dụng làm rau là bắp non nên hàm lượng
NO3- tồn tại trong sản phẩm còn rất ít
Sản phẩm chính của ngô rau là bắp bao tử dùng làm thức ăn tươi nhưmột loại thực phẩm sạch, nó còn lại là nguyên liệu cho ngành công nghiệpchế biến đồ hộp Trên thế giới có một số nước có công nghệ sản xuất ngô bao
tử đóng hộp rất phát triển Hiện nay tiêu chuẩn và quy trình đóng hộp ngôbao tử được quy định rất chặt chẽ Ngô đủ tiêu chuẩn đóng hộp cần phải có
độ đồng đều cao, có màu vàng sáng và ở trạng thái giòn Sau khi thu hoạchsản phẩm chính năng suất thân lá xanh của ngô rau có thể lên đến 13,6 tấn/ha
Trang 5– 30,4 tấn/ha, lá bi 3-4 tấn/ha Bên cạnh đó ngô rau được thu hoạch vào giaiđoạn cây đang sinh trưởng mạnh cho nên thân lá của ngô rau còn chứa mộtlượng lớn chất dinh dưỡng Đây là nguồn phế phụ phẩm quan trọng trongchăn nuôi Hơn nữa ngô rau có thể trồng quanh năm, đặc biệt là vào vụ đôngmuộn, điều này đã đóng góp một phần khá lớn thức ăn cho gia súc vụ đông,
là vụ thường khan hiếm thức ăn cho gia súc
2.2 Vai trò của phân bón cho cây ngô
2.2.1 Vai trò các loại phân nói chung
Phân bón cho ngô có tác dụng tăng năng suất rõ rệt, do đó muốn cónăng suất cao cần phải bón nhiều phân Khác với một số cây trồng khác, thời
kỳ đầu ngô sinh trưởng chậm , sau khi gieo độ 1 tháng ngô mới sinh trưởngnhanh, vì vậy nhu cầu về dinh dưỡng tăng nhiều Việc tích lũy chất khô chỉngừng khi cây đã chín hoàn toàn
Khi ngô hình thành bắp, sử dụng tới 90% nhu cầu về kali, 75% nhu cầu
về đạm, 50% nhu cầu về lân Riêng về lân thì cần nhất khi hình thành hạt.Nói chung phân bón cho ngô có tác dụng làm tăng năng suất rõ rệt TheoBerzeny (1996) phân bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngô còn các yếu tốkhác như mật độ trồng, phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, đất trồng thì có ảnhhưởng ít hơn
Để tạo thành chất hữu cơ, ngoài nhiệt độ, ánh sáng, nước và khí cacbonic,cây còn cần nhiều các chất khoáng Các chất dinh dưỡng như: Mangan, sắt, lưuhuỳnh, bo…đều có lượng chứa và vai trò khác nhau
Xayơ (1955) cho rằng cây ngô hút hầu hết các chất dinh dưỡng tronglớp đất canh tác của vỏ trái đất và nguồn dinh dưỡng chủ yếu của ngô là lấy
từ đất trồng Do vậy để thu được năng suất cao, ổn định thì hàng năm cần bổsung một lượng lớn chất dinh dưỡng thông qua việc bón phân từ đất Bónphân vào đất có tác dụng khôi phục lại các chất dinh dưỡng đã bị mất (do cây
sử dụng, do nước cuốn trôi, do trực di, hay do sự bay hơi…) Ngoài ra, phânbón còn làm tăng độ màu mỡ của đất và đảm bảo đạt năng suất cao
- Đạm: Có ảnh hưởng rõ rệt nhất đến dinh dưỡng của cây, nhất là trongthời kỳ sinh dưỡng
Đạm ở trong cây dưới nhiều dạng hợp chất Protit và tất cả các dạngProtit Chất diệp lục có tác dụng rất quan trọng đối với việc hình thành chấthữu cơ, các chất sinh trưởng, các Fotfatit, các Vitamin và các me Đạm làthành phần quan trọng của các chất đó
Trang 6- Lân: Đây là chất không thể thay thế được trong tất cả các quá trìnhsống quan trọng xảy ra trong cây Cũng như đạm, lân tham gia vào thànhphần của các hợp chất Protit quan trọng Hợp chất lân có trong tất cả các tếbào Chúng ta thấy số lượng lân rất lớn trong các quá trình trao đổi chấtmạnh và có chuyển hóa năng lượng mạnh Những nơi đó trước hết là các môđang lớn, ngọn chồi và đầu rễ Trong nhân tế bào và sinh chất của tế bào củacây, khi có lân tham gia thấy hình thành và tạo ra các Nucleotit từ đường vàcác chất có đạm.
Hơn nữa, lân có tác dụng lớn trong tất cả các quá trình sinh sản vì vậytrong hạt có rất nhiều lân Ngô chứa 75% lân đã đồng hóa trong hạt Giá trịthức ăn gia súc và phẩm chất hạt giống phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp vàlượng lân chứa trong đất
- Kali: Tồn tại chủ yếu ở những chỗ có quá trình phân chia tế bào vàhình thành các mô mới trong cây Kali có vai trò quan trọng trong hoạt độngsống của sinh chất tế bào, có thể kìm hãm sự thoát hơi nước làm giảm thiệthại của mô do sương giá và nhiệt độ thấp gây ra
2.2.2 Tổng quan về phân bón hữu cơ
Phân hữu cơ làm tăng năng suất cây trồng và còn có tác dụng cải tạo đất Kết quả một số công trình nghiên cứu cho thấy bón 1 tấn phân hữu cơ làm bội thu ở đất phù sa sông Hồng 80 – 120 kg thóc, ở đất bạc màu 40 – 60 kg thóc, ở đất phù sa đồngbằng sông Cửu Long 90 – 120 kg thóc Một số thí nghiệm cho thấy bón 6 – 9 tấn phân xanh/ha hoặc vùi 9 – 10 tấn thân lá cây họ đậu trên 1 ha có thể thay thế được 60 – 90 N kg/ha Vùi thân lá lạc, rơm rạ, thân lá ngô của cây vụ trước cho cây vụ sau làm tăng 0.3 tấn lạc xuân, 0.6 tấn thóc, 0.4 tấn ngô hạt/ha
Phân chuồng tốt thường có các thành phần dinh dưỡng như ở bảng sau:
Trang 7Thành phân dinh dưỡng của phân chuồng
Còn được gọi là phân campốt Đó là loại phân hữu cơ được chế biến từ rác, cỏ
dại, thân lá cây xanh, bèo tây, rơm rạ, chất thải rắn thành phố v.v được ủ với một số phân men như phân chuồng, nước giải, lân, vôi… cho đến khi hoai mục
Phân rác có thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổi trong những giới hạn rất lớn tuỳ thuộc vào bản chất và thành phần của rác
- Phân xanh:
Phân xanh là loại phân hữu cơ, sử dụng các loại bộ phận trên mặt đất của cây.Phân xanh thường được sử dụng tươi, không qua quá trình ủ Vì vậy, phân xanh chỉphát huy hiệu quả sau khi được phân huỷ Cho nên người ta thường dùng phân xanh
để bón lót cho cây hàng năm hoặc dùng để “ép xanh” (tủ gốc) cho cây lâu năm Tuyvậy, ở một số địa phương vùng Trung Bộ, phân xanh được chặt nhỏ và bón cho ruộnglúa, người ta gọi là “bón bổi”
- Phân vi sinh vật:
Đó là những chế phẩm trong đó có chứa các loài vi sinh vật có ích Có nhiềunhóm vi sinh vật có ích bao gồm vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phânbón Trong số đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà tan lân, phângiải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng, v.v
Để chế biến phân vi sinh vật, các loài vi sinh vật được nuôi cấy và nhân lêntrong phòng thí nghiệm Khi đạt đến nồng độ các tế bào vi sinh vật khá cao người tatrộn với các chất phụ gia rồi làm khô đóng vào bao
Trong những năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã tổ chức sảnxuất công nghiệp một số loại phân vi sinh vật và đem bán ở thị trường trong nước.Một số loại phân vi sinh vật được bán rộng rãi trên thị trường thế giới Tuy nhiên, cácloại phân vi sinh vật còn rất ít và chỉ là bộ phận nhỏ so với
- Các loại phân hữu cơ khác:
Có nhiều dạng chất hữu cơ, nhiều hỗn hợp các chất hữu cơ khác nhau, nhiềuhỗn hợp chất hữu cơ và các chất vô cơ được sử dụng làm phân bón cho cây trồng
Trang 8Dưới đây xin nêu một số loại phân thường gặp trong sản xuất ở nước ta:
* Phân than bùn:
Than bùn được tạo thành từ xác các loài thực vật khác nhau Xác thực vậtđược tích tụ lại, được đất vùi lấp và chịu tác động của điều kiện ngập nước trongnhiều năm Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành thanbùn
Trong than bùn có hàm lượng chất vô cơ là 18 – 24%, phần còn lại là các chấthữu cơ Theo số liệu điều tra của các nhà khoa học, trên thế giới trữ lượng than bùn
có khoảng 300 tỷ tấn, chiếm 1.5% diện tích bề mặt quả đất Than bùn được sử dụngtrong nhiều ngành kinh tế khác nhau Trong nông nghiệp than bùn được sử dụng đểlàm phân bón và tăng chất hữu cơ cho đất
Phân tro, phân dơi:
Tro các loại được sử dụng làm phân bón rất có hiệu quả ở những loại đất thiếukali hoặc trong trường hợp bón quá nhiều phân đạm
Trong tro có 1 – 30% K2O và 0.6 – 19% P2O5 Tro có thể dùng bón trực tiếpcho cây hoặc dùng làm chất độn, chất trộn với phân chuồng, phân bắc, nước tiểu… Kali trong tro dễ hoà tan Trong tro còn có silic, lân, magiê, vi lượng với hàmlượng tương đối cao Tro có tính kiềm nên phát huy tác dụng tốt trên các loại đấtchua
Phân dơi có hàm lượng lân rất cao Nhiều gia đình nông dân đã vào các hangđộng trong núi đá, thu gom phân dơi về bón ruộng, bón cho cây trồng và đã thu đượckết quả tốt Nhiều hộ nông dân đã nuôi dơi để lấy phân bón ruộng
Trang 9- Phân bón Sông Gianh
* Các chủng loại phân bón của Công ty Sông Gianh
+ Lân hữu cơ sinh học
+ Lân hữu cơ sinh học Sông Gianh chuyên dùng cho nuôi trồng thuỷ sản
+ Lân hữu cơ sinh học cao cấp Sông Gianh
* Phân sinh hoá hữu cơ chuyên dùng
+ Phân bón sinh hoá hữu cơ Sông Gianh chuyên dùng cho cây ăn quả
+ Phân phức hợp hữu cơ vi lượng chuyên dùng cho cây lúa
+ Phân bón phức hợp đa lượng NPK 10-5-5
+ Phân bón phức hợp đa lượng NPK 5-10-3
+ Phân bón phức hợp đa lượng NPK 12-5-10-15S
+ Phân bón sinh hoá hữu cơ Sông Gianh chuyên dùng cho cây hoa và cây cảnh
+ Phân phức hợp hữu cơ khoáng cao cấp Sông Gianh chuyên dùng cho cây chè
*Tác dụng của phân bón Sông Gianh-
- Cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
- Đảm bảo cung cấp đầy đủ, hợp lý các tập đoàn vi sinh vật hữu ích, giúpcải tạo lý, hoá tính và tăng độ phì nhiêu cho đất
- Quá trình trao đổi chất giữa các cation Fe, Ca, Mg, Al, Bo thông quaaxit Humic, các hợp chất Humat, giúp phân giải các dinh dưỡng bị cố định trongđất như Lân, Kali, Canxi làm cho nó trở nên hữu dụng, tăng hiệu lực phânkhoáng
- Đẩy nhanh tốc độ phân giải Xenlulo, tăng hữu cơ, bồi dưỡng, kiến tạo vàlàm tăng hàm lượng mùn cho đất Làm giảm độ cứng, vón cục, tăng đặc tính thấmnước và giữa ẩm cho đất
- Kích thích sự tạo thành và hoạt động của các men xúc tác trong cây, tăngcường hình thành chất diệp lục, tăng hiệu suất quang hợp, tăng khả năng khángbệnh cho cây trồng
- Đảm bảo khai thác cây trồng nhiều vụ, cho nông sản sạch và không gây ônhiễm môi trường
Trang 102.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho ngô
Phân bón cho ngô có tác dụng làm tăng năng suất rõ rệt Trong trường hợpkhông bón đạm, năng suất ngô chỉ đạt 1193 kg/ha, có bón đạm năng suất tăng lên
7338 kg/ha (Smit, 1973)
Velly (1973) nghiên cứu bón đạm cho ngô cho kết quả: bón đạm 40 kg N/ha,năng suất đạt 12,11 tạ/ha; bón đạm 80 kg N/ha, năng suất đạt 15,6 tạ/ha; bón 120 kgN/ha, năng suất đạt 32,12 tạ/ha; bón 160 kg N/ha, năng suất đạt 41,47 tạ/ha; bón 200
kg N/ha, năng suất đạt 52,18 tạ/ha
Kết quả nghiên cứu của Geus (1967) bón đạm quá cao cho cây ngô làm tăng sựphát triển thân lá, hạn chế năng suất hạt ngô
Duque (1998) nghiên cứu bón phân cho ngô trên đất đồi chua ở Philippin chorằng phân bón ở mức 100 kg P2O5/ha cho năng suất ngô đạt 7016 kg/ha
Theo Evangelista (1999) năng suất ngô tăng lên cùng với tăng liều lượng lân,năng suất chỉ bắt đầu giảm xuống khi bón đến mức 152 kg P2O5/ha
Bón phân NPK cân đối kết hợp với phân hữu cơ là biện pháp hữu hiệu làmtăng năng suất và phẩm chất ngô, giúp cải tạo đất, chống xói mòn và bảo vệ môitrường sinh thái Theo FAO (1993) sau hơn 20 năm nghiên cứu và thực nghiệm nếuchỉ sử dụng phân chuồng và tàn dư thực vật để trả lại cho đất mà không sử dụng phânhóa học (NPK) thì năng suất cây trồng giảm đi ít nhất là 30%, cân bằng dinh dưỡng
bị phá vỡ, đất bị bạc màu và nạn đói đe dọa, sẽ gây hậu quả nghiêm trọng về môitrường sinh thái
Theo hiệp hội phân bón quốc tế (1998) lượng phân bón cho ngô lai (kg/ha) củamột số nước như sau:
kg K2O Lượng phân N, P, K tiêu tốn để sản xuất ra 1 tấn ngô hạt: 33,9 kg N; 14,5 kg
P2O5; 17,2 kg K2O Hiệu suất 1 kg N: 4,5- 9,2 kg ngô hạt 1 kg P2: 4,5 - 7,2 kg ngôhạt 1 kg K2O 2,5 - 5,2 kg ngô hạt Tỷ lệ nhu cầu N:P:K = 1:0,35:0,45
Kết quả nghiên cứu phân bón cho ngô của Đào Thế Tuấn cho thấy ở đồng bằnsông Hồng với mức bón đạnm 90 kg N/ha, hiệu suất bón đạm đối với ngô địa phương
là 13 kg ngô hạt/1kg N và ngô lai là 18 kg ngô Bắc cần 25 – 28 kg N; vụ xuân 28 –
32 kg N; vụ hè thu 32 – 35 kg N
Trang 11Vũ Hữu Yêm (1995) nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năngsuất ngô như sau: không bón đạm, năng suất đạt 40,0 tạ/ha; bón 40 kg N/ha, năngsuất đạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N/ha năng suất đạt 70,8 tạ/ha, bón 120 kg N/hanăng suất đạt 76,2 tạ/ha, bón 160 kg N/ha năng suất đạt 79,9 tạ/ha.
Nguyễn Thế Hùng (1996) bón đạm đã làm tăng năng suất ngô trên đất bạcmàu, nhưng lượng tối đa là 225 kg N/ha và ngưỡng bón đạm kinh tế là 150 kg N/hatrên nền đã cân đối PK
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thi, Nguyễn Văn Bộ 1999) cho thấy:trên đất bạc màu hiệu quả bón phân kali từ 15 -20 kg ngô hạt/kg K2O; liều lượng bónkali cho ngô trên đất phù sa sông Hồng từ 60 – 90 kg K2O/ha; trên đất bạc màu 120
kg K2O/ha Hiệu lực của phân kali trên đất phù sa sông Hồng đạt 5,2 kg ngô hạt/ 1 kg
K2O
Nghiên cứu bón phân lân cho ngô trên đất đỏ bazan, Đặng Bê (1978) đã thuđược hiệu suất ngô từ 8 – 10 kg hạt/ 1 kg P2O5 và mức bón 60 kg P2O5/ha thì lân Vănđiển có hiệu quả hơn supper lân (theo Cây Ngô – Trần Văn Minh)
Trần Văn Minh (1995) nghiên cứu liều lượng bón phân thích hợp cho ngô trênđất phù sa cổ và đất bãi ven sông miền Trung là 90 kg P2O5, kết quả này phù hợpvới kết quả nghiên cứu năm 1988 và 1999 của Trịnh Quang Võ (trạm Nông hóa-Thổ nhưỡng quảng Ngãi) tại hợp tác xã nông nghiệp Tịnh Phong và Nghĩathương tỉnh Quảng Ngãi Ngô Hữu Tình (1995), Quách Ngọc, Ân (1997) ở duyênhải Nam trung bộ: phân lân làm tăng năng suất ngô theo tỷ lệ thuận đến mức 120
kg P2O5/ha, nhưng ngưỡng kinh tế là 90 kg P2O5 kg/ha
Theo Lê Quý Tường, Trần Văn Minh (2003) lượng phân bón thích hợp chongô lai trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ đông xuân là 10 tấn phânchuồng + 150-180 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O (tỷ lệ NPK là 1,7:1.0:0,7) tiêu tốnlượng đạm từ 27,9- 28,4 kg N/1 tấn ngô hạt
Bón phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ cho ngô đã làm tăng năng suất ngô vàgiúp cải thiện độ phì trông đất Theo Bùi Đinh Dĩnh (1988, 1994) để đảm bảo cho câytrồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng,còn 75% phân hóa học
Hiệu quả phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ bón phân hợp lý,bón cân đối giữa các nguyên tố Bón phân cho ngô để đạt hiệu quả cao phải căn cứvào giống, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tính chất đất,đặc điểm laọi phân bón, kỹ thuật trồng trọt và điều kiện thời tiết
2.4 Tình hình sản xuất và xuất khẩu ngô rau trên thế giới và trong nước
2.4.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu ngô rau trên thế giới
Trang 12Sản phẩm ngô bao tử là một mặt hàng rất được ưa chuộng trên thịtrường thế giới Hiện nay trên thế giới đã có nhiều quan tâm, chú trọng đầu tưsản xuất mặt hàng này như là một mặt hàng xuất khẩu chính yếu của họ Cácnước xuất khẩu ngô rau nhiều trên thế giới đó là: Thái Lan, Ấn Độ, Indonexia,Zambia, Nicaragua, Zimbabue và Nam Phi và trong đó Thái Lan là một quốc giaxuất khẩu ngô rau chính.
Thời gian đầu Thái Lan chỉ xuất khẩu ngô bao tử tươi, nhưng xuất khẩugặp nhiều khó khăn về vấn đề bảo quản nên những năm về sau sản phẩm xuấtkhẩu chủ yếu là sản phẩm chế biến đóng hộp Sản lượng xuất khẩu tăng rấtnhanh, 1975 Thái Lan xuất khẩu 67 tấn ngô rau đóng hộp, đến năm 1992 con
số này đã lên đến 36.761 tấn Trong thời gian 1989 - 1992 trung bình hàngnăm Thái Lan xuất khẩu 1800 tấn Tỷ lệ xuất khẩu các dạng ngô của TháiLan như sau: xuất khẩu hộp chế biến 90%; xuất khẩu tươi 3%; còn lại 3%dành cho tiêu dùng trong nước
Theo số liệu của cục Xúc tiến xuất khẩu Thái Lan thì công nghiệp xuấtkhẩu ngô rau triển vọng hơn các sản phẩm nông nghiệp khác: Lúa, ngô,… vìlợi nhuận cao Nếu đầu tư 359 USD/ha thì thu được 550 USD, lợi nhuận 200USD/ha (1997) Ở Thái Lan ngô rau phát triển cực nhanh từ 7.093 ha(1983)tăng lên 21.877 ha (1994), năng suất trung bình 6.381 kg bắp non/ha cho sảnlượng 162.041 tấn
Là một loại thực phẩm rất được ưa chuộng trên thế giới, ngô bao tử làmột sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của một số nước và đã đem về cho các nướcnày một lượng ngoại tệ lớn Hầu như các châu lục trên thế giới đều có sảnxuất hoặc nhập khẩu sản phẩm này Cụ thể là:
- Sự tiêu thụ ngô bao tử tại châu Á cao nhất trên thế giới Ngày nayviệc sản xuất và thị trường ngô bao tử đã được mở rộng trên toàn thế giới,đặc biệt Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ
- Đất nước được biết đến như một nước xuất khẩu ngô bao tử bao gồm:Thái Lan, Srilanka, Taiwan, Trung Quốc, Zimbabuwe, Zambia, Indonexia,Nam Mỹ, Nicaragua, Costa Rica, Guatemala, Honduras Và các nước như:Anh, Mỹ, Malaysia, Taiwan, Nhật Bản và Austraylia là thị trường tiêu thụngô rau mạnh hàng đầu thế giới
Việc sản xuất ngô bao tử của Thái Lan chi phối toàn bộ thị trường thếgiới, sản lượng ngô bao tử của Thái Lan chiếm 80% thị trường ngô bao tử.Năm 2001 Thái Lan đã xuất khẩu ngô rau tươi đến trên 30 nước và ngô rauđóng hộp đến gần 100 nước Ngô bao tử là một loại cây trồng có giá trị kinh
Trang 13tế và giá trị xuất khẩu cao của Thái Lan Hằng năm nó đem về cho đất nướcnày hơn 1 tỷ bạt Nước Mỹ là thị trường lớn nhất của Thái Lan về ngô rauđóng hộp, chiếm 47,25% tổng khối lượng xuất khẩu và giá trị ngô rau củaThái Lan Về ngô rau tươi thì Malaysia là nước nhập khẩu lớn nhất, chiếmgần 20,70% tổng lượng xuất khẩu
2.4.2 Tình hình sản xuất ngô rau ở Việt Nam.
Ở Việt Nam việc trồng và sử dụng ngô làm lương thực đã có từ 300năm trước, mặc dù là một trong những cây lương thực chính nhưng cây ngôchưa được chú trọng phát triển, nên chưa phát huy được tiềm năng của nó Chỉtrong những năm gần đây nhờ có chính sách khuyến khích và áp dụng những tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất, cây ngô đã có những bước tiến về cả 3 mặt diện tích,năng suất và sản lượng
Sản xuất ngô rau ở nước ta là một ngành còn rất mới so với lịch sử sảnxuất ngô từ 3000 năm nay Những năm gần đây ngô rau cũng đã được sảnxuất làm thức ăn cao cấp trong nhà hang, siêu thị và xuất khẩu Nhu cầu mặthàng này càng tăng lên
Hiện nay ở các vùng ngoại thành Hà Nội đang có xu hướng đầu tư chănnuôi bò sữa, nên đã kết hợp trồng ngô bao tử vừa sản xuất thực phẩm chongười, vừa cung cấp thức ăn cho chăn nuôi Ở đồng bằng sông Hồng và đồngbằng sông Cửu Long ngô rau đã dần xen vào hệ thống độc canh cây lúa và đãmang lại hiệu quả kinh tế cao, làm đa dạng hóa cây trồng, cải thiện môitrường sinh thái Hiện nay nhiều khách hàng quốc tế đã quan tâm và đặt mua
đồ hộp ngô bao tử Kết quả nghiên cứu của Lê Ngọc Sáu và Nguyễn CôngHoan cho thấy so sánh với đồ hộp ngô bao tử của Thái Lan và Trung Quốcsản xuất được nhập vào Việt Nam trong mấy năm nay thì đồ hộp sản xuấttheo quy trình công nghệ Việt Nam hoàn toàn đảm bảo mọi yêu cầu về chấtlượng và cảm quan, giá thành trong nước rẻ hơn
Tuy nhiên nhìn chung trong cả nước thì việc sản xuất ngô rau còn đangmức thấp và lẻ tẻ Việc sản xuất có tính chất hàng hóa lớn mấy năm qua chủyếu là ở các nông trường Đồng Giao và hợp tác xã Phù Đổng (ngoại thành HàNội)
Ở Thừa Thiên Huế năm 2004, Trường Đại Học Nông Lâm Huế đã liênkết với viện ngô Quốc Gia đưa giống ngô rau này vào trồng thí điểm tại xãHương Long, bước đầu cho thấy nó rất phù hợp với điều kiện nơi đây Đâychính là tiền đề cho việc phát triển giống ngô rau này tại Thừa Thiên Huế vànhiều tỉnh lân cận thuộc Miền Trung
Trang 14Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
* Cây trồng: Giống ngô rau LVN 23, là giống ngô lai do viện Nghiên cứu ngô
lai tạo, có đủ tiêu chuẩn của một giống ngô rau và có khả năng sản xuất giống trongnước
* Phân bón:
- Phân chuồng hoai mục: Mua tại địa phương
- Phân ủ +vi lượng Bio Quảng Nam: Do công ty cổ phần Hưng Trung ViệtQuảng Nam cung cấp
- Phân hữu cơ sinh học Sông Gianh: mua trên thị trường
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của giống ngô
Trang 15Bảo vệ Trong đó: I, II, III, IV là công thức
a, b, c: là lần nhắc lại
* Các công thức thí nghiệm: (Lượng phân bón/ha)
- Công thức I: Nền + không bón phân hữu cơ
- Công thức II Nền + 2 tấn phân Bio Quảng Nam (phân ủ +vi lượng)
- Công thức III: Nền + 10 tấn phân chuồng
- Công thức IV: Nền + 4 tấn phân hữu cơ sinh học sông Gianh
Trong đó: Nền: 120kg N + 60kg P2O5 + 90kg K2O + 300kg vôi
3.3.2 Phương pháp chọn cây theo dõi
- Mỗi ô thí nghiệm chọn 5 cây theo dõi theo phương pháp 5 điểm chéo góc,
cắm cọc tre đã đánh số thứ tự các cây theo dõi
3.4 Điều kiện thí nghiệm
3.4.1 Đất thí nghiệm:
Thí nghiệm được thực hiện trên chân thịt nhẹ tại hợp tác xã nông nghiệp
Hương Long – TP Huế
3.4.2 Điều kiện thời tiết khí hậu:
Thời tiết khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năngsinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của cây trồng nói chung vàngô rau nói riêng Ngô rau sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện sinh thái nhấtđịnh Trong tất cả các yếu tố thì nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, số giờ nắng là nhữngyếu tố tác động trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô
- Để tìm hiểu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đối với cây ngô rau trong thờigian tiến hành thí nghiệm chúng tôi đã thu thập số liệu về thời tiết khí hậu vụ xuân
2010 của trạm khí tượng thủy văn Thừa Thiên Huế được kết quả ở bảng sau:
Bảng 3.1: Diễn biến thời tiết khí hậu vụ vuân 2010 tại Thừa Thiên Huế
Trang 16Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng (h)
(Nguồn: Trung Tâm KTTV tỉnh Thừa Thiên - Huế)
Trong tháng 02/2010 thời tiết tại khu vực Tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chịu ảnhhưởng 02 đợt của rìa Tây Nam lưỡi áp cao lạnh tăng cường và tăng cường yếu vàocác ngày 13 -17/02 và 22 - 23/02 Nên có mưa, mưa rào rải rác, gió Đông Bắc cấp 3 -
4, trời rét Riêng vào ngày 24 - 28/2 do ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía Tây,nên đã gây ra 01 đợt nắng nóng trên diện rộng, sớm hơn so với nhiều năm
Nhìn chung thời tiết trong tháng 02/2010 có nền nhiệt độ khá cao, lượng mưathấp hơn rất nhiều so với TBNN, lượng bốc hơi cao
Tháng 3 có nền nhiệt độ khá cao và có vài đợt nắng nóng, nhưng chỉ vài ngàythời tiết dịu lại
Trong 10 ngày đầu tháng 4 năm 2010, thời tiết tỉnh Thừa Thiên - Huế vào thời kỳđầu và giữa còn chịu ảnh hưởng của không khí lạnh với 02 đợt tăng cường yếu Trong 1 –
2 ngày cuối có khả năng ảnh hưởng áp thấp phía Tây
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
- Thời gian sinh trưởng, phát triển của giống ngô rau LVN 23 ở các công thức
thí nghiệm.
+ Ngày gieo
+ Ngày mọc mầm (50% số cây mọc)
+ Ngày 3- 4 lá (50% số cây đạt 3- 4 lá)
+ Ngày 7- 9 lá (50% số cây đạt &- 9 lá)
+ Ngày xoắn ngọn (50% số cây xoắn ngọn)
+ Ngày bắt đầu nhú cờ (50% số cây bắt đầu nhú cờ)
- Chiều cao cây: Đo từ gốc đến mút lá cao nhất của cây ở từng thời điểm và đo
từ gốc đến điểm phân nhánh của bông cờ để lấy chiều cao cây cuối cùng
Trang 17- Số lá/cây: Đếm trên 10 cây theo dõi lấy theo 5 điểm chéo góc cho ô thí nghiệm.
Dùng sơn đánh dấu lá thứ 5 và lá thứ 10 để đếm số lá được chính xác
- Chỉ tiêu về hình thái lõi:
+ Chiều dài lõi: Đo từ dầu đến mút lõi
+ Đường kính lõi: Đo ở vị trí rộng nhất của lõi
+ Trọng lượng lõi: Được xác định bằng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01%
- Khả năng chống chịu sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ
Sâu hại: Mỗi ô thí nghiệm điều tra 5 mẫu (điểm) chéo góc, 1 điểm 1m2 Dùngphương pháp cho điểm để đánh giá mức độ bị sâu hại ở mỗi công thức
* Sâu xám: Theo dõi lúc ngô nảy mầm và lúc ngô 2- 3 lá thật Tính số cây bịhại/số cây theo dõi trong ô thí nghiệm Tính phần trăm cây bị hại cho điểm tùy theomức độ hại
* Sâu cắn lá nõn: Theo dõi lúc 3-4 lá đến lúc thu hoạch bắp, tính phần trăm sốcây bị hại, cho điểm
* Sâu đục thân: Theo dõi từ lúc 7-9 lá đến lúc thu hoạch bắp 1 Tính số cây bịđục thân trong ô Tính phần trăm số cây bị hại, cho điểm
Số cây bị hại
Tỉ lệ hại (%) = x 100
Tổng số cây theo dõi
Cách cho điểm:
+ Điểm 1: không bị hại
+ Điểm 2: dưới 15% cây bị hại
+ Điểm 3: từ 15%- 30% cây bị hại
+ Điểm 4: từ 30%- 50% cây bị hại
+ Điểm 5: trên 50% cây bị hại
Bệnh hại: Mỗi ô thí nghiệm điều tra 5 mẫu chéo góc, mỗi điểm 1m2
* Bệnh đốm lá: theo dõi từ lúc xoắn ngọn đến lúc thu hoạch bắp Tính tổng số
lá bị bệnh và tổng số lá điều tra của 5 mẫu Tính phần trăm tỉ lệ bệnh, cho điểm tùy theo mức độ bệnh
Trang 18* Bệnh khô vằn: theo dõi từ lúc nhú cờ đến lúc thu hoạch bắp lần 1 Tính tỉ lệ bệnh, cho diểm.
Số lá bị bệnh
Tỉ lệ hại (%) = x 100
Tổng số lá theo dõi
Cách cho điểm:
+ Điểm 1: dưới 5% cây bị hại
+ Điểm 2: từ 5%- 10% cây bị hại
+ Điểm 3: từ 10%- 30% cây bị hại
+ Điểm 4: từ 30%- 50% cây bị hại
+ Điểm 5: trên 50% cây bị hại
- Đổ rễ: Tính phần trăm số cây bị nghiêng một góc 30% so với chiều thẳng
đứng của cây/số cây theo dõi
- Đổ gãy thân: Đếm số cây bị gãy thân/ô Tính phần trăm số cây bị gãy thân
phía dưới bắp/số cây trong ô
- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Xác định số cây có bắp/ô (số cây hữu hiệu/ô)
- Xác định số bắp bình quân/cây: Đếm trên 5 cây theo dõi lấy trên 5 điểm chéo
góc cho mỗi ô thí nghiệm
- Xác định trọng lượng lõi bình quân để từ đó tính năng suất lý thuyết lõi
- Xác định năng suất thực thu bắp cả lá bi: Thu bắp riêng của từng ô thínghiệm của tất cả các lần thu để tính năng suất thực thu của ô thí nghiệm và từ đótính được năng suất thực thu của các công thức
- Xác định năng suất lõi thực thu: Từ năng suất lõi cả lá bi thực thu của ô thínghiệm để tính năng suất thực thu lõi của ô thí nghiệm và từ đó tính được năng suấtthực thu lõi của các công thức