Vấn đề đặt ra hiện nay là nâng cao chất lượng thủy sản tại các chợ địa phương, cảng cá bảo đảm thực phẩm an toàn đến tay người tiêu dùng trong nước, bảo đảm sức khỏe của người tiêu dùng
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Để có thể hoàn thành đồ án của mình em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều
từ thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Em xin chân thành gửi lời cám ơn đến:
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thuần Anh, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đồ án và hoàn thành báo cáo này
Thầy Lưu Hồng Phúc đã luôn giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đồ án
Em xin cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện đồ án
Em xin gửi lời chúc sức khỏe, thành công và hạnh phúc đến quí thầy cô, gia đình và bạn bè
Nha Trang, ngày 20 tháng 6 năm 2012 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Tuyết Sương
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 TỔNG QUAN NGÀNH THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 3
1.1.1 Thủy sản Việt Nam 3
1.1.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam 8
1.1.3 Thủy sản Bà Rịa – Vũng Tàu 12
1.1.4 Tình hình xuất khẩu thủy sản ở Bà Rịa – Vũng Tàu 16
1.2 HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN TẠI VŨNG TÀU 20
1.3 TÌNH HÌNH VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 23
1.4 VAI TRÒ NGƯỜI CUNG ỨNG VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 27
1.5.TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT DÙNG BẢNG CÂU HỎI 28
1.5.1 Phỏng vấn cá nhân (PAPI/CAPI) 29
1.5.2 Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI) 30
1.5.3 Các cuộc điều tra qua thư 31
1.5.4 Phỏng vấn trực tiếp bằng máy vi tính (CASI/CAWI) 32
1.5.5 Các cuộc điều tra qua điện tử 33
1.5.6 Các cuộc điều tra qua Imternet/mạng nội bộ (các trang Web) 34
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
Trang 32.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 36
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.2.1 Xây dựng bảng câu hỏi 37
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 44
2.2.3 Phạm vi nghiên cứu 45
2.2.4 Kế hoạch thí điểm 45
2.2.5 Phân tích thống kê 47
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THÔNG TIN CÁ NHÂN NGƯỜI CUNG ỨNG THỦY SẢN 49
3.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VIỆC TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỨC KHỎE NGƯỜI CUNG ỨNG THỦY SẢN 54
3.3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KIẾN THỨC VỆ SINH THỰC PHẨM VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƯỜI CUNG ỨNG THỦY SẢN 56
3.4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ KỸ NĂNG VỆ SINH CỦA NGƯỜI CUNG ỨNG THỦY SẢN 59
3.5 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THÁI ĐỘ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƯỜI CUNG ỨNG THỦY SẢN 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 4Tổ chức Thương mại thế giới
Vi sinh vật Thành phố Hồ Chí Minh
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trung tâm tin học và thống kê
Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga Quy chuẩn Việt Nam
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Nguồn lợi hải sản Việt Nam 4 Bảng 1.2 Sản lượng đánh bắt cá của khu vực giữa vùng ven biển, Trung
Trung Bộ, Đông Nam và khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long (tấn) 7 Bảng 1.3 Cơ cấu các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính trong 4 tháng
đầu năm 2011 9 Bảng 1.4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu chính 4 tháng đầu năm 2011 10 Bảng 1.5 Sản lượng đánh bắt cá của Bà Rịa – Vũng Tàu và tổng khu vực
Đông Nam Bộ ở các năm trước (tấn) 16 Bảng 1.6 Tình hình ngộ độc thực phẩm năm 2006 – 2010 23 Bảng 1.7 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm từ tháng 1 đến tháng 5 năm
2012 cục an toàn vệ sinh thực phẩm thống kê 25 Bảng 1.8 Các nguồn tin thị trường chính của thủy sản Việt Nam 27 Bảng 2.1 Sản lượng khai thác biển và khai thác cá (tấn) 36 Bảng 3.1 Kết quả điều tra việc tuân thủ các quy định về sức khỏe người cung
ứng thủy sản 54 Bảng 3.2 Kết quả điều tra kiến thức về vệ sinh thực phẩm và an toàn thực
phẩm của người cung ứng thủy sản 57
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Giá trị sản xuất thủy sản từ năm 2006 đến năm 2009 5
Hình 3.1 Kết quả điều tra độ tuổi người cung ứng thủy sản 49
Hình 3.2 Kết quả điều tra tỷ lệ giới tính của người cung ứng thủy sản 50
Hình 3 3 Kết quả điều tra thời gian làm việc của người cung ứng thủy sản 51
Hình 3.4 Kết quả điều tra hình thức làm việc của người cung ứng thủy sản 52
Hình 3.5 Kết quả điều tra trình độ văn hóa của người cung ứng thủy sản 53
Hình 3.6 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản sử dụng găng tay sạch khi tiếp xúc cá nguyên liệu 59
Hình 3.7 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản rửa tay trước và sau khi sử dụng găng tay 61
Hình 3.8 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản rửa tay trước khi tiếp xúc với cá nguyên liệu 62
Hình 3.9 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản ăn uống trong khu vực làm việc 63
Hình 3.10 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản đặt cá nguyên liệu trên mặt đất 65
Hình 3.11 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản rửa rổ với chất tẩy rửa/ chất khử trùng 66
Hình 3.12 Kết quả điều tra thái độ người cung ứng thủy sản về trách nhiệm xử lý thực phẩm an toàn 67
Hình 3.13 Kết quả điều tra người cung ứng thủy sản học hỏi về an toàn thực phẩm 69
Hình 3.14 Kết quả điều tra biện pháp giảm nguy cơ cá bị lây nhiễm vi sinh vật 70
Hình 3.15 Kết quả điều tra đánh giá sức khỏe người cung ứng thủy sản trước khi tuyển dụng 71
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng tăng, tất yếu nguồn cung cấp thực phẩm đòi hỏi cũng tăng lên Cung cấp đủ lương thực thực phẩm cho người dân
đã khó nhưng cung cấp thực phẩm đảm bảo chất lượng lại càng khó hơn
Vấn đề an toàn vệ sinh các mặt hàng thủy sản yêu cầu không dừng lại ở các nhà máy chế biến, mà được mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan từ nguồn gốc con giống đến người tiêu dùng
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) (2008) suy đoán rằng tầm quan trọng của ô nhiễm nguyên liệu thủy sản do vi sinh vật trong chuỗi cung ứng thủy sản trong nước là do thực hành không phù hợp, tình trạng nghèo của các cơ sở,
và hạn chế kiến thức về an toàn thực phẩm (ATTP) của các nhà cung cấp Bộ NN&PTNT (2008) cũng đề nghị rằng một tỷ lệ đáng kể của việc xử lý thủy sản không phù hợp có thể được ngăn chặn thông qua một phương pháp tiếp cận thích hợp trong đó kiến thức thực hành thủy sản được đẩy mạnh [7]
Vấn đề đặt ra hiện nay là nâng cao chất lượng thủy sản tại các chợ địa phương, cảng
cá bảo đảm thực phẩm an toàn đến tay người tiêu dùng trong nước, bảo đảm sức khỏe của người tiêu dùng trong nước, đóng góp được phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Đề tài này thực hiện nhằm mục đích đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái
độ về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) của người cung ứng thủy sản tại các chợ địa phương và cảng cá ở thành phố Vũng Tàu Đề xuất các giải pháp
giảm thiểu nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cho chuỗi cung ứng thủy sản Việt Nam Ngoài ra còn hi vọng nó là tiền đề để ban ngành lãnh đạo chuyên ngành nắm được kiến thức, kỹ năng, ý thức hiện tại của người cung ứng thủy sản từ đó xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cho những người làm công việc cung ứng thủy sản nhằm nâng cao sự hiểu biết về VSATTP, giảm thiểu nguy
cơ mất ATTP, nâng cao chất lượng nguyên liệu thủy sản tới tay người tiêu dùng
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 91.1 TỔNG QUAN NGÀNH THỦY SẢN Ở VIỆT NAM
1.1.1 Thủy sản Việt Nam
Ngành thủy sản giữ vai trò an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo Thủy sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho người dân Việt Nam
Nước ta nằm phía Tây biển Đông, có bờ biển dài trên 3.260 km, phía Bắc có vịnh Bắc Bộ, phía Nam giáp vịnh Thái Lan với cả một vùng thềm lục địa rộng lớn khoảng hơn 1 triệu km2
Nước ta thuộc vùng biển nhiệt đới cho nên nguồn nguyên liệu rất đa dạng và
có cả 4 mùa Theo dự tính sơ bộ, biển Việt Nam có khoảng 2.000 loài cá và đến nay
đã xác định được trên 800 loài [1]
Vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta trữ lượng hải sản dao động trong khoảng 3,2–4,2 triệu tấn/năm với khả năng khai thác bền vững 1,4-1,8 triệu tấn; không kể trữ lượng cá đại dương di cư và sinh vật đáy vùng triều Trong đó, cá nổi nhỏ có trữ lượng 1,74 triệu tấn, cá đáy 2,14 triệu tấn, cá nổi đại dương 0,3 triệu tấn Nhưng khả năng khai thác đạt tương ứng 0,69 triệu tấn; 0,86 triệu tấn; 0,12 triệu tấn Chúng tập trung trong 15 bãi cá lớn, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ
và 3 bãi cá ở ngoài khơi Nhưng trữ lượng cá có chiều hướng tăng dần theo sự giảm dần của vĩ độ (tức tăng dần từ Bắc vào Nam) Trong tổng trữ lượng cá ở vùng Vịnh Bắc Bộ đạt 681.166 tấn, vùng biển miền Trung 606.399 tấn, Đông Nam Bộ 2.075.889 tấn, nhưng ở vùng Tây Nam Bộ 506.679 tấn, cá nổi đại dương 300.000 tấn
Ở mỗi miền vị trí địa lý khác nhau, điều kiện tự nhiên khác nhau nên trữ lượng thủy sản ở mỗi vùng là khác nhau và khả năng khai thác ở mỗi miền cũng khác nhau Nhóm cá nổi nhỏ tập trung nhiều ở khu vực biển miền Trung (chiếm 82,5%) và Vịnh Bắc Bộ (57,3%), nhưng càng xuống thấp vĩ độ thì tỷ lệ nhóm cá nổi nhỏ có xu hướng giảm Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở các vùng biển của Việt Nam được thể hiện ở rõ bảng 1.1 [2]
Trang 10Bảng 1.1 Nguồn lợi hải sản Việt Nam
Trữ lượng Khả năng khai thác Vùng
Tỷ lệ (%)
Trang 11Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành công nghiệp thủy sản Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế
Việt Nam có hơn 1 triệu km đường bờ biển và 1,4 triệu hecta mặt nước nội địa vì vậy nguồn cung thủy hải sản rất dồi dào và ổn định Trữ lượng hải sản ở Việt Nam ước tính có khoảng 4,2 triệu tấn và nguồn tái tạo là khoảng 1,73 triệu tấn Giá trị sản xuất thủy sản (nghìn tấn) từ năm 2006 đến năm 2009 được thể hiện ở hình 1.1
Hình 1.1 Giá trị sản xuất thủy sản từ năm 2006 đến năm 2009
Trang 12Qua hình 1.1 ta thấy giá trị sản xuất thủy sản từ năm 2006 đến năm 2008 có tăng trong từng năm, nhưng đến năm 2009 do khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên giá trị sản xuất thủy sản đã giảm Khi cuộc khủng kinh tế toàn cầu đi qua, nền kinh tế
ổn định thì giá trị sản xuất thủy sản sẽ tăng trở lại
Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản và cải thiện khả năng khai thác đánh
cá xa bờ đã giúp sản lượng thủy hải sản Việt Nam không ngừng tăng trong những năm qua Mức tăng trưởng trung bình từ năm 2006-2008 là khoảng 11% Đến hết tháng 11 năm 2009, sản lượng thủy sản đã đạt hơn 4,4 triệu tấn Ước tính hết năm nay sẽ đạt khoảng 4,9 triệu tấn, cao hơn năm 2008
Theo ước tính của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), nhu cầu thủy hải sản trên thế giới ở mức cao Đối với các nước công nghiệp phát triển, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, mức tiêu thụ thủy hải sản là trên 30kg/người/năm Trong khi đó, nhu cầu nội địa cũng đang tăng cao do đời sống người dân ngày càng được cải thiện Theo ước tính hiện nay là trên 20kg/người/năm Như vậy, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy hải sản là rất tiềm năng Đặc biệt bước sang năm 2010, khi cuộc khủng hoảng kinh tế đã qua, đời sống người dân dần ổn định và nâng cao, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng thủy hải sản trên thế giới cũng như nội địa sẽ tăng lên [3]
Nghề cá ven biển ở Việt Nam được đặc trưng bởi sự đa dạng của các loài cá lớn và nhỏ Những nguồn này có tiềm năng lớn cho việc phục hồi và có thể duy trì mức độ cao của thu hoạch Bên cạnh loài cá biển có hơn 1600 loài thuộc động vật giáp xác và khoảng 2500 loài động vật thân mềm như là mực và bạch tuộc có giá trị kinh tế đáng kể (Bộ Thủy Sản 2005)
Khai thác thủy sản ở Việt Nam đang phát triển nhanh chóng trong từng năm qua, sản lượng đánh bắt tăng giúp cải thiện được phần nào tình trạng thiếu nguyên liệu của ngành thủy sản hiện nay Sản lượng đánh bắt cá của khu vực giữa vùng ven biển, khu vực Trung Trung Bộ, Đông Nam và khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long được thể hiện cụ thể ở bảng 1.2 (Tổng cục thủy sản 2010)
Trang 13Bảng 1.2 Sản lượng đánh bắt cá của khu vực giữa vùng ven biển, Trung Trung Bộ, Đông Nam và khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long (tấn)
Tổng cả nước 1367500 139650 1433000 1475849 1574100 1648200 Tổng khu vực TTB* 420400 424100 439500 448934 485700 516700
Trang 14Qua bảng 1.2 ta thấy, sản lượng thủy sản đánh bắt tại các tỉnh ở khu vực Trung Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng sông Cửu Long và sản lượng cả nước ngày càng tăng Thủy sản là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho mọi người Vì vậy, chúng ta phải biết cách sử dụng nguyên liệu được đánh bắt, giảm hư hỏng tới mức tối thiểu
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản năm 2011, ngành thủy sản vượt chỉ tiêu đề ra và tiếp tục đạt mức cao hơn cùng kỳ năm trước Cụ thể, tổng sản lượng thủy sản cả năm ước đạt 5.200 nghìn tấn, tăng 4,4% so với kế hoạch năm và 1,4%
so với cùng kỳ Trong đó, sản lượng khai thác đạt 2.200 nghìn tấn, đạt kế hoạch và bằng 90,9% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng đạt 3.000 nghìn tấn, tăng 7,8% so với kế hoạch năm và 10,8% so với cùng kỳ; diện tích nuôi trồng đạt 1.093 ha, bằng 97,3% kế hoạch năm và tăng 2,5 so với cùng kỳ Theo kế hoạch, năm 2012, Tổng cục Thủy sản đặt ra một số chỉ tiêu như: diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1.110 ha, bằng 101,5% so với ước thực hiện của năm 2011; sản lượng thủy sản nuôi đạt 3.150 tấn, bằng 105% so với ước thực hiện của năm 2011; khai thác thủy sản đạt 2.200 tấn
và kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6.300-6500 triệu USD [15]
Với chỉ tiêu đặt ra của Tổng cục Thủy sản chúng ta mong rằng ngành thủy sản sẽ ngày càng phát triển hơn
1.1.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam
Thủy sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới đạt 18%/năm giai đoạn 1998-2008 Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đạt 4,6 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới Cũng trong năm nay Việt Nam xuất khẩu được trên 4,5 triệu USD hàng thủy sản, đứng thứ 6 về giá trị xuất khẩu thủy sản [19]
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) giá trị xuất khẩu thủy sản chính ngạch của cả nước trong tháng 4 năm 2011 đạt gần 466
Trang 15triệu USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2010, 4 tháng đầu năm 2011 đạt 1,6 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2010
Bảng 1.3 Cơ cấu các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính trong 4 tháng
đầu năm 2011 Tháng 4
năm 2011
T4/2011 so với cùng kỳ năm
Trang 16Bảng 1.4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu chính 4 tháng đầu năm 2011
T4/ 2011 So với cùng kỳ
năm 2010 (%)
4 tháng đầu năm 2011
So với cùng
kỳ năm 2010(%) Thị trường
EU 28923 114,01 -7,2 +18,3 108435 392,47 +0,9 +22,2 Đức 4938 21,64 +10,7 +39,8 18836 77,94 +7,2 +36,0
Hà Lan 4630 17,95 +34,6 +73,4 14831 52,13 +25,3 +49,3 Italia 4331 15,98 +13,9 +32,5 14604 51,00 +35,2 +51,1 Tây Ban Nha 4331 12,62 -34,9 -22,3 16975 45,96 -22,2 -11,2 Anh 1889 9,75 +16,3 +32,3 7225 35,05 +38,4 +53,5
Mỹ 15614 92,61 +33,8 +38 52343 306,53 +39,4 +53,5 Nhật 8871 66,98 -26,1 -6,3 32609 237,40 -12,3 +3,7 Hàn Quốc 8058 33,46 -6,0 +22,3 31442 121,45 +6,7 +28,2 Trung Quốc và
Hồng Kông
5472 30,97 +8,6 + 83,3 19118 97,41 +9,5 +50,6
Hồng Kông 2284 10,09 -3,0 +48,3 8504 32,93 -2,1 -28,7 Asean 9094 22,84 +33,6 +43,5 3446 82,37 +24,3 +35,5 Mehico 3778 9,89 +61,5 +85,8 16135 40,04 +38,8 +53,9 Canada 1776 9,18 +10,4 +26,6 6899 38,65 +41,9 +75,3 Oxtray 1822 10,05 -5,4 +12,6 7371 35,97 -6,7 -37 Nga 2707 9,17 -7,5 +38,1 10366 34,03 +18,7 +82,0 Các thị trường
khác
23673 66,81 +3,7 +23,8 85182 228,46 -2,6 +19,8
Tổng 109789 465,96 +2,7 +23,5 404361 1614,78 +7,1 +26,3
* Khối lượng (tấn)
** Giá trị (triệu USD)
Quý I/2012, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 1.324 tỷ USD, tăng 15,3%
so với cùng kỳ năm ngoái Quý I năm nay, khó khăn về nguyên liệu tiếp tục chi phối xuất khẩu thuỷ sản, bên cạnh đó, doanh nghiệp thuỷ sản còn phải đối phó với
Trang 17các loại chi phí ngày càng gia tăng, cùng với những khó khăn về thị trường nhập khẩu Có thể nhận định, tình hình sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản trong 3 tháng đầu năm nay có 9 điểm nổi bật như là thiếu nguyên liệu tầm trọng cho nên nhập khẩu nguyên liệu tăng, bên cạnh đó việc thiếu vốn nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến việc sản xuất Ngoài ra các chính sách bất cập, làm tăng chi phí và giảm cạnh tranh cho thuỷ sản xuất khẩu Nước ta cũng chịu ảnh hưởng phần nào về cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Âu làm cho nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản phải phá sản, số doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản giảm và thị trường châu Âu bị thu hẹp Tuy trong
3 tháng đầu năm 2012 có vài điểm không tốt làm cho ngành thủy sản Việt nam không thuận tiện trong việc phát triển kinh tế thủy sản Tuy nhiên bên cạnh đó thì các doanh nghiệp cá tra đã đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ làm cải tiến tình hình sản xuất và xuất khẩu cá tra Hiện nay các nhà chế biến thủy sản đang có xu hướng tăng xuất khẩu sang thị trường châu Á vì thị trường châu Âu bị thu hẹp, cải thiện tình hình xuất khẩu thủy sản ra nước ngoài Ngoài ra thì xuất khẩu thủy sản sang Ôxtrâylia hiện đang tăng trưởng mạnh nhất từ trước tới nay [20]
Trung tâm tin học và thống kê (Icard) thuộc Bộ NN&PTNT vừa đưa ra dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2012 nhiều khả năng đạt mức 6,8 tỉ đô la
Mỹ Tuy nhiên, khi được hỏi về vấn đề này thì những người làm việc trong ngành lại tỏ ra hoài nghi về con số dự báo này Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP, cho rằng với những khó khăn
mà ngành thủy sản hiện đang gặp thì khó có thể nói con số xuất khẩu thủy sản cả năm 2012 là bao nhiêu
“Trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản đạt 2,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 9,8%
so với cùng kỳ năm 2011 Tuy nhiên, là người trong cuộc chúng tôi thấy không có
gì là khả quan cả”, ông Hòe nói
Ông Hòe cho rằng, hiện doanh nghiệp thủy sản đang gặp khó khăn về thị trường, giá cả bán ra thấp nhưng chi phí đầu vào lại tăng nên ảnh hưởng nhiều kế hoạch kinh doanh trong năm 2012 Theo ông Hòe, xuất khẩu thủy sản cả năm chỉ khoảng hơn 6 tỉ đô la Mỹ, bằng năm 2011
Trang 18Ông Nguyễn Việt Chiến, Giám đốc Trung tâm tin học và thống kê (Icard),
Bộ NN&PTNT - đơn vị đưa ra mức dự báo nói trên, cho biết con số dự báo xuất khẩu đạt 6,8 tỉ đô la Mỹ mà Icard đưa ra là dựa trên số liệu xuất khẩu thủy sản của Tổng cục Hải quan đưa ra trong tháng 4-2012 Tuy nhiên, cũng theo ông Chiến, nếu căn cứ theo số liệu của Tổng cục Hải quan trong 3 tháng đầu năm để chạy mô hình thống kê thì xuất khẩu thủy sản cả năm 2012 chỉ ở mức 6,6 tỉ đô la Mỹ
Mặc dù là cơ quan đưa ra con số dự báo nhưng trên phương diện cá nhân, ông Chiến cũng không tin con số dự báo trên sẽ là hiện thực vào cuối năm nay “Theo tôi biết, doanh nghiệp thủy sản đang gặp khó khăn về thị trường, nhiều doanh nghiệp không ký được đơn hàng xuất khẩu trong những tháng tiếp theo Đây là yếu
tố mà chúng tôi không đưa được vào mô hình thống kê để có con số dự báo khách quan hơn”, ông Chiến nói [21] Qua đây ta thấy, tình hình xuất khẩu thủy sản hiện tại ở Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn Đòi hỏi các công ty chế biến thủy sản cùng với các ban ngành liên quan cần cố gắng hơn để tìm biện pháp khắc phục tình hình hiện tại, nâng cao sản lượng xuất khẩu thủy sản hơn nữa
1.1.3 Thủy sản Bà Rịa – Vũng Tàu
Bà Rịa - Vũng Tàu (BR-VT) giáp tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, giáp tỉnh Bình Thuận ở phía đông, giáp huyện Cần Giờ của Tp Hồ Chí Minh ở phía tây, còn lại phía nam và đông nam giáp biển BR-VT có chiều dài bờ biển phần đất liền là 100km (trong đó 72km là bãi cát có thể sử dụng làm bãi tắm) Thềm lục địa tỉnh tiếp giáp với quần đảo Trường Sa, nơi đây chứa đựng hai loại tài nguyên cực kỳ quan trọng là dầu mỏ và hải sản [14]
Trong hai thập niên vừa qua, ngành thủy sản của tỉnh BR-VT ngày càng khẳng định vị thế và vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, tốc độ tăng trưởng bình quân luôn đạt 7,78%/năm, liên tục
là một trong ba tỉnh đi đầu cả nước về lĩnh vực khai thác, chế biến và xuất khẩu thủy sản
Tại Diễn đàn Thương hiệu biển Việt Nam lần thứ tư năm 2012 với chủ đề:
“Tiềm năng kinh tế và sinh thái môi trường các đảo, quần đảo Việt Nam,” tổ chức
Trang 19ngày 7/6, tại thành phố Vũng Tàu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh BR-VT Trần Minh Sanh khẳng định rằng để tiếp tục phát huy lợi thế, tiềm năng về biển đảo, định hướng phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản trong giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020, Đảng bộ tỉnh chủ trương kế thừa tất cả những tiềm lực sẵn có, phát huy nội lực, cũng như sự hỗ trợ giúp đỡ của các nước về vốn, khoa học và kỹ thuật, trình độ quản lý… để phát triển, tạo nên diện mạo mới cho ngành kinh tế mũi nhọn này BR-VT có chiều dài bờ biển lên tới 305,4km, trong đó bờ biển phần đất liền 100km và một huyện đảo, với trên 100.000km2 thềm lục địa, diện tích vùng đặc quyền kinh tế biển của tỉnh khoảng 297.000km2 Đặc biệt, nằm trong ngư trường được thiên nhiên ưu đãi, thời tiết ôn hòa, ít khi xảy ra gió bão mạnh nên rất thuận lợi cho hoạt động khai thác gần bờ và xa bờ, nhất là khai thác gần bờ có thời gian hoạt động hàng năm từ 200-250 ngày; đối với tàu thuyền lớn đánh bắt xa bờ có thể hoạt động từ 300-310 ngày
Vì vậy, ngay từ những năm đầu thành lập lại tỉnh (tháng 8/1991), Đảng bộ BR-VT đã xác định phát triển đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản phải trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương Nên trong 21 năm qua, tỉnh đã ưu tiên đầu tư xây dựng được ba cảng cá kiên cố, ba cụm cảng bán kiên cố và sáu cảng
cá phân bố rải rác ở các huyện, thị xã Đồng thời, hình thành tổng chiều dài cầu cảng là 1.575m, với tổng năng lực hàng hóa thông qua các cảng cá 360.000 tấn/năm
Ông Lê Tấn Quốc, Giám đốc Sở NN&PTNT Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết xác định là địa bàn có tiềm năng và thế mạnh trong khai thác thủy hải sản, trong những năm qua, tỉnh đã chú trọng đầu tư vào lĩnh vực đánh bắt xa bờ Chính vì vậy, kỹ thuật khai thác được nâng cao, tàu thuyền phần lớn được đầu tư trang thiết bị tiên tiến, phương thức tổ chức sản xuất được đổi mới Nhiều mô hình đánh bắt theo tổ đội, tàu đoàn đã được hình thành, góp phần giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu những hình thức đánh bắt gây suy kiệt, hủy hoại nguồn lợi thủy sản
Nghề nuôi trồng thủy sản ở BR-VT cũng được chuyển dần từ hình thức nuôi quảng canh sang nhiều hình thức nuôi như quảng canh cải tiến, bán thâm canh và
Trang 20thâm canh Với 7.852ha diện tích mặt nước, sản lượng nuôi trồng thủy sản hàng năm của tỉnh đạt gần 19.000 tấn, chủ yếu tập trung tại các vùng nuôi tôm công nghiệp ở các huyện Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Tân Thành và thị xã Bà Rịa Trên địa bàn tỉnh cũng đã hình thành một số vùng nuôi cá và các loại thủy sản khác phục vụ cho xuất khẩu với những sản phẩm nổi tiếng như ngọc trai, ốc hương và cá mú tại Côn Đảo Còn vùng nuôi cá nước ngọt tập trung tại thị xã Bà Rịa và các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc
Về lĩnh vực chế biến và xuất khẩu hải sản, hiện toàn tỉnh có 169 doanh nghiệp chế biến hải sản; trong đó có 42/54 nhà máy chế biến xuất khẩu đạt tiêu chuẩn HACCP (hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm), với tổng công suất 250.000 tấn thành phẩm/năm; trong số này có 28 nhà máy được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện để xuất khẩu vào thị trường châu Âu Hầu hết các nhà máy còn lại đều đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga Riêng năm 2011, sản lượng khai thác hải sản đạt 250.000 tấn; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 20.500 tấn
Tiêu biểu như Công ty trách nhiệm hữu hạn Nuôi trồng thủy sản Minh Lộc An thuộc Tập đoàn Minh Phú Đầu năm 2011, ngay sau khi trúng thầu dự án Khu nuôi tôm công nghiệp Lộc An, huyện Đất Đỏ với giá hơn 63 tỷ đồng, Công ty
Phú-đã đầu tư thêm 150 tỷ đồng để cải tạo 250ha ao nuôi và xây dựng các công trình phụ trợ Cuối tháng 8/2011, Công ty bắt đầu thả giống tôm thẻ đầu tiên với mật độ
100 con/m2 trên 24ha ao nuôi Nhờ quy hoạch và đầu tư đầy đủ nguồn điện, hệ thống cấp thoát nước, chủ động được việc quản lý và chăm sóc, khống chế và xử lý linh động mọi tình huống về độ pH, độ mặn Riêng khâu tuyển chọn giống, thức ăn
và chế biến tôm của Công ty nằm trong quy trình sản xuất tuần hoàn khép kín Nhờ đó chỉ sau 75 ngày nuôi tôm đã có trọng lượng 60 con/kg, năng suất 9 tấn/ha Đợt thu hoạch đầu tiên đã đạt 170 tấn tôm thành phẩm trị giá 18 tỷ đồng, trừ chi phí, lợi nhuận còn lại hơn 7 tỷ đồng Sau khi thu hoạch, tôm sẽ được chuyển trực
Trang 21tiếp đến nhà máy Chế biến Thủy sản Minh Phú-Hậu Giang để chế biến xuất khẩu sang Mỹ, Nhật và một số nước EU
Với mục tiêu phát triển ngành thủy sản để góp phần đảm bảo an ninh lương thực, tăng kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện hơn nữa cuộc sống của cộng đồng dân cư ven biển, BR-VT đã xác định từ nay đến năm 2015 sẽ triển khai nhiều giải pháp để phát triển bền vững và có chiều sâu lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thủy sản Đó là khuyến khích ngư dân đầu tư đóng mới
và nâng cấp tàu khai thác xa bờ, trang thiết bị công nghệ hiện đại, chú trọng thiết bị bảo quản sản phẩm sau khai thác và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý chặt chẽ việc đóng mới tàu cá, không phát triển tàu cá có chiều dài đường nước thiết
kế dưới 15m, công suất dưới 90CV, giảm dần số tàu nhỏ đánh bắt gần bờ
Đến năm 2015, phấn đấu tổng số tàu cá ổn định trên địa bàn ở mức 6.000 chiếc/750.000CV, trong đó có trên 50% số tàu đánh bắt xa bờ; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân hợp tác với các doanh nghiệp và
cá nhân trong khu vực phát triển nghề đánh bắt hải sản Thông qua đó góp phần tăng cường sự hiện diện dân sự trên biển để gìn giữ an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Tỉnh đang khẩn trương xúc tiến nhằm sớm hình thành khu chế biến hải sản tập trung vào năm 2015, để di dời toàn bộ các nhà máy nằm trong khu dân cư và trong các đô thị vào khu chế biến tập trung; tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến hải sản với công nghệ hiện đại trang thiết bị kỹ thuật và đổi mới công nghệ chế biến theo tiêu chuẩn HACCP, ISO 9.000; hạn chế không cấp phép đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến bột cá trên địa bàn tỉnh; rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản và tăng cường các biện pháp quản lý nuôi theo quy hoạch; tập trung phát triển các đối tượng nuôi chủ lực là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, các loại cá, nghêu; đồng thời đẩy mạnh việc sản xuất giống nhân tạo bảo đảm nhu cầu giống thủy sản ngày càng tăng cao về số lượng và chất lượng
Trang 22Bà Rịa-Vũng Tàu cũng đã ban hành các chính sách khuyến khích các tổ chức
và cá nhân đầu tư nuôi trồng thủy sản trên biển đảo, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu vật nuôi và đa dạng hóa loại hình nuôi, đối tượng nuôi trên cả ba vùng biển, lợ, ngọt Nhất là tập trung vào nuôi trên biển các loài thủy sản tại Côn Đảo, theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên và đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước; đi đôi với việc chuyển giao khoa học và kỹ thuật, để người dân hình thành nên các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung an toàn,
ổn định, bền vững trên cơ sở đảm bảo môi trường và cảnh quan đa dạng và độc đáo trên vùng biển tươi đẹp này [22]
Sản lượng đánh bắt cá của tỉnh BR-VT tăng tưởng trong từng năm được trình bày ở bảng 1.5 (Tổng cục thủy sản 2010)
Bảng 1.5 Sản lượng đánh bắt cá của Bà Rịa – Vũng Tàu và tổng khu vực Đông
Nam Bộ ở các năm trước (tấn)
Qua số liệu cho thấy nguồn đánh bắt cá Vũng Tàu chiếm phần lớn tổng sản lượng tại khu vực Đông Nam Bộ Có thể nói nguồn lợi thủy sản tại đây phong phú,
nó là nguồn cung cấp thủy sản chính cho các vùng địa phương tại tỉnh và các tỉnh lân cận
1.1.4 Tình hình xuất khẩu thủy sản ở Bà Rịa – Vũng Tàu
Ngành thủy sản tại BR-VT vẫn chiếm vai trò chủ lực trong hoạt động xuất khẩu, chiếm gần 18% trong tổng cơ cấu ngành hàng xuất khẩu của tỉnh (trừ dầu khí)
Năm 2011, tỉnh đã xuất khẩu 117.105 tấn thủy sản các loại, tăng 19,9% so với năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 311,25 triệu USD, tăng 20,5% so với năm
2010 Theo kế hoạch, năm 2012, BR-VT phấn đấu xuất khẩu 131.020 tấn thủy sản, tăng 125% so với năm 2011, kim ngạch đạt 348,505 triệu USD, tăng 12% [24]
Tổng khu vực Đông Nam Bộ 199300 202400 208500 211069 220300 227100
Bà Rịa-Vũng Tàu 180800 184000 194000 199059 208600 211900
Trang 23Có thể thấy, dù nguồn nguyên liệu khan hiếm, chi phí sản xuất tăng cao, nhưng trong 9 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu thủy sản của tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu vẫn tăng cả về sản lượng và kim ngạch Nhiều doanh nghiệp chế biến, xuất, nhập khẩu thủy sản của tỉnh BR-VT đã đưa ra nhiều chiến lược như đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng tinh chế, nâng giá trị gia tăng sản phẩm Các mặt hàng giá trị gia tăng như seafood mix, với nguyên liệu làm từ mực, bạch tuộc, và tôm Hàng đông lạnh với những sản phẩm như mực nút nguyên con làm sạch, mực ống nguyên con làm sạch, mực nang sashimi, râu bạch tuộc cắt, bạch tuộc, surimi, cá lưỡi trâu dán bột,
cá trích tẩm cốm Ngoài ra còn có sản phẩm là hàng khô như cá chỉ vàng fillet, cá đổng, cá trích.v.v…Đây là những sản phẩm được ưa chuộng tại các thị trường châu
Á, châu Âu và châu Mỹ Ngoài các thị trường truyền thống như Nhật Bản, châu Âu,
Mỹ, trong thời gia qua, nhiều doanh nghiệp ở BR-VT đã khai thác được thêm những thị trường mới như Brazil, Canada, Philippines, Ukraine Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đang mở rộng thị trường sang các nước có tiềm năng lớn là Hàn Quốc và Trung Quốc
Các doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực này ở BR-VT là Công ty cổ phần Chế biến Xuất nhập khẩu thủy sản BR-VT, trong 9 tháng đầu 2011, doanh nghiệp
đã xuất khẩu được gần 5000 tấn sản phẩm, kim ngạch xuất khẩu đạt 17,4 triệu USD, tăng hơn 5 triệu USD so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 104% so với kế hoạch năm
2011 Công ty cổ phần Thủy sản và Xuất nhập khẩu Côn Đảo trong 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp này cũng tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái… Được biết, từ đầu năm đến nay thị trường xuất khẩu thủy sản khá thuận lợi, các doanh nghiệp đều ký được đơn đặt hàng dài hạn Trong thời gian tới đây, nhu cầu tiêu thụ thủy sản tại châu Á và châu Âu sẽ tăng Nguyên nhân là
do, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vẫn diễn biến phức tạp, chính vì thế, nhu cầu tiêu dùng đã chuyển sang lựa chọn các sản phẩm thủy sản cho đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm Đây là cơ hội cho ngành xuất khẩu thủy sản tăng trưởng nhanh Tuy nhiên, các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất, nhập khẩu đang lo lắng trước tình trạng thiếu nguyên liệu, chi phí đầu vào tăng Để khắc phục khó khăn trên, các
Trang 24doanh nghiệp thủy sản đang mạnh dạn phát triển các mặt hàng mới, đầu tư nâng cấp công nghệ chế biến, tạo ra các sản phẩm tinh chế có giá trị xuất khẩu cao Giữ vững các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật Bản, EU, đồng thời phát triển thêm các thị trường mới [25]
Đến đầu năm 2012 thì tình hình xuất khẩu thủy sản ở BR-VT tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái
Hai tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh BR-VT đạt 43,76 triệu USD, tăng hơn 30% so cùng kỳ năm ngoái Đây là tín hiệu vui hứa hẹn xuất khẩu thủy sản năm nay tiếp tục có những bứt phá mới Theo các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, nguyên nhân làm cho kim ngạch tăng là do 2 tháng đầu năm
2012 giá xuất khẩu đang có chiều hướng tăng từ 10-15% so với năm 2011
Bên cạnh đó, thị trường truyền thống được duy trì, thị trường mới được mở rộng nên hiện tại đã có nhiều doanh nghiệp có hợp đồng đến quý III/2012 Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp chế biến thuỷ hải sản là nguồn nguyên liệu
Hiện tại nguồn nguyên liệu tại tỉnh chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu,
số lượng còn lại phải mua từ các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau… nên chi phí tăng cao Để bù đắp nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải tăng nhập khẩu từ nước ngoài và chấp nhận giá cao hơn 15-20 %, dẫn đến lợi nhuận sẽ giảm 50%
Để hoàn thành chỉ tiêu đề ra năm 2012, ngoài sự nỗ lực của bản thân, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản rất cần có sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan chức năng trong việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng; đồng thời có những chính sách hỗ trợ ngư dân, người nuôi thuỷ sản
Bên cạnh đó, tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại để
mở rộng thị trường cũng là một trong những giải pháp tạo điều kiện để các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản có những bứt phá trong năm nay [17]
Trang 25Việc tăng nguồn nguyên liệu tại tỉnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc làm giảm hư hỏng nguyên liệu trong quá trình phân phối, vận chuyển góp phần
to lớn vào cải thiện sự thiếu nguyên liệu thủy sản hiện nay tại tỉnh
Ngành thủy sản tỉnh BR-VT cũng không tránh khỏi những khó khăn chung của cả nước ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản
Tốc độ tăng trưởng của ngành thủy sản tỉnh BR-VT đang ở đạt mức thấp trong vòng 7 năm trở lại đây Nguyên nhân là do các doanh nghiệp thủy sản đang phải đối mặt với nhiều khó khăn: nguồn nguyên liệu khan hiếm, giá tăng, lao động không ổn định, lãi suất ngân hàng tăng cao, trong khi các thị trường lớn đều giảm sản lượng nhập khẩu…
Xuất khẩu thủy sản chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động xuất khẩu của tỉnh, gần 18% trong cơ cấu ngành hàng xuất khẩu Năm 2011, toàn tỉnh đã xuất khẩu hơn 117.105 tấn hải sản các loại, đạt kim ngạch hơn 311 triệu USD Riêng 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu ngành hàng này đạt 130 triệu USD, tăng 27% Theo đánh giá của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, các cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính nhìn chung đã thông thoáng theo hướng thuận lợi cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, sự nỗ lực vượt khó của doanh nghiệp với những giải pháp như: giảm tối đa chi phí để hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, duy trì và ổn định khách hàng, bảo đảm đời sống và việc làm cho người lao động đã phát huy được hiệu quả nhất định Tuy nhiên, hiện tại hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản đều gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp đã giảm từ 20% – 50% so với cùng kỳ năm ngoái Nguyên nhân là các doanh nghiệp gặp khó khăn về nhiều mặt như: thiếu lao động, thiếu nguyên liệu, khó tiếp cận vốn ngân hàng Ông Đào Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Tứ Hải, cho biết hiện công ty đang có nhu cầu tuyển dụng 300 - 400 công nhân với nhiều chế độ ưu đãi như nhà ở, tiền lương cao… nhưng thông báo quảng cáo mấy tháng trời vẫn chưa tuyển đủ người
Thêm vào đó, mặc dù lãi suất ngân hàng đã giảm, nhưng các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn Nếu có tiếp cận được thì giá trị
Trang 26nguồn vốn vay được duyệt cũng không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp trong việc mở rộng đầu tư sản xuất Theo ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Công ty TNHH Ngọc Tùng, việc chậm triển khai quy hoạch, các doanh nghiệp không có giấy phép xây dựng cũng gây khó cho doanh nghiệp trong việc vay vốn ngân hàng Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nguyên liệu chế biến hải sản do sản lượng khai thác giảm đang ngày càng trở nên gay gắt Điều này khiến cho giá nguyên liệu tăng cao cộng với giá xuất khẩu không tăng, dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp
Để vượt qua khó khăn, nhiều doanh nghiệp thủy sản đang tìm cách đẩy mạnh thu mua nguyên liệu, tăng sản lượng chế biến, tìm kiếm các thị trường mới Đặc biệt, để giải bài toán thiếu nhân công lao động, một số doanh nghiệp đã có các giải pháp tích cực như hỗ trợ về nhà ở, chi phí sinh hoạt nhằm thu hút nguồn lao động ở
Chuỗi cung ứng sản phẩm là chuỗi của các hoạt động từ khâu sản xuất, qua lưu thông (có thể qua chế biến) và đến tay người tiêu dùng cuối cùng Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả, thay đổi về giá trị dinh dưỡng và có thể có những thay đổi nhất định về giá trị vì luôn có các chi phí xảy ra trong suốt các hoạt động Chính vì vậy, các bên liên quan trong chuỗi cung ứng luôn có được các lợi ích nhất định và sự xung đột lợi ích giữa các bên liên quan là tính chất tất yếu của chuỗi cung ứng sản
phẩm trong cơ chế kinh tế thị trường
Trang 27Trong chuỗi cung ứng thì mỗi thành viên của chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành viên trong chuỗi có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích đó Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thành viên góp thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào sự thỏa mãn của khách hàng
Chuỗi cung ứng thủy sản bao gồm: người mua và người bán
(2) Chủ Nậu Vựa (NV): Nậu Vựa là một người hoặc một tổ chức mua bán sản phẩm khai thác hải sản trung gian giữa ngư dân và các bộ phận mua bán trung gian khác NV có thể đầu tư cho chủ tàu hoặc có các tàu khai thác hải sản và cơ sở chế biến [9] Chủ NV với tư cách là người bán sản phẩm khai thác là những chủ NV
có tàu khai thác hải sản, thường bán sản phẩm cho các chủ NV khác ở trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh, các cơ sở chế biến thủy sản và sử dụng sản phẩm khai thác cho chính cơ sở chế biến của họ
Người mua ở đây có thể là:
(1) Người tiêu dùng: việc bán trực tiếp sản phẩm khai thác đến tay người tiêu dùng cuối cùng không phổ biến, thường chỉ xảy ra đối với những sản phẩm khai thác ở những thuyền gắn máy nhỏ, cập bến cá địa phương, có một phần sản phẩm được bán cho bà con trong xóm, thông thường người tiêu dùng mua nguyên liệu thủy sản tại các chợ địa phượng thông qua người bán lẻ
(2) Người bán lẻ: việc bán trực tiếp sản phẩm khai thác đến tay người bán lẻ
ở các chợ địa phương cũng không phổ biến, thường chỉ xảy ra đối với những sản
Trang 28phẩm khai thác ở những thuyền gắn máy nhỏ, cập bến cá địa phương, có một phần sản phẩm được bán cho người mua buôn để bán lẻ ở các chợ trong huyện, xã
(3) Người bán buôn (bán sỉ): người bán buôn gồm nhiều loại có quy mô hoạt động khác nhau:
• Người bán buôn quy mô nhỏ: Có một lực lượng người bán buôn cung cấp cho những người bán lẻ và hệ thống các nhà hàng đây là người mua bán trung gian
có cơ sở kinh doanh tại các chợ nhưng quy mô không lớn, thường không có quan hệ tài chính với chủ tàu cũng như với đối tượng mua hàng của họ
• Người bán buôn là các chủ nậu vựa cấp 1: là các chủ NV quan hệ mua hàng trực tiếp với ngư dân sau đó sẽ chuyển tiếp cho các đối tượng mua hàng khác, chủ yếu là chuyển hàng cho các chủ NV cấp 2 (trong hoặc ngoài tỉnh), nhà máy chế biến
(4) Cơ sở chế biến: thông thường các cơ sở chế biến cũng cử người về tận các cảng, bến cá để mua nguyên liệu trực tiếp của chủ tàu để hạ giá thành sản phẩm chế biến
Nhưng với đề tài này ta chỉ xét chuỗi cung ứng thủy sản gồm 3 hình thức cung ứng là: Ngư dân, NV và người bán lẻ
Có thể hình dung chuỗi cung ứng thủy sản thông qua sơ đồ sau:
Trang 291.3 TÌNH HÌNH VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
Đảm bảo VSATTP là một trong những vấn đề quốc tế dân sinh vô cùng quan trọng, không chỉ với sức khoẻ, phát triển nòi giống mà còn liên quan đến phát triển kinh tế, văn hoá và an ninh của mỗi địa phương, mỗi quốc gia
Vấn đề bảo vệ và VSATTP hiện đang được rất nhiều nước kể cả những nước
đã và đang phát triển quan tâm, đặc biệt là các nước khu vực châu Á, nơi đang tập trung sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội Sự tập trung ngày càng cao các khu vực dân cư tại các đô thị, thành phố công nghiệp đang được hiện đại hoá cũng như
sự mở rộng giao lưu quốc tế, đã đòi hỏi từng nước không những phải tăng số lượng lương thực thực phẩm sản xuất mà còn phải đảm bảo chất lượng an toàn và có giá trị dinh dưỡng cao đối với thực phẩm tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
An toàn thực phẩm là một ưu tiên y tế cộng đồng Trên toàn cầu, hàng triệu người bị bệnh mỗi năm và chết nhiều như là một kết quả của việc ăn thực phẩm không an toàn Trong sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức đối tác của WHO đang làm việc để giảm thiểu rủi ro sức khỏe từ nông trại đến bàn ăn, và để thúc đẩy ATTP Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đã tạo ra sự cần thiết để thích ứng với ATTP theo tiêu chuẩn quốc tế Phối hợp hoạt động để đảm bảo thực hành an toàn vào toàn bộ chuỗi thức ăn là một nhiệm vụ đầy thách thức cho chính phủ Việt Nam
Năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên 150 của WTO cho nên tình hình
VSATTP ở nước ta có tiến triển sau năm 2007 được thể hiện ở bảng 1.6 [8]
Trang 30Qua bảng 1.6 ta thấy có 165 vụ ngộ độc làm 7.135 người bị ngộ độc và 57 người chết đến năm 2007 số vụ ngộ độc tăng cao Có 247 vụ làm 7.329 người bị ngộ độc và 55 người chết Nhưng đến năm 2008, sau một năm gia nhập vào WTO thì số vụ ngộ độc có giảm Có 205 vụ ngộ độc sang năm 2009 thì số vụ ngộ độc tiếp tục giảm Chỉ có 152 vụ ngộ độc làm 5212 người bị ngộ độc và làm 35 người chết Sau vài năm gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước nâng cao ATTP để có thể thích ứng với thế giới Với năm 2010 thì số vụ ngộ độc có tăng lên 23 vụ so với năm
2009 Qua bảng thống kê tình hình ngộ độc thực phẩm của những năm qua, ta thấy hàng năm có đến vài ngàn người bị ngộ độc thực phẩm, con số này đáng báo động, đòi hỏi chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề VSATTP
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh thực phẩm,
6 tháng đầu năm nay (2011) toàn quốc xảy ra 53 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.776 người mắc Mặc dù được đánh giá là con số cao, song so với cùng kỳ năm ngoái đã giảm 40% số vụ và giảm 70% số người chết do ngộ độc thực phẩm [28] Tuy số vụ
và số người bị ngộ độc thực phẩm có giảm so với cùng kỳ năm ngoái nhưng tỷ lệ người bị ngộ độc vẫn còn cao, vấn đề VSATTP vẫn là mối nguy sức khỏe của người tiêu dùng
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang tạo nhiều lo lắng cho người dân Thực chất, nhiều sự kiện như việc tiếp tục sử dụng những hoá chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, việc sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi trường, đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu
và tiêu dùng Các vụ ngộ độc thực phẩm do một số bếp ăn tập thể cung cấp, nhiều thông tin liên tục về tình hình ATVSTP ở một vài nước trên thế giới, cộng thêm dịch cúm gia cầm tái phát, bệnh heo tai xanh ở một số nơi trên đất nước càng làm bùng lên sự lo âu của mọi người chúng ta Gần đây một số vấn đề liên quan đến quản lý ATVSTP, sự khác biệt giữa các kết quả phân tích kiểm tra chất lượng sản phẩm vừa gây không ít khó khăn cho người sản xuất vừa tạo thêm lo lắng cho người
Trang 31tiêu dùng trong khi chúng ta đang cố gắng tạo những ưu thế về nhiều mặt để có nhiều lợi thế nhất với cương vị một thành viên bình đẳng của WTO
Theo hệ thống cảnh báo và thông báo của Châu Âu, năm 2004, trong số hàng thực phẩm Việt Nam xuất sang châu Âu, có 59 lô không đạt chất lượng (Việt Nam xếp thứ 13 trong số các nước bị cảnh báo), con số này là 124 và Việt Nam xếp thứ 7 trong năm 2005 Trong 6 tháng đầu năm 2007, nhiều lô hàng nông thủy sản xuất khẩu bị Hoa kỳ, Canada, Nhật, Nga, Singapore từ chối Những sự kiện ấy phản ánh phần nào những tồn đọng, bất cập trong sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong khi đó đã vào WTO thì phải chấp nhận cạnh tranh khốc liệt về chất lượng ngay cả trong nước Vấn đề then chốt là làm thế nào quản lý được tốt chất lượng nông lâm thủy sản Việt Nam không nhiễm vi sinh, chất không chứa hóa chất
bị cấm, hóa chất ngoài danh mục cho phép, hay bị nhiễm hóa chất quá giới hạn cho phép nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, đóng góp được phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước [27]
Kết quả tình hình VSATTP của nước ta trong 5 tháng đầu năm 2012 được cục ATVSTP thống kê thể hiện ở bảng 1.7 [18]
Bảng 1.7 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm từ tháng 1 đến tháng 5 năm
2012 cục an toàn vệ sinh thực phẩm thống kê
Kết quả giám sát Tháng Vụ Tổng số ăn
Trang 32Qua số liệu thống kê cho thấy tháng 4 số người bị ngộ độc cho tới số người
tử vong đều cao nhất trong năm tháng đầu năm trong khi đó tháng 4 là tháng hành động VSATTP Ta thấy vấn đề VSATTP trong nước chưa được chú trọng để đảm bảo sức khỏe người dân, việc quản lý VSATTP hiện nay ở Việt Nam vẫn còn yếu kém
Ngoài ra Thủy sản Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị cấm nhập khẩu vào thị trường Nga do không bảo đảm ATVSTP
Ngày 13/2, ông Nguyễn Như Tiệp, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Bộ NN-PTNT), cho biết Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga (VPSS) vừa liên tiếp có 2 công thư thông báo tình hình các lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này không bảo đảm ATVSTP
(nhiễm vi khuẩn gây bệnh Vibrio Parahaemolyticus, Coliform, nấm men, nấm
mốc ) có chiều hướng gia tăng
Theo ông Tiệp, VPSS sẽ cử đoàn công tác sang thanh tra các doanh nghiệp chế biến thủy sản và đánh giá hệ thống kiểm soát về bảo đảm ATTP thủy sản của Việt Nam trong tháng 4 hoặc tháng 5/2012 VPSS cảnh báo có thể xem xét ban hành biện pháp cấm nhập khẩu thủy sản của VN nếu tình hình không được cải thiện [26]
Điều này cho thấy, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản phải đảm bảo VSATTP để tránh ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng và cũng là để giảm tình trạng các lô hàng xuất khẩu sang nước ngoài không đạt tiêu chuẩn, giảm tổn thất về kinh tế
Vấn đề bảo đảm ATVSTP để phòng các bệnh gây ra từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như nước ta Mục tiêu đầu tiên của ATVSTP là đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ độc do thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc, thực phẩm phải đảm bảo lành và sạch
Đảm bảo VSATTP chỉ có thể giải quyết được tốt nếu có những biện pháp đồng bộ từ mọi người chúng ta, từ người quản lý, người sản xuất, đến người tiêu dùng đều phải đồng lòng thực hiện với mục tiêu giữ gìn sức khoẻ cho thế hệ chúng
ta hôm nay và cả thế hệ con cháu chúng ta ngày mai
Trang 331.4 VAI TRÒ NGƯỜI CUNG ỨNG VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
Người cung ứng thủy sản là phương tiện để đưa nguyên liệu sau khi đánh bắt tới tay người tiêu dùng Tùy theo từng trường hợp mà nguyên liệu thủy sản có thể qua tay nhiều người cung ứng hay chỉ trực tiếp từ ngư dân
Ngoài ra người cung ứng thủy sản có vai trò quan trọng về VSATTP, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguyên liệu thủy sản, ảnh hưởng gián tiếp đến bữa
ăn của từng gia đình nói chung và mỗi cá nhân nói riêng Người cung ứng thủy sản
xử lý, vận chuyển, bảo quản nguyên liệu trước khi tới tay người tiêu dùng Chất lượng nguyên liệu có tốt hay không, có ATVSTP hay không là phụ thuộc vào những người cung ứng thủy sản rất nhiều vì chúng ta không thể chế biến thức ăn ngon, đảm bảo VSATTP từ nguyên liệu ươn hỏng và không đảm bảo ATVSTP
Thủy sản ở nước ta rất phong phú và đa dạng Nó được cung cấp phổ biến rộng rãi đến tay người tiêu dùng tại Việt Nam Người tiêu dùng mua phần lớn thủy sản tại thị trường bán lẻ như là các chợ tại khu vực gần nơi mình sống Rất ít người tiêu dùng mua thủy sản tại các cửa hàng bán thủy sản hay các siêu thị hiện đại
Người tiêu dùng mua nguyên liệu thủy sản từ các thị trường chính được trình bày ở bảng 1.8 [13]
Bảng 1.8 Các nguồn tin thị trường chính của thủy sản Việt Nam
Loại thị trường Siêu thị Chợ Bán lẻ trực tiếp từ ngư dân Tự đánh bắt
Qua bảng 1.8 ta thấy nguồn cung ứng thủy sản tại chợ tới tay người tiêu dùng rất lớn Có thể do giá ở chợ địa phương luôn rẻ hơn ở các siêu thị, đồ tươi không phải hàng đông lạnh, dễ mua và có nhiều mặt hàng hơn so với siêu thị hay là mua trực tiếp từ ngư dân
Đã có rất ít nghiên cứu về vệ sinh và an toàn thực phẩm của thị trường thủy sản trong nước liên quan đến ô nhiễm do vi sinh vật (VSV) Theo Nguyễn và các cộng sự (2007), có cung cấp về mức độ ô nhiễm vi sinh của người cung ứng thủy
Trang 34sản cho người tiêu dùng tại các chợ địa phương ở Việt Nam Nhìn chung, nghiên cứu báo cáo rằng hết sức không hợp vệ sinh khi xử lý và làm sạch cá tại các chợ địa phương gây ra tái nhiễm đáng kể [11]
Nghiên cứu cũng cho rằng người cung ứng thủy sản trong thị trường bán lẻ ở địa phương nên được thông báo về việc cá không hợp vệ sinh khi xử lý và làm sạch,
và cách này có thể được cải thiện để giảm ô nhiễm vi khuẩn đường ruột từ người cung ứng thủy sản
Theo điều tra thì các mẫu tôm, cua, sò, hến bán lẻ từ thị trường bán lẻ tại thành phố Hồ Chí Minh đã bị ô nhiễm nặng do vi khuẩn đường ruột Nó đã được
tìm thấy 94%, 18% và 32% tương ứng mẫu tôm, cua, sò, hến bị nhiễm E coli,
salmonella spp, và V parahaemolyticus Nguyên nhân gây bệnh từ tôm, cua, sò,
hến do vi khuẩn đường ruột gây ra kể từ khi động vật có vỏ thường được ăn sống hoặc sau khi nấu tái [12] Kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm của thủy sản do vi sinh vật là khá cao, nó là tiềm năng của việc gây mất ATTP và gây ra các vụ ngộ độc thực phẩm hiện nay
Vai trò của người cung ứng thủy sản có một tầm quan trọng lớn trong việc cung cấp nguyên liệu thủy sản đảm bảo chất lượng tới tay người tiêu dùng Nó có thể là nguồn gốc của ô nhiễm vi sinh vật gây mất ATVSTP hay là nguồn cung cấp những nguyên liệu sạch, đảm bảo an toàn chất lượng tới tay người tiêu dùng
1.5 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT DÙNG BẢNG CÂU HỎI
Các phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi bao gồm:
• Phỏng vấn cá nhân (PAPI/CAPI)
• Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI)
• Các cuộc điều tra qua thư
• Phỏng vấn trực tiếp bằng máy vi tính (CASI/CAWI)
• Các cuộc điều tra qua thư điện tử
• Các cuộc điều tra qua Internet/mạng nội bộ (các trang Web)
Trang 351.5.1 Phỏng vấn cá nhân (PAPI/CAPI)
Đối với hình thức thu thập dữ liệu này, người phỏng vấn thường liên hệ và sau đó phỏng vấn đối tượng theo hình thức đối mặt Đó là hình thức phỏng vấn truyền thống nhất Các cuộc phỏng vấn cá nhân có thể xảy ra trong hầu hết mọi môi trường, nhưng điển hình là được thực hiện tại nhà, tại một trung tâm hoặc các vị trí trung tâm khác, trên đường phố, bên ngoài nơi gặp mặt hay địa điểm bầu cử, v.v Chúng có thể được ghi lại trên máy (PAPI), trên thiết bị được hỗ trợ bằng máy vi tính (CAPI) hay được thu thập bằng cách sử dụng các thiết bị cầm tay khác (PADs)
a Các ưu điểm chính
• Là một phương pháp tiếp cận rất linh hoạt
• Không nhất thiết phụ thuộc vào các cấu trúc lấy mẫu sẵn có
• Tạo điều kiện cho đối tượng tham gia phỏng vấn được xem các lựa chọn
và nhiều tác nhân kích thích để biết liệu chúng có liên quan đến các sản phẩm, các khái niệm, quảng cáo, v.v hay không
• Các đối tượng tham gia phỏng vấn có thể cảm nhận, thử, kiểm tra các sản phẩm trong một môi trường được kiểm soát
• Các nhân viên phỏng vấn có thể liên hệ và phỏng vấn các đối tượng trong khi họ đang thực hiện hoặc vừa thực hiện xong một hoạt động cụ thể hay tại một địa điểm cụ thể: sau khi mua sắm, tại một khu vực giải trí, v.v
• Bằng cách thiết lập mối quan hệ, các nhân viên phỏng vấn có thể thực hiện được các cuộc phỏng vấn dài hơn so với phương pháp không phải mặt đối mặt
• Tạo cơ hội để tiến hành nhiều phương pháp vấn đáp bao gồm các câu hỏi
mở vì nhân viên phỏng vấn có thể tiến hành thăm dò dựa theo các gợi ý bằng hình ảnh cũng như bằng lời
• Người phỏng vấn có thể thu thập các gợi ý phi ngôn ngữ và cung cấp những dữ liệu bổ sung này nếu có tính chất giai thoại
Trang 36• Phụ thuộc vào phương tiện tập hợp dữ liệu–giấy, v.v có thể bao gồm nhiều giai đoạn quản lý và làm tăng quỹ thời gian của một dự án
1.5.2 Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI)
Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI) đã trở thành phương pháp phổ biến nhất ở môi trường B2B (doanh nghiệp đến doanh nghiệp) trong nhiều năm qua, và đây là phương pháp hiệu quả cho việc nghiên cứu B2C (từ doanh nghiệp đến khách hàng) trong hai thập kỷ trước, đặc biệt với sự thành lập của “các trung tâm hỗ trợ khách hàng”
o Rút ngắn thời gian trì hoãn giữa quá trình phỏng vấn và cung cấp kết quả
o Tiêu chuẩn hóa hoàn toàn nội dung phỏng vấn
o Việc tự động hóa công tác quản lý phỏng vấn (các quãng ngắt, tính nhất quán bên trong v.v.) cho phép nhân viên phỏng vấn chỉ tập trung vào chính cuộc phỏng vấn
o Mẫu và liên hệ phỏng vấn được cung cấp tự động cho nhân viên phỏng vấn
o Dễ dàng hơn cho việc lên lịch và thực hiện các cuộc hẹn và bất cứ các cuộc hẹn lại nào
• Các trung tâm hỗ trợ khách hàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát năng suất hoạt động của nhân viên phỏng vấn trên cơ sở hợp lý và liên tục
b Các nhược điểm chính
• Có khả năng gặp phải các vấn đề không phản hồi vì đối tượng tham gia phỏng vấn tiềm năng có thể không nhận ra ngay rằng họ đang được đề nghị tham gia vào một cuộc nghiên cứu thị trường, và có thể nhầm lẫn cách tiếp cận này với những phương pháp khác mà những người bán hàng hoặc tiếp thị đã sử dụng trong
các cuộc giao tiếp qua điện thoại
Trang 37• Khả năng phỏng vấn đối với nhiều đối tượng mục tiêu có thể bị giới hạn,
ví dụ như những người đang làm việc
• Khó có thể sử dụng các công cụ kích thích như một phần của quá trình
• Là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu ít tốn kém nhất
• Có thể được sử dụng khi các phương tiện liên lạc với đối tượng mục tiêu không thể thực hiện được, ví dụ như có sẵn tên và địa chỉ của nhóm đối tượng mục tiêu nhưng không có số điện thoại hay địa chỉ thư điện tử
• Mất nhiều thời gian hơn các phương pháp thu thập dữ liệu khác
• Có thể khó nhận được phản hồi từ các đối tượng mục tiêu có trình độ văn hóa thấp
• Các phụ phí có thể phát sinh do phải tăng cường gửi thư để cải thiện tỷ lệ phản hồi
• Thời gian đầu phải gửi đi rất nhiều thư để đảm bảo lượng phản hồi phù hợp – điều này sẽ làm tăng thêm chi phí
• Không nhất thiết phải đảm bảo rằng đối tượng điều tra phù hợp đã hoàn thành cuộc phỏng vấn
• Có thể không phù hợp để thu thập một số loại dữ liệu nào đó: mức độ nhận biết tự phát, các câu hỏi mở, v.v
Trang 38• Các vấn đề về việc không phản hồi: thông tin từ những người không phản hồi thường quan trọng bằng, hoặc đôi khi quan trọng hơn so với thông tin từ những người phản hồi
1.5.4 Phỏng vấn trực tiếp bằng máy vi tính (CASI/CAWI)
Với phương pháp thu thập dữ liệu này, các đối tượng tham gia phỏng vấn có thể phản hồi trực tiếp vào máy vi tính đã được thiết lập tại một địa điểm cụ thể: nơi làm việc, trung tâm thương mại, các khu vực giải trí, bệnh viện, các trung tâm y tế, v.v Các phần mềm phỏng vấn và lưu trữ dữ liệu có thể được cài vào máy tính như đối với phương pháp CASI (phương pháp phỏng vấn tự hoàn thiện với sự hỗ trợ của máy vi tính) hay máy vi tính có thể được nối với một trang web chuyên dụng, nơi bảng câu hỏi và các dữ liệu được lưu trữ như trong phương pháp CAWI (phỏng vấn qua mạng với sự hỗ trợ của máy tính)
Bất kể phương pháp nào trong các phương pháp này được sử dụng thì hình thức trình bày hướng đến đối tượng tham gia phỏng vấn đều rất giống nhau
• Có thể loại bỏ thành kiến của nhân viên phỏng vấn
Trang 39• Có thể không phù hợp với các nhóm đối tượng mục tiêu nào đó
• Đây là các đối tượng tự chọn
• Có thể nhận được nhiều câu trả lời từ cùng một người
1.5.5 Các cuộc điều tra qua điện tử
Việc sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu bằng thư điện tử có thể rất tiết kiệm chi phí và được hoàn tất trong một khoảng thời gian ngắn Hiện tại, số lượng người có email nhiều hơn so với số người có thể tiếp cận Internet đầy đủ, nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng
a Các ưu điểm
• Được thực hiện cực kỳ nhanh chóng
• Phần lớn các chi phí rơi vào quy trình thiết lập
• Cả các tập tin hình ảnh lẫn âm thanh đều có thể được đính kèm như các hình thức kích thích khác
• Có thể đạt được tỷ lệ phản hồi cao hơn so với các phương pháp thu thập
dữ liệu khác
• Có thể được sử dụng một cách hiệu quả khi tính đại diện trung thực của đối tượng mục tiêu không phải là một bất lợi đối với việc sử dụng dữ liệu đã được thu thập
b Các nhược điểm
• Nhiều loại câu hỏi bị hạn chế, do đó dữ liệu có thể thu thập cũng bị hạn chế
• Phụ thuộc vào sự tồn tại một khung mẫu phù hợp
• Hầu như có ít hoặc không có sự kiểm soát đối với những người đang thực
sự phản hồi
• Phải khắc phục được tính ít nói của các đối tượng khi trả lời các thư điện
tử được gửi đi dưới hình thức tự nguyện
• Khó khăn trong việc tìm ra các phát hiện đối với nhóm đối tượng chung
vì mẫu có sẵn có thể không hoàn toàn phản ánh hết các đặc điểm của nhóm đối
tượng chung đó
• Không thể sử dụng trên toàn thế giới
Trang 40• Giống như các phương pháp thư tín khác, không có hình thức kiểm soát
nào để đảm bảo “đúng” người phản hồi
1.5.6 Các cuộc điều tra qua Imternet/mạng nội bộ (các trang Web)
Các cuộc điều tra bằng web nhanh chóng trở nên phổ biến Chúng có ưu điểm chính về tốc độ, chi phí và tính linh hoạt, nhưng cũng có những hạn chế đáng
kể về mẫu và có thể hạn chế các nhóm – những đối tượng có thể tiếp cận được nhờ
sử dụng phương pháp này
a Các ưu điểm
• Thu thập dữ liệu có thể cực nhanh Một yêu cầu được chèn vào một trang
web đại chúng có thể thu thập được vài ngàn phản hồi chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ
• Phần lớn chi phí đều có liên quan đến việc thiết lập cuộc điều tra
• Không có nhược điểm thật sự dù thu thập dữ liệu từ mẫu nhỏ hay lớn
• Có thể sử dụng các tập tin âm thanh và hình ảnh
• Bảng câu hỏi phức tạp với các kiểu luân phiên, ngẫu nhiên, v.v có thể
được thực hiện
• Có thể tận dụng tất cả các tính năng liên quan đến việc định dạng văn
bảng bao gồm màu sắc, phông chữ và các lựa chọn định dạng khác
• Có thể phân phối dữ liệu về các chủ đề nhạy cảm
• Có thể tạo ra các phản hồi đầy đủ từ các câu hỏi mở so với các phương