1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17

132 761 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các khái niệm về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu Quan điểm của một số nhà Kinh tế học và học giả bảo hiểm trong và ngoài nước: Kinh doanh là một trong những hoạt động đầy rủi ro mạo hiể

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

  

Sau 3 tháng thực tập tốt nghiệp, được sự giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bạn

bè, ban lãnh đạo công ty và các anh chị trong Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17, em đã hoàn thành xong đề tài được giao

Có được kết quả như vậy, em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh

Tế - Trường Đại Học Nha Trang đã cung cấp và bổ sung cho em những kiến thức

vô cùng quý báu để em có thể hoàn thành tốt báo cáo chuyên đề này

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Trâm Anh, người đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành tốt đề tài được giao

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo công ty đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập tại cơ sở Bên cạnh đó, là sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác, các cô, các chú và anh chị đang công tác tại công ty trong việc tìm kiếm, thu thập số liệu một cách nhanh chóng, đầy đủ và trung thực Đặc biệt, em xin cảm ơn các anh chị trong phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu đã định hướng và giúp em hoàn thành tốt báo cáo này

Xin chân thành cảm ơn bạn bè trong và ngoài lớp đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Nha Trang, tháng 06 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thị Tình

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 4

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯ ỜNG 5

1.1.1 Các khái niệm về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu 5

1.1.2 Tính chất của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu 6

1.2 PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 8

1.2.1 Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố khách quan đưa lại 8

1.2.2 Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố chủ quan đưa lại 11

1.3 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 21

1.3.1 Đối với nền kinh tế thế giới 21

1.3.2 Đối với nền kinh tế quốc gia 22

1.3.3 Đối với các doanh nghiệp 25

1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 26

1.4.1 Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng 26

1.4.2 Lợi ích của việc hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17 29

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17 30

2.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển 31

Trang 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty 34

2.1.3 Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 37

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2008 -2010 38

2.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY TRONG GIAI ĐOẠN 2008 -2010 43

2.3 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17 GIAI ĐOẠN 2008 – 2010 49

2.3.1 Rủi ro khách quan 50

2.3.2 Rủi ro chủ quan 64

2.3.3 Nguyên nhân của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của Công ty Nha Trang Seafoods – F17 trong thời gian qua 85

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17 .90

3.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI 91

3.2 QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO 93

3.3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17 94

3.3.1 Giải pháp 1: Xây dựng mô hình tích hợp dọc với nhà cung cấp nguyên liệu trong chuỗi cung ứng tôm đông lạnh xuất khẩu của công ty NTSF 94

3.3.2 Giải pháp 2: Chủ động và tăng cường hơn nữa về Marketing xuất khẩu 101

3.3.3 Giải pháp 3: Phòng ngừa và hạn chế rủi ro từ các nghiệp vụ xuất khẩu 105

3.3.4 Giải pháp 4: Tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 111

Trang 4

3.4 CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 114

3.4.1 Thiết lập chính sách ngoại thương có tính chiến lược và duy trì một cơ chế điều hành xuất nhập khẩu ổn định, lâu dài nhằm hạn chế rủi ro chính trị, pháp lý 114

3.4.2 Nhanh chóng thiết lập trung tâm thông tin phòng ngừa và hạn chế rủi ro xuất khẩu 115

3.4.3 Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận làm công tác thương vụ ở nước ngoài 116

3.4.4 Mở rộng các hoạt động tài trợ, tư vấn xuất khẩu 116

KẾT LUẬN 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đọan 2008 -2010 40

Bảng 2: Sản lượng xuất khẩu thủy sản theo sản phẩm giai đoạn 2008 - 2010 43

Bảng 3: Cơ cấu doanh thu tiêu thụ ở các thị trường nước ngoài từ năm 2008 – 2010 47

Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu của công ty giai đoạn 2008 – 2010 49

Bảng 5: Biến động nguồn vốn của công ty giai đoạn 2008 – 2010 53

Bảng 6: Cơ cấu sản lượng thu mua nguyên liệu thủy sản năm 2008- 2010 56

Bảng 7: Giá tôm nguyên liệu từ cuối năm 2009 đến nay 58

Bảng 8: Diễn biến giá tôm xuất khẩu của công ty giai đoạn 2008 - 2010 59

Bảng 9: Tình hình xuất khẩu Ghẹ giai đọan 2008 – 2010 60

Bảng 10: Tình hình xuất khẩu Cá giai đoạn 2008 – 2010 61

Bảng 11: Cơ cấu thị trường xuất khẩu giai đoạn 2008 – 2010 65

Bảng 12: Mức thuế phá giá doanh nghiệp phải chịu khi nhập hàng vào Mỹ 66

Bảng 13: Số lượng hàng trả về từ năm 2006 – 2009 72

Bảng 14: Giá bán sang thị trường Hàn Quốc mặt hàng Nobashi tháng 11/2009 75

Bảng 15: Giá bán sang thị trường Mỹ của mặt hàng PD sống tháng 11-2009 75

Bảng 16: Cơ cấu sản phẩm Tôm thẻ đông lạnh xuất khẩu 2007 – 2010 76

Bảng 17: Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng tôm xuất khẩu theo giá trị 95

giai đoạn 2008 – 2010 95

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty 34

Sơ đồ 2: Mạng lưới phân phối thị trường xuất khẩu của công ty 65

Sơ đồ 3: Chuỗi cung ứng mặt hàng tôm xuất khẩu của công ty NTSF 69

Sơ đồ 4: Quá trình cung cấp và truy xuất thông tin theo chuỗi cho sản phẩm thủy sản nuôi 70

Sơ đồ 5: Mô hình chuỗi cung ứng mặt hàng Tôm đông lạnh của công ty NTSF 96

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Doanh thu và lợi nhuận của công ty NTSF năm 2008 – 2010 41

Biểu đồ 2: Sản lượng xuất khẩu thủy sản theo sản phẩm giai đoạn 2008 – 2010 43

Biểu đồ 3: Sự thay đổi cơ cấu thị trường tiêu thụ của công ty từ năm 2008 – 2010 47

Biểu đồ 4: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam năm 2010 52

Biểu đồ 5: Tỷ lệ các phương thức thanh toán theo giá trị thanh toán 80

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

WTO World trade organization Tổ chức Thương mại thế giới

VASEP Vietnam Association of Seafood

Exporters and Producers

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam

NAFIQUAD

National argo – forestry – fisheries quality assurance department

Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản

USDA United States Department of

USFDA United States Food and Drug

Administration

Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ

HACCP Hazard Analysis Critical Control

BRC British Retail Consortium

Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm toàn cầu( tiêu chuẩn của Hiệp hội bán lẻ Anh quốc)

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sau hơn 20 năm đổi mới, ngành thuỷ sản nước ta đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động nông thôn Theo tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), suốt giai đoạn 1990 -

2000, thuỷ sản Việt Nam luôn đứng thứ 11 trên thế giới về xuất khẩu thuỷ sản, đến năm 2007 Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 6 về xuất khẩu thuỷ sản trên thế giới, được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Năm 2010

cả nước đã xuất khẩu được 1,353 triệu tấn sản phẩm thủy sản, đạt giá trị 4,94 tỷ USD tăng trên 16% so với năm 2009 vượt kế hoạch năm khoảng 6,5%

Ngày nay, xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế toàn cầu gia tăng làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế Trong bối cảnh đó, việc tất yếu là các quốc gia phải mở cửa để hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới Việc đẩy mạnh xuất khẩu là mục tiêu hàng đầu không chỉ đối với Việt Nam mà với nhiều quốc gia trên thế giới Hưởng ứng theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công ty NTSF với trên 30 năm hoạt động trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu thủy sản luôn thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần không nhỏ trong việc tạo công ăn việc làm và tăng ngân sách cho nhà nước Để luôn vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay đòi hỏi công ty phải nỗ lực không ngừng trong việc đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, mở rộng qui mô sản xuất Đối với doanh nghiệp mà doanh thu chủ yếu là xuất khẩu thì việc giải quyết nhu cầu thị trường, tìm hiểu và mở rộng thị trường, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu là chiến lược luôn được đặt lên hàng đầu

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động xuất khẩu càng gia tăng thì rủi ro trong xuất khẩu ngày càng lớn Công ty khó có thể đẩy mạnh xuất khẩu và đảm bảo hiệu quả xuất khẩu nếu như không có những biện pháp hữu hiệu để phòng tránh, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xuất khẩu

Trang 9

Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân những rủi ro phát sinh trong quá trình xuất khẩu của Công ty NTSF rồi từ đó tìm ra những giải pháp khả thi nhằm hạn chế rủi ro xuất khẩu là một vấn đề hết sức cần thiết Điều này càng có

ý nghĩa hơn với chủ trương khuyến khích, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất

khẩu của Nhà nước Xuất phát từ những thực tế trên em đã chọn đề tài: “Rủi ro

trong hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 Hệ thống hóa lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu

 Phân tích những rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty NTSF

 Đề xuất các các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất

khẩu của công ty NTSF

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

 Đề tài nghiên cứu những rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17

 Phạm vi nghiên cứu: phân tích, các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2008 – 2010

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu tại công ty thông qua các báo cáo tình hình tài chính và các số liệu chứng từ khác tại công ty

 Phương pháp xử lý số liệu: dùng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích theo xu hướng biến động qua các năm

5 DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

 Hệ thống hoá và luận giải những vấn đề lý luận về xuất khẩu của công ty trong hoạt động xuất khẩu

 Phân tích rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian 2008 -

2010 và nguyên nhân của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty

 Kiến nghị một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian tới

Trang 10

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương:

 Chương 1 : Những lý luận cơ bản về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu

 Chương 2 : Thực trạng rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ

Phần Nha Trang Seafoods – F17

 Chương 3 : Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động

xuất khẩu của Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Trang 12

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1.1 Các khái niệm về rủi ro trong hoạt động xuất khẩu

Quan điểm của một số nhà Kinh tế học và học giả bảo hiểm trong và ngoài nước: Kinh doanh là một trong những hoạt động đầy rủi ro mạo hiểm và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh từ lâu đã trở thành câu châm ngôn quen thuộc của các nhà kinh doanh Không dám mạo hiểm trong kinh doanh, đừng nói đến kinh doanh, tuy nhiên, đó không phải là tất cả, chỉ có những người biết phân tích, đánh giá và lường trước rủi ro thì mới có nhiều cơ may nhận được khoản lợi nhuận trước đó, như là một "phần thưởng" cho sự dám chấp nhận rủi ro, mạo hiểm có tính toán, cân nhắc của họ Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho các doanh nghiệp và mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu rủi ro lại càng đa dạng và phức tạp Song điều đó không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn bó tay trước rủi ro trong kinh doanh Mặc dù không thể loại bỏ hẳn rủi ro mạo hiểm nhưng có thể hạn chế bằng cách chia ra làm nhiều mức độ để phân tán rủi ro Rủi ro trong kinh doanh là điều tất yếu, chính vì vậy danh từ “rủi ro” đã được rất nhiều nhà kinh tế và các học giả về bảo hiểm định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Frank Knight, học giả Mỹ cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” Như vậy, cách tiếp cận của ông liên quan đến thái độ của con người Những biến cố ngoài sự mong đợi chính là rủi ro, còn những biến cố mong đợi không phải là rủi ro Điều này đã giải thích cho rủi ro đối xứng, hoặc rủi ro suy đoán liên quan đến sự thành bại của một sự kiện diễn ra Thành công của người này chính là thất bại (rủi ro) của người khác

Trong khi đó, Irving Pfeffer (Mỹ) lại cho rằng “Rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác xuất” Theo ông, rủi ro gắn với hiện diện ngẫu nhiên của vạn vật, hiện tượng mà có thể đo lường được bằng xác suất Tức là rủi ro là sự ngẫu nhiên không phụ thuộc vào ý chí của con người Tuy nhiên, điều

đó không hoàn toàn đúng bởi nhiều loại rủi ro chính là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp do người gây ra

Trang 13

Ngoài ra, Marilu Hurt Mecarty thuộc Viện khoa học Kỹ thuật Georgia trong tác phẩm "Managerial Economic with Applications" xuất bản năm 1986 cũng có quan niệm tương tự Ông cho rằng:” Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”

Như vậy, đa số các nhà kinh tế và các học giả về bảo hiểm cho rằng rủi ro có thể đo lường được, có thể xác định được và điều đó cho phép chúng ta có thể lường trước và phòng ngừa cũng như hạn chế chúng đến mức tối đa Một số nhà kinh tế còn bổ sung thêm những định nghĩa về rủi ro như:

- “Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại Rủi ro là những bất trắc ngoài

ý muốn xảy trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp”

- “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”

Những định nghĩa này hầu như đều có chung quan điểm đó là xem xét rủi ro dưới góc độ những ảnh hưởng và tác động do rủi ro đem lại Có lẽ những định nghĩa này có ý nghĩa thiết thực hơn trong kinh doanh, nhất là trong xu hướng cạnh tranh gay gắt như hiện nay

Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học và thực tế xuất nhập khẩu, rủi ro trong

xuất khẩu có thể được định nghĩa như sau: "Rủi ro xuất khẩu là những bất trắc có

thể xảy ra trong quá trình xuất khẩu, làm giảm hiệu quả xuất khẩu"

1.1.2 Tính chất của các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu

- Rủi ro có tính khách quan: mọi rủi ro đều có tính khách quan, chúng có thể xảy ra bất cứ lúc nào và không phụ thuộc vào ý chí con người

- Rủi ro mang tính lịch sử: ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi giai đoạn khác nhau rủi ro có những đặc điểm khác nhau

- Với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, chiến lược kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng mạnh mẽ, chiến lược kinh tế của các quốc gia đều hướng mạnh về xuất khẩu, nên rủi ro xuất khẩu ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào từ khâu chuẩn bị nguồn

Trang 14

hàng xuất khẩu, đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng đến khâu vận chuyển, giao nhận, thanh toán Điều đó, luôn ảnh hưởng tới hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng và ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế nói chung Những bất trắc mặc dù không tác động trực tiếp đến quá trình xuất khẩu nhưng làm giảm hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp thì cũng được coi là rủi

ro xuất khẩu, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 – 2008 vừa qua

Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước Khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi (do các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các thành phần kinh tế tiến hành), hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị trường nội địa với các khu chế xuất trong nước Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của mình

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian lẫn thời gian Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn, song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau

Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế

Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản, xuất hiện từ lâu đời, ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Hình thức ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, cho đến nay nó đã phát triển mạnh và được thể hiện dưới nhiều hình thức

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh

tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ cao Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia

Trang 15

1.2 PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Rủi ro có rất nhiều loại và ngày càng phát sinh thêm những loại rủi ro mới, phức tạp hơn nhiều Để phân loại rủi ro xuất khẩu người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau Trong khuôn khổ bài báo cáo này chỉ xin phân loại rủi ro căn cứ vào các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan:

1.2.1 Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố khách quan đưa lại

Các yếu tố khách quan đó là những yếu tố do môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình xuất khẩu, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp Không giống những doanh nghiệp hoạt động trong nước môi trường hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu tương đối rộng nên những yếu tố rủi ro phát sinh từ môi trường bên ngoài ngày càng lớn Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố khách quan mang lại bao gồm: rủi ro do thiên nhiên, rủi ro chính trị, pháp lý, rủi ro do lạm phát, rủi ro do chính sách, cơ chế xuất khẩu thay đổi, rủi ro hối đoái Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu từng yếu tố cụ thể:

 Rủi ro thiên nhiên

Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: thiên tai lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, lũ lụt, sương muối… gây ra Chúng tác động xấu đến quá trình sản xuất, kinh doanh xuất khẩu và gây thiệt hại cho doanh nghiệp Những hậu quả rủi ro

do th iên nh iên gây ra thườn g rất n ghiêm trọn g, ảnh hưởn g lớn đ ến ho ạt độn g xu ất kh ẩu củ a do an h ngh iệp

Ví dụ không may do hạn hán hoặc lũ lụt trong nước, làm cho sản lượng thu hoạch thấp, chất lượng kém, giá tăng cao Doanh nghiệp thu mua không đủ số lượng để giao, chất lượng hàng hoá không đạt tiêu chuẩn như đã ký Cho nên doanh nghiệp không thực hiện được hợp đồng, chịu bồi thường hoặc là thực hiện nhưng bị thua lỗ Mặc dù mức độ và hậu quả do rủi ro thiên nhiên thường rất nghiêm trọng và khốc liệt song điều đó hoàn toàn không có ý nghĩa là chúng ta không thể phòng ngừa và hạn chế rủi ro này trong hoạt động xuất khẩu Biện pháp ưu việt được khuyến cáo cho những trường hợp này là mua bảo hiểm (nếu trị giá hàng hóa lớn)

Trang 16

hoặc các bên cùng nhau thỏa thuận chi tiết về các trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng và những thỏa thuận riêng khác tùy theo từng loại hàng hóa cụ thể

 Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi

Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, các biện pháp kinh tế, hành chính, luật pháp nhằm thực hiện điều tiết các hoạt động mua bán quốc tế của một Nhà nước trong một giai đoạn nhất định Trong rủi ro do sự thay đổi chính sách ngoại thương, doanh nghiệp có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau nhưng cơ bản nhất vẫn là những rủi ro do các qui định về hạn ngạch, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu và các quy định hành chính khác

Ví dụ: Các công ty Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, nếu không hiểu kỹ về Luật Liên Bang và Luật các tiểu bang của Mỹ, sẽ gặp phải rủi ro rất lớn,

có thể bị kiện vì vi phạm Luật về sở hữu trí tuệ, Luật chống phá giá, Luật bảo vệ người tiêu dùng …

Sự thay đổi chính sách của quốc gia nhập khẩu làm ảnh hưởng tới quốc gia xuất khẩu Ví dụ như việc Chính Phủ Nhật ban hành mức thuế nhập khẩu khẩn cấp (trong vòng 200 ngày, từ ngày 16/04/2001) đối với 3 loại nông sản nhập từ Trung Quốc: tỏi tây với thuế suất tăng từ 3% lên 256%, nấm shiitake tăng từ 4.3% lên 266% và cói từ 6% lên 106% Việc làm này nhằm bình ổn giá các sản phẩm trên tại thị trường Nhật, và dĩ nhiên gây thiệt hại nặng nề cho Trung Quốc là nhà cung cấp chính 3 mặt hàng này cho Nhật Bản

Có thể nói, đây là loại rủi ro mà các nhà kinh doanh, nhất là các nhà xuất khẩu lo ngại nhất Bởi vì, trước khi xây dựng chiến lược kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp hay quyết định ký kết một hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội và dựa trên các qui định pháp luật về quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu Một biến động mạnh về chính trị, pháp lý xảy ra có thể làm đảo lộn các kế hoạch của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp bị động

Trang 17

 Rủi ro do lạm phát, hối đoái

Rủi ro hối đoái là sự không chắc chắn về giá trị của một khoản thu nhập hay chi trả do sự biến động tỷ giá gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trị dự kiến của hợp đồng Tỷ giá là giá cả của đồng tiền này được biểu hiện thông qua đồng tiền khác nên nó cũng chịu sự chi phối của quy luật cung - cầu như giá cả của các loại hàng hoá khác tức là nó có thể ổn định, tăng hoặc giảm Khi tỷ giá biến động, giá trị của các khoản tiền, các khoản phải thu, phải trả và các chứng từ có giá (bằng ngoại tệ) tính bằng đồng nội tệ có sự thay đổi Sự thay đổi này có thể làm tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị tài sản (tính bằng đồng nội tệ) của chủ sở hữu Tổn thất do giá trị tài sản bằng đồng nội tệ của chủ sở hữu bị giảm bớt khi tỷ giá biến động được gọi là rủi

ro hối đoái Rủi ro hối đoái được hiểu theo nghĩa hẹp là rủi ro tỷ giá bởi vì sự biến động của tỷ giá theo thời gian là căn nguyên cơ bản gây nên rủi ro hối đoái

Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro hối đoái xảy ra khi ngoại tệ mà nhà xuất khẩu

sẽ nhận trong tương lai giảm giá so với bản tệ Sự biến động tỷ giá làm cho các hợp đồng xuất khẩu trở lên không chắc chắn Do vậy, doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng cần phải có biện pháp

để phòng ngừa và hạn chế những rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây nên Muốn hạn chế rủi ro này không có cách nào khác phải mở rộng tầm hiểu biết trong kinh doanh quốc tế, phân tích chính xác, nhanh nhạy các biến động trên thị trường tài chính quốc tế để có khả năng nhận rõ xu hướng vận động của tỷ giá mới có khả năng hạn chế rủi ro này

Các nhà xuất khẩu luôn gặp những rủi ro do các biến động về kinh tế Đây là một trong những rủi ro điển hình thuộc loại rủi ro do các biến động về kinh tế Khi lạm phát xảy ra ở mức cao thì một hợp đồng sinh lợi sẽ không còn ý nghĩa

Hơn nữa, do đặc điểm của quá trình kinh doanh xuất khẩu, thời gian thực hiện một hợp đồng thường tương đối dài, trung bình khoảng 30 đến 45 ngày Do

đó, xác suất xảy ra rủi ro lạm phát không phải là ít và mức độ rủi ro do lạm phát gây ra quả là một thiệt hại lớn đối với doanh nghiệp

Trang 18

 Rủi ro do sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào

Đó là sự biến động về giá cả hàng hoá, dịch vụ và giá cả các yếu tố đầu vào như giá cả nguyên vật liệu, chi phí lưu thông Rõ ràng khi giá cả tăng, việc thu mua

sẽ trở nên khó khăn hơn, lợi nhuận sẽ bị suy giảm thậm chí đến mức bị thua lỗ Nguy cơ hàng giao không đủ số lượng hoặc chậm giao là rất cao Bên cạnh việc xác định rủi ro do lạm phát, doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu không thể không tính đến loại rủi ro này

Rủi ro do sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các hợp đồng xuất khẩu có thời gian dài Rủi ro này gây ra nhiều tổn thất cho người xuất khẩu, có thể

bị thua lỗ, suy giảm uy tín thương mại, mất dần khách hàng

1.2.2 Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố chủ quan đưa lại

 Rủi ro do thiếu vốn

Để nâng cao khả năng cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ Đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam thì vốn đóng vai trò rất quan trọng Do thiếu vốn, doanh nghiệp không

đủ khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng qui mô sản xuất tối ưu Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro do thiếu vốn còn làm cho quá trình thực hiện các hợp đồng xuất khẩu không được đảm bảo, dẫn đến giao hàng chậm Từ đó, không đủ sức cạnh tranh với đối thủ và dẫn tới việc mất thị phần

 Rủi ro do thiếu thông tin

Thông tin với các nhà xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọng Các nhà xuất khẩu hơn ai hết phải là những người biết rất rõ các thông tin về giá cả, sự biến động của thị trường thế giới, đặc biệt là những thông tin về đối tác Sự thiếu những thông tin sẽ đem lại những hậu quả không xác định được doanh nghiệp Hơn nữa, việc không nắm bắt được tình hình biến động giá cả của thị trường thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước đã ký những hợp đồng với giá thấp đến khi giá thế giới tăng vọt, làm cho giá cả trong nước của mặt hàng đó cũng tăng theo, khiến doanh

Trang 19

nghiệp bị thua lỗ Chính vì thế, với sự bùng nổ thông tin như hiện nay, để nhận biết và tránh những sai lệch thông tin không còn cách nào khác là doanh nghiệp cần phải có nó như là một trong những yếu tố mà nếu không chuẩn bị trước sẽ đem đến rủi ro cho doanh nghiệp

 Rủi ro do năng lực quản lý kém và thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Đây là rủi ro được xem như là phổ biến của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Một nhà xuất khẩu có năng lực quản lý kém có thể sẽ gặp liên tiếp những rủi ro khác nhau Điều này có lẽ hoàn toàn đúng với thực trạng của đội ngũ cán bộ quản lý Việt Nam tồn tại từ thời kỳ bao cấp và từ đó thực tế cho thấy với đội ngũ cán bộ như vậy đã đem lại hiệu quả xuất khẩu rất thấp Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu làm

ăn thua lỗ do năng lực quản lý kém Hàng hoá thu gom về bảo quản không tốt, chất lượng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vẫn cứ xuất Uy tín hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu của Việt Nam còn thiếu nhân viên có trình độ nghiệp vụ ngoại thương, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự thiếu hiểu biết về pháp luật và tập quán quốc tế mà thể hiện chào hàng không sát giá, nhầm chất lượng, thiếu số lượng vi phạm giao kết trong hợp đồng và trong L/C Một khi trình độ nghiệp vụ ngoại thương của nhân viên còn yếu kém thì họ dễ dàng bị mắc lừa và hậu quả là rủi ro phát sinh thường xuyên và liên tiếp xảy ra

 Rủi ro từ các nghiệp vụ xuất khẩu

 Rủi ro trong quá trình ký kết hợp đồng xuất khẩu: Đây là khâu có nhiều rủi

ro nhất hiện nay Khâu này luôn thể hiện ở trình độ non kém của cán bộ làm công tác ngoại thương Có thể kể đến một số rủi ro thường gặp trong quá trình ký

kết hợp đồng ở các khâu sau:

Chào hàng: Đây là khâu đột phá trong toàn bộ hợp đồng xuất khẩu Doanh

nghiệp phải chú trọng chào hàng khi tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng, nhất là với những sản phẩm mới và đối tác mới Rủi ro chủ yếu là các doanh nghiệp chưa

Trang 20

nghiên cứu kỹ các yếu tố cạnh tranh, giá cả, nhu cầu thị trường Không ghi rõ hiệu lực, đơn chào hàng thay đổi

Đàm phán: Đàm phán là hành vi hay quá trình, trong đó các bên tiến hành

thương lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những điểm bất đồng, để đi đến một thỏa thuận thống nhất Đàm phán hợp đồng ngoại thương gồm nhiều giai đoạn:

 Giai đoạn chuẩn bị;

 Giai đoạn tiếp xúc;

 Giai đoạn đàm phán;

 Giai đoạn kết thúc – ký kết hợp đồng;

 Giai đoạn rút kinh nghiệm

Một số rủi ro có thể xảy ra cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gặp phải trong khâu này là do thiếu thông tin về đối tác: nắm bắt chưa đầy đủ

về thông tin sơ lược về đất nước, con người, tình hình chính trị, văn hóa của đối tác, thông tin kinh tế, cơ sở hạ tầng hoặc những thông tin liên quan đến sản phẩm chính của mình tại thị trường của đối tác , không hiểu biết đầy đủ về hàng hóa: chất lượng, quy cách, bao bì, đóng gói…, nhân viên đàm phán chưa thông hiểu các phong tục tập quán quốc tế, chưa thông thạo ngoại ngữ, kiến thức chuyên môn, thiếu nhạy bén trong khâu đàm phán, thiếu cương quyết khi có những vấn đề phải giải quyết tại chỗ do phải qua nhiều cấp trung gian, xác định chưa rõ mục đích yêu cầu từng đợt đàm phán Trong đàm phán còn bố trí nhiều cán bộ thiếu năng lực, không am hiểu về các mặt hàng cần đàm phán

+ Chuyên môn yếu:

Trong đàm phán thì cán bộ đàm phán là nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của toàn bộ quá trình đàm phán Nếu người cán bộ đàm phán không được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn về ngoại thương thì sẽ gây ra rủi ro, tổn thất lớn

+ Ngoại ngữ yếu:

Đàm phán hợp đồng ngoại thương hầu hết phải dùng tiếng nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh Nếu trình độ ngoại ngữ của cán bộ đàm phán yếu thì sẽ gây ra rất nhiều rủi ro, dễ xảy ra trường hợp hiểu lầm, hiểu sai nếu qua phiên dịch thì hoàn

Trang 21

toàn phụ thuộc vào phiên dịch, có người không đúng chuyên môn dịch sai hay không đúng ý, gây rủi ro cho mình Nếu đàm phán trực tiếp mà mà không giỏi ngoại ngữ làm người đàm phán lúng túng khi khách nước ngoài trình bày tuy không hiểu hết vấn đề nhưng vẫn gật gù đồng ý, hai bên thỏa thuận “tay bắt mặt mừng” nhưng đến khi nhận được hợp đồng fax sang nhìn rõ “giấy trắng, mực đen” mới biết mình nhầm, hay cho rằng khách hàng làm sai với thỏa thuận Thời gian đàm phán lại bị kéo dài, có thể làm lỡ phương án kinh doanh hay làm mất uy tín với khách hàng Tình trạng đọc được tiếng Anh, nhưng nghe nói còn yếu ở đội ngũ cán bộ xuất nhập khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam còn khá phổ biến Tình trạng này làm cho người đàm phán thiếu tự tin, mất thế chủ động, việc đàm phán không chính xác, làm

cả mình và khách hàng khó trình bày, không chiếm được cảm tình, có khi mất cơ hội kinh doanh vì không hiểu hay không trình bày hết lý lẽ để giải quyết hết những khúc mắc giữa hai bên Đặc biệt với những khách hàng mới, cung cách chưa quen, rất hay xảy ra những vướng mắc, tranh cãi, nhiều khi không đáng có, về các điều kiện: thanh toán, giao nhận hàng, thưởng phạt,… chỉ vì đôi bên không hiểu nhau

+ Không hiểu biết đầy đủ về hàng hóa:

Rủi ro này chủ yếu là do trong công ty còn có những cán bộ đàm phán không

am tường về hàng hóa, nên khi đàm phán các điều khoản chất lượng, quy cách và bao bì, đóng gói và bảo hành… rất dễ xảy ra sai sót gây tổn thất cho công ty

Soạn thảo ký kết hợp đồng:

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập các quyền lợi và nghĩa

vụ của các bên, trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hóa, chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa, bên mua phải thanh toán tiền hàng và nhận hàng Một hợp đồng xuất nhập khẩu có các phần:

Trang 22

 Những thông tin về chủ thể hợp đồng:

 Tên

 Địa chỉ

 Các số máy liên lạc

 Người đại diện ký kết hợp đồng

 Nội dung các điều kiện và điều khoản của hợp đồng, thông thường có:

6 Payment: (Thanh toán)

7 Packing and marking: (Bao bì và ký mã hiệu)

Trang 23

70% thời gian đàm phán tập trung cho điều khoản giá), vì vậy hợp đồng thường chứa đựng những nội dung bất lợi cho ta Thông thường, hợp đồng do các đối tác Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan… soạn thảo với cách viết tiếng Anh kiểu Phương Đông, thì tương đối đơn giản, dễ hiểu, ít vướng mắc Còn hợp đồng của đối tác Âu - Mỹ soạn thảo thì thường dài, phức tạp, nếu hợp đồng đơn giản thì lại dựa trên cơ sở hợp đồng khung rất phức tạp Nếu các doanh nghiệp không có cán bộ đàm phán, soạn thảo hợp đồng giỏi tiếng Anh và giỏi nghiệp vụ thì rất dễ gặp rủi ro Bởi lẽ, đây không phải là công việc dễ dàng, ngay cả những luật sư chuyên nghiệp cũng dễ mắc sai lầm khi soạn thảo và ký kết hợp đồng Chưa am hiểu hết luật pháp quốc tế khi thảo hợp đồng, hợp đồng còn chưa chặt chẽ Vấn đề

rà soát hình thức và nội dung của hợp đồng chưa kỹ, so sánh với các điều khoản đã đàm phán Ngôn ngữ sử dụng nhiều khi còn chưa rõ ràng, mập mờ dễ dẫn đến hiểu theo nhiều cách, do đó sẽ có nhiều rủi ro không đáng có

 Rủi ro trong khâu chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu:

Đây là khâu quan trọng nhất sau khi hợp đồng đã được ký kết Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng gặp khá nhiều rủi ro trong công việc huy động, thu mua

nguyên liệu đầu vào cho sản xuất:

- Rủi ro do khan hiếm nguồn hàng cung ứng cho xuất khẩu: Do những

yếu tố bất lợi về thời tiết, dịch bệnh, nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất có thể

dẫn đến khan hiếm nguồn hàng xuất khẩu Doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu có

lẽ là người phải chịu nhiều rủi ro trong khâu này hơn cả do phải lệ thuộc vào người sản xuất, đại lý thu gom Rủi ro thường hay gặp nhất của doanh nghiệp trong khâu này là khi ký hợp đồng với khách hàng nước ngoài rồi mới chuẩn bị hàng sau Đó là các đại lý giao không đủ số lượng hoặc đủ số lượng nhưng chất lượng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, dẫn đến hậu quả có thể bị phạt do vi phạm hợp đồng, suy giảm lợi nhuận, suy giảm uy tín thương mại, nguy cơ mất thị trường và khách hàng, phat sinh nhiều chi phí để giải quyết lượng hàng đã được chuẩn bị nhưng không xuất khẩu được Tình trạng này đã xảy ra không ít ở Việt Nam với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, thủy sản, rau quá chế biến Nguyên nhân dẫn đến rủi ro này thì

Trang 24

có nhiều nhưng chủ yếu vẫn là do các doanh nghiệp xuất khẩu đã không có được kế hoạch bền vững và nhất quán trong sản xuất và cung ứng mặt hàng xuất khẩu, không gắn kết được kế hoạch xuất khẩu với kế hoạch thu mua hàng hóa, không lường trước được những yếu tố biến động về nguồn hàng để có được những thỏa thuận hợp lý với đối tác

- Rủi ro do sự biến động giá cả hàng hóa: Trong nền kinh tế thị trường, sự

biến động của giá cả hàng hóa diễn ra một cách thường xuyên dưới nhũng tác động của hàng loạt các yếu tố từ môi trường kinh tế vĩ mô và những điều chỉnh trong chính sách vi mô của mỗi quốc gia Với những biến động giảm giá thường ít được xem như là rủi ro trong quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu, ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu để đảm bảo chắc chắn nguồn hàng đã ký hợp đồng thu mua với số lượng lớn hơn nhiều lượng hàng xuất khẩu của hợp đồng Khi đó với mức độ xuất khẩu hạn chế sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp Các trường hợp còn lại thường được xem xét khi giá cả hàng hóa có biến động tăng Rõ ràng khi giá cả tăng, việc thu mua sẽ trở nên khó khăn hơn, lợi nhuận sẽ bị suy giảm đến mức thậm chí bị thua lỗ Nguy cơ hàng giao không đủ số lượng hoặc chậm giao là rất cao Người xuất khẩu lúc này có thể bị thua lỗ, bị phạt hợp đồng, suy giảm uy tín thương mại, mất dần khách hàng

- Rủi ro do mất khả năng kiểm soát về chất lượng và số lượng hàng hóa xuất khẩu: Đây là rủi ro có nguyên nhân từ những hành vi chủ quan của những

người tham gia và có liên quan đến công tác chuẩn bị hàng xuất khẩu Người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu, vì những nguyên nhân khác nhau bị mất khả năng kiểm soát về số lượng và chất lượng lô hàng do được tập kết cùng thời điểm với số lượng lớn, do chủ quan và tin tưởng ở những bên cung ứng, do thiếu kiểm soát trong các giao hàng tay ba (giữa nhà sản xuất với người xuất khẩu và người vận chuyển hoặc người nhập khẩu), thiếu các phương tiện kiểm tra chất lượng, do điều kiện thời tiết bất lợi hoặc những điều kiện khác như chiến tranh, bạo động …

Những rủi ro có thể gặp cho người xuất khẩu như do chuẩn bị không đầy đủ

về mặt số lượng, chất lượng, không đúng quy cách, lẫn tạp chất, bao bì thiếu … khi

Trang 25

đó người xuất khẩu phải sửa chữa hàng hóa, thay thế bằng hàng hóa khác, tiến hành

bổ sung hoặc thay thế bao bì Mức độ thiệt hại sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ vi phạm về số và chất lượng so với hợp đồng hoặc thỏa thuận

 Rủi ro trong quá trình vận chuyển, giao nhận hàng hóa:

- Rủi ro do người mua không nhận hàng: Đó là lẽ thường trong kinh doanh

nói chung và trong thương mại quốc tế nói riêng Như vậy thì việc nhận hàng chính

là quyền lợi của người mua Tuy nhiên, đi kèm với quyền lợi được nhận hàng thì trong các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms) người ta cũng quy định nghĩa

vụ của người mua là phải trả tiền và nhận hàng Điều này nghĩa là, một khi người bán đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình thì người mua không được quyền từ chối nhận hàng Với cách lập luận như vậy thì một khi người mua không muốn nhận hàng thì phải tìm mọi cách chứng minh rằng người bán đã có lỗi trong quá trình giao hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng Nhu vậy, khi người mua không nhận hàng sẽ được xem như là rủi ro đã xảy ra với người bán

Nguyên nhân dẫn đến người mua không nhận hàng có thể là gặp tình thế bất lợi (giá cả giảm nhanh sẽ thua lỗ khi nhận hàng hoặc tình thế thị trường có những bất lợi do cạnh tranh), người mua nghi ngờ về chất lượng lô hàng đa giao, người bán có lỗi khi giao hàng (không đúng về chủng lợi, số lượng, thời gian giao hàng) Thiệt hại mà người xuất khẩu phải gánh chịu thường là chi phí khiếu kiện, thời gian lưu tàn, lưu kho và đôi khi là rất lớn do phải nhập khẩu hoặc chuyển bán

lô hàng sang một khu vực thị trường khác

 Rủi ro trong quá trình vận chuyển, mua bảo hiểm cho hàng hóa:

Với đặc điểm hàng hóa xuất khẩu thường có một khối lượng lớn, với nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng, phải di chuyển qua biên giới của ít nhất một quốc gia, đặc biệt thường được vận chuyển bằng đường biển nên luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây rủi ro và khi bị rủi ro, mức độ thiệt hại thường rất lớn Thực tế những rủi ro gặp phải trong quá trình vận chuyển, mua bảo hiểm cho hàng hóa thường chiếm tỷ lệ rất cao và rất đa dạng so với các quá trình khác của quy trình thực hiện nghiệp vụ xuất

Trang 26

khẩu Có thể tìm hiểu một số rủi ro đặc trưng trong quá trình vận chuyển và mua bảo hiểm hàng hóa dưới đây:

 Các rủi ro do lựa chọn hãng tàu không tin cậy, tàu không đủ khả năng đi biển

Rủi ro do chủ tàu cung cấp những con tàu không đủ khả năng đi biển để chuyên chở hàng hóa Mặc dù trong công ước quốc tế về vận tải bằng đường biển cũng đã quy định rõ rằng, chủ tàu phải có nghĩa vụ cung cấp cho người thuê tàu con tàu đủ khả năng đi biển, nhưng để tập hợp chứng cứ chứng minh con tàu không đủ khả năng đi biển lại không mấy dễ dàng khi mà chủ tàu đã tìm đủ mọi cách hợp thức hóa khả năng đi biển của con tàu bằng những bằng chứng đôi khi là gian lận Trong hành trình, do không đủ khả năng đi biển tàu có thể gặp trục trặc và kéo theo rất nhiều chi phí phát sinh, lịch trình bị kéo dài, hư hỏng hàng hóa… Tổn thất mà người mua phải gánh chịu đôi khi rất lớn (mất hàng, hàng bị hư hỏng, lỡ cơ hội kinh doanh, bị phạt, chi phí khắc phục sự cố…)

 Các rủi ro do những tai họa tiềm ẩn trong quá trình vận chuyển: Đây

được coi là nhóm rủi ro phức tạp đa dạng nhất trong quá trình vận chuyển đường biển Vận chuyển đường biển luôn tiềm ẩn quá nhiều hiểm họa trên cả mặt biển và dưới mặt nước biển, các va chạm với vật thể không phỉa là nước, sự khắc nghiệt và bất thường của các hiện tượng tự nhiên như mưa bão, động đất, băng tan, băng trôi

… các hiện tượng do con người như bạo động, cấm vận, đình công, chiến tranh Nhóm rủi ro này thường được đề cập nhiều nhất trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển Theo phân loại trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển, có thể liệt kê một số loại rủi ro chủ yếu thuộc nhóm này như:

+ Cháy hoặc nổ;

+ Tàu hay xà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp;

+ Những hy sinh tổn thất chưng, ném hàng khỏi tàu để đảm bảo an toàn cho toàn bộ hành trình đi biển;

+ Rủi ro chiến tranh, đình công, bạo động, cấm vận…

+ Các nguyên nhân khác

Trang 27

Mặc dù ngày nay, con người đã tìm ra mọi cách để hạn chế tối đa những sự

cố có thể xảy ra rủi ro trong quá trình vận chuyển trên biển, nhưng tỷ lệ rủi ro vẫn chiếm khá cao so với các qua trình khác trong quy trình nghiệp vụ thương mại quốc

tế Khi xảy ra rủi ro, tổn thất mà các bên phải gánh chịu không phải là nhỏ và không phải chỉ riêng chủ hàng

 Những rủi ro trong quá trình thanh toán tiền hàng:

Thanh toán tiền hàng luôn là khâu quan trọng trong quy trình tác nghiệp thương mại quốc tế đặc biệt với người xuất khẩu Có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau và mỗi phương thức có những ưu điểm, những hạn chế khác nhau Sư dụng phương thức thanh toán chắc chắn, có sự ràng buộc như thanh toán bằng L/C sẽ loại trừ được nhiều nguy cơ rủi ro trong giao dịch như: lừa đảo, không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng …, nhưng lại đòi hỏi các bên phải rất chú ý và thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định trong L/C Vì vậy mà trong nghiệp vụ thanh toán tiền hàng cũng luôn hàm chứa những rủi ro ở mức độ và quy mô khác nhau đối với người xuất khẩu…

- Rủi ro từ ngân hàng mở L/C: Trong thanh toán bằng L/C, ngân hàng mở

L/C cam kết sẽ trả tiền cho người bán khi người bán thực hiện đầy đủ những nội dung được nêu ra trong thư tín dụng Hay nói cách khác, thanh toán bằng L/C là phương thức thanh toán dựa vào chứng từ chứ không dựa vào thực tế hàng hóa và khi người xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu thì ngân hàng mở L/C buộc phái thanh toán Vì thế, việc thanh toán tiền hàng phần nhiều phụ thuộc vào ngân hàng mở L/C mất khả năng tài chính hoặc không trung thực hoặc cố ý chây ỳ, lừa đảo trong thanh toán Với những trường hợp này, khả năng lấy được tiền hàng của người xuất khẩu dường như bằng không cho dù có sự tác động mạnh từ

ngân hàng của người xuất khẩu

- Rủi ro do bộ chứng từ thanh toán không phù hợp quy định của L/C:

Thư tín dụng (L/C) có hai tính chất quan trọng, một là tính độc lập (L/C được mở trên cơ sở của một thỏa thuận, nhưng khi đã mở rồi thì L/C lại độc lập với hợp đồng

và trực tiếp điều chỉnh tất cả các chứng từ liên quan), hai là, tính hình thức của L/C

Trang 28

(mọi sai sót dù chỉ là về hình thức giữa chứng từ và L/C đều không được chấp nhận cho dù về nội dung không có gì sai sót, nghĩa là khi thanh toán bằng L/C yêu cầu đầu tiên là bộ chứng từ phảiphù hợp với yêu cầu của L/C về hình thức Đây được coi là một tính chất rất máy móc của L/C) Chính vì vậy, trong thanh toán bằng L/C, những sai sót trong bộ chứng từ so với yêu cầu của L/C thường rất hay xảy ra Những sai sót có thể là: không thống nhất khi thể hiện đơn vị đo lường trên các chứng từ khác nhau; ghi sai hoặc không rõ đơn vị tiền tệ; thể hiện không thống nhất về giá trị lô hàng; ghi không đầy đủ thiếu thống nhất tên và địa chỉ các bên trên chứng từ; chứng từ không đầy đủ như quy định của L/C; chứng từ được cấp không đúng thẩm quyền theo yêu cầu L/C… Nói chung là mọi sai sót dù là nhỏ giữa chứng

từ và yêu cầu của L/C đều có thể bị từ chối thanh toán

Tổn thất mà người xuất khẩu gánh chịu trong trường hợp này thường là bị chậm được trả tiền hoặc bị từ chối trả tiền; phải chấp nhận giảm giá để được trả tiền hoặc phải lập lại bộ chứng từ… dẫn đến không những mất thời gian, lỡ cơ hội kinh doanh mà còn thiệt hại về tài chính do chậm nhận được tiền và phải giảm giá Mức

độ thiệt hại sẽ tăng lên khi đối tác (người nhập khẩu hoặc ngân hàng mở L/C) không

có thiện chí, gây sức ép đối với người xuất khẩu

Việc phân chia rủi ro theo các nhóm như trên là nhằm tạo điều hiện thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu và vận dụng các biện pháp khác nhau trong quá trình phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong doanh nghiệp xuất khẩu

1.3 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

1.3.1 Đối với nền kinh tế thế giới

Xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương là hoạt động đầu tiên trong thương mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như là trên toàn thế giới

Do những điều kiện khác nhau nên mỗi quốc gia đều có thế mạnh riêng về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác Để khai thác được lợi thế và giảm thiểu những bất lợi, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau, xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi nhất, nhập khẩu những sản phẩm mà mình bất lợi nhất

Trang 29

trong sản xuất Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu không nhất thiết phải diễn ra giữa các nước có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác Điều này được thể hiện trong

lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo: “Nếu một quốc gia

có hiệu quả thấp hơn so với quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của mình” Và khi tham gia vào thương mại quốc tế thì “quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hoá sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu các loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng là bất lợi lớn nhất” Tức là một quốc gia dù có bất lợi trong việc sản xuất đến đâu vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác lợi thế Bằng việc khai thác các lợi thế này các quốc gia tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế tương đối

1.3.2 Đối với nền kinh tế quốc gia

Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều chỉ ra rằng: Để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật công nghệ Nhưng hầu hết các quốc gia đang phát triển đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ thì làm thế nào có thể tăng trưởng và phát triển kinh tế được Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để có vốn và kỹ thuật?

1.3.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp phát triển

Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu chậm phát triển Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi phải có một số lượng vốn rất lớn

để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến

Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn cho nhập khẩu, một số nước có thể sử dụng nguồn vốn huy động chính như sau:

- Thu từ xuất khẩu

- Đầu tư nước ngoài

Trang 30

- Vay nợ các nguồn viện trợ

- Thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước

Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng Sử dụng nguồn vốn này, các nước đi vay thường phải chịu thiệt thòi, phải chịu các o ép và sẽ phải trả sau này Bởi vậy thu từ xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, quyết định đến qui mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu Ở đa số các nước, một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu vốn Do đó, nguồn vốn từ bên ngoài được coi là nguồn chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện thực

1.3.2.2 Xuất khẩu thúc đẩy sản xuất phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu xuất khẩu và tiêu dùng của thế giới đã, đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Thứ nhất: Chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội

địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó, các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển

Thứ hai: Coi thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất

khẩu Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất, thể hiện:

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm hấp tẩy sẽ có điều kiện phát triển

Trang 31

- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo ra lợi thế kinh tế nhờ qui mô

- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,

mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia Ngoại thương có thể cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều lần giới hạn sản xuất của quốc gia đó

- Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng hiệu quả sản xuất của từng quốc gia Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Ngày nay, mỗi một loại sản phẩm người ta có thể nghiên cứu thử nghiệm ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước thứ năm Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mọi nước và tiêu thụ ở nhiều nước khác nhau cho thấy tác động ngược trở lại của hoạt động xuất khẩu đối với việc chuyên môn hoá sản xuất, tạo điều kiện cho chuyên môn hóa sâu

1.3.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân

Xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Xuất khẩu làm tăng GDP,làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân,từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa, đây chính là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế ,nhất là trong ngành sản xuất hàng xuất khẩu Như vậy có, xuất khẩu tạo ra động lực cần thiết cho việc giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế Điều này nói lên tính khách quan của tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế

Với đặc điểm quan trọng là ngoại tệ được sử dụng làm phương tiện thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia Đặc biệt là đối với những nước chậm phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cầu ngoại

tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trang 32

1.3.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại

Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có mối tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu cơ bản và là hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó nó thúc đẩy các mối quan hệ khác phát triển theo như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế Ngược lại, sự phát triển của các ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất khẩu phát triển

Xuất khẩu nói riêng và ngoại thương nói chung dẫn tới sự thay đổi của những loại hàng hoá có thể tiêu dùng được trong nền kinh tế bằng hai cách:

- Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng khác với số lượng hàng hoá sản xuất ra

- Cho phép một sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác động của xuất khẩu đối với các quốc gia này không giống nhau

1.3.3 Đối với các doanh nghiệp

Ngày nay, mở rộng quan hệ với các thị trường ngoài nước là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ đem lại các lợi ích sau:

- Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan

hệ kinh doanh với các bạn hàng trong nước và nước ngoài, trên cơ sở hai bên cùng

có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp

- Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình sản xuất không những cả về chiều rộng mà còn cả chiều sâu Thêm vào đó hoạt động xuất khẩu còn khuyến khích sự phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn

Trang 33

như hoạt động đầu tư nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, Marketing

và sự phân phối, sự mở rộng trong việc cấp giấy phép

- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo

ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, vừa thu hút được lợi nhuận

- Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở lợi ích của cả hai bên

1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.4.1 Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng

Hạn chế rủi ro là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ với các doanh nghiệp Việt Nam mà còn với nhiều doanh nghiệp trên thế giới Bài học của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007 -2008 vừa qua là một ví dụ điển hình của rủi ro với môi trường kinh tế toàn cầu Nhiều doanh nghiệp do không lường trước được hậu quả của cuộc khủng hoảng nên đã dẫn đến phá sản

Trong hoạt động xuất khẩu, bên cạnh những khó khăn về không gian, khoảng cách địa lý, ngôn ngữ bất đồng các doanh nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn và rủi

ro khác như biến động chính trị, chiến tranh, thiên tai Doanh nghiệp Việt Nam có qui mô nhỏ và thiếu vốn nên công nghệ chế biến còn lạc hậu do đó gặp rất nhiều bất lợi về giá Trong khi đó sự đầu tư của Nhà nước lại thiếu quy hoạch, đầu tư cho xuất khẩu chưa có một chiến lược, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu

Trước đây phần lớn các doanh nghiệp được phép xuất khẩu trực tiếp là những doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu Do đó, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu Nếu doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu không ký được hợp đồng thì doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu bị động Ngược lại doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu ký được hợp đồng thì nhiều khi không đủ hàng để giao Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là xuất FOB, nhập CIF: Nguyên nhân một phần là do các nhân viên xuất

Trang 34

nhập khẩu chưa thông thạo về các nghiệp vụ xuất khẩu, đặc biệt là nghiệp vụ thuê tàu Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay rất thiếu thông tin về thị trường thế giới và khả năng thanh toán của khách hàng, đặc biệt là đối với thị trường tiềm năng đang ở giai đoạn thâm nhập thì các doanh nghiệp này lại càng thiếu thông tin

1.4.2 Lợi ích của việc hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu

 Hạn chế rủi ro trong xuất khẩu có vai trò rất quan trọng và quyết định đối với một thương vụ xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam Hạn chế rủi ro trong xuất khẩu góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu và giúp doanh nghiệp

có nhiều tích luỹ hơn để có thể tái đầu tư, thay đổi công nghệ chế biến và có thể nâng cao được chất lượng hàng xuất khẩu

 Hạn chế rủi ro trong xuất khẩu góp phần giảm thiểu những thiệt hại mà doanh nghiệp không lường trước được, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong các thương vụ giao dịch, đấu thầu và cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới

 Hạn chế rủi ro trong xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp nâng cao được doanh số và lợi nhuận, có điều kiện trả lương cao cho công nhân của mình, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của luận văn giúp người đọc hiểu được những kiến thức cơ bản về rủi ro và rủi ro xuất khẩu; tính chất của rủi ro và ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp; phân loại rủi ro từ đó là cơ sở để phân tích các rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty NTSF Chương này cũng đề cập đến vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế thế giới, đối với nền kinh tế quốc gia và đối với bản thân các doanh nghiệp

Những kiến thức cơ bản này sẽ được vận dụng để phân tích rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17, tìm ra các rủi ro chính tác động đến hoạt động xuất khẩu của công ty và nguyên nhân của các rủi ro này từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa và hạn chế các rủi ro này nhằm mang lại hiệu quả xuất khẩu cao hơn cho công ty

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17

Trang 37

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17

Tên Công ty: Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods - F17

NHA TRANG SEAPRODUCT COMPANY

Trang 38

2.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển

Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17 trực thuộc sở Thủy Sản Khánh Hòa, là một trong những lá cờ đầu của ngành thủy sản Khánh Hòa nói riêng và ngành thủy sản Việt Nam nói chung Khi thành lập công ty tiếp nhận cơ sở của một xưởng tư nhân người Nam Triều Tiên, chuyên sản xuất hàng đông lạnh từ trước năm 1975 tại 51- 53 Lý Thánh Tôn, Nha Trang Sau đó, công ty được Nhà nước tiếp nhận quản lý từ sau 30/04/1975 với tên Xí nghiệp Đông lạnh Nha Trang Năm

1978, được Ủy ban nhân dân Tỉnh Khánh Hòa giao thêm cơ sở chế biến đông lạnh tại địa điểm 58B đường 2/4, Vĩnh Hải, Nha Trang; Xí nghiệp đông lạnh Nha Trang

đã chuyển toàn bộ nhân sự và máy móc thiết bị sang địa điểm mới và hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển Tháng 12/1993, Xí nghiệp Đông lạnh đổi tên thành Công ty Chế biến thủy sản xuất khẩu, được cấp giấy phép xuất khẩu trực tiếp, đến tháng 12/2004, chuyển đổi hình thức sở hữu cổ phần với tên gọi Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17, công ty hoạt động với vốn sở hữu tư nhân 100%

- Với nỗ lực cố gắng không ngừng của ban lãnh đạo và toàn thể công nhân viên chức, công ty đã đạt được một số kết quả sau:

 Huân chương Lao động hạng Ba năm 1981

 Hai Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1995, 1994

 Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1996

 Năm 1998, được tặng 1 biểu tượng “Đơn vị có uy tín về chất lượng TSXK”

 Tháng 10/2001 công ty đạt tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001 về quản lý chất lượng và chứng chỉ an toàn thực phẩm HACCP do Surefish USA cấp và là doanh nghiệp thứ hai nhận được chứng nhận này

 Năm 2007, công ty được Bộ Thương Mại tặng danh hiệu đơn vị xuất khẩu uy tín bốn năm liên tục 2004 - 2005 - 2006 - 2007

- Công ty có ba nhà máy chế biến thuỷ sản đặt tại thành phố Nha Trang (trong

đó hai nhà máy F.17 và F.90 đã được cấp code DL17 và DL90 xuất khẩu vào thị trường Châu Âu, Hàn Quốc và một nhà máy đạt tiêu chuẩn ngành đang xin cấp giấy chứng nhận vào Châu Âu, Hàn Quốc), hai siêu thị bán các mặt hàng thực phẩm thủy

Trang 39

sản nội địa, một cửa hàng mua bán thiết bị vật tư thuỷ sản và một nhà hàng Nha Trang Seafoods

- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu :

 Đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản; Chế biến thực phẩm

 Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng

 Sản xuất, gia công, lắp đặt máy, thiết bị công nghiệp và thiết bị lạnh

 Mua bán máy móc thiết bị và vật tư

- Doanh số xuất khẩu 40 triệu USD với sản lượng 8.000 tấn mỗi năm

- Công suất cấp đông 70 tấn/ngày, công suất kho lạnh 5.700 tấn

- Hệ thống quản lý chất lượng :

 Tiêu chuẩn an toàn vệ sinh trong chế biến thủy sản của Bộ thủy sản Việt Nam: Công ty có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh trong chế biến thủy sản

do Cục quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (Nafiquaved)

 Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát các điểm kiểm soát tới hạn HACCP( Hazard Analysis Critical Control Points)

 Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm toàn cầu BRC GLOBAL STANDARD FOOD (British Retail Consortium Global Standard Food - Tiêu chuẩn thực phẩm toàn cầu của Hiệp hội bán lẻ Anh quốc) phiên bản năm 2005 Tiêu chuẩn BRC có phạm vi chứng nhận cho quá trình chế biến sản phẩm tôm tươi và tôm hấp chín đông lạnh

 Hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001- 2000, quy định các yêu cầu đối với một hệ thống chất lượng trong việc cung cấp sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các yêu cầu chế định tương ứng nhằm nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng

 Hệ thống quản lý chất lượng ACC, chứng nhận cơ sở chế biến sạch

Công ty đã thiết lập trung tâm KT – KCS có trách nhiệm điều hành hệ thống quản lý chất lượng, xây dựng và giám sát chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất Giám sát về mẫu mã, quy cách, thực hiện kiểm tra vi sinh, thực hiện và giám sát thực hiện các hệ thống quản lý chất lượng đang áp dụng

Trang 40

- Thị trường xuất khẩu chính: Mỹ, Nhật, EU, Hàn Quốc, Hồng Kông, Úc, Canada, Đài Loan, Ai Cập…

- Sản phẩm xuất khẩu chính :Các loại mặt hàng tôm, mực, cá, ghẹ, đông lạnh; các loại hải sản khô và tẩm gia vị

Ngày đăng: 14/08/2014, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Nguyễn Quang Thu (2008), Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Quang Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
2. PGS.TS. Võ Thanh Thu (2006), Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu
Tác giả: PGS.TS. Võ Thanh Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2006
3. TS. Nguyễn Thị Trâm Anh, SV. Huỳnh Phan Thúy Vi (2010), “Tiếp cận chuỗi cung ứng nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh cho mặt hàng tôm thẻ chân trắng – trường hợp Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17”, Tạp chí khoa học và công nghệ. Số 5(40).2010, trường Đại Học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận chuỗi cung ứng nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh cho mặt hàng tôm thẻ chân trắng – trường hợp Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17”, "Tạp chí khoa học và công nghệ
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Trâm Anh, SV. Huỳnh Phan Thúy Vi
Năm: 2010
4. Nguyễn Thị Liên (2009), “Nghiên cứu chuỗi cung ứng mặt hàng tôm thẻ chân trắng đông lạnh của Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17”, Khoa Kinh tế, trường Đại Học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chuỗi cung ứng mặt hàng tôm thẻ chân trắng đông lạnh của Công ty Cổ Phần Nha Trang Seafoods – F17
Tác giả: Nguyễn Thị Liên
Năm: 2009
5. Khúc Tuấn Anh (2009), “Truy xuất nguồn gốc – thách thức và sự cần thiết phải thực hiện truy xuất nguồn gốc thủy sản tại Việt Nam”, Hoạt động hội nghị hội thảo Nha Trang 12-09, Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản 12-09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truy xuất nguồn gốc – thách thức và sự cần thiết phải thực hiện truy xuất nguồn gốc thủy sản tại Việt Nam”, "Hoạt động hội nghị hội thảo Nha Trang 12-09
Tác giả: Khúc Tuấn Anh
Năm: 2009
6. Nhóm sinh viên Đại Học Ngoại Thương (2009), “Giải pháp phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam”, Tạp chí sinh viên nghiên cứu khoa học 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam”
Tác giả: Nhóm sinh viên Đại Học Ngoại Thương
Năm: 2009
7. VASEP (12/2010), “Thi hành Luật thủy sản: nhiều bất cập”, Bản tin Thương mại thủy sản, số 132, tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành Luật thủy sản: nhiều bất cập”, "Bản tin Thương mại thủy sản

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2.1. Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
2.1.2.1. Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty (Trang 41)
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu của công ty giai đoạn 2008 – 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 4 Kim ngạch xuất khẩu của công ty giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 56)
Bảng 5: Biến động nguồn vốn của công ty giai đoạn 2008 – 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 5 Biến động nguồn vốn của công ty giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 60)
Bảng 6: Cơ cấu sản lượng thu mua nguyên liệu thủy sản năm 2008- 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 6 Cơ cấu sản lượng thu mua nguyên liệu thủy sản năm 2008- 2010 (Trang 63)
Bảng 7: Giá tôm nguyên liệu từ cuối năm 2009 đến nay - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 7 Giá tôm nguyên liệu từ cuối năm 2009 đến nay (Trang 65)
Bảng 8: Diễn biến giá tôm  xuất khẩu của công ty giai đoạn 2008 - 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 8 Diễn biến giá tôm xuất khẩu của công ty giai đoạn 2008 - 2010 (Trang 66)
Bảng 9: Tình hình xuất khẩu Ghẹ giai đọan 2008 – 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 9 Tình hình xuất khẩu Ghẹ giai đọan 2008 – 2010 (Trang 67)
Bảng 10: Tình hình xuất khẩu Cá giai đoạn 2008 – 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 10 Tình hình xuất khẩu Cá giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 68)
Sơ đồ 2: Mạng lưới phân phối thị trường xuất khẩu của công ty - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Sơ đồ 2 Mạng lưới phân phối thị trường xuất khẩu của công ty (Trang 72)
Bảng 11 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu giai đoạn 2008 – 2010 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 11 Cơ cấu thị trường xuất khẩu giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 72)
Bảng 12: Mức thuế phá giá doanh nghiệp phải chịu khi nhập hàng vào Mỹ - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 12 Mức thuế phá giá doanh nghiệp phải chịu khi nhập hàng vào Mỹ (Trang 73)
Sơ đồ 3: Chuỗi cung ứng mặt hàng tôm xuất khẩu của công ty NTSF - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Sơ đồ 3 Chuỗi cung ứng mặt hàng tôm xuất khẩu của công ty NTSF (Trang 76)
Sơ đồ 4: Quá trình cung cấp và truy xuất thông tin theo chuỗi - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Sơ đồ 4 Quá trình cung cấp và truy xuất thông tin theo chuỗi (Trang 77)
Bảng 13: Số lượng hàng trả về từ năm 2006 – 2009 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 13 Số lượng hàng trả về từ năm 2006 – 2009 (Trang 79)
Bảng 15: Giá bán sang thị trường Mỹ của mặt hàng PD sống tháng 11-2009 - Rủi ro trong hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần nha trang seafoods – f17
Bảng 15 Giá bán sang thị trường Mỹ của mặt hàng PD sống tháng 11-2009 (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w