Phạm vi của đề tài: Nghiên cứu hoạt động sản xuất chế biến xuất khẩu thủy sản của công ty trong thời gian qua, trong đó đi sâu phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của công ty sang các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ -a&b -
NGUYỄN MINH TÂM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GĨP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CƠNG TÁC XUẤT KHẨU TẠI CƠNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG
SEAFOODS – F17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nha Trang, tháng 11 năm 2006
Chuyên ngành : Kinh tế Thương mại
Giáo viên hướng dẫn: Th.S CHU LÊ DUNG
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
rong công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng Từ nền kinh tế kế hoạch theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là cơ sở để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước
Để thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã nêu rõ: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa ” Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình lâu dài và bao quát tổng thể các lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu với
sự tham gia của hầu hết các quốc gia từ các nước công nghiệp phát triển nhất đến các nước đang phát triển Để thích ứng với xu thế này Việt Nam cũng có những đường lối, chủ trương nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, giao lưu với Thế giới bằng những sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam Trong những sản phẩm đó có sản phẩm thủy sản
Lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu là một bộ phận của ngành thủy sản
có sự tăng trưởng mạnh nhất, quyết định đầu ra cho cả ngành thủy sản Trong nhiều năm qua, rất nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đã ra đời và góp phần to lớn cho sự phát triển của ngành Hiện tại cả nước có khoảng 300 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu qui mô công nghiệp, 332 cơ sở, hơn 80% trong số đó là chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu, điều này cũng đã và đang tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong toàn ngành
Trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường xuất khẩu như hiện nay thì việc nắm bắt thông tin và nghiên cứu các biện pháp mở rộng thị trường ngày càng cần thiết và cấp thiết Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods - F17 một trong những con chim đầu đàn của ngành Chế biến thủy sản xuất khẩu Khánh Hoà đã vươn lên mọi khó khăn ban đầu và từng bước trở nên mạnh mẽ trên thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, so với tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và so với tiềm năng vốn có của Công ty thì kim ngạch xuất khẩu hiện nay chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Do đó vấn đề đặt ra là tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung của công ty là yêu cầu cần thiết Đây cũng là lý do em chọn đề tài:
T
Trang 3“Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu tại Công ty
Cổ phần Nha Trang Seafoods - F17”
Phạm vi của đề tài: Nghiên cứu hoạt động sản xuất chế biến xuất khẩu thủy sản của công ty trong thời gian qua, trong đó đi sâu phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của công ty sang các thị trường chính là Mỹ, Nhật, EU, Đài Loan
để có được cái nhìn đầu đủ hơn và trên cơ sở đó em xin đề xuất những biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu
Nội dung và kết cấu của đề tài gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và công tác xuất khẩu
- Chương 2:Thực trạng hoạt động xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17
- Chương 3: Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17
Phương pháp thực hiện:
Đề tài được phân tích và đánh giá chủ yếu là thông qua các số liệu, dữ liệu kinh doanh của công ty cũng như quan sát, phỏng vấn các đối tượng liên quan trên cơ sở áp dụng các phương pháp như: phân tích thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, tài liệu thứ cấp của các trang web liên quan
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao gồm nhiều lĩnh vực về lý luận và thực hành, nhiều hoạt động thực tiễn phong phú Trong khi đó, do điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đề tài của em còn những thiếu sót nhất định
Em rất mong nhận được sự góp ý và xây dựng của các thầy cô, các cô chú anh chị trong công ty và các bạn đọc
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô Chu Lê Dung, và các cô chú anh chị trong công ty đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đề tài này
Nha Trang, tháng 10 năm 2006 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Minh Tâm
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ CÔNG TÁC
XUẤT KHẨU
Trang 51.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm ngoại thương
1.1.1.1 Khái niệm
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuất trong nước mà còn giao dịch quan hệ với các nước khác Do khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu nếu chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước không thể cung cấp đủ những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế mà phải nhập những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất được nhưng giá cao hơn Ngược lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước, còn có thể tạo nên những thặng dư có thể xuất khẩu sang các nước khác, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước để nhập khẩu các thứ còn thiếu và để trả nợ Như vậy, do yêu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nước với nhau, hay nói cách khác hoạt động ngoại thương là yêu cầu khách quan trong nền kinh tế hội nhập hiện nay
Ngoại thương là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán, sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt của các quốc gia
1.1.1.2 Đặc điểm
Hoạt động ngoại thương có một số đặc điểm sau:
§ Thị trường là nước ngoài và chủ thể mua bán là khách hàng, bạn hàng và các
tổ chức kinh tế nước ngoài Khi đóng vai trò là người bán, doanh nghiệp có quan hệ giao dịch bán hàng cho cá nhân, hãng thương mại hoặc hãng xuất khẩu, hãng môi
giới
§ Các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ về chất lượng, giá cả, phương thức mua bán khi xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài Doanh nghiệp sẽ gặp các đối thủ cạnh tranh từ nhiều nước khác nhau cùng hoạt động trên thị trường, để đảm bảo hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao cạnh tranh
§ Việc thanh toán giữa các tổ chức kinh tế, giữa các nước phải dùng bằng ngoại
tệ có giá trị chuyển đổi Chính vì vậy, sự thay đổi của giá trị hối đoái, sự biến động của thị trường tiền tệ quốc tế có ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động thương mại quốc tế không chỉ chịu ảnh hưởng của các quan hệ kinh
tế mà còn chịu ảnh hưởng của các quan hệ chính trị - xã hội quốc tế, chính sách
Trang 6khuyến khích suất khẩu và chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, các chính sách tác động đến hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của hoạt động ngoại thương
1 1.2.1 Chức năng
Hoạt động ngoại thương nói chung có hai chức năng cơ bản:
§ Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội có chức năng tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc nội, thích ứng với nhu cầu tiêu dùng, tích lũy góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
§ Là nghành kinh tế đảm nhận khâu lưu thông chính là hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Doanh nghiệp tiến hành hoạt động ngoại thương thông qua các hình thức sau:
+ Mua thiết bị, máy móc,nguyên liệu, bán thành phẩm, phụ tùng giấy phép sản xuất từ nước ngoài
+ Bán thành phẩm của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài bằng cách:
s Sản xuất trong nước bán ra thị trường nước ngoài
s Sản xuất trong nước bán ở thị trường trong nước và xây dựng nhà máy ở nước ngoài để sản xuất và bán ở thị trường nước ngoài thông qua hình thức xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, 100% vốn nước ngoài
+ Bán giấy phép sản xuất,nhãn hiệu hàng hóa cho các hãng nước ngoài
1.1.2.2 Nhiệm vụ của hoạt động ngoại thương
§ Tạo ra nguồn vốn nước ngoài cần thiết để nhập khẩu vật tư, kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa, phục vụ nhu cầu của tái sản xuất
§ Thông qua công tác ngoại thương phát huy, sử dụng tốt hơn nguồn lao động
và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân
§ Tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật tư phục vụ cho việc sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ nhằm phục vụ đời sống nhân dân
§ Ngoại thương phải phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, phục vụ tăng cường, củng cố quốc phòng bảo vệ an ninh Tổ quốc
§ Ngoại thương phải phục vụ đường lối chính trị đối ngoại của Đảng và Nhà nước, làm cơ sở để tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước
§ Đảm bảo và nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động thương mại trong doanh nghiệp, góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng như công ăn việc làm
§ Thực hiện theo đúng pháp luật và các chính sách của Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 71.2 CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.2.1 Xuất nhập khẩu trực tiếp
Các tổ chức kinh doanh xuất khẩu bán hàng trực tiếp cho các tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc trực tiếp nhập hàng từ tổ chức này Phần lớn hàng ở thị trường thông qua xuất khẩu trực tiếp
Hợp đồng quy định bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua qua biên giới quốc gia, bên mua có trách nhiệm thanh toán cho bên bán một khoảng tiền ngang giá trị hàng hóa bằng các phương thức thanh toán quốc tế
1.2.2 Xuất nhập khẩu ủy thác
Là hình thức xuất nhập khẩu qua trung gian thương mại Các trung gian này trực tiếp đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện giao nhận hàng hóa với bên đối tác nước ngoài
Xuất khẩu ủy thác: Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hàng hóa hoặc
dịch vụ muốn bán ra nước ngoài nhưng vì doanh nghiệp không có được quyền xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, ủy nhiệm cho doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu làm dịch vụ xuất khẩu hàng hóa cho mình Bên nhận ủy thác được nhận một khoảng thù lao gọi là phí ủy thác
Nhập khẩu ủy thác: Một doanh nghiệp có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập
khẩu một số loại hàng hóa nhưng không có quyền hoặc không có điều kiện nhập khẩu trực tiếp, ủy thác nhập khẩu hàng hóa đó cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch xuất nhập khẩu với nước ngoài thông qua hợp đồng nhập khẩu ủy thác Bên nhận ủy thác được nhận phí ủy thác nhập khẩu
Việc xuất nhập khẩu ủy thác được thực hiện thông qua hợp đồng kinh tế gọi là
hợp đồng xuất nhập khẩu ủy thác Đối tượng của hợp đông là hàng hóa, dịch vụ sẽ
xuất hoặc nhập qua đường biên giới quốc gia
1.2.3 Tái xuất khẩu
Tái xuất khẩu là xuất khẩu trở lại những hàng trước đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về ngoại
tệ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vì vậy, người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác
Người kinh doanh tái xuất thường ký một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp đồng xuất nhập khẩu thông thường song chúng có liên quan mật thiết với nhau Chúng thường phụ thuộc với nhau về hàng hóa, bao bì, nhãn hiệu, nhiều khi cả về thời gian giao
Trang 8hàng và các chứng từ hàng hóa Việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tái xuất quy định dùng phương thức thư tín dụng giáp lưng Người tái xuất thường cố dàn xếp để chậm trả tiền hàng nhập và nhanh chóng thu tiền hàng xuất Nhờ biện pháp đó, người tái xuất được cả lợi tức về tiền hàng trong khoảng thời gian chênh lệch Kinh doanh tái xuất đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường
và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán
1.2.4 Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công, nhập nguyên liệu và bán thành phẩm của một bên khác, gọi là bên gia công, chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao gọi
Nội dung của xuất khẩu phải bao gồm ba đối tượng:
+ Người mua: Khách hàng nước ngoài + Người bán : Tổ chức kinh doanh trực tiếp hoặc là những cá nhân đơn vị ủy thác xuất khẩu
+ Hàng hóa xuất khẩu
1.3.1.2 Ý nghĩa
§ Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước nói riêng và cả thế giới nói chung Hoạt động xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cũng như khả năng gây thiệt hại vì phải đối đầu với nhiều quốc gia trên thế giới Xuất khẩu phát triển làm tăng sự tăng trưởng cho nền kinh tế, điều này được chứng minh rõ nhất ở các nước NIC, Đông Nam Á, các nước và lãnh thổ như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore Có thu nhập trên đầu người chỉ bằng 1/4 đến 1/3 thu nhập đầu người của các quốc gia giàu có, bằng cách tiết kiệm một phần lớn thu nhập quốc dân của mình và hướng chúng vào những ngành công nghiệp, công nghiệp xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao, các nước này đã vượt lên thành những nước có thu nhập cao vào cuối những năm 1980
§ Hoạt động xuất khẩu có định hướng cho phép các nước tận dụng được hiệu quả kinh tế theo qui mô và những lợi ích của việc chuyên môn hóa quốc tế Bởi vậy
nó làm tăng công ăn việc làm, sử dụng các nguồn lực trong nước có hiệu quả, năng suất được tăng lên nhanh chóng, tăng mức sống của người lao động
Trang 9§ Hoạt động xuất khẩu có vai trò mở rộng thị trường, nối liền mối quan hệ một cách chủ quan giữa thị trường trong nước và thế giới Đây không chỉ đơn thuần là lưu thông hàng hóa trong nước và nước ngoài mà còn có ý nghĩa phân công lao động quốc tế, tìm hiểu phong tục tập quán, văn hóa cũng như con người các nước
§ Ngoài ra hoạt động xuất khẩu về kinh tế phát triển sẽ kéo theo các hoạt động khác và các quan hệ chính trị có khả năng phát sinh tốt hơn Trong quá trình quan
hệ trao đổi, mua bán các đối tác tìm hiểu phong tục tập quán, nếp sống văn hóa của mỗi bên để hỗ trợ vào quá trình kinh doanh Do vậy, các mối quan hệ chính trị có cơ hội phát triển tốt đẹp hơn nhằm phục vụ trở lại kinh tế phát triển
Trên đây là những mặt tích cực mà xuất khẩu mang lại Nếu như sự quan tâm chỉ đạo kể cả công tác thực hiện của các cán bộ, các ngành không được thực hiện nghiêm túc, công tác quản lý lỏng lẻo thì hoạt động xuất khẩu sẽ kìm hãm nền kinh
tế đất nước cũng như chính trị của một quốc gia
Do vậy, hoạt động xuất khẩu sẽ là nhân tố tích cực trong quá trình phát triển kinh tế đất nước như tất cả các doanh nghiệp, cán bộ, các ngành thực hiện nghiêm túc chức năng của mình phải có sự kết hợp tích cực giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh và Nhà nước
1.3.2 Những mặt thuận lợi và hạn chế của xuất khẩu
1.3.2.1 Những mặt thuận lợi
Phát huy tính năng động sáng tạo của mọi người, mọi đơn vị, mọi tổ chức, mọi địa phương trong xã hội Nó cho phép tận dụng mọi nguồn lực của đất nước vào sản xuất Vì vậy, phát hiện chính xác mặt hàng xuất khẩu có hiệu quả có ý nghĩa to lớn Xuất khẩu cho phép mở rộng thị trường, tạo đầu ra lớn từ đó kích thích sản xuất phát triển
Nhờ xuất khẩu chúng ta mới có nguồn ngoại tệ để nhập máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến của nước ngoài Nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động xuất khẩu
là tiền đề để tiến đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xuất khẩu tăng cường sự liên hệ chặt chẽ giữa khoa học và sản xuất thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh thường xuyên, thay đổi máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất
1.3.2.2 Những mặt hạn chế trong xuất khẩu
Vì tồn tại sự cạnh tranh tất yếu dẫn đến sự rối ren trong mua bán Nếu không có
sự kiểm soát chặt chẽ, kịp thời sẽ gây ra hậu quả về kinh tế trong quan hệ với nước ngoài Các hiện tượng xấu như: buôn lậu, trốn thuế, tha hóa cán bộ cũng dễ có điều kiện phát sinh
Vì lợi ích trước mắt một số doanh nghiệp đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu không thích hợp với thực tế đất nước dẫn đến làm ăn thua lỗ gây thiệt hại về kinh tế
Trang 10Tất cả những mặt thuận lợi và hạn chế nói trên buộc chúng ta phải xác định, tính toán các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế hoạt động xuất khẩu một cách liên tục, chính xác và toàn diện, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể
và lợi ích cá nhân
1.4 VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Xuất khẩu đã được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
+ Đầu tư nước ngoài + Vay nợ, viện trợ + Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ + Xuất khẩu sức lao động
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu - nguồn vốn duy nhất để trả nợ - trở thành hiện thực
• Đóng góp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển:
Cơ cấu sản xuất, tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ
Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, sự dịch chuyển
cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thế giới là tất yếu đối với một quốc gia
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
Một là: xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu ở các nước chậm phát triển, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé, tăng trưởng chậm chạp
Hai là: coi thị trường đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ
chức sản xuất Quan điểm thứ hai chính là xuất phát tư nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở:
Trang 11§ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển ổn định
§ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
§ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước
§ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của một quốc gia sẽ tham gia cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với sự biến động của thị trường
§ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh
Ž Xuất khẩu giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân:
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt: Trước hết sản xuất hàng hóa là nơi thu hút hàng triệu lao động và có thu nhập không thấp; xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống, đáp ứng ngày một phong phú hơn nhu cầu tiêu dùng của người dân
• Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng, thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại:
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có trước, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh
tế phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất các mặt hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh
tế đối ngoại trên lại tạo điều kiện cho mở rộng xuất khẩu
Như vậy, đẩy mạnh xuất khẩu được xem là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước
• Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp:
+ Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
+ Tạo môi trường cạnh tranh để doanh nghiệp luôn phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
+ Phân tán rủi ro trong kinh doanh do đa dạng hóa thị trường
+ Giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế - xã hội + Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
1.5 TỔ CHỨC CÔNG TÁC XUẤT KHẨU
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp hơn hoạt động đối nội bởi: khách hàng ở xa, hoạt động chịu sự điều tiết của nhiều hệ thống pháp luật, hệ thống tiền tệ thế giới, tài chính
Qui trình tổ chức xuất khẩu gồm các bước sau:
Trang 121.5.1 Tìm chọn khách hàng
Việc nghiên cứu tình hình thị trường giúp cho đơn vị kinh doanh lựa chọn thị trường, khách hàng, thời cơ thuận lợi, lựa chọn phương thức mua bán và điều kiện giao dịch thích hợp Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc vào khách hàng
Trong cùng những điều kiện như nhau, việc giao dịch với khách hàng này là thành công nhưng có thể với khách hàng khác là bất lợi Vì vậy, một nhiệm vụ quan
trọng của đơn vị kinh doanh trong giai đoạn chuẩn bị là lựa chọn khách hàng
Để lựa chọn khách hàng, cần phải nắm một số thông tin về khách hàng như sau:
§ Các thông tin đại cương về đất nước, con người, tình hình về chính trị, xã hội: diện tích, dân số, ngôn ngữ, địa lý, khí hậu, các trung tâm công nghiệp và thương mại chủ yếu, chế độ chính trị, hiến pháp, các chính sách kinh tế và xã hội, thái độ chính trị đối với quốc gia mình
§ Những thông tin kinh tế cơ bản: đồng tiền trong nước, tỷ gía hối đoái và tính
Để nghiên cứu các vấn đề trên, ta thường sử dụng hai phương pháp sau:
Ø Phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk Research): Đây là phương pháp đang được sử dụng phổ biến chủ yếu dựa vào các tài liệu đã thu thập để nghiên cứu thị trường như: các loại tạp chí xuất bản định kỳ, các bảng thống kê, các loại sách
chuyên khảo, thông báo của Công ty môi giới lớn Ưu điểm của phương pháp là dễ
thực hiện và ít tốn kém, tuy nhiên độ chính xác của thông tin không cao và không thể cho kết quả nhanh
Ø Phương pháp nghiên cứu tại chỗ (Field Rearch): Là nghiên cứu trực tiếp tại thị trường mình muốn kinh doanh hàng hóa bao gồm các công việc: phỏng phấn cá nhân trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, thăm dò qua thư từ, kiểm tra kho hàng,
Tìm chọn khách hàng
Thương lượng đàm phán
Ký kết hợp đồng
Thực hiện hợp đồng
Trang 13cửa hàng, bán thử Phương pháp này cho kết quả nhanh, độ thông tin chính xác cao
và cho phép kiểm tra lại những dự đoán của doanh nghiệp về thị trường mà mình dự kiến thâm nhập Tuy nhiên nó khó thực hiện và rất tốn kém, đòi hỏi phải chuẩn bị
kỹ
1.5.2 Thương lượng đàm phán
1.5.2.1 Các bước giao dịch đàm phán
Trong buôn bán quốc tế có những bước đàm phán sau:
Ø Hỏi giá: Đây là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biết giá cả
và điều kiện mua hàng Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm người hỏi giá Người hỏi giá thường hỏi nhiều nơi nhằm nhận được nhiều bảng chào hàng cạnh tranh nhau để so sánh lựa bản chào hàng thích hợp nhất Tuy nhiên, nếu người mua hỏi quá nhiều sẽ gây nên thị trường ảo, điều đó không có lợi cho người mua
Ø Chào hàng: Là việc người xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của mình
Trong thương mại quốc tế người ta phân biệt hai loại chào hàng chính:
§ Chào hàng cố định (Firm Offer): Là việc chào bán một lô hàng nhất định,
trong đó nêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm vào lời đề nghị của mình Thời gian này gọi là thời gian hiệu lực của chào hàng cố định Trong thời gian hiệu lực, nếu người mua chấp nhận hoàn toàn bởi lời chào hàng đó thì hợp đồng coi như được ký kết
§ Chào hàng tự do (Free Offer): Là loại chào hàng không ràng buộc trách
nhiệm của người phát ra nó, cùng một lúc với cùng một lô hàng người ta có thể chào hàng tự do cho nhiều khách hàng Chào hàng tự do trở thành hợp đồng khi có
sự xác nhận lại của người xuất khẩu Người mua không thể trách cứ người bán nếu sau khi chấp nhận chào hàng mà người bán không ký hợp đồng với mình
Ø Đặt hàng: Lời đề nghị ký hợp đồng xuất phát từ phía người mua được đưa ra
dưới hình thức đặt hàng Trong đặt hàng, người mua nên cụ thể về hàng hóa định mua và tất cả các nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng
Ø Hoàn giá: Sau khi đã nhận được thư chào hàng (hoặc thư đặt hàng) của bên
bán, nhưng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng (hoặc đặt hàng) đó thì đưa ra một lời đề nghị mới gọi là hoàn giá Khi có sự hoàn giá, chào hàng trước đó coi như hủy
bỏ Trong buôn bán quốc tế mỗi lần giao dịch thường phải qua nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc
Ø Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn mọi điều kiện của chào hàng (hoặc đặt
hàng) mà phía bên kia đưa ra Khi đó hợp đồng ký kết Một thư chấp nhận muốn có hiệu lực về mặt pháp luật phải đảm bảo những điều kiện sau:
Trang 14§ Phải đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của thư chào hàng (đơn đặt hàng)
§ Phải được chính người nhận giá chấp nhận
§ Phải chấp nhận trong thời hạn hiệu lực
§ Chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra đề nghị
Ø Xác nhận: Sau khi thống nhất với nhau về các điều kiện giao dịch, hai bên
mua và bán ghi lại các kết quả đạt được rồi trao đổi cho đối phương Đó là văn kiện xác nhận Văn kiện đó do bên bán lập gọi là giấy xác nhận bán hàng Xác nhận thường được lập thành hai bản, bên xác nhận ký trước rồi gởi cho bên kia, bên kia
ký xong giữ lại một bản và gởi trả lại một bản
1.5.2.2 Các hình thức đàm phán
Ø Đàm phán giao dịch qua thư tín:
Sự khẩn trương trong trao đổi thư tín cần được chú ý thích đáng Tất cả những thư tín gởi đến đều phải được trả lời một cách nhanh chóng mặc dù mình chưa có cơ hội bán hàng Việc trì hoãn trả lời, thậm chí quên không trả lời thư của khách hàng
sẽ gâu ấn tượng xấu Một nhà kinh doanh tốt bao giờ cũng cố gắng mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng
Ø Đàm phán giao dịch qua điện thoại:
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng giúp cho người giao dịch tiến hành đàm phán một cách khẩn trương, đúng vào thời cơ cần thiết Nhưng phí tổn điện thoại giữa các nước rất cao, các cuộc trao đổi bằng điện thoại thường rất hạn chế về thời gian, hai bên không thể trình bày chi tiết, mặc khác trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng không có gì làm bằng chứng cho những thỏa thuận, quyết định trao đổi Vì vậy, điện thoại chỉ được dùng trong những trường hợp cần thiết, khẩn trương Trong những trường hợp mà phải sử dụng điện thoại cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu lên một cách nhanh chóng, chính xác Sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán, thoả thuận
Ø Giao dịch đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp:
Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi về mọi điều kiện giao dịch, về mọi vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán là hình thức đặc biệt quan trọng Hình thức đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn
đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những hình thức đàm phán bằng thư tín hay điện thoại đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả Nhiều khi đàm phán qua thư kéo dài nhiều tháng mới đi đến ký kết hợp đồng, trong khi đó đàm phán trực tiếp chỉ khoảng 2 – 3 ngày là có kết quả Hình thức đàm phán này thường được dùng khi hai bên có điều kiện giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhau, khi đàm phán về nghiên cứu hợp đồng lớn, những hợp đồng có tính chất phức tạp
Trang 15Việc hai bên mua bán trực tiếp gặp gỡ nhau tạo điều kiện cho việc hiểu nhau hơn và duy trì được quan hệ làm ăn lâu dài
Mỗi buổi hội đàm đều được ghi biên bản theo sổ theo dõi đàm phán Việc theo dõi này rất có lợi cho việc tìm hiểu khách hàng một cách chu đáo hơn, có lợi cho việc rút kinh nghiệm cả ngay trong quá trình đàm phán và sau này
1.5.3 Ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương Hợp đồng thường được thành lập dưới hình thức văn bản và có thể được lập bằng nhiều cách như:
+ Hợp đồng gồm một văn bản trong phạm vi mua bán, mọi điều kiện giao dịch
đã thoả thuận đồng thời có chữ ký của cả hai bên
+ Hợp đồng gồm nhiều văn bản như những báo thư từ giao dịch Chẳng hạn, hợp đồng gồm hai văn bản như đơn chào hàng cố định của người bán và chấp nhận của người mua; hoặc đơn đặt hàng của người mua và chấp nhận của người bán Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu của ta trong quan hệ với các nước Đây là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của cả hai bên Nó xác định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của bên mua và bên bán Tránh được những biểu hiện lầm do không thống nhất về quan điểm Ngoài ra, hình thức văn bản còn tạo điều kiện thuận lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện ký kết hợp đồng
Khi ký kết hợp đồng các bên cần chú ý một số đặc điểm sau:
§ Cần có sự thỏa thuận thống nhất với nhau tất cả mọi điều khoản cần thiết trước khi ký kết hợp đồng Một khi đã ký kết rồi thì việc thay đổi một điều khoản nào đó sẽ rất khó khăn và bất lợi
§ Văn bản hợp đồng thường do một bên dự thảo Trước khi ký kết bên kia cần xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận đối chiếu với những thoả thuận đã đạt được trong đàm phán, tránh việc đối phương có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo léo những điều chưa thỏa thuận và bỏ qua không ghi những điểm đã thống nhất
§ Hợp đồng cần được trình bày rõ ràng, cách trình bày phản ảnh dúng nội dung
đã thỏa thuận, không để tình trạng mập mờ, có thể suy luận ra nhiều cách
§ Hợp đồng nên đề cập đến mọi vấn đề, tránh phải áp dụng những tập quán để giải quyết những điểm hai bên không đề cập đến
§ Những điều khoản trong hợp đồng phải xuất phát từ những đặc điểm hàng hóa cần mua bán; từ những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, xã hội của nước người bán, người mua; từ những đặc điểm và quan hệ giữa hai bên
§ Trong hợp đồng không được có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành của nước người bán hoặc nước người mua
§ Người đứng ra ký kết hợp đồng phải đúng là người có thẩm quyền ký kết
Trang 16§ Ngôn ngữ dùng để ký kết hợp đồng là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên cùng thông thạo
Một hợp đồng mua bán ngoaị thương gồm những phần sau:
+ Số hợp đồng + Ngày và nơi ký kết hợp đồng + Tên và địa chỉ các bên ký kết
Các điều khoản của hợp đồng như:
s Tên hàng – Quy cách, phẩm chất – Số lượng, bao bì, ký mã hiệu
s Giá cả - đơn giá
s Tổng giá
s Thời hạn và địa điểm giao hàng
s Điều kiện giao nhận
s Điều kiện thanh toán
s Điều kiện khiếu nại, trọng tài
s Điều kiện bất khả kháng
s Điều kiện cấm tái xuất
s Chữ ký của hai bên Với những hợp đồng phức tạp nhiều mặt hàng thì có thêm các phụ kiện là bộ phận không tách rời của hợp đồng
1.5.4 Tổ chức việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Sau khi hợp đồng ngoại thương đã ký kết, đơn vị kinh doãnh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng ký kết Đó là một công việc khá phức tạp Ở đây ta chỉ tìm hiểu quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu:
1.5.4.1 Xin giấy phép xuất khẩu do Bộ thương mại cấp hoặc cơ quan quản lý ngành đối với mặt hàng xuất khẩu
Theo nghị định Chính phủ ban hành ngày 31/07/1998 qui định về chức năng xuất khẩu của doanh nghiệp kể từ ngày 01/09/1998 Tất cả các doanh nghiệp đều có quyền xuất khẩu trực tiếp theo ngành hàng đã đăng ký kinh doanh và những ngành hàng chuyên ngành trước khi tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu thì doanh nghiệp phải đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh hay thành phố
Hồ sơ đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu gởi về vụ quản lý xuất nhập khẩu thuộc Bộ thương mại gồm:
+ Đơn xin kinh doanh xuất nhập khẩu (theo mẫu)
+ Giấy phép thành lập doanh nghiệp (Bản sao có công chứng)
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Bản sao có công chứng)
1.5.4.2 Thực hiện bước đầu công việc thanh toán
Nhà xuất khẩu cần biết khâu thanh toán có đảm bảo hay không trước khi giao hàng Các phương thức thanh toán thường là:
Trang 17+ Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) + Thanh toán bằng phương thức giao chứng từ trả tiền (CAD) + Thanh toán bàng phương thức chuyển tiền (T/T)
+ Thanh toán bằng thủ tục trả trước
1.5.4.3 Chuẩn bị hàng để xuất khẩu: Thu gom hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì,
ký mã hiệu theo qui định của hải quan nước nhập
1.5.4.4 Kiểm tra hàng hóa: Đảm bảo xuất khẩu đủ số lượng, đúng chất lượng,
trọng lượng
1.5.4.5 Thuê phương tiện vận tải: Nếu hợp đồng ký kết theo các điều kiện CF,
CIF thì việc thuê phương tiện vận tải do bên bán thực hiện
1.5.4.6 Làm thủ tục hải quan: Theo điều 12 pháp lệnh qui định thủ tục hải quan
gồm:
+ Khai báo và nộp tờ khai hải quan + Đưa hàng đến địa điểm qui định để kiểm tra + Làm nghĩa vụ nộp thuế nếu có
1.5.4.7 Giao nhận hàng cho người vận tải hoặc lên tàu
§ Trường hợp hàng đủ một container:
+ Nhận một container rỗng từ bãi container + Lập bảng kê hàng sẽ xếp vào container để khai với hải quan và có kế hoạch xếp hàng vào container
+ Người bán xếp hàng vào container cùng với hải quan niêm phong kẹp chì rồi đưa tới bãi ngoài cảng
+ Lấy vận đơn đường biển
§ Trường hợp hàng không đủ một container:
+ Lập bảng đăng ký kê hàng chuyên chở để thương lượng với người vận tải
để họ xếp hàng hóa cùng một container với hàng chủ khác
+ Lấy vận đơn đường biển
1.5.4.8 Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu (nếu có)
Với phương châm an toàn và tiết kiệm chi phí cho hàng hóa Việc mua bảo hiểm, lựa chọn điều kiện bảo hiểm tuỳ thuộc vào tính chất hàng hóa, phương thức đóng gói, bao bì, tuyến đường vận chuyển
1.5.4.9 Thông báo cho người mua về kết quả giao hàng 1.5.4.10 Lập bộ chứng từ thanh toán xuất trình cho ngân hàng theo đúng thời hạn quy định
Tất cả các chứng từ đều lập theo đúng L/C vì ngân hàng chỉ dựa vào L/C để kiểm tra bộ chứng từ sao cho phù hợp mới tiến hành thanh toán cho người bán (người xuất khẩu)
Chứng từ thanh toán bao gồm:
+ Hoá đơn thương mại
Trang 18+ Vận đơn đường biển + Chứng từ bảo hiểm + Chứng nhận phẩm chất, số lượng, trọng lượng + Chứng nhận xuất xứ xứ, kiểm dịch vệ sinh + Chứng từ kho tàng
+ Chứng từ hải quan
1.5.4.11 Tranh chấp, giải quyết tranh chấp, thanh lý hợp đồn (nếu có)
Trong thực tế sau khi ký kết hợp đồng xuất khẩu, để tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu không theo một trình tự chuẩn mực nào cả, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố từ điều kiện thương mại chọn lựa như: FOB, CIF, phụ thuộc hình thức kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hay ủy thác xuất khẩu, sự quản lý của nhà nước, phương thức thanh toán
1.6 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.6.1 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Bản chất của sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu khai thác tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực, hiệu năng của các điều kiện nội tại phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định, hoặc ngược lại là đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiếu Chi phí ở đây được hiểu là chi phí tạo ra nguồn lực, chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời bao gồm chi phí cơ hội
1.6.2 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh buộn bán quốc tế Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoằi nhằm mục đích đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu cho phép phát triển những mặt thuận lợi của nền kinh tế hàng hóa và hạn chế những mặt không có lợi
Trang 19Nâng cao hiệu quả xuất khẩu cho phép phát huy tính sáng tạo của mọi đơn vị,
nó cho phép tận dụng mọi nguồn lực của đất nước tham gia vào sản xuất
Nâng cao hiệu quả xuất khẩu góp phần tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến của nước ngoài là tiền đề phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như chúng ta biết, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
là con đường tất yếu mà Việt Nam phải lựa chọn, vì nó đưa nền kinh tế thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển Để thực hiện đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài Những nguồn vốn này được huy động từ nguồn vốn vay, viện trợ , nhưng phải trả sau này Còn nếu xuất khẩu đạt được kim ngạch cao thì nó sẽ là nguồn vốn quan trọng góp phần trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công
Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có điều kiện phát triển thuận lợi, có khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp luôn đổi mới và hoàn thiện công việc tổ chức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, thông qua xuất khẩu mà hàng hóa của nước ta cạnh tranh được với các hàng hóa của nước khác, tạo uy tín mặt hàng, được các thị trường nước ngoài công nhận
1.6.3 Bản chất của việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu đạt được góp phần thúc đẩy mọi mặt nền kinh tế phát triển Thực tế hiện nay chúng ta chưa xác định chính xác được hiệu quả kinh tế từ hoạt động xuất khẩu mang lại, vì mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh khác nhau thì các yếu tố chi phí đầu vào cũng khác nhau Do đó, xét về hiệu quả xuất khẩu cũng khác nhau, cho nên yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán kinh doanh đòi hỏi phải xác định được hiệu quả kinh tế hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân và đối với mọi đơn vị kinh doanh xuất khẩu trên các góc độ khác nhau: giữa chất lượng và sản lượng, giữa không gian và thời gian Có như vậy, hiệu quả xuất khẩu được đánh giá một cách rõ ràng và chính xác
Hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu biểu hiện ở mỗi tương quan giữa kết quả của công tác xuất khẩu mang lại so với chi phí bỏ ra để thực hiện xuất khẩu Do
đó, về bản chất của hiệu quả kinh tế hoạt động xuất khẩu là một đại lượng so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
§ Kết quả thu được từ hoạt động xuất khẩu, bao gồm:
+ Doanh thu – kim ngạch xuất khẩu + Lợi nhuận
§ Chi phí bỏ ra để thực hiện hợp đồng xuất khẩu, bao gồm:
Trang 20+ Chi phí về lao động + Giá vốn hàng bán + Chi phí lưu thông + Chi phí phát sinh trong xuất khẩu + Các khoản thuế phải nộp (nếu có) Muốn nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu đòi hỏi phải làm tốt công tác xuất khẩu giảm giá thành sản phẩm bằng cách giảm chi phí có liên quan đến xuất khẩu Bản chất của việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu là kết quả thu về từ xuất khẩu phải bù đắp các khoản chi phí liên quan đến xuất khẩu và đảm bảo tái sản xuất trong kinh doanh
1.6.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp
Để đánh giá đầy đủ công tác xuất khẩu một cách chính xác, trung thực, phản ánh đúng đắn bản chất của hiệu quả hoạt động xuất khẩu, người ta thường sử dụng
hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá
1.6.4.1 Chỉ tiêu kết quả trên giá thành toàn bộ
Giá thành toàn bộ là các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu kết quả trên giá thành toàn bộ là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh hiệu quả sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ vào sản xuất kinh doanh thì kết quả thu được là bao nhiêu
Công thức xác định:
DT
HDT/Z =
Ztb Trong đó:
HDT/Z : Kết quả kinh doanh trên một đồng chi phí toàn bộ
DT : Doanh thu thuần từ hoạt động xuất khẩu
Z : Giá thành toàn bộ
1.6.4.2 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh tế toàn bộ vốn kinh doanh được chi ra trong kỳ để tạo giá trị sản lượng hàng hóa thu về
HDT/V : Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
DT : Doanh thu thuần từ hoạt động xuất khẩu VKDbq : Vốn kinh doanh bình quân
Trang 211.6.4.3 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định
Công thức xác định:
DT
HDT/VCĐ =
VCĐbq Trong đó:
HDT/VLĐ : Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
DT : Doanh thu thuần từ hoạt động xuất khẩu VLĐbq : Vốn lưu động bình quân
1.6.4.5 Chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Công thức xác định:
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
DLLN/DT =
Doanh thu Trong đó:
DLLN/DT: Doanh lợi trên doanh thu
1.6.4.6 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh bình quân
Công thức xác định:
Lợi nhuận
DLLN/VKD =
VKDbq Trong đó:
DLLN/VKD: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.6.4.7 Chỉ tiêu lợi nhuận trên giá thành toàn bộ
DLLN/Z: Doanh lợi trên giá thành toàn bộ
1.6.4.8 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định
Công thức xác định:
Trang 22DLLN/VLĐ: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.6.5 Sự cần thiết của việc đẩy mạnh xuất khẩu
Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế chung của khu vực, cũng như của thế giới, đặc biệt là việc Việt Nam chuẩn bị gia nhập vào WTO sắp tới Vì vậy xuất khẩu là cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu, mở ra cho các doanh nghiệp các điều kiện thuận lợi sau:
§ Mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần ổn định và phát triển sản xuất, bên cạnh
đó ta thấy rằng một số sản phẩm đã gần hết chu kỳ sống của thị trường này nhưng tại thời điểm đó nếu tìm được một thị trường tiêu thụ mới thì chu kỳ sống của sản phẩm có thể kéo dài
§ Tạo ra tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo, nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời xuất khẩu còn mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất góp phần nâng cao năng lực sản xuất
§ Hàng hóa của công ty buộc phải tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường
về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi công ty phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất, luôn thích nghi với thị trường, đồng thời công ty phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản lý sản xuất kinh doanh
§ Giảm bớt rủi ro trong kinh doanh, sản phẩm của doanh nghiệp được bán ở nhiều thị trường khác nhau sẽ có khả năng ổn định tốt hơn và tránh được rủi ro hơn
là chỉ dựa vào một thị trường duy nhất
§ Xuất khẩu nhằm giải thoát năng lực dư thừa của một số doanh nghiệp nhất định Khi thị trường nội địa không tiêu thụ hết thì việc sản phẩm xuất ra thị trường nước ngoài là lối thoát để tiêu thụ sản phẩm dư thừa, kết quả là doanh nghiệp có thể
hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài
Nói tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu là phương hướng có tính chiến lược mới để
đưa nước ta thành nước công nghiệp mới
Trang 231.7 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở VIỆT NAM
Qua gần 20 năm đổi mới nền kinh tế, cùng với nền kinh tế nước nhà, ngành thủy sản đã không ngừng đổi mới, đối mặt với kinh tế thị trường và đã tự dần khẳng định mình như một ngành kinh tế mũi nhon, đặc biệt là một trong những ngành kinh
tế hàng đầu, đóng góp lượng lớn ngoại tệ cần thiết cho sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, ngành thủy sản vẫn còn duy trì sự tăng trưởng tốc độ đáng kể Tổng sản lượng thủy sản năm 2005 là 3.432 ngàn tấn, trong
đó sản lượng đánh bắt là 1.995 ngàn tấn và sản lượng nuôi trồng là 1.437 ngàn tấn Tăng tương ứng là 71,34%, 55,86% và 98,76% so với năm 2000; và tăng tương ứng
là 11,68%, 3,74% và 24,96% so với năm 2004 Về kim ngạch xuất khẩu thủy sản, năm 2001 là 2.022,8 triệu USD, năm 2003 là 2.199,6 triệu USD, năm 2004 là 2.400,8 triệu USD và năm 2005 đạt 2.740 triệu USD, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 10%
Bên cạnh những thành công và đóng góp to lớn trên, ngành thủy sản cũng còn một số tồn tại và hạn chế cần khắc phục:
Ø Nhiều chỉ tiêu đặt ra chưa được thực hiện hoặc thực hiện chậm hơn so với kế hoạch Thí dụ, đến nay vẫn còn khoảng 25% cơ sở chế biến thủy sản chưa đảm bảo tiêu chuẩn quốc gia về VSATTP Mặc dù đó chỉ là những doanh nghiệp nhỏ chiếm 20% tỷ trọng xuất khẩu nhưng đã làm ảnh hưởng đến uy tín của sản phẩm thủy sản Việt Nam
Ø Khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng đủ nhu cầu cả về sản lượng lẫn chất lượng Nguyên nhân là do sự gia tăng nhanh số lượng các doanh nghiệp cộng với sự phat triển nhanh các khu vực nuôi trồng thủy sản, trong khi đó cơ sở hạ tầng nuôi không đảm bảo gây ô nhiễm môi trường đã làm cho sản lượng nuôi trồng giảm Bên cạnh đó, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa chẽ giữa các doanh nghiệp chế biến với người sản xuất nguyên liệu dẫn đến chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường về ATTP nhất là kiểm soát các dư lượng chất kháng sinh trong khâu nuôi trồng Yêu cầu truy xuất nguyên liệu vẫn đang là thách thức lớn đối với thủy sản Việt Nam
Ø Chưa có chiến lược phát triển dài hạn cho các nhóm sản phẩm chủ lực, chưa xây dựng được thương hiệu ở cấp quốc gia và doanh nghiệp Công tác dự báo thị trường xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức, thiếu cụ thể, chưa thật sự góp phần hướng dẫn sản xuất phát triển theo nhu cầu thị trường
Ø Năng lực giải quyết tranh chấp thương mại còn thấp, doanh nghiệp chưa chủ động nắm bắt các luật lệ, quy định quốc tế, thiếu những luật sư đủ trình độ và kinh nghiệm trong việc giải quyết tranh chấp dẫn đến thua thiệt trong tranh chấp
Trang 24Ø Năng lực đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ về thị trường và công nhân kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng
Ø Chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong chỉ đạo và điều hành giữa các chương trình phát triển thủy sản, trong khi yêu cầu quản lý đối với sản phẩm là một quá trình xuyên suốt không thể tách rời từ “ao nuôi đến bàn ăn”
Một số khó khăn và thách thức đối với ngành thủy sản Việt Nam:
s Cho đến nay sản xuất thủy sản mới ở trong giai đoạn tăng trưởng mà chưa thật sự phát triển Chúng ta có sản lượng lớn hơn nhờ vào việc tăng số lượng tàu đánh cá, tăng diện tích mặt nước sử dụng NTTS Kim ngạch xuất khẩu gần như tỷ lệ thuận với số lượng hàng hóa bán ra Nghĩa là, thách thức đầu tiên là chất lượng của
sự tăng trưởng Nếu không thay đổi tình trạng này, sẽ khó duy trì được tăng trưởng trong thời gian tới Thậm chí, hiệu quả đầu tư càng giảm
s Sự chưa tương xứng giữa năng lực quản lý của ngành nói chung, của Bộ Thủy Sản nói riêng, với tầm vóc của ngành kinh tế - kỹ thuật nghề cá hôm nay Chúng ta không chỉ nghĩ đến số lượng cán bộ mà phải quan tâm hơn đến chất lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ quản lý Đây là vấn đề không mới, vẫn là yếu về trình độ chuyên môn, nhất là thiếu hụt về kiến thức khoa học, xã hội, nhân văn, kém về ngoại ngữ để trao đổi học hỏi kinh nghiệm Tuy là những điều đã biết nhưng khắc phục không đơn giản, bởi bộ máy quản lý bắt buộc phải thực hiện “vừa chạy vừa sắp hàng” và hàng vừa sắp xong thì lại thay đổi đội hình
s Những cản trở, vấp váp trên con đường tiếp cận thị trường Sản xuất hàng hóa phải gắn với thị trường, nhưng con đường đến với người tiêu dùng không phải bao giờ cũng trơn tru, bằng phẳng Trong các mối quan hệ quốc tế ngày nay, những biện pháp “cấm chợ ngăn sông” không còn được áp dụng tràn lan, người ta tìm nhiều cách khác để tạo ra “rào cản” mà thực chất là để có điều kiện mua hàng với những điều kiện có lợi nhất Những cảnh báo về vệ sinh an toàn thực phẩm, những
vụ kiến bán phá giá, tranh chấp thương hiệu đang xảy ra ngày càng nhiều hơn chính
là biểu hiện của loại cản trở, hạn chế
s Hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì một thách thức khác đối với ngành thủy sản mà chúng ta không thể không quan tâm đó là sản phẩm thủy sản là một trong những sản phẩm mà Việt Nam phải hạ thấp mức thuế nhập khẩu Đây là một điều sẽ gây bất lợi đối với sản phẩm thủy sản trong nước Chúng ta cần có các biện pháp hỗ trợ cũng như sự quan tâm đáng kể để sản phẩm thủy sản trong nước ngày càng đa dạng hóa về mẫu mã và có chất lượng cao để có thể cạnh tranh đối với các sản phẩm thủy sản nhập khẩu của nước ngoài
1.7.1 Kim ngạch xuất khẩu và thị trường xuất khẩu của Việt Nam
Đến nay hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 108 thị trường, đứng thứ 7 trong nhóm các nước dẫn đầu về xuất khẩu thủy sản thế giới Trong đó, Nhật Bản,
Trang 25Mỹ, EU, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc vẫn là các thị trường chiếm tỉ trọng kim ngạch lớn
Bảng 1: GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG
NĂM 2001 – 2005 Đvt: K.Lượng (1000 tấn), Giá trị (triệuUSD )
Biều dồ 2: Khối lượng xuất khẩu theo thị trường các năm
Trang 261.7.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trong nhiều năm qua, mặc dù chính sách đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu được nhiều doanh nghiệp thực hiện nhưng nhìn chung cơ cấu mặt hàng thủy sản nước ta chủ yếu bao gồm các sản phẩm tôm đông lạnh, cá đông lạnh và mực đông lạnh Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm chỉ được xuất dưới dạng sơ chế có giá trị thấp, tỉ trọng giá trị sản phẩm gia tăng còn ít Trong 3 loại mặt hàng chủ lực, tôm đông lạnh được xuất khẩu khối lượng ít nhưng giá trị xuất khẩu là cao nhất
Bảng 2: GIÁ TRỊ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THEO MẶT HÀNG
(Nguồn: Trung tâm tin học Bộ Thủy Sản)
Cá ngừ
Cá đông lạnh
Trang 27Biểu đồ 3: Tỷ trọng cơ cấu mặt hàng qua các năm
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17
Trang 282.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17
2.1.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS 2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17 trước đây là Xí nghiệp đông lạnh Nha Trang được Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hoà) ra quyết định thành lập vào ngày 10/11/1976
Khi thành lập, Công ty tiếp nhận cơ sở của một xưởng tư nhân người Nam Triều Tiên chuyên sản xuất hàng đông lạnh từ trước năm 1975 tại 51 – 53 Lý Thánh Tôn – Nha Trang Trong thời gian mới thành lập, xí nghiệp đông lạnh gồm có 70 công nhân viên với hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ, nghèo nàn, không đồng bộ Công xuất của máy là 300kg sản phẩm/ngày, kho bảo quản rách nát chỉ chứa được
20 tấn, nhà xưởng chế biến chật hẹp chưa đầy 200m2 Tiền vốn không có, kỹ thuật
cơ điện lạnh không có, công nghệ chế biến cũng không, điều kiện lao động rất khó khăn, chủ yếu là lao động thủ công Lúc này Công ty chỉ chế biến tôm hùm luộc xuất khẩu và một số mặt hàng nội địa khác
Không ngại gian khổ, Ban lãnh đạo Công ty đã vươn lên mọi khó khăn, đích thân giám đốc (lúc đó giám đốc Công ty là bác Phạm Ấn Sơn) đến tư lệnh vùng 4 hải quân – Cam Ranh xin tháo gỡ một số máy móc thiết bị đông lạnh và hai máy phát điện về sửa chữa và sử dụng tạm Đồng thời đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh
để tìm và tuyển chọn 14 công nhân chế biến đông lạnh giỏi về làm hạt giống cho việc đào tạo công nhân của Công ty Đến năm 1997, Công ty được UBND tỉnh Phú Khánh một hệ thống máy lạnh Mycom của Nhật và một dàn máy lạnh, 2 tủ cấp đông với công suất 100kg/ngày, một kho bảo quản lạnh 60 tấn Từ đó Công ty đi vào ổn định sản xuất với sản lượng sản phẩm các loại là 229 tấn/năm với gái trị kim ngạch xuất khẩu đạt 739.803 USD
Trang 29Đến tháng 8 năm 1978, Công ty quyết định dời toàn bộ cơ sở đến cơ sở mới tại 58B đường 2/4 Vĩnh Hải – Nha Trang với lý do là để mở rộng sản xuất và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường dân cư xung quanh
Ở thời kỳ bao cấp, Xí nghiệp gần như độc quyền kinh doanh mặt hàng Thuỷ sản, các trạm thu mua của Xí nghiệp trải rộng khắp tỉnh Phú Khánh Cán bộ công nhân viên Xí nghiệp từ 70 tăng lên 300 người, sản xuất nhiều mặt hàng hơn Tuy nhiên Xí nghiệp vì chưa được phép xuất khẩu trực tiếp nên còn lệ thuộc rất nhiều vào các đơn vị xuất khẩu trực tiếp và chịu sự chi phối mạnh mẽ của hệ thống Seaprodex Vì vậy Xí nghiệp chỉ dám sản xuất các loại sản phẩm đã ký kết hợp đồng với các đơn vị xuất khẩu vì sợ không tiêu thụ được Ngoài ra, các đơn vị xuất khẩu thuỷ sản khi nhận hàng kiểm tra hàng rất khó khăn, thường trừ hao giảm cấp, giảm lượng làm giá trị thành phẩm xuất kho giảm từ 5% - 30% gây thiệt hại không nhỏ cho Xí nghiệp Vì thế xí nghiệp chỉ sản xuất cầm chừng, đời sống công nhân viên Xí nghiệp nhiều khi vô cùng khó khăn
Những năm 1985 – 1990, bước sang thời kỳ kinh tế thị trường, Xí nghiệp vẫn chỉ sản xuất cầm chừng, chủ yếu là gia công cho các đơn vị khác để đảm bảo đời sống cho công nhân viên, qua đó Xí nghiệp dần dần tiếp cận thị trường, tiếp cận quy trình công nghệ mới phù hợp với nhu cầu thị trường Nếu trong thời kỳ trước, sự cạnh tranh về số lượng và giá cả chỉ bó hẹp trong phạm vi giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, thì đến thời kỳ này, năm thành phần kinh tế nở rộ, đua nhau kinh doanh mua bán, giá cả thu mua không ngừng biến động Trong khi đó tổng sản lượng Thuỷ sản khai thác của ngư trường toàn tỉnh trong một năm chỉ đạt khoảng
45000 tấn, tức đưa vào chế biến chỉ đạt 40 – 45% Rõ ràng rằng nguyên liệu là không đủ Để khắc phục tình trạng đó, Công ty đã mở rộng địa bàn thu mua trên toàn quốc, tạo ra những mối quan hệ vững chắc với khách hàng của các đơn vị gia công, Xí nghiệp mạnh dạn ký hợp đồng xuất khẩu với khách hàng và nhờ uỷ thác xuất khẩu qua các đơn vị bạn
Xí nghiệp đông lạnh Nha Trang là đơn vị hạch toán độc lập theo nghị định 388/HĐBT, là doanh nghiệp nhà nước thành lập theo thông báo số 2313 – TS/TB ngày 8/12/1992 của Bộ Thuỷ sản
Tháng 4 năm 1993, Xí nghiệp được phép xuất khẩu trực tiếp
Ngày 14/12/1993, Xí nghiệp đổi tên thành Công ty chế biến Thuỷ sản xuất khẩu Nha Trang theo quyết định số 3200 QQĐ/UB của UBND tỉnh Khánh Hoà và tên giao dịch với nước ngoài là: Nha Trang Seaproduct Company, viết tắt là Nha Trang Seafoods Năm 1995, sản lượng sản phẩm các loại đạt 2.786 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu là 14.287.664 USD chiếm 1/3 doanh số ngành thuỷ sản Khánh Hòa
và nộp ngân sách đứng thứ 5 của tỉnh
Cuối năm 1997 đầu năm 1998, Công ty đã tăng cường thêm năm cơ sở sản xuất kinh doanh và một xưởng chế biến thuỷ sản (F90) của Công ty thiết bị vật tư thuỷ
Trang 30sản Khánh Hoà Xưởng chế biến F90 đã được củng cố và đi vào ổn định Trong 6 tháng cuối năm 1998, Công ty sữa chữa, cải tạo lại mặt bằng nhận của Công ty dịch
vụ và nuôi trồng thuỷ sản thành nhà hàng Seafoods với mục đích giới thiệu các sản phẩm thuỷ sản mới của Công ty để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước Đến nay Công ty còn tiếp quản thêm một xưởng chế biến làm ăn không hiệu quả, cải tạo và nâng cấp thành một phân xưởng chuyên gia công hàng xuất khẩu cho công ty và các công ty bạn (phân xưởng 777 – Bình Tân)
Trải qua gần 30 năm, Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Nha Trang hiện đang giữ vai trò đầu đàn trong ngành thuỷ sản Khánh Hòa, là công ty xuất khẩu có
uy tín trên thị trường, có nhiều kế hoạch ổn định, có đội ngũ công nhân lành nghề,
có cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt Công suất cấp đông từ 5 tấn/ngày nâng lên thành 20 tấn/ngày, hệ thống kho bảo quản lạnh chứa 10 tấn xây dựng mới thành hệ thống kho lạnh 500 tấn, ngoài ra còn có kho tiền đông ở các phân xưởng sản xuất để bảo quản tốt nguyên liệu, hai phân xưởng nước đá phục vụ sản xuất, trang thiết bị hiện đại, phương tiện phục vụ công tác quản lý hiện đại bảo đảm thông tin nhanh và chính xác
Với sự thành công đó, mới đây, ngày 20/07/2004 theo quyết định số 1815/QĐUB, Công ty chính thức đổi tên thành CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17, tên giao dịch nước ngoài NHA TRANG SEAFOODS Hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần
- Địa chỉ : 58B Đường 2 tháng 4 Vĩnh Hải – Nha Trang
- Tel : 058.831149 – 831040 – 831041
Hiện nay, Công ty đã xây dựng quy trình quản lý chất lượng theo ISO 9000 và HACCP nhằm thực hiện chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu và tìm kiếm kế hoạch mới Công ty cổ phần Nha Trang Seafoods – F17 đã thực sự lớn mạnh hơn rất nhiều
Từ ngày thành lập đến nay Công ty đã nhận được những hình thức khen thưởng sau:
§ Năm 1998 Công ty được tặng thưởng huân chương lao động hạng ba
§ Năm 1985 Công ty được tặng thưởng huân chương lao động hạng nhì lần thứ nhất
§ Năm 1994 Công ty được tặng thưởng huân chương lao động hạng nhì lần thứ hai
§ Năm 1996 Công ty được tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất Ngoài ra mỗi năm Công ty còn được nhận cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh Khánh Hoà và cờ của Sở Thuỷ Sản của Tỉnh Đây là những phần thưởng cao quý
mà Công ty Cổ phần xuất khẩu thuỷ sản Nha Trang Seafoods – F17 xứng đáng nhận được
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Trang 312.1.1.2.1 Chức năng của Công ty
Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods - F17 là một doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản tươi, khô, đông lạnh, tẳm gia
2.1.1.2.2 Nhiệm vụ cụ thể của công ty
- Tổ chức thu mua, tiếp nhận, chế biến, nguyên liệu thuỷ sản theo đúng quy
trình chế biến hàng xuất khẩu, bảo đảm chất lượng, số lượng, thời hạn
- Ký kết hợp đồng thu mua nguyên liệu thuỷ sản theo đúng quy trình công
nghệ chế biến đảm bảo chất lượng và thời hạn giao hàng
- Thực hiện tốt bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh chính trị và làm tròn nghĩa
vụ quốc phòng
- Thực hiện pháp luật hoạch toán và báo cáo thường xuyên, trung thực theo
đúng quy định quản lý tài chính, quản lý xuất khẩu Nhà nước
- Thực hiện nguyên tắc phân phối theo đúng công lao động đóng góp, điều
phối thu nhập các cá nhân, đơn vị bảo đảm công bằng hợp lý
- Sản xuất kinh doanh có hiệu quả bảo đảm lấy thu bù chi có lãi để tái sản xuất
và thực hiện nộp ngân sách nhà nước
- Ổn định và cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của cán bộ công
nhân viên công ty
2.1.1.2.3 Tính chất hoạt động của Công ty
- Thực hiện hạch toán kinh tế độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản
xuất kinh doanh, đảm bảo có lãi để tái sản xuất, mở rộng sản xuất
- Bảo toàn và phát triển vốn được giao, đồng thời giải quyết thoả đáng giữa lợi
ích cá nhân với lợi ích tập thể theo kết quả đạt được trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước quy định
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ chế độ một thủ trưởng
- Điều hành sản xuất kinh doanh trên cơ sở làm chủ của cán bộ công nhân viên
trong Công ty
- Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh theo định hướng phát
triển kinh tế của Nhà nước
Trang 322.1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17
Một bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất gọn nhẹ, mọi việc đều có người điều hành và chịu trách nhiệm, đảm bảo sử dụng lao động hiệu quả sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trôi chảy, không bị gián đoạn, tránh được những thiệt hại xảy ra trong sản xuất, góp phần ổn định và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, một bộ máy tổ chức quản lý và sản xuất cồng kềnh, quyền hạn và trách nhiệm chồng chéo nhau, lao động không có hiệu quả sẽ dẫn đến những thiệt hại đáng tiếc như ngừng sản xuất, cán bộ công nhân viên làm việc không hết mình, thiếu tinh thần trách nhiệm trong
công việc Điều này làm tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc biệt đối với lĩnh vực chế biến Thuỷ sản thì bộ máy tổ chức và quản lý phải được quan tâm, chú trọng hơn bởi giá thành luôn có sự biến động và cạnh tranh mạnh mẽ, nhất là sự biến động của yếu tố nguyên liệu đầu vào Vì vậy, để hoạt động sản xuất diễn ra liên tục, không bị gián đoạn nhưng vẫn đảm bảo mức giá mua nguyên liệu ở mức chấp nhận được, đòi hỏi công tác tổ chức quản lý và sản xuất có
sự phối hợp chặt chẽ với nhau, năng động, nhạy bén để đưa ra những quyết định đúng và kịp thời
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách trôi chảy Mọi việc đều có người điều hành và chịu trách nhiệm trực tiếp với cấp trên nhưng vẫn đảm bảo sử dụng lao động có hiệu quả
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
NH Nha Trang Seafoods
Phòng kinh doanh
Phòng tài
vụ
CH vật
tư
Nhà máy chế biến
TS
90
Phòng
tổ chức
LĐ
TL
Nhà máy chế biến
TS
17
TT kỹ thuật KCS
cơ điện lạnh
Đại hội cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Ban kiểm soát
Trang 33
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
-
2.1.2.1.1 Hội đồng quản trị
- Có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi việc liên quan đến mục
đích, quyền lợi của công ty
- Chịu trách nhiệm trước đại hội cổ đông về những sai phạm trong quản lý, vi
phạm điều lệ, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho công ty
- Chủ tịch hội đồng quản trị hoặc người được chủ tịch uỷ quyền thay mặt công
ty trước các cơ quan nhà nước và các đơn vị kinh tế khác
- Chấp hành điều lệ công ty và các nghị quyết của đại hội cổ đông Đề nghị đại
hội cổ đông sửa đổi điều lệ khi cần thiết
- Thông qua các vấn đề tăng giảm cổ phần, mệnh giá cổ phiếu, tham gia liên
doanh đầu tư mới để trình ra đại hội đồng cổ đông
- Lập quy chế, quản trị công ty, cử đại diện giữ các chức vụ quản lý hay phúc
lợi trên cơ sở chấp hành luật pháp nhà nước
- Xét duyệt, chuyển nhượng cổ phiếu có ghi danh
2.1.2.1.2 Ban giám đốc
- Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty với sự tham mưu, giúp
đỡ của các phòng ban, phân xưởng
- Phụ trách công tác đầu tư phát triển và nội chính
- Quan hệ với khách hàng trong và ngoài nước, ký kết hợp đồng kinh doanh và
chịu trách nhiệm trước những tổn thất do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, làm hao hụt tài sản, vốn, vật tư theo quy định của pháp luật, là đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật
- Xây dựng dự án sản xuất kinh doanh và các nhiệm vụ dài hạn, ngắn hạn
- Đảm bảo nguồn lực cần thiết cho hệ thống quản lý chất lượng
2.1.2.1.3 Phó giám đốc
Trang 34- Phó giám đốc có nhiệm vụ giúp cho Giám đốc về mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh trong Công ty Phó giám đốc tổ chức giải quyết các công việc nội bộ, lo việc sản xuất, tổ chức của Công ty và chịu trách nhiệm vụ trước Giám đốc
- Phó giám đốc gồm có Phó giám đốc kinh doanh và Phó giám đốc sản xuất
Mỗi Phó giám đốc chỉ đạo mỗi mãng khác nhau
· Phó giám đốc kinh doanh phụ trách trực tiếp phòng kinh doanh, phân
xưởng đặc sản và cửa hàng vật tư Trước đây, cửa hàng vật tư thuộc điều hành trực tiếp của Giám đốc, điều này làm cho Giám đốc phụ trách quá nhiều việc và sự quản
lý đối với cửa hàng vật tư là bất hợp lý Phó giám đốc điều hành cửa hàng vật tư để
có thể điều phối và phục vụ cho các phân xưởng khác Phó giám đốc kinh doanh phụ trách mảng kinh doanh, công tác đối ngoại của Công ty, nắm bắt những thông tin biến động trên thị trường để kịp thời đưa ra những định hướng, chiến lược nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
· Phó giám đốc sản xuất điều hành phòng tổ chức, phòng kỹ thuật, phân
xưởng chế biến, phân xưởng cơ điện và phân xưởng Bình Tân (gồm phân xưởng F90 và F777 Phó giám đốc sản xuất chịu trách nhiệm về công tác quản lý chỉ huy hoạt động sản xuất về mặt kỹ thuật từ khâu chuẩn bị sản xuất đến khâu bố trí điều khiển lao động, tổ chức cấp phát vật tư Hiện nay, Phó giám đốc sản xuất kiêm luôn
là Quản đốc phân xưởng chế biến
- Như vậy, cơ cấu tổ chức của Công ty đã là tinh giảm và hoạt động hiệu quả
nhưng đòi hỏi các lãnh đạo phải làm việc hết sức, có kiến thức sâu rộng vì phải điều hành quá nhiều lĩnh vực
- Khác với trước đây trong thời kỳ bao cấp, Công ty chỉ có một Phó giám đốc
phụ trách về kỹ thuật và sản xuất, hiện nay do cạnh tranh khốc liệt về mặt thị trường, nghiên cứu mở rộng Công ty, nên Công ty đã có thêm một Phó giám đốc kinh doanh để tăng thêm hiệu quả hoạt động của Công ty
2.1.2.1.4 Phòng tổ chức lao động, tiền lương
Phòng tổ chức lao động, tiền lương phụ trách công tác hành chính, quản lý nhân
sự, quản lý lao động như chất lượng lao động, trình độ lao động, quản lý công tác tiền lương, tiền thưởng, công tác BHXH, BHYT, CPCĐ cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty bao gồm các bộ phận như văn thư, lao động tiền lương, đội bảo vệ, nhà ăn, đội vệ sinh
Nhân sự phòng tổ chức lao động, tiền lương bao gồm:
s Trưởng phòng phụ trách công tác nội chính của Công ty
s Phó phòng phụ trách công tác lao động, tiền lương
s Một nhân viên văn thư
s Một nhân viên thống kê công, tính lương
s Hai tài xế xe con
2.1.2.1.5 Phòng tài vụ
Trang 35Phòng tài vụ có nhiệm vụ xem xét giải quyết các vấn đề về tài chính cho Công
ty, cho các phân xưởng và xây dựng kế hoạch tài chính, thu nhập, theo dõi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, tổ chức ghi chép, phản ánh báo cáo tình hình tài chính cho ban lãnh đạo, đề xuất các biện pháp nhằm sử dụng vốn sao cho
có hiệu quả Ngoài ra Phòng tài vụ còn có nhiệm vụ laapj báo cáo cho các cơ quan chức năng theo quy định
Nhân sự phòng tài vụ gồm:
s Một kế toán trưởng phụ trách công tác kế toán thống kê toàn Công ty
s Một thủ quỹ
s Một nhân viên kế toán công nợ kiêm kế toán ngân hàng
s Một nhân viên kế toán thành phẩm
s Một nhân viên kế toán kiêm kế toán thu chi tổng hợp
2.1.2.1.6 Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
- Phòng kinh doanh XNK có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc về phương hướng sản xuất kinh doanh, về công tác quản lý tài chính hạch toán kế toán theo đúng quy định của pháp luật Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và pháp luật Quốc tế
- Soạn thảo các hợp đồng kinh tế, tổ chức thực hiện và theo dõi tình hình thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu
- Chịu trách nhiệm tiêu thụ hàng hóa, giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước, nghiên cứu quản trị Marketing, tìm hiểu phần thị trường tiêu thụ, kế hoạch tiêu thụ, chất lượng Marketing
- Trực tiếp làm công tác xuất nhập khẩu, làm thủ tục xuất nhập khẩu
- Giao dịch với ngân hàng để thu nhận tiền, chiết khấu hoặc khiếu nại khách hàng khi có trở ngại xảy ra
- Tổ chức cung ứng bao bì cho các đơn vị trong công ty
- Tổ chức công tác thu mua, gia công chế biến thành phẩm xuất khẩu và nội địa, đồng thời xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị cá nhân có nhu cầu
- Phòng kinh doanh còn phối hợp với các phân xưởng điều tra nguồn hàng, giá
cả bán hàng Sau khi ký kết hợp đồng, phòng kinh doanh thông báo cho các phân xưởng những yêu cầu của khách hàng về số lượng, quy trình sản xuất, thời gian sản xuất để cùng nhau thực hiện hợp đồng Lúc đó các phân xưởng có liên quan chịu trách nhiệm thu mua, chế biến theo đúng yêu cầu của khách hàng để xuất hàng theo đùng hợp đồng đã ký Nễu có khó khăn khi thực hiện hợp đồng hai bên cùng nhau bàn bạc tìm biện pháp giải quyết
- Báo cáo thống kê, tổng hợp dánh giá hoạt động xuất nhập khẩu, tham mưu cho Giám đốc về những biện pháp nhằm thực hiện kế hoạch Công ty
2.1.2.1.7 Phòng kỹ thuật
Trang 36Phòng kỹ thuật chịu trách nhiệm với Giám đốc về công tác kỹ thuật như kỹ thuậ máy móc thiết bị, kỹ thuật về sản xuất như kỹ thuật về nguyên vật liệu, về sản phẩm (chất lượng sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn mà khách hàng yêu cầu), quy trình sản xuất, vi sinh, an toàn lao động cũng như vấn đề nước thải và môi trường Ngoài ra phòng kỹ thuật còn có trách nhiệm tư vấn cho Giám đốc về các phương án đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tiến kỹ thuật như: chất lượng của từng máy móc thiết bị, thế hệ máy, tuổi thọ của máy, vận hành
Phòng kỹ thuật gồm có:
- Một trưởng phòng phụ trách và chịu trách nhiệm chung về các vấn đề thuộc
về kỹ thuật của Công ty
- Một phó phòng phụ trách chất lượng máy móc thiết bị, kiểm tra vật tư phụ
tùng, quản lý định mức tiêu hao nguyên liệu, định mức sử dụng vật tư thay thế
- Ba nhân viên phụ trách chất lượng sản phẩm do Công ty sản xuất hay thu
mua
2.1.2.1.8 Nhà máy chế biến thủy sản 17
ü Phân xưởng chế biến: chuyên về hải sản tươi sống và đông lạnh
ü Phân xưởng đặc sản: chuyên về hải sản khô và muối
Hai phân xưởng phụ trách chế biến hải sản từ nguyên liệu, bán thành phẩm ra thành phẩm, quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý lao động, chất lượng sản phẩm, tổ chức hạch toán kế toán, quyết toán cấp phân xưởng như một xí nghiệp riêng biệt
2.1.2.1.9 Nhà máy chế biến thủy sản 90
Gồm 3 phân xưởng: phân xưởng chế biến, phân xưởng đặc thủy sản và phân xưởng chế biến mặt hàng cao cấp Trong 3 phân xưởng trên, phân xưởng đặc thủy sản và phân xưởng chế biến mặt hàng cao cấp chỉ mới thành lập về cơ cấu tổ chức, chưa đi vào sản xuất
2.1.2.1.10 Cửa hàng vật tư
Cửa hàng vật tư chuyên mua bán vật tư phục vụ nghề cá, có nhiệm vụ kinh doanh vật tư hàng hóa, kinh doanh hải sản, hoạch toán kinh doanh riêng biệt, là mảng kinh doanh mở rộng của công ty
2.12.1.11 Phân xưởng cơ điện
Phân xưởng cơ điện hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quản đốc phân xưởng Quản đốc phân xưởng có trách nhiệm với Giám đốc, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thông suốt, không có sự cố kỹ thuật xảy ra và có nhiệm vụ bảo quản công cụ và máy móc thiết bị
2.1.2.1.12 Nhà hàng Seafoods
Nhà hàng Seafoods là nhà hàng giới thiệu sản phẩm tại 46 Nguyễn Thị Minh Khai – Nha Trang Nhà hàng được lập ra với mục đích giới thiệu, chế biến các sản phẩm hải sản của Công ty để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước Hiện nay, nhà hàng đã hoạt động trên 6 năm, là một trong số ít nhà hàng ở Nha Trang được
Trang 37nhiều khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài ưa thích Ngoài chức năng giới thiệu sản phẩm, nhà hàng còn làm tăng được lợi nhuận cho Công ty
▼ Các phòng ban, phân xưởng của Công ty hiện nay hoạt động khá hiệu quả, có
mối quan hệ tác động nhịp nhàng nhưng không phải không có những vấn đề bất cập Nhất là khi xảy ra sự mâu thuẩn, sự đố kỵ giữa KCS phân xưởng và KCS Công
ty, khi mà KCS Công ty phát hiện ta lỗi sản phẩm Hơn nữa, giữa các bộ phận lãnh đạo và phân xưởng vẫn còn một sự cách biệt, các nhân viên của phân xưởng ít khi tiếp xúc và ngại tiếp xúc với các bộ phận lãnh đạo và có vẻ như chỉ có trưởng phòng
kinh doanh là có mối quan hệ mật thiết nhất với các phân xưởng Đây là một khiếm
khuyết mà Công ty cần khắc phục để đảm bảo sự phát triển chung của Xí nghiệp
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất
CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG F17
Nhà máy CBTS 17
Bộ phận sản xuất chính
Bộ phận sản xuất phụ trợ
Bộ phận phục vụ sản xuất
Nhà máy CBTS 90
Phân xưởng đặc sản
Phân xưởng chế biến
Phân xưởng chế biến hàng CC
Phân xưởng chế biến
Phân xưởng đặc sản
Phân xưởng cơ điện Cửa hàng vật tư Nhà hàng
Nhà ăn
Y tế Kho tàng
Trang 38Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức sản xuất của Công ty
2.1.2.2.1 Bộ phận sản xuất chính
Bao gồm 2 nhà máy CBTS 17 và 90, trong đó:
+ Phân xưởng chế biến: là phân xưởng lớn nhất của Công ty chiếm 70% doanh
số của Công ty có nhiệm vụ chính là sản xuất chế biến hàng thủy sản đông lạnh + Phân xưởng đặc sản: Phân xưởng này chuyến sản xuất các mặt hàng khô hoặc sản phẩm tẩm gia vị như: mực khô lột da, mực tẩm gia vị, cá bò da, cá mai tẩm Đây
là các mặt hàng cao cấp và đặc trưng của tỉnh Khánh Hòa nhằm phục vụ sản xuất và tiêu dùng nội địa
Ngoài ra, phân xưởng chế biến mặt hàng có độ tinh luyện cao và các sản phẩm muốn chế biến thử theo yêu cầu mới của khách hàng
2.1.2.2.2 Bộ phận sản xuất phụ trợ
Bộ phận sản xuất phụ trợ là bộ phận mà hoạt động của nó có tác dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất chính, bảo đảm cho sản xuất chính có thể tiến hành đều đặn
và liên tục Bộ phận này bao gồm:
- Phân xưởng cơ điện: Phân xưởng hạch toán độc lập (nhưng không độc lập hoàn toàn), với nhiệm vụ chính là:
s Đảm bảo lắp đặt quản lý và vận hành các loại thiết bị cấp đông, bảo quản sản phẩm sau khi đông Điều động máy móc giữa các ca sản xuất, chủ động nguồn điện và điện lạnh cho quá trình sản xuất của Công ty
s Thiết kế, lắp đặt và sữa chữa các trang thiết bị cho các doanh nghiệp khác trong cùng ngành
§ Cửa hàng vật tư: Chuyên mua bán vật tư phục vụ cho ngành Thủy sản nói chung và Công ty nói riêng nhằm tăng thu nhập cho Công ty
§ Phân xưởng nước đá: Phân xưởng có nhiệm vụ sản xuất nước cung cấp cho các phân xưởng sản xuất chính của Công ty và bán ra ngoài cho dân địa phương
§ Nhà hàng Seafoods: Trước đây nhà hàng chỉ có nhiệm vụ giới thiệu về sản phẩm thủy sản sau khi chế biến cho các đoàn khách đến tham quan và ký hợp đồng, nhưng nay nhà hàng còn tăng thêm thu nhập cho Công ty và giới thiệu sản phẩm đến đông đảo người tiêu dùng trong và ngoài nước
2.1.2.2.3 Bộ phận phục vụ sản xuất
Bộ phận phục vụ sản xuất là bộ phận đảm bảo cung ứng, cấp phát, vận chuyển
nguyên vật liệu, thành phẩm Bộ phận này gồm:
Trang 39§ Phục vụ cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty
§ Y tế: có nhiệm vụ theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
Nhìn chung, công tác tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty được đánh giá tốt và có hiệu quả Các bộ phận sản xuất chính, bộ phận sản xuất phụ trợ và bộ phận phục vụ sản xuất luôn hoạt động tương đối nhịp nhàng và hỗ trợ cho nhau nhằm rút ngắn chu kỳ sản xuất, hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn nâng cao hiệu quả
2.1.3 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÔNG TY ĐỐI VỚI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17 là một doanh nghiệp Nhà nước nằm trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa với quy mô sản xuất tương đối lớn Công ty có vai trò đối với địa phương và nền kinh tế đất nước, được thể hiện như sau:
- Hằng năm, Công ty đã sản xuất ra một khối lượng hàng hoá tương đối lớn nhằm đáp ứng cho nhu cầu lương thực thực phẩm trong nước và xuất khẩu Công ty
đã góp phần cho ngành Chế biến Thủy sản phát triển và kéo theo nó là ngành thuỷ sản cũng ngày càng phát triển hơn Ngành chế biến phát triển tạo điều kiện cho ngành khai thác và nuôi trồng phát triển
- Tổng lực lượng lao động hàng năm xấp xỉ 2000 người Như vậy, Công ty đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động với mức thu nhập tương đối ổn định
- Mỗi năm Công ty đã đóng góp cho ngân sách Nhà nước một khoảng không nhỏ và tăng qua hàng năm Bên cạnh đó, thông qua việc xuất khẩu, Công ty còn đem về cho đất nước một khoản ngoại tệ góp phần ổn định kinh tế đất nước
- Công ty cũng góp phần trong xu hướng hội nhập của kinh tế Việt Nam và thương mại Thế giới
- Một số ngành như bảo hiểm, vận tải cũng phát triển theo sự phát triển của Công ty
2.1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
2.1.4.1 Môi trường vĩ mô
Là một đơn vị sản xuất kinh doanh xuất khẩu thủy sản, khi xét đến yếu tố môi trường vĩ mô chúng ta phải xét đến cả môi trường trong nước và môi trường nước ngoài Đó là toàn bộ những yếu tố khách quan tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phân tích, nhận dạng để có những biện pháp khai thác những thuận lợi và hạn chế những khó khăn
do môi trường bên ngoài mang lại
2.1.4.1.1 Môi trường nước ngoài
Trang 40Hoạt động xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phải kể đến chính sách thương mại giữa các quốc gia Việc một quốc gia đối xử như thế nào với hàng hóa của một nước phụ thuộc vào mối quan hệ giữa hai nước đã thiết lập như thế nào, thông thường quan hệ chính trị tốt sẽ thúc đẩy quan hệ kinh tế phát triển Khi xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại (rào cản thuế quan và phi thuế quan )
Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Thủy sản nói riêng đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Đây cũng là cơ hội rất lớn cho hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường thủy sản Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng hơn, hàng thủy sản Việt Nam sẽ tham gia vào một sân chơi bình đẳng hơn Tuy nhiên quá trình này cũng đặt ngành Thủy sản trước những thách thức không nhỏ phải cạnh tranh gay gắt hơn, các hàng rào thương mại như các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe hơn, các vụ kiện chống bán phá giá dễ xảy ra hơn do các chính sách bảo hộ của các nước lớn (Mỹ, Nhật, EU )
Thủy sản ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng, đồng thời dân số trên thế giới vẫn tiếp tục tăng, mức sống của dân chúng ở nhiều khu vực cũng được nâng cao, vì vậy mọi dự báo đều thống nhất rằng nhu cầu tiêu dùng sẽ ngày một cao hơn,
và NTTS sẽ là nguồn cung cấp chính để đáp ứng nhu cầu này
Theo dự báo của Trung tâm Thủy sản Thế giới, đến năm 2020, các nước đang phát triển sẽ chiếm tới 77% tổng tiêu thụ thủy sản toàn cầu và 79% tổng sản lượng thủy sản thế giới Như vậy là, từ năm 1997 đến năm 2020, tiêu thụ thủy sản ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ 62,7 triệu tấn lên 98,6 triệu tấn (57%), trong khi các nước phát triển sẽ chỉ tăng 4%, từ 28,1% triệu tấn lên 29,2 triệu tấn
Bảng 3: DỰ BÁO TIÊU THỤ THỦY SẢN TRÊN THẾ GIỚI ĐẾN 2010 Đvt: Triệu tấn
Phi
Bắc
Mỹ
Caribê Nam Mỹ
Toàn thế giới
Dân số (triệu người)
Mức tiêu thụ
(Nguồn: www.fishtenet.gov.vn)
2.1.4.1.2 Môi trường trong nước
2.1.4.1.2.1 Điều kiện tự nhiên