Ở nước Mỹ: - Đối tượng tham gia: Ở Mỹ tất cả những người trong độ tuổi lao động là công dân Mỹ có thu nhập, kể cả những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc hộ gia đình v
Trang 1` Lá ~^
LOI NOI DAU
Sự tồn tại và phát triển của con người do rất nhiều nhân tố quyết định trong đó không thể không kể đến hệ thống an sinh xã hội với nòng cốt là chính sách BHXH BHXH là chính sách xã hội được nhiều quốc gia coi trọng
nhằm đảm bảo về mặt thu nhập cho người lao động khi họ tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động BHXH ở Việt nam đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ khi mới thành lập nước và nó đã đóng góp lớn cho sự phát
triển của đất nước
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thi trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Nền kinh tế thị trường với quan hệ lao động phong phú, đa dạng, ngày càng phức tạp Chính vì vậy, chính sách BHXH luôn
cần được nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận nhằm đổi mới hoàn
thiện chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình mới là yêu cầu cấp thiết
Quỹ BHXH là một nội dung quan trọng trong chính sách BHXH.Quỹ
BHXH vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.Liên
quan đến quỹ BHXH, công tác thu, chi quỹ BHXH lại đóng vai trò đặc biệt
quan trọng Bởi vì công tác thu BHXH là trọng tâm là vấn đề sống còn của BHXH bởi nó liên quan đến việc hình thành và duy trì nguồn quỹ Con chi BHXH là uy tín của ngành bởi việc chi trả các chế độ BHXH có tốt hay không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và đời sống của người lao động Xuất phát
từ những lý do trên nên trong quá trình thực tập em đã chọn đề tài : “Một số
vấn đề về công tác thu- chỉ BHXH ở cơ quan BHXH quận Cầu Giấy - Hà Nội" cho luận văn tốt nghiệp của mình Mục đích của luận văn là xem xét đánh giá công tác thu- chi quỹ BHXH ở cơ quan BHXH quận Cầu Giấy — Hà Nội từ đó
đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu- chỉ quỹ BHXH cho ngày càng phù hợp hơn
Trang 2- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu- chi quỹ
BHXH cho ngày càng phù hợp hơn
Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn về thu chi
quỹ BHXH ở các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn quận Cầu giấy trong giai
đoạn 2002-2006
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung đi sâu vào xem xét, phân tích, đánh giá về hoạt động thu BHXH và chi cho các chế độ BHXH ở BHXH quận
Cầu Giấy
Kết cấu của đề tài:
Để giải quyết các nội dung nêu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về BHXH và quỹ BHXH
Chương II: Thực trạng công tác thu-chi BHXH ở quận Cầu Giấy — Hà Nội Chương IIT: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu-chi quỹ BHXH Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Phạm Thị Định — Giang viên trường ĐH Kinh tế quốc dân ; chân thành cảm
ơn tập thể cán bộ công nhân viên cơ quan BHXH quận Cầu Giấy đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thiện khóa luận này
Do thời gian có hạn, kiến thức về lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên không tránh khỏi những khiếm khuyết kính mong thầy cô và bè góp ý để đề
tài được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH
VÀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA BHXH
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của BHXH
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, khả năng sáng tạo ra của cải vật chất của người lao động ngày càng cao hơn cho phép đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu phong phú về vật chất cũng như tỉnh thần.Nhưng như vậy cũng có nghĩa là con người ngày càng phải đối mặt vơi những hậu quả tất
yếu của nền kinh tế XH phát triển cao.Đặc biệt là từ sự phát triển công nghiệp
hóa, một tầng lớp lao động mới ra đời Đó là tầng lớp lao động làm công ăn
lương, lấy tiên lương làm nguồn sống chủ yếu Nếu tiên lương bị giảm sút hoặc không còn thì rất dễ rơi vào cảnh cùng khốn Tiên lương bị giảm sút
hoặc không còn, trước hết do những trường hợp bị ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm, già yếu hết khả năng lao động Trước những rủi ro như trên, bản thân từng người phải chống đỡ chật vật, nhất là đối với những người có thu nhập thấp thì càng khó khăn
Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ và thợ, cùng với sự đổi mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, cùng với trình độ chuyên môn và nhận biết về BHXH của người lao
động ngày càng được nâng cao, cách chủ động khắc phục khi không may xảy
ra rủi ro với họ ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên chỉ khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thỏa và có hiệu quả nhất Đó cũng chính là cách giải được quyết
chung nhất cho xã hội loài người trong quá trình phát triển đất nước
Với sự ra đời của hệ thống BHXH(được bổ sung dần qua cơ chế da
dạng sau này), trước hết là những người lao động làm công ăn lương, sau đó
là những lao động tự do phải cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường, không phân biệt người lành nghề hay lao động phổ thông, người trẻ hay lớn
Trang 4tuổi, nam hay nữ, không phân biệt tình trạng sức khỏe của mỗi người, để được
bảo vệ bằng một trong các loại trợ cấp trong các trường hợp gặp rủi ro,bất hạnh trong các trường hợp phải nghỉ việc mà thu nhập bị giảm sút hoặc không
có lương
Như vậy để đảm bảo nên kinh tế xã hội phát triển được bình thường, đời
sống của người lao động được ổn định đòi hỏi phải tạo lập quỹ dự trữ bảo
hiểm xã hội thích hợp, đủ lớn để đáp ứng các yêu cầu trên Sự xuất hiện của
BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết phải tiến hành
bảo hiểm cho người lao động
Những người làm công phải hoàn toàn dựa vào tiền lương làm nguồn
sống chủ yếu khi ốm đau tai nạn, sinh đẻ thì phải nghỉ việc và không có lương, cuộc sống bị đe dọa Người lao động đã ý thức được sự cần thiết phải
có thu nhập để phòng khi họ gặp phải những rủi ro,tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm bảo một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, thai sản Lúc đầu giới chủ cam kết đảm bảo cho người lao động những khoản thu nhập nhất định đó Song nhiều khi rủi ro xảy ra liên tục buộc người chủ phải chỉ ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn.Do vậy giới chủ đã chỉ ít hơn nên xuất hiện mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn này ngày càng gay gắt
Trong thực tế không phải lúc nào con người nói chung và người lao
động nói riêng cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc
các điều kiện sinh sống khác.Chẳng hạn,bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn
trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng
tự phục vụ bị suy giảm v.v Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu
cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng
lên,thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới như : cần được khám chữa
bệnh và điều trị khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm
Trang 5sóc nuôi dưỡng v.v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người
và xã hội phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như
san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng ; đi vay hoặc dựa vào sự cứu
trợ của nhà nước v.v Rõ ràng cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc
chan
Đứng trước tình cảnh đó Nhà nước là người thứ ba đứng ra giải quyết mâu thuẫn và điều hòa lợi ích giữa chủ và thợ cụ thể: Yêu cầu cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp những khoản tiền nhất định để hình thành quỹ, đồng thời nhà nước hỗ trợ một phần để giúp các bên giải quyết khó khăn.Từ đó, cả
giới chủ và thợ đều được đảm bảo và họ thấy có lợi Các nguồn đóng góp của
giới chủ, thợ và sự hỗ trợ của Nhà nước hình thành nên một quỹ tiền tệ tập
trung -quỹ BHXH
Như vậy quỹ này sẽ tạo lập cuộc sống ổn định cho người lao động và
gia đình họ Hạn chế những tệ nạn xã hội xảy ra do nguyên nhân của thất
nghiệp nghèo đói ; xây dựng một nên an sinh xã hội bền vững Mặt khác cũng
giúp cho giới chủ có thể ổn định sản xuất , nâng cao hiệu quả kinh doanh do năng suất lao động của người lao động tăng lên Bởi lẽ khi người lao động được đảm bảo về lợi ích thì họ sẽ trung thành với doanh nghiệp, làm việc có hiệu quả Như vậy kinh tế sẽ được phát triển nhanh chóng và bền vững bởi
được tăng trưởng về chất
Vì vậy để đảm bảo cho nên kinh tế phát triển hoàn thiện như mong
muốn cần mở rộng đối tượng tham gia và hưởng BHXH Hiện nay nhà nước
đã mở rộng thêm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và tự nguyện.Trong đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được hưởng bốn chế độ : hưu trí, tử tuất,thai sản và ốm đau Điều này cũng có nghĩa cần tạo lập một quỹ dự trữ tập trung
rất lớn để đảm bảo cho việc chi trả những chế độ BHXH và để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán trong thời gian tới Mặt khác cũng sẽ đáp ứng được
yêu cầu an toàn của cuộc sống người lao động và đảm bảo hiệu quả cho hoạt động sản xuất của người sử dụng lao động nhằm giữ vững an ninh xã hội kinh
tế được phát triển bình thường trước những rủi ro luôn xảy ra trong cuộc sống
Trang 61.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH
1.1.2.1 Trên thế giới
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIV, khi nền công nghiệp và
kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu Từ năm
1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật BHYT Năm 1884, các hiệp hội giới chủ thiết lập và quản lý quỹ rủi ro nghề nghiệp Năm 1889,
mở sang hình thức bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm bệnh tật đồng thời có sự
quản lý và tài trợ của chính quyền đặc biệt là có sự đóng góp của giới chủ Lúc này BHXH có một đặc điểm mới: Việc đóng góp phí là do 3 bên và yêu cầu tham gia bắt buộc đối với người lao động trong doanh nghiệp Đến đây BHXH đã thực sự hình thành và gần như hoàn thiện như ngày nay.ở Đức BHXH đã thể hiện được tính ưu việt và tác dụng to lớn của mình, chính vì vậy
nó nhanh chóng hình thành và phát triển rộng rãi ở các nước Châu âu Sau chiến tranh thế giới lần II, nhiều nước Châu phi, Châu á và vùng Caribe sau
khi giành được độc lập cũng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH
BHXH là một trong những loại hình BHXH ra đời khá sớm và đến nay
đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới So với các loại hình BHXH khác, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt
do bản chất của nó chi phối
a Ở nước Mỹ:
- Đối tượng tham gia:
Ở Mỹ tất cả những người trong độ tuổi lao động là công dân Mỹ có thu
nhập, kể cả những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc hộ gia đình và lao động tự cung tự cấp có thu nhập trên mức thu nhập tối thiểu
(do Nhà Nước quy định mức tối thiểu) đều phải nộp thuế ( một hình thức
đóng BHXH ) hay còn gọi là thuế lương cho “quỹ BHXH”
- Quỹ BHXH:
Nguồn tài trợ cho các chế độ trợ cấp BHXH là từ thuế phúc lợi xã hội
mà chính quyền liên bang thu Trong số tiền lương của người lao động, chính
Trang 7quyền sẽ khấu trừ bớt số tiền thuế cố định Sau đó đưa các khoản thu này vào các quỹ BHXH Mức khấu trừ cụ thể:
+ Người sử dụng lao động: 13,65%
+Người lao động: 7,65%
Để được hưởng trợ cấp, người đóng BHXH phải nộp đến một mức nào
đó Chính quyền liên bang Mỹ có cách tính thống kê từng người đã nộp đủ tiền thuế hay chưa Kể từ năm 1993, một người đóng BHXH nếu nộp đủ 590 $
thì được một điểm hưởng thụ Mỗi người phải có đủ 40 điểm trong 10 năm
trước khi nghỉ hưu
Như vậy, cơ chế thu BHXH ở Mỹ là vừa theo tỷ lệ trích nộp, vừa phải thu đến một “ngưỡng” do chính quyển quy định, cơ chế này có vẻ đơn
giản.Mặt khác tỷ lệ đóng góp cũng không quá cao
- Đối tượng tham gia
BHXH ở Pháp có mầm móng từ thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của
cứu trợ công cộng và tương hỗ Hiện nay, đối tượng tham gia BHXH là những
người lao động có thu nhập trong tất cả các thành phần kinh tế ( Chính phủ
quy định mức gọi là có thu nhập)
Trang 8Đối với rủi ro nghề nghiệp, nguồn tài trợ chính là các khoản đóng góp trên lương: Giới chủ đóng 12,8%, người lao động đóng 6,8%
Đối với rủi ro phi nghề nghiệp khoản này được thu trên lương do giới chủ đóng toàn bộ Tỷ lệ đóng góp được xác định tùy theo số lượng lao động
trong mỗi doanh nghiệp
+ Quỹ trợ cấp hưu trí, góa bụa, trợ cấp gia đình: Nguồn tài trợ này cũng chủ yếu từ các khoản đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Đối với trợ cấp hưu trí, người sử dụng lao động phải đóng bằng 9,8%, người lao động đóng 6,55% tiền lương, tổng cộng 16,35%
Đối với trợ cấp gia đình người lao động, người sử dụng lao động phải đóng góp toàn bộ với tỷ lệ 5,4% lương của người lao động
- Các chế độ BHXH
Ở Pháp phạm vi BHXH bao gồm hầu hết các chế độ BHXH theo quy
định của ILO ( 9 chế độ)
c) Ở một số nước Đông Á
Ở Đông Á, đối với những nước có nên kinh tế thị trường phát triển sớm
trong khu vực, để tạo lập quỹ BHXH cũng dựa vào 3 nguồn cơ bản: Người lao
động, người sử dụng lao động và Nhà Nước Trước hết là người sử dụng lao động và người lao động phải đóng góp theo tỷ lệ trích vào lương cho từng chế
Trang 9- Ở Hàn Quốc: đối tượng tham gia là những người lao động thường xuyên ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp, các viên chức làm việc trong các
cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể, văn hóa giáo dục Tỷ lệ đóng góp của
người lao động và người sử dụng lao động tương tự ở Nhật Bản, phần tài trợ của Nhà Nước là đáp ứng chi phí quản lý hành chính và hưu trí dài hạn cho 1/3 số người dân( có thu nhập thấp)
Trải qua hơn 100 năm hình thành và phát triển chính sách BHXH của các nước trên thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể: Góp phần đảm bảo đời sống cho mỗi người lao động và gia đình họ, thực hiện ổn định chính
trị và an toàn xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, chính sách BHXH
đã và đang được nghiên cứu đổi mới để hoàn thiện phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại
e Những kinh nghiệm rút ra được từ hoạt động BHXH của các nước trên
thế giới
Qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới có hoạt động BHXH, ( bao gồm cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển ) có thể học hỏi
được một số vấn đề sau:
- Việc xây dựng một mô hình BHXH phải phù hợp với các điều kiện
kinh tế, xã hội của quốc gia mình Hoạt động BHXH có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào độ chặt chẽ và tính hiệu quả của các quy chế và chính
sách biện pháp thu BHXH Có thể dễ dàng nhận ra một thực tế đó là trong bất
kỳ một thể chế kinh tế, xã hội nào thì hoạt động BHXH vẫn phụ thuộc vào
NSNN ở các mức độ khác nhau, vấn đề là phụ thuộc ít hay nhiều, điều này
còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế ở mỗi giai đoạn phát triển của mỗi quốc
gia
-Kinh nghiệm của một số nước phát triển cho thấy việc đề ra các chính
sách BHXH phai dựa trên nguyên tắc bắt buộc, để có thể thu hút được ngày
càng nhiều đối tượng tham gia; vấn để này ngày càng trở nên quan trọng bởi
sự an toàn của quỹ BHXH Việc chi trả các chế độ BHXHcăn cứ vào mức độ
đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động và đặc biệt là phụ
Trang 10thuộc vào mức lương của người lao động dùng làm căn cứ đóng BHXH trước
khi về hưu
- Việc sử dụng các nguồn thu thuế từ lương của người lao động và người sử dụng lao động cho mục đích phúc lợi xã hội, đối với tất cả các công
dân làm việc trên lãnh thổ nước mình và công dân nước mình làm việc ở nước
ngoài nhưng có đóng thuế cho Chính phủ Với cơ chế này, Chính phủ các
nước này cho rằng không cần thiết có một tổ chức riêng biệt để quản lý quỹ BHXH, việc thực hiện chỉ BHXH mang tính bao cấp với mục đích điều tiết thu
nhập các nhân đảm bảo sự công bằng xã hội, vì vậy những người được hưởng các chế độ BHXH đều nhận được các khoản phúc lợi xã hội vượt quá mức đóng góp của mình Mô hình xây dựng hệ thống BHXH theo kiểu này chỉ phù
hợp với điều kiện của nền kinh tế phát triển, những nước có mức phúc lợi xã hội cao Trước đây, Việt Nam đã xây dựng mô hình BHXHøgần tương tự như
mô hình này Tuy vậy, nó đã không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế
xã hội Việt Nam bởi sự bao cấp quá lớn của NSNN và bởi mức độ phát triển
thấp của nền kinh tế
Như vậy, việc xây dựng mô hình BHXH phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam trong từng thời kỳ, ngoài ra trong điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường việc tăng cường đóng góp của
người lao động, người sử dụng lao động để có thể giảm nhẹ sự phụ thuộc vào NÑSNN là một trong những hướng chính trong việc xây dựng và thực hiện các
chế độ, chính sách BHXH ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, BHXH đã bắt đầu được thực hiện từ những năm 30 của thế
kỷ XX Đó là các chế độ trợ cấp do chính quyền Pháp thực hiện đối với công chức và công nhân Việt Nam được hưởng lương phục vụ trong bộ máy chính quyền và lực lượng vũ trang của Pháp tại Đông Dương.Ngay sau khi Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm
và thực hiện chính sách BHXH đối với người lao động Sắc lệnh số 54 ngày
03/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời quy định những căn cứ, điều kiện
Trang 11để các công chức nhà nước được hưởng chế độ hưu trí Sắc lệnh số 105 ngày
14/06/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ấn định việc cấp
hưu bổng cho công chức nhà nước.Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của chủ
tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong đó quy định cụ thể về chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tử tuất đối với công chức nhà nước Sắc lệnh số 29 ngày 13/03/1947 của Chủ tịch
Chính phủ lâm thời và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/05/1950 quy định các chế độ
trợ cấp ốm đau, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tử tuất đối với công nhân Như vậy đến thời kỳ này (1950), đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH chỉ gồm hai đối tượng là công chức nhà
nước và công nhân; và gồm có các chế độ: ốm đau,thai sản, tai nạn lao động,
hưu trí và tử tuất Tuy nhiên đây là những khởi điểm quan trọng trong chính sách BHXH của nước ta
Văn bản pháp lý đầu tiên về Bảo Hiểm Xã Hội là: “Điều lệ tạm thời về Bảo Hiểm Xã Hội đối với công nhân viên chức Nhà nước “ban hành kèm theo nghị định 218/CP ra ngày 27/12/1961
Cùng với sự phát triển của nên kinh tế thì hệ thống Bảo hiểm xã hội cũ
cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Vì vậy ngày 18/09/1985 Nghị định
236/HĐBT ra đời quy định việc bổ sung sửa đổi các chính sách và chế độ
BHXH Xét về bản chất, hệ thống BHXH vẫn giữ nguyên cũ nhưng đó là bước đổi mới đáng ghi nhận về mặt đường lối, là tiền đề cho những đổi mới sau này Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, nền kinh tế ta đã chuyển sang cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước Do vậy cùng với việc đổi mới chính sách BHXH thì cơ chế quản lý BHXH cũng cần phải được đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với cơ chế quản lý hiện hành
Ngay15/11/1982, Liên hiệp trung ương đã có quyết định số 292/BCN LÐ ban hành Điều tạm thời về các chế độ BHXH đối với xã viên
hợp tác xã và các tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp Về tương tự các chế
độ BHXH quy định trong điều lệ này cũng được mô phỏng tương tự như chế
độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước
Trang 12Ngày 18/09/01985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành nghị định số 236/
HĐBT cho phép quy đổi một năm công tác thành 1 năm 2 tháng, I năm 4 tháng và 1 năm 6 tháng tùy theo điều kiện lao động và chiến đấu
Ngày 22/06/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH cho người lao động làm việc trong các doanh nghiệp các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế Nghị định 43/CP đã mở rộng đối tượng tham gia và hưởng BHXH, đổi mới cơ cấu đóng góp quỹ, tỷ lệ hưởng, mức hưởng BHXH Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế nhất là tỷ lệ hưởng và cơ chế quản lý Chỉ đến khi điều lệ bảo hiểm ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 thì cơ cấu về tổ chức và quản lý hoạt động của hệ thống BHXH mới dần dần hoàn thiện và đi vào ổn định Cũng trong năm 1995
Nhà nước còn ban hành Nghị định 19/CP ngày 16/02/01995 về tổ chức sự nghiệp BHXH Việt Nam Đây là móc quan trọng nhất trong sự nghiệp bảo hiểm xã hội của nước ta Vì sau Nghị định này BHXH Việt Nam được chính thức thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức Bảo hiểm xã hội ở TW và các địa phương thuộc hệ thống lao động thương binh xã hội và tổng liên đoàn lao
động Việt Nam giúp thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ Bảo
hiểm Xã hội và thực hiện 5 chế độ BHXH theo pháp luật của Nhà nước
Ngày 9/01/2003 chính phủ ban hành Nghị định 1-CP nhằm mở rộng đối tượng tham gia, hưởng chế độ BHXH và nâng cao hiệu quả hoạt của BHXH
1.1.3 Bản chất của BHXH
Ngày nay, Bảo Hiểm xã hội phát triển mạnh và là một bộ phận quan
trọng nhất của hệ thống đảm bảo xã hội (hay còn gọi là an sinh xã hội) và ở nhiều quốc gia có xu hướng hòa nhập giữa Bảo hiểm xã hội và bảo đảm xã hội.Tuy nhiên sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ này là một Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu : Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm vì những “rủi ro xã hội”, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của
Trang 13các bên tham gia Bảo Hiểm xã hội, góp phần đảm bảo an toàn cuộc sống của người lao động và gia đình họ, đông thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Bảo hiểm xã hội là một loại hình bảo hiểm đặc biệt Nó khác với những loại hình bảo hiểm khác bởi tính xã hội và tính chất phi lợi nhuận Người tham
gia bảo hiểm chỉ đóng một khoản trích từ tiền công, nhưng lại được hưởng đến
6 chế độ :hưu trí, tử tuất,thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, ốm đau
và nghỉ dưỡng sức Tiên bảo hiểm không được tính toán dựa trên sự tương
quan giữa phí bảo hiểm, lượng khách hàng thực tế và khách hàng tiềm năng như trong bảo hiểm thương mại mà số tiền Bảo hiểm xã hội được căn cứ theo
thu nhập của người lao động trước khi gặp rủi ro hoặc mức lương tối thiểu theo quy định hiện hành của Nhà nước
Đặc trưng của hệ thống bảo hiểm xã hội là có nguồn tài chính được hình thành từ sự đóng góp bắt buộc của người sử dụng lao động, người lao động, tài trợ của Nhà nước và các loại trợ cấp đều được chi dùng từ nguồn tài
chính riêng
Nguồn tài chính này được sử dụng để đảm bảo đời sống cho người lao động từ đó đảm bảo hoạt động sản xuất của người sử dụng lao động có hiệu quả, tăng năng suất, chất lượng.Và chính từ những điều đó sẽ xây dựng được một nền an ninh cho xã hội, giúp Nhà nước ổn định chính trị, xây dựng đất nước
Toàn bộ những hoạt động đối với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là Bảo hiểm xã hội đối với người lao động Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Với cách hiểu như trên, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội
dung chủ yếu sau đây:
Trang 14BHXH là nhu cầu khách quan, da dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan
hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng phát
triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nên
tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và phát sinh giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH, và bên được
BHXH Bên tham gia BHXH chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH)thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được
BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện cần thiết Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của
con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai
sản Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình
Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO)cụ thể hóa như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ
+ Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư và các nhu cầu
đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em
Trang 15Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyên con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng : “Tất cả mọi người với tư cách là
thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên
sự thỏa mãn các quyên về kinh tế, xã hội và văn hóa nhu cầu cho nhân cách
và sự tự do phát triển của con người”
Tại nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm BHXH Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ xã hội
và ưu đãi xã hội
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội về các thu nhập và
các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong những
trường tối thiểu bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo cuộc
sống tối thiểu của bản thân và gia đình Sự giúp đỡ này được thực hiện từ các
nguồn quỹ dự phòng của Nhà nước, bằng tiền hoặc bằng hiện vật đóng góp
của các tổ chức xã hội và những người hảo tâm Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước của xã hội nhằm đên đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho
xã hội Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sĩ hoặc thân nhân liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh v.v.v Đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước, của xã hội, ưu đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự bố thí,ban ơn, mà nó là một chính sách xã hội có mục tiêu chính trị — kinh tế —
xã hội, góp phần củng cố thể chế chính trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài,
đảm bảo sự công bằng xã hội
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng và phạm vi, song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội là những chính xã hội không thể thiếu
được của một quốc gia Những chính sách này luôn bổ sung cho nhau và tất
cả đều góp phần đảm bảo an toàn xã hội
BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước do nhà nước thống nhất và quản lý.Từ khi BHXH xuất hiện đến nay, hoạt động này vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính cộng đồng, nhân văn lớn, điều này cũng có nghĩa
Trang 16là dù kinh tế có phát triển đến mức độ nào, dù có biến động như thế nào về
thể chế chính trị, xã hội thì bản chất BHXHvẫn không thay đổi, vẫn là một
trong những chính sách quan trọng của một quốc gia
1.1.4 Vai trò của BHXH
Hoạt động của BHXH là hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn
xã hội, phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải mục
tiêu của hoạt động BHXH Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế -xã hội của con người, được thể hiện trên các mặt sau:
Đối với người lao động:
Bảo hiểm xã hội là một biện pháp kinh tế để tạo lập nguồn tài chính
bảo đảm một phần tài chính nào đó cho người lao động khi nguồn thu nhập
thông thường bị cắt giảm hoặc bị mất, nhằm ổn định đời sống của người lao
động và gia đình họ khi gặp những rủi ro trong cuộc sống
Đối với người sử dụng lao động:
Để có được sản phẩm phục cho cuộc sống con người, phục vụ cho sự
phát triển của xã hội thì cần phải có người tạo ra sản phẩm cần thiết cho con người, cho xã hội Những người sử dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, đó chính là những người chủ sử dụng lao động Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được đảm bảo thì người chủ phải có vốn, có công nghệ nhưng bên cạnh đó cần thiết hơn là phải tạo được mối quan hệ tốt với người lao động, giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với người lao động thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất hăng hái hơn tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của người chủ sử dụng hoạt động đạt kết quả cao, thu nhiều lợi nhuận Muốn vậy người chủ sử dụng lao động
phải tham gia BHXH cho những người lao động của mình để có thể đảm bảo
những khoản chỉ trả cần thiết, kịp thời đến người lao động khi họ gặp những rủi ro bất trắc Việc tham gia đóng góp BHXH cho người lao động của người chủ sử dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động
Trang 17sản xuất của doanh nghiệp như nâng cao thu nhập cho người lao động và góp
vào việc phát triển nền kinh tế của đất nước Nói cách khác, ngoài tiền công
thì BHXH là động lực thúc đẩy hoạt động của người lao động chính vì vậy người sử dụng lao động nộp BHXH không chỉ cho lợi ích của người lao động
mà còn lợi ích của chính bản thân họ
Đối với xã hội:
Thứ nhất, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của
nhà nước, BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động BHXH sẽ giải
quyết những “ trục trặc”, “rủi ro” xảy ra đối với những người lao động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động xã hội Với sự trợ giúp của BHXH đối với người lao động khi gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp
tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội Thứ hai, với tư cách là một quỷ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách nhà nước, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân hàng Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỷ BHXH phải tự bảo tồn
và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu
tư phát triển phần “nhàn rỗi” của quỹ Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển của đất nước, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho người lao động Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nước, góp phần
tăng thu nhập cá nhân cho người lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói chung
Thứ ba, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công
cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Sự phân phối lại
thu nhập này được tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều ngang giữa người khỏe và người già, người đang làm việc với người đã nghĩ hưu, người trẻ tuổi với người lớn tuổi, giữa nam với nữ, người đang hưởng trợ cấp với người chưa hưởng trợ cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu
Trang 18quan trong của chính sách kinh tế xã hội, giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của người giàu chia cho người nghèo một cách
võ đoán ý nghĩa của BHXH là nhiễu điều phủ lấy giá gương, là đoàn kết
tương trợ, phát huy tính tự thân, sống hòa nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng một cộng đồng với nhau mà vốn là tiểm lực của dân tộc ta đã được lịch sử chứng minh Khi chính sách BHXH được áp
dụng đối với mọi người lao động sẽ được tạo ra sự phân công lao động xã hội
hợp lý, có hiệu quả, tạo ra được một thị trường lao động năng động Bởi vì người lao động có thể làm việc ở bất cứ đơn vị nào, thuộc mọi thành phần kinh
tế, mọi loại hình sở hữu thì họ vẫn được quyền tham gia và hưởng thụ tất cả
mọi chế độ về BHXH Chính điều đó tạo điều kiện cho người lao động và người sử dụng lao động được tự do thỏa thuận về điều kiện làm việc phù hợp với nhu cầu, trình độ, nghề nghiệp, tay nghề, thu nhập với từng người lao
động Đó là những yếu tố quan trọng vừa để khai thác, sử dụng triệt để nguồn
lao động; vừa để nâng cao hiệu suất công tác, năng suất lao động, tiết kiệm
chi phí xã hội ( về đào tạo, các nguồn lực khác ), làm tăng của cải vật chất
và tăng tích lũy cho nền kinh tế
Thứ tư: Với hình thức “ số đông bù số ít”, dàn trải rủi ro thiệt hại của người lao động theo cả thời gian và không gian, BHXH đã giúp giảm thiểu thiệt hại cho số đông người trong xã hội, đồng thời làm tăng khả năng giải
quyết rủi ro Có thể nói BHXH là phương pháp hiệu quả nhất để giải quyết
những khó khăn về đời sống của người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định và an toàn.BHXH đã phát huy tiềm năng của số đông
người và ưu điểm của nhiều phương thức hoạt động trong nền kinh tế thị
trường để đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động cũng như xã hội
1.2 QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.2.1.Khái niệm và đặc điểm:
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân NSNN Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là
Trang 19dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thể của BHXH chính là những người tham gia đóng
góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: Người lao động, người
sử dụng lao động và Nhà nước
Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau :
- Quỹ BHXH được hình thành,tồn tại và phát triển gắn với mục đích
đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời Vì vậy, nguyên tắc quản lý quỹ
BHXH là cân bằng thu-chi
-Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang tính chất không hoàn trả Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là đối tượng
tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ
cấp được chi trả từ quỹ theo các chế độ Thời gian hưởng và mức hưởng của mỗi người sẽ khác nhau phụ thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, phụ thuộc vào mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của họ Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ cùng tham gia và đóng góp BHXH, có người lao động được hưởng trợ cấp nhiều lần theo nhiều chế độ khác nhau, nhưng có người được hưởng ít lần, thậm chí không được hưởng.Chính từ đặc điểm này nên có trường hợp đối tượng hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH lớn hơn nhiều so với
mức đóng góp và ngược lại
-Quá trình tích lũy để bảo tồn giá trị và đảm bảo an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc.Đặc điểm này xuất phát chức năng cơ bản nhất của BHXH là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động Vì vậy, đến lượt mình, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy
cơ mất an toàn về tài chính Nhiều nhà kinh tế cho rằng : Quỹ BHXH là:”của
để dành”của người lao động phòng khi ốm đau, tai nạn hoặc tuổi già v.v Nguồn quỹ này được đóng góp và tích lũy lại trong suốt quá trình lao động Nếu xem xét tại một thời điểm cụ thể nào đó, quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để chi trả trong tương lai Lượng tiền này có thể
Trang 20biến động tăng và cũng có thể biến động giảm do mất an toàn, giảm giá trị do yếu tố lạm phát Do đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH đã trở thành
yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH
-Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH Nó
là khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên,mỗi khâu tài chính được tạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với chủ thể nhất định Vì vậy, chúng luôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng Thế nhưng tài chính BHXH, Ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp lại có
quan hệ chặt chẽ với nhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật Nhà nước -Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế — xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời
kỳ nhất định của đất nước Kinh tế -xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thỏa mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao Đồng thời khi kinh tế — xã hội phát triển ,
người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng BHXH
1.2.2 Nguôn hình thành và mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội: Quỹ BHXH được hình thành từ những nguồn sau:
-Người tham gia BHXH
-Nhà nước hỗ trợ thêm
- Lãi đầu tư
- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi
do đầu tư quỹ nhàn rỗi v.v.)
Trong đó người tham gia BHXH bao gồm:
+Người sử dụng lao động
+ Người lao động
Tùy điều kiện của mỗi nước mà người sử dụng lao động và người lao động đóng góp theo những tỷ lệ khác nhau nhưng thông thường người sử dụng lao động phải đóng góp phần nhiều hơn ở Việt Nam hiện nay theo quy định
Trang 21người sử dụng đóng góp là 15% tổng quỹ lương còn người lao động đóng góp
5% tiên lương tháng
Trong nền kinh tế hàng hóa, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn Đồng thời nó còn giảm bớt tình trạng tranh chấp và thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ và thợ Về phía người lao động, sự đóng
góp một phần để bảo hiểm xã hội cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu sự rủi ro chính họ, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ
Mối quan hệ chủ- thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vì
thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể
thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước Trước hết các bộ luật của Nhà nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lý mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ — tho trong lĩnh vực BHXH có cơ sở pháp lý để giải quyết Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp
và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt
động BHXH chắc chắn và ổn định
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH Vì vậy, quỹ BHXH phải được tinh toán một cách khoa học Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ
chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học
để xác định Khi tính phí BHXH, có thể dựa trên những căn cứ tính toán khác
nhau:
-Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ
đó làm cơ sở xác định mức đóng bảo hiểm xã hội
-Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng sau
Trang 22-Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định mức phí BHXH
Khi xác định mức phí BHXH vẫn phải đảm bảo nguyên tắc :cân bằng
thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sau:
- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Trong 3 nội dung nêu trên thì chi trả trợ cấp BHXH theo các chế độ là
lớn nhất và quan trọng nhất Khoản chi này được thực hiện theo luật định và
phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH Về nguyên tắc, có
thu mới có chi, thu trước chi sau Vì vậy, quỹ BHXH chỉ chi cho các chế độ
trong phạm vi có nguồn thu, thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó
Tuy nhiên, quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất là
để chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo
phương pháp nào?
+ Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chỉ trả cũng phải phải đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi Điều đó có nghĩa là, tất cả các nguồn thu BHXH đều được tập trung để hình thành một quỹ, sau đó quỹ được sử dụng để chỉ trả theo các chế độ, chi quản lý và đầu
tư Phương thức này rất đơn giản và tác dụng chủ yếu là quản lý quỹ được tập trung, cho nên dễ dàng điều tiết giữa các chế độ BHXH trong quá trình chỉ trả
+ Nếu quỹ BHXH được hình thành theo 2 loại : Quỹ BHXH ngắn hạn
và quỹ BHXH dài hạn thì việc chỉ trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn Quỹ BHXH
ngắn hạn được chi cho các chế độ ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Nguôn quỹ này sẽ được cân đối từng năm, thậm
chí có thể được hình thành ngay trong từng doanh nghiệp để chỉ trả trực tiếp
Quỹ BHXH dài hạn được sử dụng để chi trả cho các chế độ dài hạn như: Hưu trí, tử tuất Nguồn quỹ này phải được cân đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân trong quá trình chỉ trả là có hiệu quả nhất Phương thức này
Trang 23đảm bảo cho công tác chỉ trả sát thực tế và đúng mục đích hơn Đồng thời, còn
tạo điều kiện cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia các
chế độ BHXH dài hạn
+ Nếu quỹ được thành lập theo từng chế độ : quỹ ốm đau, quỹ thai sản, quỹ hưu trí v.v thì việc chi tra gắn với từng chế độ hoặc từng nhóm chế độ
Chẳng hạn:
Đối với chế độ hưu trí và tử tuất :
Việc chi trả bắt nguồn từ việc bảo hiểm thu nhập cho người lao động
khi già yếu hết tuổi lao động và qua đời Muốn được chỉ trả người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia đóng góp Quyền lợi được hưởng tương
ứng với mức đóng góp phí BHXH của từng người lao động Phí BHXH nộp
cho các chế độ hưu trí và tử tuất được cơ cấu vào tiên lương, tiền công và được
hạch toán vào giá thành sản phẩm để tạo nguồn tài chính cho người lao động
sản phẩm để tạo nguồn tài chính nộp phí bảo hiểm.Trợ cấp cho các chế độ này mang tính trực tiếp và ngắn hạn, thường diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định Chính vì vậy, mỗi chế độ có thể hình thành một quỹ được hạch toán độc lập Phương thức này có ưu điểm là dễ dàng cân đối thu- chi, từ đó
góp phần xác định mức đóng và mức hưởng của từng chế độ một cách chính
xac
Trang 24CHUONG II THUC TRANG CONG TAC THU- CHI BAO HIEM XA HOI
6 QUAN CAU GIAY -HÀ NỘI
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH QUẬN CẦU GIẤY
2.1.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy
Cùng với sự ra đời của BHXH Việt Nam, BHXH thành phố Hà Nội là
sự hình thành BHXH các quận huyện Ngày 1/9/1997 BHXH quận Cầu Giấy
được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Từ Liêm với 8 phường hiện đang quản lý là:Dịch Vọng, Trung Hòa, Yên Hòa, Quan Hoa, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Dịch Vọng Hậu
Cùng với sự lớn mạnh của quận đang được đô thị hóa nhanh BHXH
quận Cầu Giấy không ngừng thay đổi về mọi mặt, được BHXH thành phố đầu
tư xây dựng trụ sở với diện tích sử dụng 1000nỷ tại số 6 Trần Dang Ninh quan Cầu Giấy Là đơn vị trực thuộc BHXH thành phố Hà Nội, BHXH quận Cầu Giấy có tư cách pháp nhân, có tài khoản có con dấu và trụ sở riêng
Với 20 cán bộ, BHXH quận Cầu Giấy chia thành bốn bộ phận có chức
năng, nhiệm vụ riêng biệt: bộ phận thu và cấp sổ, bộ phận chính sách hồ sơ
lưu trữ, bộ phận giám định chi và bộ phận kế toán tài vụ Cả bốn bộ phận này đều được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc và Phó giám đốc Sự
phân chia về công việc được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BHXH quận Cầu Giấy
Giám Đốc
Trang 25*% Bộ phận quản lý thu và cấp sổ (bao gôm 9 người )
Để thực hiện chỉ tiêu thu năm sau cao hơn năm trước, giải quyết tình trạng nợ đọng BHXH và đốc thu theo đúng kế hoạch, thu đủ chính xấc, cơ quan BHXH quận Cầu Giấy chủ trương phân chia mỗi cán bộ được giao quản
lý công tác đốc thu ở một vài phường nhất định Mỗi cán bộ trực tiếp làm việc với các đơn vị sử dụng lao động, gặp gỡ cán bộ phụ trách công tác BHXH ở đơn vị đó, hướng dẫn đôn đốc theo dõi ghi chép kết quả đóng BHXH, đồng thời xác nhận để thanh toán 2 chế độ ốm đau, thai sản và hướng dẫn đơn vị
viết tờ khai cấp sổ bảo hiểm, đối chiếu tờ khai cấp sổ với hồ sơ gốc để thực hiện việc cấp sổ BHXH Kể từ tháng 09 năm 1996 thì cơ quan đã thực hiện
việc cấp sổ cho 97%-98% số tham gia đóng BH từ tháng 01 năm 1995 trở về
trước
* Bộ phận chính sách
Để thực hiện được chính sách BHXH cho người lao động một cách kịp thời nhanh chóng, cơ quan BHXH quận giao cho 2 cán bộ phụ trách làm nhiệm vụ:
+ Tiếp nhận chuyển đến, chuyển di các cán bộ hưu trí, mất sức lao động
+Thanh toán chế độ mai táng phí và giải quyết chế độ tuất
* Bộ phận kế toán tài vụ
Vào sáng thứ 2, thứ 4, và thứ 6 hàng tuần, bộ phận kế toán tài vụ làm
nhiệm vụ trực tiếp chỉ trả tiền lương và chính sách xã hội của đối tượng chưa lĩnh, thanh toán mai táng phí, lập chứng từ chi trả trực tiếp chế độ ốm đau tai
nạn lao động Ngoài ra bộ phận còn xây dựng nhiệm vụ kế hoạch với cấp trên
và với kho bạc Nhà nước, cuối cùng thực hiện thanh quyết toán với BHXH cấp trên
Trang 26+ Quản lý về mặt hồ sơ của cán bộ hưu trí, mất sức lao động, tai nạn lao
động bệnh nghề nghiệp, thực hiện cập nhật theo danh sách chỉ trả của công tác
chỉ trả
+ Quản lý về mặt chứng từ chỉ trả
+Quản lý về hồ sơ đóng BHXH của cán bộ công nhân viên chức
+Tổ chức khai thác hồ sơ để phục vụ cho các nhiệm vụ khi có yêu cầu
như: cần xét khen thưởng huân chương phải có xác nhận năm công tác từ hồ
sơ hoặc xác nhận năm công tác của Nhà Nước, giải quyết quyền lợi của các bộ lão thành cách mạng khi họ bị mất hồ sơ
Vậy mỗi bộ phận ở cơ quan BHXH quận Cầu Giấy đều thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao theo chức năng của bộ phận mình nhưng giữa các bộ phận luôn luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Quyền và lợi ích của
người lao động được đảm bảo về các chính sách BHXH được đảm bảo kịp thời
nhanh chóng Trong thời gian qua BHXH quận Cầu Giấy thực thi hoàn thành
các chỉ tiêu đề ra, đây là một cố gắng lớn của toàn bộ các cán bộ trong cơ
quan BHXH quận
2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH quận Cầu Giấy
Nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH quận Cầu Giấy như sau:
-Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác nhằm trình giám đốc BHXH thành phố Hà Nội
- Hướng dẫn đơn vị sử dụng lao động lập danh sách tham gia BHXH, đốc chiếu thu, đôn đốc thu BHXH các đơn vị đóng trên địa bàn quận hoặc trực tiếp thu BHXH theo phân cấp của BHXH Việt Nam và BHXH thành phố
- Tổ chức chỉ trả lương hưu, trợ cấp BHXH
Trang 27- Theo dõi đối tượng tham gia đóng và hưởng BHXH theo từng tháng
- Đảm bảo và quản lý hồ sơ các đối tượng tham gia đóng và hưởng BHXH, khai thác hồ sơ đăng ký quản lý, phục vụ các đối tượng khi có nhu cầu như xác
định năm công tác để miễn giảm tiền nhà tiền đất, khen thưởng chống Mỹ
- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về chế độ, các chính sách BHXH
để giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo với BHXH thành phố xem xét,
- Thực hiện công tác giám định chỉ khám chữa bệnh của người có sổ, thẻ BHXH tại các cơ sở khám chữa bệnh Tiếp nhận và hướng dẫn người bệnh,
giải quyết những vướng mắc và đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân có sổ, thẻ BHXH
- Quản lý cong nhân viên chức, tài chính và tài sản thuộc BHXH quận theo phân cấp của BHXH Việt Nam và BHXH Thành phố
- Lập dự toán và quyết toán thu chi về BHXH và các chi phí quản lý
Nhà Nước
- Giải quyết các chế độ tử tuất cho đối tượng đang hưởng BHXH
- Thực hiện chế độ báo cáo với BHXH thành phố và UBND quận theo
quy định
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU — CHI BHXH TẠI BHXH QUẬN CẦU GIẤY
- HÀ NỘI
2.2 1 Thực trạng công tác thu
2.2.1.1 Cơ sở, chế định thực hiện công tác thu BHXH
Căn cứ vào nghị định số 12/CP ngày 26/1/995 của Chính phủ về việc ban hành điều lệ BHXH và căn cứ vào số đơn vị do BHXH thành phố giao BHXH quận Cầu Giấy thực hiện thu BHXH của:
Trang 28~ Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên
- Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, khu chế xuất,khu công nghiệp, trong các cơ quan tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định khác
- Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc
cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lượng vũ trang
- Người giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến cấp huyện
- Các đối tượng trên đi học, thực tập, công tác, điều dưỡng trong và
ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiên công thì cũng thuộc đối tượng thực hiện BHXH bắt buộc
BHXH thành phố Hà Nội căn cứ vào điều 37 của điều lệ BHXH( Ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/995của CP) quy định: Hàng
tháng, người sử dụng có trách nhiệm đóng BHXH theo quy định tại khoản 1
Điều 36(đóng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị) và trích từ tiền lương của những người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Điều lệ BHXH( 5% tiền lương tháng ) để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH
Ngoài ra, cơ quan BHXH còn căn cứ vào các văn bản liên quan như sau:
- Thông tư số 58/TT/HCSN ngày 24/07/1995 của Bộ tài chính hướng dẫn tạm thời phương thức thu- nộp BHXH
- Công văn số 562/TC ngày 23/12/1995 của Cục tài chính — Bộ quốc phòng, hướng dẫn tạm thời về quản lý thu, chỉ BHXH tại các đơn vị trong
quân đội
Trang 29- Quyết dinh sé 20/1998/ QD- TTg ngày 26/01/1998 của Thủ tướng
chính phủ việc ban hành quy chế quản lý đối với BHXH Việt Nam, Quyết
định số 10/2001/QĐ- TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế quản lý
tài chính đối với BHXH Việt Nam ban hành theo quyết định số 20/1998/ QD-
TTg
- Thông tư số 85/1998/ TT/ - BTC ngày 25/06/1998 của Bộ tài chính
hướng dẫn quy chế quản lý TC đối với BHXH Việt Nam; Thông tư số 66/2001/ TT BTC ngày 22/08/2001 hướng dẫn sửa đổi một số điều của thông
tư số 85/1998/TT- BTC hướng dẫn quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam.; Thông tư số 104/2001/TT-BTC ngày 26/12/1998 của Bộ tài chính
về hướng dẫn quy chế quản lý tài chính BHXH Việt Nam Thông tư số
55/1999/TT- BTC hướng dẫn sửa đổi thông tư số §5/TT/BTC
- Quyết định số 2902/1999/QĐ- BHXH ngày 24/11/1999 của Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH
thuộc hệ thống BHXH Việt Nam
- Quyết định số 211/BHXH năm 1995 quy định tạm thời vé thu chi
Trang 30Bảng 2.1.Tình hình thu BHXH tại BHXH quận Câu Giấy - Ha Nội
(2002-2006)
Số đơn vị Số lao Tổng số Tốc độ tăng trưởng Năm đóng động đóng |_ tiền thu Số tiên |
BHXH BHXH BHXH (ird) Tỷ lệ (%) (đơn vị) (người) (trđ)
công nhân viên chức và ban lãnh đạo cơ quan BHXH quận Cầu Giấy Chính
những cố gắng nỗ lực đố làm cho số thu BHXH không ngừng tăng lên qua các
năm cụ thể:
- Năm 2003 so với năm 2002 số thu BHXH tăng 66,7%
- Năm 2004 so với năm 2003 số thu BHXH tăng 13,3%
- Năm 2005 so với năm 2004 số thu BHXH tăng 42,8%
- Năm 2006 so với năm 2004 số thu BHXH tăng 30,5%
Đặc biệt là năm 2003 so với năm 2002 BHXH quận Cầu Giấy đạt được
số thu tương đối lớn : 45.759 (triệu đồng) tăng 66,7%
Để đạt được kết quả như trên, ngoài sự cố gắng nỗ lực của cơ quan
BHXH quận Cầu Giấy còn có một số yếu tố sau:
Trang 31Mức tiên lương làm căn cứ đóng BHXH : Đối với khối doanh nghiệp nhà nước và khối hành chính sự nghiệp thì lao động càng làm việc lâu thì mức lương càng tăng dần dẫn đến hệ số lương để tính nộp BHXH tăng Mặt khác
do sự phát triển của nên kinh tế nước ta, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện ; nhu cầu cho cuộc sống ngày càng lớn, đòi hỏi thu nhập ngày càng lớn Ngoài ra sự điều chỉnh mức lương tối thiểu của Nhà Nước qua các năm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân cũng có ảnh hưởng không
nhỏ Mức lương tối thiểu từ 210.000 vào năm 2002 tăng lên 290.000 năm
2003 tăng tiếp lên 350.000 vào năm 2005 và bây giờ là 450.000 vào năm
2006 Mà lương hưu của khu vực này lại tính theo hệ số Do đó mức lương được tăng lên làm cho số phải nộp quỹ BHXH cũng tăng lên Đồng thời ngày
06 tháng 12 năm 2002 Chính phủ ban hành nghị định số 100/2002/ NĐÐ- CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH
Việt Nam Khiến cho cơ cấu tổ chức của toàn nghành có sự liên kết chặt chế
và hoạt động có hiệu quả hơn trước BHXH được chủ động đưa ra những kế
hoạch, chiến lược lâu dài nhằm phát triển bên vững Quỹ BHXH được quản lý
theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước và
hạch toán độc lập được Nhà nước bảo hộ, nên có sự lãnh đạo thường xuyên,
trực tiếp từ các cơ quan BHXH cấp trên xuống cấp dưới; tạo nên hiệu quả
trong công tác thu BHXH và còn có xu hướng tăng nhanh hơn nữa trong
những năm tới
Ngoài ra qua mỗi năm đối tượng ngày càng được mở rộng và số tham gia BHXH cũng gia tăng rõ rệt thể hiện qua bảng 2.2
Trang 32Bang 2.2: Luong tăng (giảm) số lao động và số đơn vị tham gia BHXH
tại BHXH quận Câu Giấy (2002- 2006)
Chỉ tiêu 2002 |2003 |2004 |2005 |2006
Số đơn vị tham gia BHXH(đơn vị) 269 303 337 5| 780
36 Lượng tăng (giảm) liên hoàn số đơn - 34 34 199 244
Lượng tăng (giảm) liên hoàn số lao 1.225 | 2.379 | 3.835 | 3.729
động được tham gia BHXH
Nguồn :BHXH quận Cầu Giấy Qua bảng số liệu ta nhận thấy sau 5 năm hoạt động số người tham gia đóng BHXH tại BHXH quận Cầu Giấy tăng lên 11.168 người (Năm 2006 so với năm 2002 tăng 1,53 lần) và số đơn vị tính đến hết nam 2006 tang 511 đơn
vị Nhìn chung mức tăng qua các năm không đều nhau, năm tăng mạnh nhất là
năm 2005 so với năm 2004 tăng 5.835 người(15,5%) và năm 2006 so với năm
2005 tăng 32.286 người (13%) Đạt được điều này cố thể do đầu năm 2003 có
chủ trương mở rộng đối tượng tham gia BHXH theo Nghị định số 01/2003/
ND- CP ngay 09/01/2003 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều lệ của BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ, tất cả mọi người lao động có quan hệ tiền lương tiền công đều thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc kể cả các doanh nghiệp các hộ kinh doanh cá thể, tổ
hợp tác sử dụng từ 10 lao động trở lên và có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên đến không thời hạn Chính vì sự mở rộng đối tượng tham gia như vậy nên
số đơn vị và số lao động tham gia BHXH tăng lên nhanh qua các năm đóng góp không nhỏ vào nguồn thu BHXH
Thực hiện quyết định 20/CP ngày 24/01/2002 của Chính phủ về việc chuyển BHYT sang BHXH Việt Nam và Nghị định 100/CP ngày 6/12/ 2002
Trang 33của Chính phủ quy định chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Theo chủ trương của BHXH Thành phố Hà Nội từ ngày 26/12/2002 chi nhánh BHYT quận Cầu Giấy đã chính thức chuyển sang BHXH quận Cầu Giấy, đưa tổng số cán bộ BHXH quận lên là 20 người Thời gian đầu một số
cán bộ mới chuyển sang chưa thực sự yên tâm công tác, qua sự sắp xếp cán bộ
theo yêu cầu công việc và khả năng của từng người nên số cán bộ này đã yên
tâm công tác tích cực học tập để nắm bắt chuyên môn nghiệp vụ Đến nay các cán bộ của BHXH quận đều nỗ lực cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của
BHXH thành phố giao cho vì BHXH thành phố Hà Nội thực hiện thu BHXH tập trung vào một tài khoản thu nên kết quả thu được đến đâu chuyển ngay lên quỹ BHXH Việt Nam đảm bảo tuyệt đối an toàn nguồn thu BHXH Vì thế BHXH quận phải làm nhiệm vụ đôn đốc, đối chiếu kết quả thu và hướng dẫn việc ghi số BHXH làm cơ sở thực hiện các chế độ BHXH theo luật định Tuy nhiên, với tốc độ phát triển nguồn thu BHXH như hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng chi trả các chế độ trong hiện tại và bảo toàn nguồn quỹ trong tương lai ước tính đến năm 2022 thì bắt đầu thu không đủ chi, và đến năm
2035 thì quỹ BHXH hết khả năng chi trả Trước tình hình này, ngoài việc yêu cầu phải có sự thay đổi trong chính sách còn cần có sự nỗ lực của toàn nghành
BHXH nói chung và từng đơn vị trong hệ thống BHXH nói riêng Trong
những năm gần đây BHXH quận Cầu Giấy cũng đã luôn cố gắng hoàn thành
chỉ tiêu thu BHXH do BHXH thành phố giao
Khối đơn vị luôn đi đầu trong việc hoàn thành nghĩa vụ đóng góp BHXH trên địa bàn quận Cầu Giấy chính là khối hành chính sự nghiệp
2.2.1.3 Công tác thu BHXH ở khối hành chính sự nghiệp
Khối HCSN có nhiều thuận lợi do đặc thù 100% người lao động đều
hưởng lương từ NSNN Tiên lương dùng để đóng BHXH luôn luôn được kê khai chính xác Mặt khác, cán bộ giao nhiệm vụ làm công tác BHXH đều có trình độ và nghiệp vụ kế toán, tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc giao nộp và quản lý số tiền đóng BHXH
Trang 34Việc lập danh sách đăng ký lao động và quỹ tiên lương đăng ký tham gia BHXH đến việc lập danh sách tăng, giảm lao động đối chiếu trích nộp hàng tháng đây, kịp thời chính xác đúng quy định của Nhà Nước
Hiện nay BHXH quận Cầu Giấy quản lý thu, 186 cơ quan HCSN với tổng
số 17.722 lao động tham gia đăng ký trích nộp BHXH Bảng 2.3 cho thấy:
Bảng 2.3: Tình hình thu BHXH ở khối HCSN trên địa bàn quận
Cau Giấy - Hà Nội (2002-2006)
1 Chỉ tiêu Don vi | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006
2 Số đơn vị tham gia| đơn vị 166 174 184 184 186 BHXH
don vi tham gia BHXH
4 Số lao động Người | 14.227 | 14.762 | 16.240 | 17.046 | 17.722
5 Tốc độ tăng liên hoàn số % - 3,8 10 4,9 4,0
lao động tham gia BHXH
2002 Nguyên nhân do sự phát triển của xã hội và sự lớn mạnh của kinh tế cả nước nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng Các cơ quan quản lý của Nhà nước được mở rộng ( cả về số đơn vị và số công nhân viên chức ) nên số thu
BHXH ngày một tăng và còn có khả năng tăng rất nhiều trong những năm tới
Ngoài ra do sự điều chỉnh mức lương tối thiểu của Nhà Nước thay đổi
qua các năm làm cho tổng thu BHXH tăng mạnh trong khu vực HCSN Năm
2003 so với năm 2002 tăng 58,1 % (tức là tăng 12.133trđ) Cho đến năm 2006
Trang 35tổng thu BHXH ở khối HCSN là 64.041 trd tăng 43.160 trđ Để đạt được kết
quả này một phần không nhỏ là nhờ sự nỗ lực của bản thân cơ quan BHXH quận Cầu Giấy và sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng, các cán bộ thu của BHXH quận Cầu Giấy bám sát được lượng đơn vị và lao động thực tế thuộc quản lý của quận Từ đó thực hiện tốt công tác thu BHXH và đã đạt được những kết quả khả quan
Bên cạnh khối HCSN thì khối doanh nghiệp quốc doanh cũng đóng góp
một phần không nhỏ vào quỹ tiền tệ tập trung BHXH
2.2.1.4 Công tác thu BHXH ở khối doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp Nhà Nước là những doanh nghiệp do Nhà Nước thành lập
đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu Bảng 2.4 cho thấy
Bảng 2.4: Tình hình thu BHXH ở khối doanh nghiệp Nhà Nước
đóng trên địa bàn quận Cầu Giấy - Hà Nội (2002-2006)
Chỉ tiêu Don vi | 2002 2003 2004 2005 | 2006
BHXH
2 Tốc độ tăng liên hoàn % — 29 11,1 16,7 14,3
số đơn vị tham gia BHXH
3 Số người lao động Người | 5.712 | 6.025 6.174 | 5.526 | 5.073
4 Tốc độ tăng liên hoàn | % _ 5,5 2,5 - 10,5 | 3,2
số người lao động tham
Trang 36lĩnh vực doanh nghiệp Nhà Nước có tăng nhưng không đáng kể: Năm 2003 so
với năm 2002 tăng 5,5% Năm 2004 so với năm 2003 tăng 2,5 % Đến năm
2005 giảm 10,5 % so với năm 2004 Phải chăng do nước ta chuyển sang cổ phần
hóa và sắp xếp lại doanh nghiệp Tuy nhiên quá trình cổ phần hóa còn đang được
triển khai và còn gặp nhiều khó khăn nên sự thay đổi này không đáng kể Mặc dù
vậy nhưng tổng số tiên thu BHXH ở khối doanh nghiệp Nhà Nước không ngừng tăng nhanh qua các năm Điều này chứng tỏ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà Nước ta khi triển khai mở rộng đối tượng tham gia BHXH
2.2.1.5 Công tác thu BHXH ở khối ngoài công lập
Những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản
tạo điều kiện cho người lao động đang làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh, ngoài công lập được tham gia BHXH
Nhà nước đưa ra chính sách này là nhằm phát huy và mở rộng các
nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực và tài lực trong nhân dân, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong dân, tạo điều kiện cho các hoạt động
giáo dục, y tế, văn hóa phát triển mạnh hơn, có chất lượng cao hơn, là chính
sách lâu dài của Nhà Nước ta Quán triệt sâu sắc tư tưởng trên của Đảng và
Nhà Nước, BHXH Việt Nam nói chung và BHXH quận Cầu Giấy nói riêng đã thực hiện quan tâm đúng mức đến vấn đề này Tạo điều kiện cho nhiều người
lao động thuộc khối ngành này được hưởng chính sách BHXH
Bảng 2.5 : Tình hình thu BHXH ở khối ngoài công lập tại BHXH
quận Câu Giấy - Hà Nội(2002- 2006)
Năm Số đối tượng tham |_ Tốc độ tăng Số thu Tốc độ tăng
gia(người) trưởng (%) BHXH(trd) truong(%)
Trang 37La khối được tham gia BHXH bắt đầu từ năm 2002 và đã tăng nhanh qua các năm Năm 2003 tăng 1,5% so với năm 2002 Từ năm 2004 đến năm
2006 tăng nhanh và khá đều xấp xỉ 31% Mức độ tăng trưởng của nguồn thu
khá ổn định, không có sự biến động bất thường Các đơn vị trường học, y tế, nhà văn hóa, trung tâm thể dục thể thao đóng tại quận đều nhận thức rõ nghĩa
vụ và quyền lợi khi tham gia BHXH cho người lao động Các đơn vị thuộc khối này đã tích cực phối hợp với BHXH quận Cầu Giấy lập bảng đối chiếu tăng giảm, lập danh sách trích nộp tiên BHXH chính xác đầy đủ, đúng quy định cho người lao động
2.2.1.6 Công tác thu BHXH ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia đóng
BHXH so với số doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động
Nguồn: BHXH quận Câu Giấy
Theo số liệu trên, mặc dù số doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc quận Cầu Giấy tham gia BHXH đã tăng nhanh qua các năm với tỷ lệ từ 41% đến 64,8% (Số liệu này thể hiện sự nỗ lực không ngừng của cán bộ thu của phòng BHXH quận Cầu Giấy trong những năm qua) Tuy nhiên nếu so với tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang thực tế hoạt động (Số đơn vị
tham gia BHXH chỉ mới chiếm 75,4% trong năm 2006) thì chứng tỏ chúng ta
chưa khai thác được hết nguồn lực trong khu vực này để đảm bảo lợi ích cho người lao động Mặc dù vậy, sau hơn 8 năm có sự chính thức quản lý BHXH đối với khu vực ngoài quốc doanh, BHXH quận Cầu Giấy đã khai thác được
gần 500 doanh nghiệp trên địa quận với tổng số lao động tham gia lên tới
Trang 388.102 lao động Số đơn vị tham gia của năm 2006 tăng gấp 7,7 lần so với số đơn vị tham gia BHXH trong năm 2002(Tăng 412 đơn vị) thu hút hơn 6.997 lao động tham gia BHXH
Nhưng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực tế trên địa bàn quận thì đây mới chỉ là con số mà quận nắm được còn thực chất thì số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh cao hơn rất nhiều Đây là những đơn vị trốn tránh BHXH ví dụ như: Công ty TNHH bia Ba Đình, công ty TNHH Đức Thành
Theo trên 50% doanh nghiệp ( công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp
tư nhân ) chưa tham gia BHXH hoặc chỉ đăng ký tham gia cho số ít cán bộ quản lý của doanh nghiệp Đây là tình trạng chung của cả nước, của cả thành phố Hà Nội chứ không phải của riêng quận Cầu Giấy Thực tế BHXH quận Cầu Giấy đã có nhiều biện pháp tích cực, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành
chức năng, tổ chức khai thác nguồn thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh một cách khoa học Thường xuyên tổ chức vận động, tuyên truyền, hướng dẫn
họ tham gia BHXH Mặc dù chưa khai thác được hầu hết các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tham gia BHXH nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động làm việc trong khối doanh nghiệp này, song đã chứng tỏ sự khai thác đúng
hướng của cơ quan BHXH Điều này thể hiện rõ nét qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.7: Tình hình thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trên địa bàn quận Cầu Giấy -Hà Nội(2002-2006)
Trang 39
Số liệu trên cho thấy: Số thu BHXH ở khu vực ngoài quốc doanh trong những năm qua chứng tỏ sự thành công của BHXH quận Cầu Giấy khi tiếp quản và triển khai thu BHXH ở khối doanh nghiệp này Nếu như năm 2002 thu BHXH khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ đạt 872 triệu đồng thì sau
5 năm đến năm 2006 đã là 17.716 triệu đồng tăng 18 lần (tăng 14.844 triệu
2.2.1.6 Công tác thực hiện chế độ chính sách cho cán bộ xã phường
Nghị định số 09/1998/ ND-CP ngày 15/01/1998 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung Nghị định 50/CP ngày 26/07/1995 của chính phủ về chế độ sinh hoạt phí với cán bộ xã, phường, thị trấn Cán bộ cấp xã tham gia đóng BHXH và hưởng chế độ hưu trí và mai táng phí là những cán bộ làm công tác Đảng,
chính quyền và trưởng các đoàn thể và cán bộ chức danh chuyên môn là địa
chính, tư pháp, tài chính — kế toán và Văn phòng ủy ban nhân dân xã
Mặc dù mới triển khai công tác này từ năm 2001 nhưng BHXH quận
Cầu Giấy cũng đã thực hiện tốt công tác thu BHXH ở khối đơn vị này
Trang 40Bang 2.8: Tinh hinh thu BHXH cho can bộ xã phường tại BHXH
số đơn vi tham gia
BHXH
3 Số lao động Người 80 88 92 135 139
4 Tốc độ tăng liên hoàn % - 10 4,5 46,7 2,9
số lao động tham gia
Nguồn: BHXH quận Cầu Giấy
Đây là khối có số đơn vị và số lao động tham gia BHXH rất nhỏ với
tổng số 8 phường thuộc địa bàn quận Thì tổng số thu BHXH ở các phường
như trên của BHXH quận Cầu Giấy là một kết quả đáng ghi nhận.Số người lao động nằm trong khối đơn vị này tham gia BHXH ngày một tăng, đến năm
2006 là 139 người tăng 1,7 lần so với năm 2000 Đây là kết quả phản ánh đúng đắn trong chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH của Đảng và chính phủ
Nhìn chung nguồn thu BHXH nằm chủ yếu ở khối hành chính sự
nghiệp nhiều do đặc thù 100% người lao động đều được hưởng lương từ NSNN cấp Điều đó được thể hiện qua cơ cấu % giữa các đơn vị tại quận Cầu
Giấy như sau: