Quá trình thu gom và xử lý nước thải tại khu liên hợp xử lý chất thải rắn Hệ thống thu gom nước rác phải được thiết kế sao cho có thể thu gom toàn bộ nước rác từ đáy bãi chôn lấp và tập
Trang 1MỞ ĐẦU
Những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trí tuệ con người làm cho nền sản xuất tăng nhanh nhưng môi trường đã và đang xấu dần đi, môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm nặng, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, báo hiệu nguy cơ suy thoái đối với sự sống của mọi sinh vật trên toàn trái đất trong đó có con người
Trong những năm qua, nên kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, các ngành sản xuất, dịch vụ, xu hứơng đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Cùng với sự phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số là sự phát triển ngày càng tăng cả về lượng và thành phần chất thải
Một trong những gây ra sự ô nhiễm nguồn nước là nước thải từ các cơ sở sản xuất
và các khu dân cư, và do nước rò rỉ từ lớn với các nguồn nước và ảnh hưởng trực tiếp đến con người và sinh vật các bãi rác Nếu các loại nước thải này không được xử lý kịp thời nó sẽ gây ra ô nhiễm
Tốc độ đô thị hoá diễn ra một cách nhanh chóng dẫn đến một hệ quả tất yếu là thành phần và lượng chất thải sinh hoạt ngày một tăng Chất thải chủ yếu đem đi chôn lấp, nước rác hình thành mang rất nhiều chất ô nhiễm nên rất cần được thu gom và xử
lý
Từ trước tới năm 1998, chúng ta chưa xây dựng được bãi chôn lấp nào đúng quy cách, hợp vệ sinh Năm 1996 Bộ xây dựng đã ban hành quy phạm thiết kế, xây dựng, vận hành và kiểm soát bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Nước rác sinh ra từ các bãi chôn lấp chảy tràn ra ngoài hệ thống bờ bao gây thiệt hại cho đời sống sản xuất và sinh hoạt của dân cư Nước rác sinh ra không được xử lý kịp thời hoặc chưa đạt tiêu chuẩn đang có nguy cơ làm ô nhiễm nước ngầm và vùng nông nghiệp xung quanh
Để góp phần cải thiện chất lượng môi trường, giảm tác động tới môi trường của nước rác Đề tài :
“Điều tra hiện trạng thu gom và xử lý nước thải của khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới phương pháp đông-keo tụ xử lý
nước rích ”
Trang 2Nội dung đồ án gồm có:
Chương I: Tổng quan về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Chương II: Hiện trạng thu gom và xử lý nước rác của khu liên hợp xử lý
chất thải rắn Nam Sơn -Sóc Sơn — Hà Nội
Chương III: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình đông-keo tụ
Trang 3CHUONG I:
TONG QUAN VE QUAN LY CHAT THAI RAN 6 VIET NAM
1.1 Lượng chất thải rắn tại các đô thị lớn của Việt Nam [5]
Cùng với công nghiệp hoá, quá trình đô thị hoá ở Việt Nam diễn ra nhanh chóng Dân số đô thị trong cả nước năm 2001 là 19.481.000 chiếm 24,75% tổng dân
số, dự báo sẽ lên tới 29+30% vào những năm 2010, và tới 45% vào những năm 2020 Ô nhiễm do chất thải rắn gây ra càng phức tạp Sức ép về vệ sinh môi trường, quản lý chất thải rắn và nhu cầu xây dựng các bãi chôn lấp là những vấn đề hiện đang là gánh nặng cho nhà quản lý môi trường và đô thị ở mọi vùng của Việt Nam
Tính trung bình từ năm 1996+1999 lượng chất thải rắn đô thị phát sinh ở các
thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Da Nang) 14 0,6+0,8
kg/người/ngày Các đô thị còn lại ở mức 0,3+0,5 kg/người/ngày Tỷ lệ thu gom chất thải rắn dao động từ 40+70% ở các đô thị lớn có hệ thống dịch vụ tốt, các đô thị nhỏ chỉ đạt 20+40% Công nghệ thu gom vận chuyển ở mức độ thấp Lượng chất thải rắn trung bình phát sinh tại các đô thị năm 1997 là 19.315tấn/ngày, năm 1998 là 22.210 tấn/ngày Các loại chất thải sinh hoạt, công nghiệp và nguy hại, rác thải y tế chưa được phân loại chôn chung với nhau(duy chỉ có Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có lò đốt rác y tế tập trung và một số (<40) bệnh viện có lò đốt rác quy mô nhỏ) Các bãi chôn lấp hầu hết là cũ, chưa hợp vệ sinh, trừ khoảng10 bãi chôn lấp rác mới xây dựng trong một số năm lại đây Vì vậy, những ô nhiễm đối với môi trường xung quanh là khó tránh khỏi được mặc dù các cơ quan quản lý đã nỗ lực hết sức mình
Phát thải chất thải rắn, tỉ trọng và thành phần chất thải rắn phụ thuộc vào mức sống và tập quán của dân cư từng đô thị Ti trọng của chất thải rắn là 480 - 580 Kg/m? tai Ha Noi, 420 kg/m? tai Da Nang, 500 — 580 kg/m*tai Hué, 580 kg/m’ tai Hai Phong, Thành phố Hồ Chí Minh: 500 kg/mẺ Đặc trưng chung là độ ẩm cao, nhiệt trị thấp, có hợp chất hữu cơ cao: 50 — 60%, chứa nhiều sỏi đá Thu hồi tái chế 13 — 20% thực hiện thủ công do người bới rác
1.2 Chôn lấp hợp vệ sinh —- phương pháp tiêu huỷ chất thải rắn chủ yếu ở
nuéc ta.[5]
Chôn lấp rác hiện vẫn là phương pháp phổ biến để loại bỏ rác ở đại đa số các nước trên Thế giới Có tới trên 85% trong tổng số 18 — 20 triệu tấn rác sinh hoạt mỗi
Trang 4năm thải ra tại nước Anh được chôn lấp Khoảng 60% lượng rác tại cộng đồng Châu âu được chôn lấp, 33% thiêu đốt và khoảng 7% được chế biến thành phân compost
Mặc dù việc tái sử dụng chất thải là làm phân compost làm giảm đáng kể lượng rác chôn lấp nhưng chôn lấp vẫn là một phương pháp được chọn làm phương pháp để tiêu huỷ nhiều loại vật liệu mặc dù chôn lấp đòi hỏi một diện tích đất lớn
Ở nước ta, áp dụng phương pháp chôn lấp tiêu huỷ chất thải rắn hiện là phương pháp chủ yếu Khái niệm chôn lấp bền vững đề ra việc giảm thiểu các tác động có hại
từ bãi chôn lấp tới mức độ tối đa trong thời gian ngắn nhất mà không ảnh hưởng tới các thế hệ sau
Vấn đề đặt ra là phải tăng cường mức độ phân huỷ tại bãi rác, bãi rác phải đảm bảo độ ẩm cho phép để vận hành như một thiết bị phân huỷ sinh học yếm khí khổng lồ
với thể tích lớn hàng chục mổ Trong cả các hệ thí nghiệm và thực tế vận hành, việc
quay vòng nước rác làm tăng mức độ phân huỷ vi sinh trong bãi rác, làm giảm COD và BOD trong nước rác, rút ngắn thời gian tiền sinh khí metan mặc dù có thể một lượng COD khó phân huỷ tạo thành, do đó phải đòi hỏi pha loãng hay tiên xử lý nước rác trước khi xả nước rác ra nguồn tiếp nhận là một vấn đề tiên quyết của các bãi rác trong
và ngoài nước
Rất nhiều bãi rác trên Thế giới được thiết kế mới theo phương châm và xu hướng chủ đạo là cho phép khống chế độ ẩm bằng dòng nước rỉ rác hồi lưu tại bãi chôn lấp hay có lắp hệ phun ẩm Sự khống chế, điều khiển được một cách chính xác độ
ẩm và sự khuyếch tán chuyển động dòng nước rác trong bãi chôn lấp là một điều hết sức cần thiết giúp ích cho quá trình diễn biến trong bãi rác bên cạnh các yếu tố về vận hành bãi chôn lấp Việc đầm nén chặt và phân loại rác cũng rất cần thiết cho việc tạo nên các dòng nước rác chảy ngầm và đều khắp qua các khu rác đã chôn lấp theo từng vùng
Đặc thù của các bãi rác là rất khác nhau (tuổi của bãi rác, thiết kế, vận hành bãi
chôn và điều kiện tự nhiên) nên tính chất ô nhiễm của nước rác là rất khác nhau
1.3 Các vấn đề nảy sinh liên quan đến nước rác tại các bãi rác lớn của Việt Nam [5]
- Phan lớn các bãi chôn lấp ở Việt Nam chưa hợp vệ sinh, chủ yếu là chôn lấp lộ thiên nên đã tạo diều kiện cho ruồi muỗi phát triển, mùi hôi thối bốc lên do quá trình phân huỷ yếm khí trong bãi rác Vì vậy, đã gây ra ô nhiễm không khí và nguồn nước ngầm cả một vùng rộng lớn
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 4
Trang 5- _ Các bãi chôn lấp rác ở các thành phố lớn đều trong tình trạng quá tải, không được thiết kế và qui hoạch ngay từ đầu, cộng với việc quản lí vận hành chưa hợp lí nên đã gây ra hàng loạt các vân đề hết sức nan giải
-_ Nước rác sinh ra từ các bãi chôn lấp (chủ yếu là từ các hồ tích luỹ nước rác xung quanh bãi) chảy tràn ra hệ thống bờ bao gây thiệt hại nặng nề cho đời sống sản xuất và sinh hoạt của dân cư Nước rác sinh ra không xử lý kịp thời hoặc chưa đạt tiêu chuẩn đang có nguy cơ gây ô nhiễm nước ngầm và vùng nông nghiệp xung quanh
- _ Việc giảm thiểu và phân loại chất thải rắn tại nguồn hầu như chưa được quan tâm
và thực hiện, nhiều chất thải nguy hại trong y tế và công nghiệp được thu gom và chôn chung với chất thải sinh hoạt
Các vấn đề trên chính là một trong những nguyên nhân gây ra sự cố nhiều nơi như trường hợp vỡ bờ bao ở bãi rác Đông Thạch và nhiều trường hợp hoa màu của nông dân ở gần khu chôn lấp bị chết Để hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả, chính quyền các cấp đang tìm mọi biện pháp xử lý và cải tạo bãi chôn lấp Điển hình là dự án xây dựng khu xử lý nước rác tại bãi chôn lấp Nam Sơn — Sóc Sơn — Hà Nội bãi chôn lấp Đông Thạch, bãi Tân Cương - Thái Nguyên, Bến Cát - Hải Phòng và một vài bãi chôn lấp khác đã và đang được triển khai
1.4 Nhận xét về các nghiên cứu đặc tính nước rác tại Việt Nam
Việc xây dựng bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt hợp vệ sinh là một nhu cầu cấp thiết Một số bãi rác mới được thiết kế dựa trên các nghiên cứu về các bãi rác cũ của Việt Nam hay kinh nghiệm của Thế Giới dựa vào hoạt động đã bộc lộ những bất cập về vấn đề nước rò rỉ bãi rác và hệ thống xử lý nước rác phải đóng cựa tạm thời để cải tạo
hệ thống như ở hai bãi rác lớn nhất của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Mặc dù không nhiều nhưng đã có những nghiên cứu, đánh giá một số chỉ tiêu của nước rỉ rác với mục tiêu là đánh giá mức độ ô nhiễm của các đơn vị đai học Van Lang TP Hồ Chí Minh đại học Huế hay của Viện cơ học về tính chất của rác Nam Sơn
Các số liệu này trong chừng mực nhất định chỉ có tác dụng vế mặt xem xét độ ô nhiễm chứ không đáp ứng được mục tiêu là xem xét diễn biến của quá trình để mà từ
đó làm cơ sở khoa học xây dựng công nghệ xử lý Những hệ thống xử lý nước rác xây dựng theo mô hình tương tự của nước ngoài đã không phù hợp với thành phần, tính chất rác thải sinh hoạt, điều kiện địa chất, khí hậu, thói quen vận hành bãi rác của nước
ta
Các kết quả nghiên cứu đặc tính của nước rác (ví dụ: nước rác Nam Sơn, Đông Thạch, Gò Cát đã công bố nhiều ) Một số nhận xét về các nghiên cứu đặc tính nước
rác như sau :
Trang 6- _ Số liệu được phân tích theo nhiều phương pháp khác nhau
- _ Các kết quả phân tích rất khác nhau ở các phòng thí nghiệm chuyên về môi trường
Sự khác biệt là rất đáng kể, nhất là ở cdc chi titu BOD;, COD, NH,, tong N
- _ Chưa có nghiên cứu liên tục tại các phòng thí nghiệm chuyên môn để đánh giá diễn biến nước rác thời gian dài
- _ Các nghiên cứu nước rác thường chỉ được nghiên cứu riêng lẻ Các yếu tố quan tâm chưa đủ phục vụ cho việc tìm kiếm công nghệ xử lý thích hợp
- _ Chưa có các nghiên cứu thích hợp các yếu tố ngoại cảnh: điều kiện khí tượng thuỷ văn, điều kiện phân huỷ tại hội sinh học với vai trò của thuỷ sinh thực vật và các phân huỷ tự nhiên một cách toàn diện
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 6
Trang 7CHUONG II:
HIEN TRANG THU GOM VA XU LY NUGC THAI CUA KHU LIEN HOP XU LY
CHAT THAI RAN NAM SON - SOC SON - HA NOL H1 Vài nét về công ty Môi trường đô thị Hà Nội
Công ty Môi trường đô thị (MTĐT) Hà Nội là một doanh nghiệp công ích hoạt động trong lĩnh vực vệ sinh môi trường, là cơ quan quản lý chất thải rắn của thành phố Hà Nội Chức năng và nhiệm vụ của Công ty là:
1 Thu gom, vận chuyển xử lý chất thải sinh hoạt, thương mại, bệnh viện, xây dựng và
công nghiệp
2 Bom hút phân xí máy và các dịch vụ vệ sinh công cộng,
Thiết kế, chế tạo các dụng cụ và thiết bị chuyên dùng phục vụ công tác vệ sinh môi
trường
4 Tư vấn công nghệ & đầu tư và đánh giá tác động môi trường
Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị chuyên dùng phục vụ công tác vệ sinh môi trường
Các đơn vị trực thuộc Công ty MTĐT Hà Nội gồm:
5 Xí nghiệp môi trường, mỗi Xí nghiệp chịu trách nhiệm thu gom và vận chuyển rác thải trên địa bàn các Quận được phân công quản lý
2 đoàn xe cơ giới, l đoàn chịu trách nhiệm tới rửa đường và bom phân xí máy, đoàn còn lại có trách nhiệm vận chuyển đất và chất thải xây dựng
1 Xí nghiệp chế biến chất thải sinh hoạt làm phân compost
1 Xí nghiệp cơ khí dịch vụ: sửa chữa, bảo dưỡng, chế tạo các thiết bị vận tải và vệ sinh chuyên dùng và thực hiện các dịch vụ vệ sinh môi trường
1 Xí nghiệp quản lý bãi chôn lấp
1 Xí nghiệp xử lý chất thải bệnh viện
Trang 81 Trung tâm Tư vấn Kỹ thuật Môi trường
Nhân lực tham gia thu gom, vận chuyển chất thải:
Công ty MTĐT Hà Nội hiện có 3564 cán bộ công nhân viên, trong đó có khoảng
2500 công nhân thu gom phế thải
Bảng 2.1: Quản lý rác thải tại Hà Nội (thống kê, dự báo của công ty môi trường đô thị Hà Nội)
1.2.1 Hệ thống thu gom nước rác
1I.2 Quá trình thu gom và xử lý nước thải tại khu liên hợp xử lý chất thải rắn
Hệ thống thu gom nước rác phải được thiết kế sao cho có thể thu gom toàn bộ nước rác từ đáy bãi chôn lấp và tập trung dẫn về khu xử lý trước khi xả ra nguồn tiếp nhận nhưng với lượng nước ít nhất có thể Nước rác được dẫn ngay ra trạm xử lý thì sẽ không có nước đọng lại trong lớp rác và áp suất tạo ra đối với lớp chống thấm là thấp nhất Để ngăn ngừa sự rò ri của nước rác sang các khu vực xung quanh, người ta đã lắp đặt một hệ thống cống thu gom ở dưới đáy và chạy bao quanh đưa nước rác từ bãi chôn lấp tới nơi xử lý
Hệ thống thu gom nước ở đáy
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội
Trang 9- Hé thong cống thoát bao quanh
- Dat hé thong bơm hút nước rác với công suất lớn
-_ Sử dụng các tấm lót để hạn chế nước ngấm vào nguồn nước ngầm
Hệ thống thu gom nước rác tại bãi chôn lấp Nam Sơn bao gồm:
Đáy có bê mặt dốc
Đáy bằng Hình 2.1: Mạng lưới ống thu gom nước rác
1 Ống chính tổng thể thu gom, tập trung toàn bộ nước rác từ ống dọc của từng ô
2 Ống dọc, thu gom nước rác từng ô, ống này được đặt dọc theo nên đáy từng ô chôn lấp và nằm trên nền chống thấm của đáy ô chôn lấp hoặc trên màng tổng hợp chống thấm
3 Mạng lưới ống nhánh thu nước rác được đặt ở bên trong từng ô để thu gom nước rác trên toàn bộ đáy của mỗi ô chôn lấp Mạng lưới đường ống nhánh có đường kính tối thiểu 150 —- 200mm, độ dốc tối thiểu 1%, ống dọc và ống nhánh đều là những ống có khoan 16
4 Cac ống đứng được nối với các ống dọc và mạng lưới ống nhánh và sẽ được nối cao dân khi chiều cao lớp rác được đổ đầy Tổng chiều cao lớp rác giai đoạn một của bãi chôn lấp Nam Sơn là 26m Khi giai đoạn hai đưa vào vận hành, cột rác của giai đoạn một và hai sẽ tăng tới 36m Như vậy ống đứng có chức năng là những ống thông khí Ngoài ra chiều cao lớp rác được đổ khá lớn, tuỳ thuộc khả năng thấm nước của các lớp rác và các lớp đất phủ, người ta có thể đặt thêm các ống thu gom nước rác trung gian theo chiêu cao Mạng lưới ống thu gom nước rác này còn có chức năng thông khí
cho bãi rác
Trang 105 Lớp vật liệu lọc bằng sỏi bao quanh đường ống thu gom nước rác sao cho nước rác tự chảy nhanh nhất xuống hệ thống ống thu gom
6 Ngoài ra còn có hồ chứa nước rác và trạm bơm nước rác đến trạm xử lý
Theo không gian và phương thức thu gom người ta phân biệt:
Rãnh thoát nước mưa và nước mặt có thể là rãnh hở hoặc rãnh kín, được bố trí xung quanh bãi Chức năng của nó là thu gom nước mưa và nước mặt không cho chảy vào bãi rác đồng thời thu gom nước rác không cho chảy vào nguồn nước mặt hay nước ngầm mạch nông Những bãi chôn lấp rác đã có hệ thống thu gom nước rác ở đáy cũng phải có rãnh thoát nước xung quanh
Trong trường hợp bãi chôn lấp rác nổi thì rãnh thoát nước có thể thay thế hay kết hợp với hệ thống thu gom và thoát nước đáy
Bơm nước rác từ giếng lên: Việc thu gom nước rác bằng bơm từ các giếng ở trong hay xung quanh bãi là phương thức khá phổ biến ở những bãi chôn lấp rác hiện đang hoạt động vì ở đó không có hệ thống thu gom nước rác đáy hoặc yêu cầu phải bổ sung thêm Nhược điểm của phương pháp thu gom này là nước ngầm bị ô nhiễm và phải bơm cả hỗn hợp nước rác thấm từ trên các lớp rác tới nước ngầm, do đó khối lượng nước phải bơm và xử lý rất lớn
Hệ thống thu gom và thoát nước đáy: Đây là hệ thống có diện tích thu gom khá lớn Hệ thống này có thể là mương rãnh xây và đậy tấm đan có lỗ hoặc ống khoan lỗ Đối với bãi chôn lấp Nam Sơn là hệ thống ống khoan lỗ
II.2.2 Quá trình hình thành nước rác Thành phần, lưu lượng của nước rác
Lượng nước rác hình thành trong bãi chôn lấp được ước tính dựa trên sự cân bằng nước trong bãi chôn lấp Sự cân bằng nước bao gồm tổng lượng nước đi vào bãi chôn lấp trừ đi lượng nước tiêu thụ cho các phản ứng hoá học và lượng nước bị bay hơi (xem
hình sau):
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 10
Trang 11dan da = Genii thai -_ Nước bay hơi
- Nước chứa trong vật liệu phủ q, =18(@,.V)/(RT)
(6Ì12% với cat, 23 131% với đất sét) -_ Nước giữ trong lớp rác
ona = Avae tieu phú" vạt liệu phủ Gr = Quá aoL0,6-0,55 2, /(10000+ 2, )
- Nuc sinh ra do cdc phan ting hoa -_ Nước rác
Lượng nước sinh ra
Qs = (Gmuat Gro-ri-da + Apna + Ga) - (s+ G6 + G7) ( m’/ng.d) Lượng nước rác tối đa có khả năng sinh ra là lượng nước không vượt quá khả năng giữ ẩm của các vật liệu trong bãi chôn lấp Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng lượng nước sinh ra lớn nhất sau 25 ngày chôn lấp Nguồn nước chủ yếu bao gồm nước vào các ô chôn lấp từ phía trên, lượng ẩm có sẵn trong rác thải, lượng ẩm của vật liệu bao phủ và lượng ẩm trong bùn
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 11
Trang 12Nước mưa
Dòng khí khí nước
Hình 2.3 : Sự hình thành nước rác và ảnh hưởng tới nước ngầm
e Nước vào từ phía trên: Chủ yếu là nước mưa thấm qua lớp vật liệu bao phủ và lớp chất thải rắn Một trong những khó khăn trong viêc xây dựng phương trình cân bằng nước trong bãi chôn lấp là việc xác định lượng nước mưa thực sự thấm lọc vào lớp vật liệu bao phủ của bãi chôn lấp
e Nước vào từ chất thải rắn: Nước vào trong bãi chôn lấp từ chất thải là lượng ẩm
có sẵn trong rác và lượng ẩm được hấp thụ từ không khí hoặc từ mưa Lượng ẩm trong chất thải đô thị ước tính khoảng 20%, nhưng giá trị này còn tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên và phương pháp lưu giữ
e Nước vào từ các vật liệu bao phủ: Lượng nước vào từ vật liệu bao phủ sẽ phụ thuộc nhiều vào dạng vật liệu và mùa trong năm Lượng ẩm tối đa có thể chứa trong nó được xác định dựa trênkhả năng giữ ẩm thực tế Giá trị điển hình đối với cát là 6-12%, đất nhiều mùn là 23-31%
e Nước di chuyển từ phía dưới: Nước lấy ra từ đáy của ô chôn lấp đầu tiên được coi là nước rác Nước ở đáy ô chôn lấp thứ hai và ô chôn lấp tiếp theo ứng với nước xâm nhập từ phía trên đối với ô thứ nhất ở các bãi chôn lấp có hệ thống thu gom nước rac trung gian, nước di chuyển từ đáy của các ô đặt trực tiếp phía trên hệ thống thu gom nước rác trung gian cũng được coi như nước rác
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 12
Trang 13Hình 2.4: Luợng nước rác sinh ra ở các thời kỳ hoạt động khác nhau của bãi chôn lấp
Trang 14Ngoài ra, còn có một số phương pháp khác xác định lượng nước rác sinh ra sau khi bãi chôn lấp được bao phủ lớp cuối cùng như phương pháp cân bằng nước, mô hình hoá bằng máy tính trong việc kết hợp với phương pháp cân bằng nước, các phương pháp thực nghiệm, mô hình toán học và các phương pháp đo lường sự thấm lọc trực tiếp
Thời kỳ đầu, một lượng lớn nước thấm vào bãi rác được hấp phụ và giữ lại trong các khe hở của rác chôn lấp cho ddến khi lượng nước giữ lại trong rác vượt quá khả nang hấp phụ của rác thì nước rác bắt đầu sinh ra Nước rác sinh ra ban đầu tăng lên theo tuổi của bãi chôn lấp trong vòng 20 năm sau đó giảm dần
2 Thành phần, lưu lượng của nước rác
2.1 Lưu lượng nước rò rỉ
Khối lượng và lưu lượng nước rò rỉ của các bãi chôn lấp phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
2.1.1 Độ ẩm của chất thải rắn:
Chất thải rắn có độ ẩm càng cao, lưu lượng nước rò rỉ càng lớn Nhưng thông số
về độ ẩm chỉ cho biết khối lượng nước rò rỉ có thể có, mà không cho biết lưu lượng nước rò rỉ (mỶ/ngày.đêm) vì còn phụ thuộc vào hệ số nén tại bãi chôn lấp và khả năng giải phóng nước từ chất thải rắn sau khi nén
2.1.3 Lượng nước thấm vào bãi chôn lấp:
Lượng nước mưa thấm vào bãi chôn lấp phụ thuộc vào cường độ, thời gian mưa, phương pháp vận hành bãi chôn lấp trong thời gian hoạt động và cấu tạo, thành phần lớp phủ sau khi đống bãi chôn lấp Khi không có lớp cách nước, một lượng lớn nước mưa sẽ thấm vào bãi chôn lấp và tạo thành nước rò rỉ Bãi chôn lấp vận hành theo từng đơn nguyên riêng biệt sẽ giảm đáng kể lượng nước rò rỉ Lượng nước rò rỉ do nước mưa thấm vào bãi chôn lấp có thể dễ dàng tính toán dựa theo số lượng mưa và lượng bốc hơi
2.1.4 Lượng nước ngầm đi qua bãi chôn lấp (nếu có):
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 14
Trang 15Đây cũng là nguồn đáng kể để tạo thành nước rò rỉ và lan truyền ô nhiễm, đặc biệt bãi chôn lấp không được xây dựng lớp lót chống thấm Lượng nước rò rỉ do nước ngầm thấm qua bãi chôn lấp có thể tính theo công thức của Dacxy
tố Nhưng lưu lượng này có thể xác định bằng thực nghiệm và tính toán Tuy nhiên lượng nước rò rỉ do độ ẩm và các phản ứng sinh hoá chỉ đóng vai trog quan trọng trong mùa khô và có thể cả vào mùa mưa, nếu có biện pháp giảm đến mức thấp nhất lượng nước mưa và nước ngầm thấm vào bãi chôn lấp
Như vậy lượng nước rò rỉ được tính theo công thức:
Q= Ghari-da + Gro ri-pu + Aro riem + Ara ri-nn
Trong đó: Q: lưu lượng nước rò rỉ từ bãi chôn lấp, mỶ/ng.đ
đa s-a¿: lưu lượng nước rò rỉ do độ ẩm của rác, mỶ/ng.đ
da ä„w: lưu lượng nước rò rỉ do phản ứng sinh hoá, mỶ/ng.đ
dzz.n :lưu lượng nước rò rỉ do mưa,m'/ng.đ
d» z-aa: lưu lượng nước rò rỉ do nước ngầm, mÌ/ng
Để đơn giản hoá lượng nước rò rỉ từ nước mưa, hai giả thiết sau được kiến nghị
áp dụng:
- Với thực tế xây dựng của bãi chôn lấp Nam Sơn với lớp lót bằng vật liệu chống thấm (High Density Polyethylene-HDPE) giả thiết rằng không có lượng nước ngầm thấm qua bãi chôn lấp (q;¿z„ạ =Ú) , Vậy:
Qh= Gro ri-da + Gro vi-pu + Gro rim
- Vì việc vận hành bãi chôn lấp theo đơn nguyên, nên diện tích có mưa chỉ tính với đơn nguyên đang xảy ra hoạt động chôn lấp có diện tích trung bình là3ha (30.000m?)
Trang 16Lưu lượng nước rò rỉ do độ ẩm và phản ứng sinh hoá trong bãi chôn lấp Chất thải rắn trong bãi chôn lấp thực hiện hàng loạt các phản ứng hoá học, sinh học và thay đổi về tính chất vật lý
Các phản ứng sinh hoc
Các phản ứng sinh học quan trọng xảy ra trong bãi chôn lấp liên quan đến các chất hưu cơ chứa trong chất thải rắn sinh hoạt Các phản ứng sinh học này dẫn đến việc tạo thành khí và nước rò rỉ của bãi chôn lấp Trong giai đoạn rất ngắn ban đầu, ngay sau khi chôn lấp quá trình phân huỷ sinh học hiếu khí xảy ra cho đến khi lượng ôxy còn lại bị tiêu thụ và giảm xuống Trong quá trình phân huỷ hiếu khí, khí CO; sinh ra
là chủ yếu, khí O; đã bị tiêu thụ hết, quá trình phân huỷ kị khí bắt đầu xảy ra và chất
hữu cơ được chuyển hoá thành khí CO;, CH¡ạ và một lượng nhỏ khí NH;ạ, H;S Ngoài ra
còn rất nhiều phản ứng trung gian khác:
C,H,O,N; + )H;O->
(Seen CH (BPRS )CO,+dNH,
Các phản ứng hoá hoc
Các phản ứng hoá học quan trọng nhất xuất hiện trong bãi chôn lấp gồm hoà tan
và khuếch tán(dạng lơ lửng) của các chất chôn lấp Sản phẩm chuyển hoá sinh học vào chất lỏng thấm qua chất thải rắn, bay hơi các hợp chất hữu cơ và nước vào khí của bãi chôn lấp, hấp phụ các hợp chất hữu cơ bay hơi vào vật liệu bị chôn lấp, khử halogen và phân huỷ các chất hữu cơ và các phản ứng oxy hoá khử ảnh hưởng đến thành phần kim loại và các muối kim loại Sự hoà tan của các sản phẩm chuyển hoá sinh học và các hợp chất khác, đặc biệt là các chất hữu cơ và nước ro rỉ có tầm quan trọng đặc biệt vì các loại chất này có thể bị lan truyền ra ngoài bãi chôn lấp cùng với nước rò rỉ Các phản ứng hoá học quan trọng khác là các phản ứng hữu cơ và lớp đất sét, các phản ứng này ảnh hưởng đến khả năng thấm và cấu trúc của lớp vật liệu lót đáy bãi chôn lấp Các phản ứng lý học
Sự thay đổi lý học quan trọng hơn cả trong bãi chôn lấp là sự phân tán của khí vào và sự thoát khí của bãi ra môi trường xung quanh Là sự di chuyển của nước rò rỉ trong bãi chôn lấp vào tầng đất phía dưới, quá trình lắng do sự hợp nhất và phân huỷ của các chất rắn bị chôn lấp
Các số liệu thí nghiệm cho thấy, nếu không tính đến ảnh hưởng của nước mưa
và nước ngầm, lượng nước rò rỉ do độ ẩm và các phản ứng sinh, hoá, lý tăng dân theo
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 16
Trang 17thời gian chôn lấp và đạt giá trị lớn nhất sau tuần thứ 16 Khi tính lũy tiến với khối lượng chất thải rắn được chôn lấp khoảng 1.000tấn/ngày, lượng nước rò rỉ sinh ra từ bãi chôn lấp Nam Sơn vào khoảng 50-60 mỶ/ng.đ Đây là số liệu nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam vế lượng nước rò rỉ từ chất thải rắn sinh hoạt
Lưu lượng nước rò rỉ do nước mưa
Để đơn giản trong tính toán giả thiết rằng lượng nước rò rỉ do nước mưa sẽ bằng lượng nước mưa trừ đi lượng bốc hơi và lượng nước ngấm xuống đất xem như bằng không vì đã có lớp lót chống thấm
Quản = Im ~ duy (mÌ/ng.đ)
Với độ an toàn cao về xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường, đồng thời có tính đến trình độ kỹ thuất về xây dựng và vận hành bãi chôn lấp, lưu lượng nước rò rỉ cũng cần phải tính đến trong trường hợp bất lợi nhất Vì vậy lượng nước rò rỉ do nước mưa sẽ được tính theo ba trường hợp và so sánh kết quả để lựa chọn thông số thiết kế
Theo lượng mưa và lượng bay hơi trung bình năm
Lượng nước rò rỉ do nước mưa được tính theo công thức:
Grom = [ll — Iạ)/1000].5¿
Trong do: I, — Luong mua trung bình năm, (mm)
ly, - Lượng bốc hơi trung bình năm, (mm)
S¿ — Diện tích đơn nguyên đang chôn lấp, (m?)
Với lượng mưa trung bình năm là 1600 mm và lượng bay hơi trung bình năm là
1080 mm, lượng nước rò rỉ tạo thành do nước mưa trên diện tích 3 ha, bãi chôn lấp (vận hành và đóng từng bãi đơn nguyên) sẽ là:
b Theo lượng mưa va bốc hơi trung bình tháng lớn nhất
Lượng nước rò rỉ do nước mưa sẽ được tính theo công thức
Trang 18Quản = [Cim ~ ipn)/1000].S.1
Trong đó: ¡„ — Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất, mm
l„, — Lượng bốc hơi trung bình tháng lớn nhất, mm
Theo số liệu khí tượng lượng mưa trung bình tháng lớn nhất là 333mm Như vậy lượng nước mưa trong một tháng trên diện tích 3ha sẽ là:
Geom = (333mm.30000m2)/1000 = 9990m?/thang = 333m°/n.d
Lưu lượng nước rò rỉ tổng cộng phải xử lý
Q,, = 60 + 333 = 393m3/n.d
c Theo lượng mua va bay hơi ngày lớn nhất
Lượng nước rò rỉ do mưa sẽ được tính theo công thức:
Germ = Cm" /1000).Sq
Trong do: i,,""* — Luong mua ngày lớn nhất tháng và năm, mm
Với lượng mưa lớn nhất là 284 mm(tháng 10), lượng nước rò rỉ do lượng mưa trên diện tích 3ha sẽ là:
rem = (284mm.30000m)/1000 = 8520m/ng.đ
2.2 Thành phần nước rò rỉ
Việc xác định nước rò rỉ là rất phức tạp, phụ thuộc vào thành phần chất thải rắn, các phản ứng sinh học, hóa học và lý học xảy ra trong bãi chôn lấp, độ ẩm, lượng mưa, cường độ mưa, nhiệt độ, vv Trong thời gian mới chôn lấp, nước rò rỉ có nồng độ chất ô nhiễm rất cao, sau đó giảm dần theo thời gian Trong mùa mưa nồng độ chất ô nhiễm thấp và vào mùa khô nồng độ chất ô nhiễm tăng đáng kể Hơn nữa, nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp là một hỗn hợp giữa nước rò rỉ cũ và mới
Bảng 2.3:Thành phần nước rò rỉ ở bãi chôn lấp Nam Sơn:
Trang 19Kết quả đặc tính nước rác ô số 2 và ống xả nước rác giữa ô 2và ô 3, 2001 được đưa ra ở bảng sau:
Bảng2.4: Tính chất nước rác của ô số 2, 5/2001- Viện Hoá học
Mẫu pH |SS NH¿ | NO, | N-h.co | NO; | T-P | Dau | COD | BOD
(Ngày lấy mâu 18/5/2001 — Phòng môi trường — Viện Hoá học — TT KHTN & CNQG)
Bảng 2.5: Biến thiên pH nước rác Nam Sơn 2002
Thành phần nước thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào các giai đoạn phân huỷ sinh học của nước rác Nước rác ở pha axit có pH thấp, BOD;, COD, các thành phần
dinh dưỡng cao Nước rác ở pha metal hoá có pH = 6,5 —- 7, BOD;, COD, các thành
phần dinh dưỡng sẽ thấp đáng kể Khả năng phân huỷ của nước rác cũng thay đổi theo thời gian ở bãi rác mới, tỉ số BOD./COD > 0,5, còn ở các bãi rác cũ tỉ số nay là 0,05 — 0.2
Trang 20ổn định, nồng độ COD dao động từ 2000-2400mg/I, pH thay đổi từ 7.45-8,24 tuỳ vào bãi có dùng vôi hay không
II.3 Cac tac động tới môi trường
H.3.1 Hiện trạng môi trường chung
Một trong những vấn đề môi trường khó khăn nhất hiện nay, mà hầu hết các bãi rác Việt Nam gặp phải mà không có phương hướng giải quyết thích hợp đó là nước rò
rỉ Với nồng độ chất hữu cơ cao (COD=2000-30000 mg/I, BOD= 1200-25000 mg/l) và
chứa nhiều chất độc hại, nước rò rỉ có khả năng gây ô nhiễm cả 3 môi trường đất, nước
và không khí, đặc biệt là ô nhiễm đến nguồn nước ngầm Tuy nhiên, khó khăn này về mặt kỹ thuật không phat không có cách giải quyết, nguyên nhân chính là chưa được quan tâm đúng mức và chưa được nghiên cứu đầy đủ từ điều kiện phòng thí nghiệm đến các công trình thực tế
Sau khi thu gom, vận chuyển, chất thải rắn thường được xử lý hoặc tái sinh thành các nguyên vật liệu hoặc tái sinh thành năng lượng Hiện nay, nhiều phương pháp và công nghệ xử lý rác hiện đại được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới tại các bãi chôn lấp Các phương pháp và công nghệ xử lý hiện đại này được ứng dụng cho phép tái sinh một lượng đáng kể chất thải rắn, đồng thời làm giảm thể tích thải rắn Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 20
Trang 21xuống còn rất thấp, nhưng sau các quá trình xử lý vẫn tồn tại một lượng rác không thể
xử lý hoặc tái sinh cần được thải bỏ Ví dụ đốt là phương pháp có hiệu quả cao nhất về mặt thể tích rác, nhưng sau quá trình này thể tích rác vẫn còn 10 đến 20% và thậm chí khi đốt đến nhiệt độ nóng chảy của các chất vô cơ thì vẫn còn 5% lưu lại dưới dạng xỉ Phần còn lại này của chất thải rắn cần phải được quản lý thích hợp
Có hai phương án để quản lý lâu dài chất thải rắn, đó là:
- Một là đổ bỏ vào biển
- Hai là chôn lấp hợp vệ sinh trong đất
Do nhiều yếu tố, đổ chất thải rắn vào biển rất ít khi được sử dụng Bãi chôn lấp hợp vệ sinh là sự vận hành trong đó chất thải đổ bỏ được nén và lấp đất vào cuối mỗi ngày Kinh nghiệm đúc kết trên thế giới cho thấy bãi chôn lấp hợp vệ sinh là phương
án thích hợp cho các nước đang phát triển kể cả về mặt kinh tế- kỹ thuật và môi trường Như vậy có thể nói rằng bãi chôn lấp là khâu cuối cùng không có phương án thay thế của hệ thống quản lý rác và cũng là công đoạn cuối cùng của quá trình xử lý rac
Mặc dù vậy, thực tế quản lý các bãi rác cho thấy rất nhiều vấn dé môi trường, nảy sinh trong quá trình vận hành các bãi rác này Các vấn đề môi trường bao gồm : a) Nước rò rỉ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt
b) Khí thải từ các quá trình phân hủy rác
Trang 22Bảng2.7 : Ước lượng % các khí sinh ra từ bãi chôn lấp
Nước rác hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau và bao gồm : nước có sẵn trong rác; nước ngầm dâng lên nước thải từ dưới đáy, nước từ ngoài thấm qua thành vách các ô chôn lấp ; nước từ khu vực khác chảy tới; nước mưa từ bản thân khu vực chôn lấp và từ khu vực khác chảy tới
Trong đa số trường hợp nước rác bao gồm phần dịch lỏng tạo thành từ quá trình phân huỷ chất thải rắn và phần nước từ bên ngoài thấm vào như nước mặt, nước mưa và nước ngầm Phần dịch lỏng qua lớp chất thải rắn đang bị phân huỷ bao gồm tất cả những sản phẩm phân huỷ sinh học và hoá học
Những sản phẩm này bị lôi cuốn bởi dòng nước thấm từ bên ngoài vào
-_ Tác động tới môi trường đất
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 2
Trang 23- _ Tác động tới môi trường nước
Trong điều kiện bình thường, nước rò rỉ thường tích đọng lại ở đáy của bãi rác Nước rò rỉ sinh ra do độ ẩm cao (60-70%) của rác và do quá trình phân hủy các chất hữu cơ tạo thành nước và khí cacbonic Trong quá trình thấm qua các tâng đất đá, nước
rò rỉ với hàm lượng các chất hữu cơ cao và có thể chứa các chất độc hại (kim loại nặng)
sẽ làm ô nhiễm nguồn nước ngầm
Nước rò rỉ là lượng nước thấm qua chất thải rắn và đem theo các chất bẩn hoặc
lơ lửng Tại hầu hết các bãi rác, lượng nước rò rỉ là lượng nước sinh ra trong quá trình phân hủy các chất thải rắn và lượng nước ngấm qua rác từ nhiều nguồn như nước mưa, nước ngầm Do ngấm qua rác, nước rò rỉ chứa rất nhiều các hợp chất hữu cơ hòa tan
Do quá trình sinh hóa xảy ra trong các đống rác là quá trình phân hủy kị khí,
nên các khí sinh ra từ bãi rác bao gồm amôniac NH;, CO;, CO, H;S, CH,, cdc hop chat
chứa nitơ Sau khoảng 18 tháng khí sinh ra ổn định và thành phần khí chủ yếu là khí mêtan, vì khí CO; thấm xuống các tầng phía dưới Lượng khí sinh ra có thể được tính theo thành phần nói trên Tình trạng ô nhiễm này có thể kéo dài hàng chục năm
Bãi rác quản lý không hợp vệ sinh có mối liên hệ đến 22 loại bệnh tật của con người Do hàm lượng chất hữu cơ cao, quá trình kị khí thường xảy ra trong các bãi rác
gây mùi hôi thối nặng nề và là nơi nhiều loại vi sinh vật gây bệnh cũng như các loại
động vật mang bệnh phát triển như chuột bọ, gián , ruồi muỗi, Bên cạnh đó các bãi rác quản lý không hợp lý sẽ làm mất mỹ quan của khu vực
Để nâng cao năng lực xử lý rác thải cho khu vực Hà Nội, khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn- Sóc Sơn-Hà Nội được xây dựng trên khu vực xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn cách trung tâm Hà Nội 45 km về phía Bắc, cách sân bay Nội Bài 15 km về phía Đông Bắc, cách đường 35 khoảng 3 km về phía Tây Bắc
Phía Bắc là cụm dân cư và trồng trọt Sông Công cách 2 km chảy qua phía
Đông, giữa khu vực có hồ Phú Thịnh với diện tích gần 4 ha Diện tích quy hoạch cho
khu liên hợp là 130 ha trong đó 60 ha dành cho khu chôn lấp rác thải (giai đoạn I là 13,5 ha), 6 ha cho trạm xử lý và đốt rác thải với công suất dự kiến là 200.000 tấn/ năm, 7,5 ha dành cho nhà máy chế biến phân compost với công suất dự kiến đạt 250000 tấn/năm, diện tích còn lại dành cho việc xây dựng đường sá và các công trình phụ trợ khác như trạm xử lý nước rác, trạm bơm, cấp nước
Để khắc phục các hậu quả do quản lý và vận hành không hợp lý việc chôn lấp rác do lịch sử để lại, thành phố Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên ở Việt Nam đưa việc bảo vệ môi trường ở các khu chôn lấp rác Xây dựng khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn, trong đó sẽ có bãi chôn lấp hợp vệ sinh là một giải pháp kỹ thuật
Trang 24lớn về việc giải quyết chất thát đô thị Công tác thiết kế hợp lý và đúng kỹ thuật bãi chôn lấp, việc xây dựng trạm xử lý nước rò rỉ sẽ làm giảm tối thiểu mức độ gây ô nhiễm, phục vụ cho hoạt động ổn định của bãi chôn lấp Tuy nhiên công việc này không đơn giản do thành phần thay đổi từ bãi rác này sang bãi rác khác, theo các mùa trong năm , theo sự phát triển kinh tế và phong tục tập quán
TI.4 Công nghệ xử lý và quá trình vận hành của hệ thống xử lý
TH.4.1 Công nghệ xử lý nước rác
Các số liệu nghiên cứu cho thấy nước rò rỉ chứa nhiều chất ô nhiễm khác nhau Mỗi thành phần đòi hỏi phải có một hoặc vài phương pháp xử lý khác nhau và theo tính chất các phương pháp xử lý được chia ra làm các loại sau:
Các công trình được áp dụng rộng rãi trong xử lý nước thải là:
e_ Thiết bị đo lưu lượng
e Hoa tan khi
e Bay hoi va tach khi
Việc ứng dụng các công trình xử lý lý học được tóm tắt trong bảng sau: [2]
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 24
Trang 25Bảng2.8 : Việc áp dụng các công trình cơ học trong xử lý nước thải
Tách các cặn lắng lơ lửng nhỏ và các hạt cặn có tỷ trọng gần với tỷ trọng của nước Cũng sử dụng để nén bùn sinh học
'Tách các hạt cặn lơ lửng còn lại sau xử lý sinh học hoặc hóa học Tương tự như quá trình lọc Tách tảo từ nước thải sau hồ ổn định
Bổ sung và tách khí Bay hơi các hợp chất hữu cơ bay hơi từ nước thải
Trang 26Bảng 2.9 : Việc áp dụng các công trình hoá học trong xử lý nước thải
để khử chlorine của nước thải trước khi xả vào nguồn
Phá hủy chọn lọc các vi sinh vật gây bệnh Phá hủy chọn lọc các vi sinh vật gây bệnh Chlorine là loại hóa chất được sử dụng rộng rãi nhất
Khử chlorine | Tách lượng clo dư còn lại sau quá trình clo hóa
Khử trùng Phá hủy chọn lọc các vi sinh vật gây bệnh
hệ thống tăng trưởng dính bám(attached growth system), hoặc hệ thống kết hợp Ưu điểm của phương pháp này là rẻ tiền và có khả năng tận dụng các sản phẩm phụ làm
phân bón (bùn hoạt hoá) hoặc tái sinh năng lượng (khí metan)
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 26
Trang 27Bảng 2.10 : Các qúa trình sinh học chính xử lý nước thải
-Thiết bị thuỷ phân hiếu khí không khí
oxy nguyên chất
Bể lọc nhỏ giọt Tốc độ thấp Tốc độ cao Thiết bị sinh học tiếp xúc xoay tron
Quá trình lọc sinh học hoạt tính
Khử nitrat trong bể bùn lơ lửng
Khử nitrat trong lớp phim cố
định
Thiết bị thuỷ phân ky khí Tốc độ chuẩn, một giai doạn Tốc độ cao, một giai doạn Tốcđộ cao, hai giai đoạn Quá trình tiếp xúc ky khí
Ky khí dòng chảy ngược Lớp bùn
Quá trình lọc ky khí
Tang mở rộng Quá trình một giai đoạn hoặc nhiều giai đoạn, các quá trình
độc lập
Khử BOD(Nitrat hoá)
Nitrat hoa
Khử BOD(Nitrat hoá) Khử BOD
Khử BOD(Nitrat hoá)
Khử BOD(Nitrat hoá)
Khử BOD(Nitrat hoá)
Khử nitrat Khử nitrat
Khử BOD Khử BOD Khử BOD Khử BOD Khử BOD Khử BOD Khử BOD Khử BOD
Khử BOD, nitrat hoá,
khử
khử nitrat và phospho
Khử BOD, nitrat hoá,
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 27
Trang 28
Quá trình một giai đoạn hoặc khử nitrat và khử
II.5 Công nghệ xử lý đã được áp dung:
I.4.1.Nguyên tắc lựa chọn công nghệ xử lý nước rò rỉ
Trong điều kiện thực tế của Hà Nội, việc lựa chọn công nghệ xử lý nước rò rỉ phải theo các nguyên tắc sau:
1 Công nghệ xử lý phải đảm bảo chất lượng nước rò rỉ sau xử lý đạt tiêu chuẩn
xả vào nguồn loại B Nước sau khi xử lý có thể xả vào hồ Phú Thịnh hoặc sử dụng cho trồng trọt
2 Công nghệ xử lý phải đảm bảo mức độ an toàn cao trong trường hợp có sự thay đổi lớn về lưu lượng và nồng độ nước rò rỉ giữa mùa khô và mùa mưa
3 Công nghệ xử lý phải đơn giản, dễ vận hành, có tính ổn định cao, vốn đầu tư
và ch¡i phí quản lý phải là thấp nhất
4 Công nghệ xử lý phải phù hợpvới điều kiện của Việt Nam, đặc biệt là điều kiện của Hà Nội, nhưng phải mang tính hiện đại à có khả năng sử dụng trong một thời gian dài
5 Việc lựa chọn công nghệ xử lý nước rò rỉ dựa trên các yếu tố sau:
- _ Lưu lượng và thành phần nước rò rỉ
- _ Tiêu chuẩn thải nước rò rỉ sau khi xử lý vào nguồn
- _ Điều kiện thực tế về quy hoạch, xây dựng và vận hành của bãi chôn lấp
- _ Điều kiện về địa chất công trình và địa chất thuỷ văn
-_ Điều kiện về kỹ thuật (xây dựng, lắp ráp và vận hành)
- _ Khả năng về vốn đầu tư
6 Công nghêk xử lý phải có khả năng thay đổi dễ dàng khi áp dụng các quá trình xử lý mới có hiệu quả cao
7 Công nghệ xử lý phải có khả năng tái sử dụng các nguồn chất thải (năng lượng, phân bón, )
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - ĐH Bách khoa Hà Nội 28