Đề tài “Xây dựng quy trình Multiplex PCR phát hiện đồng thời các gen độc tố của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh” được tiến hành với các... parahaemolyticus đang là tác nhân gâ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đề tài được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học,Trường Đại học Nha Trang Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Phạm Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, truyền đạt kinh nghiệm và giúp đỡ tôi từng bước tiếp cận và hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Quý thầy cô giáo Viện Công nghệ sinh học và Môi trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong những năm qua
Quý thầy cô giáo và cán bộ Phòng thí nghiệm đã quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc tại Phòng thí nghiệm
Bố mẹ, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, ủng hộ và dành cho tôi những tình cảm yêu thương nhất
Một lần nữa, tôi xin được cảm ơn tất cả mọi người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nha Trang, tháng 07 năm 2012
Sinh viên thực hiện NGUYỄN ANH THI
Trang 21.2 Tổng quan về vi khuẩn Vibrio và Vibrio parahaemolyticus 6
1.2.2 Tổng quan về vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus 10
1.2.4 Khả năng gây bệnh của Vibrio parahaemolyticus 14
1.2.5 Các phương pháp kiểm tra sự có mặt của Vibrio parahaemolyticus 18
Trang 32.1.3.1 Hóa chất 22
2.3.2 Xác định đặc điểm hình thái của vi khuẩn Vibrio 30
2.3.3 Xác định một số đặc tính sinh hóa của các chủng Vibrio 31
2.3.8 Xây dựng quy trình Multiplex PCR phát hiện đồng thời 3 gen độc tố 41
3.1 Phân lập và nuôi cấy vi khuẩn Vibrio từ hải sản 44
3.2 Đặc điểm hình thái tế bào của các chủng Vibrio 48
3.8 Xây dựng quy trình Multiplex PCR phát hiện đồng thời 3 gen độc tố 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC TỪ, KÍ TỰ VIẾT TẮT
FDA Food and Drug Administration
CDC Centers of Disease Control
dNTPs Deoxynucleotide triphosphates DNA Deoxyribonucleotide Acid PCR Polymerase Chain Reaction TCBS Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose
tdh (TDH) Thermostable direct hemolysin
trh (TRH) Tdh-related hemolysin tlh (TLH) Thermolabile hemolysin
Vp-toxRS V parahaemolyticus toxRS
RAPD Random Amplification of Polymorphic DNA LAMP Loop mediated isothermal amplification RT- PCR Reverse Transcription PCR
EDTA Ethylenediaminetetraacetic Acid
T3SS Type III Secretion System
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các nhóm thực phẩm Vibrio parahaemolyticus gây ngộ độc thực phẩm 4
Bảng 1.2 Ngộ độc thực phẩm gây ra bởi Vibrio parahaemolyticus do tiêu thụ thực phẩm hải sản 1993 - 2000 ở Hồng Kông 5
Bảng 1.3 Đặc điểm của các loài Vibrio gây bệnh trên người liên quan đến việc tiêu thụ hải sản 9
Bảng 1.4 Các kháng nguyên của Vibrio parahaemolyticus 11
Bảng 1.5 Các triệu chứng lâm sàng viêm dạ dày ruột gây ra bởi Vibrio parahaemolyticus 18
Bảng 2.1 Các mẫu hải sản thu mua tại các chợ ở thành phố Nha Trang dùng để phân lập vi khuẩn Vibrio 21
Bảng 2.2 Đặc điểm các mồi sử dụng cho phản ứng PCR 37
Bảng 2.3 Các thành phần sử dụng trong phản ứng PCR toxR 38
Bảng 2.4 Các thành phần sử dụng trong phản ứng PCR tlh, tdh 39
Bảng 2.5 Khảo sát tỉ lệ mồi 43
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của các chủng vi khuẩn phân lập được 45
Bảng 3.2 Khả năng chịu muối của các chủng Vibrio 49
Bảng 3.3 Khả năng lên men đường của các chủng vi khuẩn Vibrio 51
Bảng 3.4 Khả năng sử dụng lysin của các chủng vi khuẩn 52
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu tạo Vibrio dưới kính hiển vi điện tử 6
Hình 2.1 Sơ đồ cách tiếp cận các nội dung nghiên cứu 27
Hình 2.2 Quy trình phân lập Vibrio parahaemolyticus 29
Hình 3.1 Các chủng vi khuẩn sau 24 giờ nuôi cấy trên môi trường LB 3% NaCl ở điều kiện pH 7,2 và nhiệt độ 37o C 45
Hình 3.2 Các khuẩn lạc chủng T5, T11, T16, T20 sau 24 giờ nuôi cấy trên môi trường TCBS ở điều kiện pH 7,2 và nhiệt độ 37o C 48
Hình 3.3 Tế bào của chủng vi khuẩn Vibrio T11 sau khi nhuộm Gram 49
Hình 3.4 Thí nghiệm lên men đường của chủng vi khuẩn T5 51
Hình 3.5 Thí nghiệm sử dụng lysin của các chủng Vibrio 52
Hình 3.6 DNA tổng số của các chủng vi khuẩn được điện di và soi dưới tia UV 53
Hình 3.7 Sản phẩm khuếch đại gen toxR được điện di và soi dưới tia UV 54
Hình 3.8 Sản phẩm khuếch đại gen tlh được điện di và soi dưới tia UV 55
Hình 3.9 Sản phẩm khuếch đại gen tdh được điện di và soi dưới tia UV 56
Hình 3.10 Kết quả khảo sát nhiệt độ lai 57
Hình 3.11 Kết quả khảo sát tỉ lệ mồi 58
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Hải sản là một trong những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và thường không thể thiếu được trong các khẩu phần ăn khoa học Tuy nhiên, việc tiêu thụ hải sản có thể dẫn đến những nguy cơ về sức khỏe, bị nhiễm các mầm bệnh sống tự nhiên trong môi trường nước biển và trong hải sản
Nguy cơ nhiễm bệnh càng tăng nếu hải sản được xử lý không đúng cách trong quá trình chế biến, dẫn đến các mầm bệnh có thể phát triển nhanh chóng theo cấp số nhân trong điều kiện thuận lợi
Một trong những mầm bệnh quan trọng xâm nhiễm vào hải sản là các vi
khuẩn Vibrio, đặc biệt là vi khuẩn V parahaemolyticus tác nhân gây ra nhiều vụ
ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ hải sản trên thế giới Ngoài các bệnh nhiễm trùng ở
người, một số loài Vibrio còn gây bệnh cho các động vật hải sản dưới nước, trong
đó có các loài cá và tôm có giá trị kinh tế cao
Do đó, việc nghiên cứu các phương pháp phát hiện nhanh vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh là một trong những hướng nghiên cứu cần quan tâm
Đề tài “Xây dựng quy trình Multiplex PCR phát hiện đồng thời các gen
độc tố của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh” được tiến hành với các
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 Tình hình dịch bệnh do Vibrio parahaemolyticus gây ra
1.1.1 Trên thế giới
Vibrio xâm nhiễm trực tiếp vào hải sản và coi chúng như một phần môi
trường sống của mình Nhiễm độc thực phẩm do tiêu thụ hải sản gây ra bởi Vibrio xảy ra phổ biến mà nguyên nhân chính là do V parahaemolyticus, chiếm khoảng 25% tổng số các vụ ngộ độc thực phẩm do Vibrio gây ra (Feldhusen, 2000)
V parahaemolyticus sống trên các sinh vật nổi, lơ lửng, động vật phù du, cá
và động vật hai mảnh vỏ (Kaneko và Colwell, 1973) Vi khuẩn này được xác định là tác nhân gây ra bệnh viêm dạ dày ruột trên toàn thế giới, đặc biệt là các vùng có
mức tiêu thụ hải sản cao như Đông Nam Á (Joseph và cộng sự, 1982) Năm 1997, một ổ dịch lớn do V parahaemolyticus gây ra do tiêu thụ hàu xảy ra dọc theo bờ
biển Thái Bình Dương (CDC, 1998)
Một số nước ở Châu Á cũng xảy ra nhiều ổ dịch như: ở Thái Lan các vụ ngộ
độc do V parahaemolyticus chiếm hơn một nửa các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra hàng năm (Leon và cộng sự, 2003), Trung Quốc (31,1% vụ ngộ độc thực phẩm được
báo cáo giữa năm 1991 và 2001), Nhật Bản (chiếm 20 - 30% các trường hợp từ 1981 đến 1993) và Đài Loan (69% trường hợp được báo cáo giữa năm 1981 và 2003) Ngoài ra, dịch còn xảy ra ở các nước châu Âu như Tây Ban Nha (1989, 1999, 2004),
Pháp (1997) và cả Châu Mỹ, điển hình là Hoa Kỳ (Norinaga và cộng sự, 2005)
Ở Đài Loan, từ năm 1983 đến 1993, có 786 chủng V parahaemolyticus đã
được thu thập từ các dịch bệnh truyền qua thực phẩm và một số các trường hợp tiêu chảy ở miền bắc Đài Loan, gồm 42 kiểu huyết thanh Năm kiểu huyết thanh thường gặp là K8 (36,8%), K15 (10,8%), K12 (8,7%), K56 (7,9%) và K63 (4,7%) Đa số
chủng gây ra bệnh có kiểu huyết thanh là O3:K6 (Wong và cộng sự, 2000)
Tại Hồng Kông, V parahaemolyticus đang là tác nhân gây bệnh hàng đầu
trong số tất cả các vụ ngộ độc thực phẩm trong những năm gần đây Theo số liệu
Trang 9được cung cấp bởi DH (Department of Health), từ năm 1999 đến năm 2003 đã bùng phát 552 vụ ngộ độc thực phẩm trong đó chiếm đến 331 (56,7%) vụ là do tiêu thụ hải sản
Trước năm 1994, ở Nhật bản tỷ lệ mắc bệnh do V parahaemolyticus được công bố còn ít Thời kì 1994-1995 đã có 1280 vụ về nhiễm bệnh do V parahaemolyticus được báo cáo, còn nhiều hơn các vụ ngộ độc thực phẩm do Salmonella Phần lớn các trường hợp ngộ độc xảy ra trong mùa hè, số lượng ca ngộ
độc xuất hiện nhiều nhất trong tháng tám Từ 1996 - 1998, đã có 496 ổ dịch, với
24.373 trường hợp do V parahaemolyticus gây ra Số lượng các trường hợp ngộ độc thực phẩm V parahaemolyticus tăng gấp đôi vào năm 1998 so với năm 1997 (Yamazaki và cộng sự, 2000)
Ở Ấn Độ, từ năm 1994 - 1996, có 146 bệnh nhân bị ngộ độc do vi khuẩn V parahaemolyticus (Okuda và cộng sự, 1997) Tỷ lệ mắc tiêu chảy do chủng huyết
thanh O3: K6 chiếm 63% các chủng phân lập từ bệnh nhân ở Calcutta giữa tháng 9 năm 1996 và tháng 4 năm 1997
Ở Hoa kỳ, trước năm 1997 có rất ít báo cáo về các ngộ độc gây ra bởi V parahaemolyticu; tuy nhiên chỉ từ năm 1997 - 1998 đã có 4 ổ dịch liên quan đến
việc tiêu thụ hàu sống hoặc chưa được nấu chín, ảnh hưởng hơn 700 người Sự gia
tăng đáng kể các vụ ngộ độc do V parahaemolyticus gây ra ở Hoa Kỳ có liên quan
đến chủng huyết thanh O3:K6 mà trước đây chỉ liên quan đến bệnh ở Châu Á
(Sakazaki và cộng sự, 2005)
Ở Mexico, trong tổng số 266 mẫu nước biển, nhuyễn thể và cá thu thập từ
12 điểm khác nhau trong đầm phá Pueblo Viejo, Mexico vào các tháng khác nhau
trong năm cho thấy: V parahaemolyticus được tìm thấy ở 11 trong 12 điểm trên Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng nhân tố tác động đến sự phân bố của V parahaemolyticus trong môi trường bao gồm nhiệt độ nước, nồng độ muối và oxy,
sự tương tác với thực vật nổi, sự có mặt của các trầm tích, chất hữu cơ trong huyền
phù, cá và hải sản cũng như sự lên xuống của thủy triều ở cửa sông (Maria và cộng
sự, 2004)
Trang 10Ở Chile, tóm tắt dịch bệnh tiêu chảy liên quan đến tiêu thụ hải sản và V parahaemolyticus xảy ra trong mùa hè năm 2004 và 2005 ở các vùng quanh của Puerto Montt, Chile V parahaemolyticus thu đƣợc từ động vật có vỏ và mẫu lâm sàng trong thời gian dịch bệnh chủ yếu thuộc nhóm O3: K6 (Loreto và cộng sự,
Trang 11Bảng 1.2 Ngộ độc thực phẩm gây ra bởi Vibrio parahaemolyticus do tiêu thụ
cá nóc (25 ca), vi sinh vật (48 ca), nấm độc (46 ca) Thời điểm hay xảy ra ngộ độc thực phẩm trong năm là từ tháng 7 đến tháng 12 Loại thực phẩm gây ngộ độc thực phẩm thường gặp là rau, thịt, nhưng hải sản cũng chiếm 11,11% các ca ngộ độc
Trang 12Theo báo cáo của Tuyet và cộng sự (2002) từ giữa 1/1995 đến 9/2001 ở Khánh Hòa đã có 548 ca nhiễm bệnh do Vibrio gây ra được xác định Trong thời
gian này, các nhà nghiên cứu ghi nhận trong số này có 471 người lớn và có 57 trẻ
em Đặc biệt, phân tích vi sinh cho thấy trong số 548 trường hợp tiêu chảy, có 53%
dương tính với vi khuẩn V parahaemolyticus
Nhiều địa phương trên cả nước hiện cũng đang phải đối mặt với tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày càng tăng do nhu cầu ăn hải sản ngày càng nhiều, có nơi ngộ độc thực phẩm đã xảy ra hàng loạt Ở Vĩnh Long, 10/2005 đã xảy ra dịch tiêu chảy trên diện rộng Khi xét nghiệm mẫu phân và mẫu nôn ói của bệnh nhân thì phát
hiện thấy sự hiện diện của vi khuẩn V parahaemolyticus
Tuy các phương tiện truyền thông đưa tin về ngộ độc thực phẩm do V, parahaemolyticus gây ra rất nhiều do ăn các các loài hải sản như tôm, cá (Võ Văn Nha và cộng sự, 2006) nhưng ở nước ta còn có ít nghiên cứu cơ bản về gen độc tố của vi khuẩn V parahaemolyticus gây bệnh Đề tài được thực hiện để đáp ứng tình
hình thực tế, làm cơ sở cho nghiên cứu chẩn đoán và điều trị kịp thời
1.2 Tổng quan về vi khuẩn Vibrio và Vibrio parahaemolyticus
1.2.1 Tổng quan về vi khuẩn Vibrio
Hình 1.1 Cấu tạo Vibrio dưới kính hiển vi điện tử
Trang 13Vibrio lần đầu tiên được phân lập vào năm 1854 từ các bệnh nhân tả bởi
Filippo Pacini, được gọi là “vibrions”
Chi Vibrio thuộc họ Vibrionaceae Họ này gồm 5 chi, trong đó có 3 chi có tầm quan trọng trong y học là Vibrio, Aeromonas, Plesiomonas Chi Vibrio gồm 30 loài, trong đó có 13 loài gây bệnh cho người, bao gồm V cholerae, V metschnikovii,
V minicus, V fluvialis, V funissii, V anguillarum, V alginolyticus, V parahaemolyticus, V cincinnatiensis, V damsela, V carchariae, V hollisae, V vulnificus
Vibrio là những trực khuẩn hình que, hơi cong, còn được gọi là phẩy khuẩn,
Gram âm, thường được tìm thấy trong nước Tế bào vi khuẩn có thể xếp liên tiếp nhau thành hình chữ S hay hình xoắn Chúng di động nhanh nhờ tiên mao đơn cực, dinh dưỡng theo phương thức dị dưỡng hữu cơ, không sinh nha bào, phản ứng oxidase dương tính, có thể tăng trưởng trong điều kiện hiếu khí hoặc kị khí tùy tiện,
lên men đường không sinh hơi, chuyển nitrat thành nitrit (Thompson và cộng sự,
Hầu hết các loài Vibrio sống ở 30oC nhưng có một số loài ưa mặn sinh trưởng
ở 37o
C Các loài V parahaemolyticus, V alginolyticus, V cholerae có thể sinh
trưởng ở 42o
C Tất cả các loài Vibrio đều nhạy cảm với nhiệt độ, đun nóng đến khi
nhiệt độ bên trong hải sản đạt đến 60o
C trong vài phút thì có thể loại bỏ Vibrio Làm
lạnh là biện pháp quan trọng giúp kiểm soát và ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn này
Vi khuẩn Vibrio nhạy cảm với môi trường acid và phát triển tốt nhất ở giá trị
pH trên trung tính, tức là từ 7,5 – 8,5 nhưng chúng cũng có khả năng chịu được môi trường kiềm Chúng bị ức chế ở pH dưới 6,8 và trên 10,2 (Rujiwat, 2007)
Trang 14Các loài Vibrio chủ yếu sống ở nước và mật độ phân bố tùy theo nhiệt độ,
nồng độ Na+, hàm lượng dinh dưỡng có trong nước và sự có mặt của các loài thực vật và động vật (McCarter, 1999) Chúng thường sống ở biển hoặc cửa sông, trên bề mặt và trong ruột động vật biển Người ta thường phân lập chúng từ các cặn trầm
tích, nước, thực vật và hải sản Các loài hải sản là nơi an toàn cho các loài Vibrio
sinh sống, bao gồm các loài như trai, sò, cua, tôm, mực Đối với các loài không ưa mặn, chúng có thể được phân lập từ mẫu nước ngọt (Rujiwat, 2007)
Hầu hết các loài Vibrio phân lập từ các mẫu lâm sàng của người đều gây bệnh ngoại trừ V vurnissi Vibrio spp thường gây tiêu chảy hoặc nhiễm độc ngoài ruột, riêng V cholerae có thể gây ra cả hai hiện tượng Gần đây các loài V fluvialis, V hollisae, V minicus cũng được xác định là tác nhân có liên quan nhưng ít phổ biến
Các loài khác thuộc họ Vibrionaceae, gồm V vulnificus, AliiVibrio salmonicida và V harveyi, là tác nhân gây bệnh trên các loài hải sản và chúng gây ra thiệt hại lớn về kinh tế Photobacterium profundum, đại diện cho một chi khác trong
họ Vibrionaceae, cũng được kể đến trong danh sách các loài gây bệnh trên hải sản (Rujiwat, 2007)
Trang 15Bảng 1.3 Đặc điểm của các loài Vibrio gây bệnh trên người liên quan đến việc
Trang 16** Aeromonas hydrophila, Plesiomonas shigelloides
Chú thích: V = vàng; Km = không mọc hoặc mọc rất ít; N = nhạy cảm; 0 = không làm;
X = màu xanh; T = tùy chủng; K= kháng; Ti = màu tía; AGS = Arginine glucose slant; mCPC = Modified cellobiose polymyxin; KK = thạch nghiêng có kiềm; Ka = thạch nghiêng có tính kiềm hoặc acid nhẹ; KA = thạch nghiêng có acid
Nguồn: www.fda.gov
1.2.2 Tổng quan về vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus
Phân loại khoa học của Vibrio parahaemolyticus:
Theo khóa phân loại của Bergey, V parahaemolyticus là vi khuẩn Gram âm,
hình dấu phẩy, có tiên mao ở một đầu, di động, kỵ khí tùy tiện và ưa môi trường kiềm mặn Tiên mao đơn cực hoạt động nhanh hơn dưới động lực Na và giúp cho vi khuẩn chuyển động dễ dàng trong môi trường lỏng Chúng có thời gian thế hệ 8-9
phút (Daniels và cộng sự, 2000), thường phân bố ở các cửa sông và ven biển của hầu
hết các vùng trên thế giới Vi khuẩn này có thể được phân lập từ cát, bùn và nước
biển, cũng như ở hải sản (Maria và cộng sự, 2004)
Trang 17Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hiện diện và mật độ của V parahaemolyticus
trong môi trường nước bao gồm nhiệt độ nước, nồng độ muối và oxy, sự tương tác của các sinh vật phù du, các chất hữu cơ lơ lửng, cá và hải sản và cường độ thủy
triều
Các đặc tính sinh hóa đặc trưng cho V parahaemolyticus bao gồm: phản ứng
oxydase (+), khả năng sử dụng lysin (+), ornithin (+), arginine (+), khả năng lên men đường arabinose (+), lactose (-), sucrose (-), mannitol (+), mannose (+), phát triển được trong phạm vi nồng độ muối từ 3-8%, không mọc ở môi trường không có muối (0%) hoặc nồng độ muối quá cao (10%)
Các chủng V parahaemolyticus phân lập có thể phân biệt nhau bằng kiểu huyết thanh (serotype) Hệ thống để xác định các kiểu huyết thanh của V parahaemolyticus dựa trên các cấu trúc kháng nguyên khác nhau của vỏ lipopolysaccharides (kháng nguyên O) và nang (kháng nguyên K) (Joseph và cộng
sự, 1983) Theo FDA, có 12 kiểu kháng nguyên O và hơn 70 kiểu kháng nguyên K
Trang 181.2.3 Gen độc tố của Vibrio parahaemolyticus
Một yếu tố độc tính từ lâu đã được xác định là có liên quan chặt chẽ đến khả
năng gây bệnh của vi khuẩn Vibrio là hemolysin Vì lí do này, hemolysin đã được
nghiên cứu rộng rãi trên thế giới
Chi Vibrio có 4 họ hemolysin chính là TDH, HlyA, TLH và -VPH, trong đó
TDH của V haemolyticus và HlyA của V cholera là các tác nhân chính trong tiến trình gây bệnh đã được nghiên cứu rộng rãi
V parahaemolyticus có thể là nhân tố gây viêm dạ dày ruột do tiêu thụ hải
sản nhiễm mầm bệnh, nhưng không phải chủng nào của loài này cũng gây bệnh
Phần lớn các chủng V parahaemolyticus phân lập từ các trường hợp viêm dạ dày
ruột ở người đều sản xuất beta-hemolysin trên môi trường thạch máu Wagatsuma (Wagatsuma, 1968) Khả năng gây tan máu trên môi trường được gọi là hiện tượng Kanagawa (KP) Chỉ có 1 - 5% các chủng có nguồn gốc từ môi trường dương tính
KP Do vậy, hemolysin được xem là yếu tố độc tố quan trọng và phản ứng KP được dùng để đánh dấu nhận biết cho các chủng độc hại
Hiện tượng KP gây ra bởi một loại hemolysin chịu nhiệt do gen tdh mã hóa
Hemolysin này có tên là TDH (thermostable direct hemolysin), là yếu tố độc lực
chính của vi khuẩn V parahaemolyticus (Kaper và cộng sư, 1984) Protein TDH có trọng lượng phân tử được xác định là 42 kDa bằng sử dụng sắc kí lọc gel (Takeda và cộng sự, 1978) Cấu trúc của nó không có lipit hay cacbohydrat mà là một dimer,
bao gồm hai tiểu đơn vị và mỗi tiểu đơn vị có khối lượng 21 kDa Protein này rất bền nhiệt, khi đun nóng ở 100oC trong 10 phút thì protein bị biến tính còn lại 165
amino axit với một cầu nối disulfua ở gần đầu carboxyl (–COOH) (Tsunasawa và cộng sự, 1987)
Năm 1988, Honda và các đồng nghiệp phát hiện ra một hemolysin mới trong
khi phân lập các chủng lâm sàng KP dương tính (Honda và cộng sựz1988)
Hemolysin này được gọi là TRH (TDH-related haemolysin), có tính chất hóa lý, miễn dịch và sinh học tương tự như TDH Hai protein TDH và TRH được coi là yếu
tố độc tính quan trọng trong khả năng gây bệnh của V parahaemolyticus Chúng
Trang 19được mã hóa bởi các gen tương ứng là tdh và trh có kích thước lần lượt là 269 bp và
250 bp (Nishibuchi và cộng sự, 1992; Honda và Iida, 1993; Xu và cộng sự, 1994) Giữa các chủng V parahaemolyticus khác nhau chứa các gen độc tố khác nhau Hầu như tất cả các mẫu lâm sàng đều dương tính với gen tdh hoặc trh, hoặc cả hai, trong
khi gần như tất cả các mẫu từ môi trường không có hoặc có với tỉ lệ thấp 1 - 5%
(Nishibuchi và Kaper, 1995, Robert và cộng sự, 2004)
Các chủng V parahaemolyticus gây bệnh là các chủng KP dương tính, có chứa gen tdh và gen trh mã hóa các protein độc tố TDH, TRH nằm trong operon độc
tố Vp-toxRS và được điều hòa bởi gen toxR Operon Vp-toxRS có tên này là do cấu trúc và chức năng tương tự với operon toxRS của V cholerae mã hóa cho các gen nội độc tố tả Tương tự operon toxRS của V cholerae, operon Vp-toxRS của V parahaemolyticus không chỉ điều khiển sự phiên mã của gen độc tố ruột tdh mà còn các gen khác nữa Trình tự của operon Vp-toxRS được phát hiện có tất cả các chủng
V parahaemolyticus (Nishibuchi và cộng sự, 1995)
Do các gen độc tố tdh, trh ở các loài V cholerae, V mimicus, V hollisae có mức độ tương đồng cao so với V parahaemolyticus nên việc xác định gen toxR có thể giúp chỉ ra chính xác loài V parahaemolyticus (Nishibuchi và Kaper, 1995) Gen toxR có kích thước 368 bp, là gen điều hòa cho operon Vp-toxRS (Zulkifli và cộng
sự, 2009), tồn tại ở tất cả các chủng V parahaemolyticus, kiểm soát sự biểu hiện của
các gen mã hóa cho các nhân tố độc lực ngoại bào quan trọng như TDH, TRH, và ngoài ra là các gen liên quan đến các độc tố khác
Gen toxR là gen điều hòa có mặt ở nhiều loài trong chi Vibrio (Jun và cộng
sự, 2001) Ở V cholerae, gen toxR đóng vai trò chủ chốt trong điều hòa gen ctx và nhiều gen khác, bao gồm gen tcp mã hóa độc tố lông mao (toxin-coregulated pili), các gen ompU, ompT mã hóa các protein màng ngoài (OMPs) ở V cholerae Mức
độ tương đồng trong trình tự nucleotide của gen toxR ở ba loài V cholerae, V parahaemolyticus và V vulnificus được xác định là từ 52 – 63% % Trong đó, giữa hai operon của hai loài V parahaemolyticus và V cholerae có lần lượt là 52% trình
tự tương đồng (Zulkifli và cộng sự, 2009)
Trang 20Vật liệu di truyền của V parahaemolyticus là hai nhiễm sắc thể dạng vòng I
và II có kích thước lần lượt là 3,2 và 1,9 Mb Việc giải trình tự gen hoàn toàn vi
khuẩn này đã được hoàn thành vào ngày 10 tháng 3 năm 2003 (Kozo và cộng sự, 2003) Các gen độc tố tdh, trh nằm trên nhiễm sắc thể II
T3SS (Type III Secretion System) là một trong những hệ thống bài tiết các protein của vi khuẩn vào môi trường ngoại bào hoặc giúp vi khuẩn tiêm các protein
độc tố vào tế bào vật chủ eucaryote của chúng Ở V cholerae không có hệ thống protein này trong khi V parahaemolyticus có hai hệ thống T3SS là T3SS1 và T3SS2, đóng vai trò quan trọng trong quá trình bệnh của vi khuẩn này (Thomson và cộng sự, 2004, Honda và cộng sự, 2006) Jun và cộng sự (2001) đã phát hiện một dải gen gây bệnh Vp-PAI dài 80 kp trên nhiễm sắc thể II bảo tồn trong các chủng KP (+)
và không có trong KP (-) (Kodama và cộng sự, 2010) Vp-PAI không chỉ chứa gen tdh mà còn chứa cụm gen T3SS2, do vậy, liên quan đến khả năng gây bệnh của V parahaemolyticus
Cùng với TDH và TRH, một hemolysin khác đã được phát hiện trên V parahaemolyticus là TLH (thermolabile haemolysin) TLH là một protein không bền nhiệt và có hoạt tính phospholipase / lysophospholipase (Shinoda và cộng sự, 1991) Cấu trúc của gen tlh có chứa một ORF dài 1254 bp Dạng tiền protein và protein
trưởng thành của TLH gồm có 418 và 398 amino acids với trọng lượng phân tử
tương ứng là 47,5 và 45,3 kDa (Shinoda và cộng sự, 1991) Hàm lượng G + C của tlh là 47,6% (Taniguchi và cộng sự, 1986) Nghiên cứu cho thấy không có sự tương đồng về trình tự của hai gen tdh và tlh Gen tlh đã được tìm thấy ở genome của tất cả các chủng V parahaemolyticus được phân lập từ các mẫu lâm sàng hay môi trường Tuy nhiên, vai trò của haemolysin này đối với việc gây bệnh dạ dày ruột của V parahaemolyticus vẫn chưa được biết đến
1.2.4 Khả năng gây bệnh của Vibrio parahaemolyticus
1.2.4.1 Nguồn lây nhiễm
Trang 21V parahaemolyticus được tìm thấy chủ yếu trong các loại thực phẩm có
nguồn gốc từ biển như cua, hàu, sò…, chúng thường hiện diện khoảng 10 CFU/g –
103 CFU/g trong những ngày hè ấm áp Loài này có thế hệ thời gian ngắn (8-9 phút) Chúng chỉ cần một thời gian ngắn có nhiệt độ tăng (khoảng từ 30 - 42oC, tối ưu là
37oC) là đủ để phát triển đến mức độ lây nhiễm (106
tế bào/ml) (Daniels và cộng sự,
2000)
Khi gây bệnh trên người, sự lây nhiễm có thể qua đường ăn uống, lây nhiễm
từ người sang người do tiếp xúc với mầm bệnh (chất nôn, phân, dụng cụ, ), người bệnh không rửa tay kỹ, ăn thực phẩm tươi sống hay chưa nấu chín Đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm dạ dày ruột (gastroenteritis) cấp tính Sự lây nhiễm qua vết thương cũng có, nhưng ít phổ biến hơn ngộ độc do ăn hải sản và thực phẩm bị nhiễm chéo với các loại thực phẩm hải sản khác, lây nhiễm trong quá trình chế biến hoặc nguồn nước sử dụng bị nhiễm và xử lý không đúng cách Ngoài ra, bơi lội hoặc làm việc ở vùng bị ảnh hưởng có thể dẫn đến nhiễm trùng mắt hoặc tai và các vết thương hở Loài vi khuẩn này gây bệnh không chỉ trên người mà còn là các đối
tượng hải sản như tôm, cá, (Đỗ Thị Hòa và cộng sự, 2004)
1.2.4.2 Cơ chế gây bệnh
Nhiều loài Vibrio gây bệnh cho người, và/hoặc cho động vật biển có xương
sống và không có xương sống Các loài gây bệnh sản xuất nhiều yếu tố độc lực khác nhau bao gồm enterotoxin, hemolysin, cytotoxin, protease, lipase, photpholipase, siderophore, các nhân tố đính bám và/hoặc haemagglutinin
Đối với V parahaemplyticus các yếu tố độc lực được xem là có vai trò quan
trọng liên quan tới khả năng gây bệnh bao gồm β-hemolysin, các nhân tố đính bám, các enzyme, protein độc tố TDH, TRH
Hemolysin được gọi tên do khả năng làm tan màng tế bào hồng cầu và giải
phóng hemoglobin, là protein ngoại độc tố có mặt ở nhiều loài Vibrio gây bệnh và
đóng nhiều vai trò khác nhau trong quá trính lây nhiễm (Iida và Honda, 1997) Sắt là một ion thiết yếu cho sự phát triển và sao chép của vi khuẩn, đóng vai trò quan trọng
trong quá trình gây bệnh của Vibrio Hemolysin tấn công màng tế bào hồng cầu và
Trang 22làm tan bào, dẫn tới giải phóng các protein liên kết với sắt (Fe3+) như hemoglobin, transferrin, lactoferrin thành dạng tự do Còn các ion sắt (Fe3+) sẽ được liên kết với các thể mang sắt của vi khuẩn có khả năng cạnh tranh với các protein gắn sắt của vật chủ Phức hợp này sau đó sẽ liên kết với các thụ thể trên màng tế bào và được vận chuyển vào trong tế bào (Zhang và Austin, 1998) Hoạt tính hemolysin của vi khuẩn
Vibrio phụ thuộc vào nồng độ ion sắt của vật chủ trong quá trình xâm nhiễm
(Stoebner và Payne, 1988) Trong nhiều trường hợp, hoạt tính tạo lỗ màng của hemolysin không chỉ giới hạn ở các tế bào hồng cầu mà còn ở một số loại tế bào khác như tế bào mast, các bạch cầu trung tính và các tế bào nhân đa hình (polymorphonuclear) làm tăng cường độc tính và dẫn tới phá hủy các mô (Iida và Honda, 1997)
Hemolysin có vai trò gây độc chính trong V parahaemolyticus là một hemolysin chịu nhiệt do gen tdh mã hóa Hemolysin này có tên là TDH TDH là
ngoại độc tố có khả năng làm tan máu, gây tiết dịch ruột, gây độc cho một vài loại tế
bào và hoạt động của tim (Iida và Honda, 1997) Theo Honda và cộng sự (1992)
TDH phá vỡ tế bào eukaryote theo ba bước Đầu tiên chúng liên kết với màng tế bào sau đó chúng tham gia tạo ra các kênh lỗ màng (porin channel) ở tế bào biểu mô thành ruột có đường kính khoảng 2 nm, các kênh này cho phép nhiều loại ion tràn vào như Na+
, Mg2+, Ca2+ Khi lượng TDH tăng lên thì cũng tăng lên các kênh này làm cho các ion tràn vào tự do và tế bào căng lên hết mức và bị phá vỡ do mất cân bằng thẩm thấu
1.2.4.3 Đặc điểm của bệnh
Vào những năm 1950, V parahaemolyticus lần đầu tiên được xác định là tác
nhân gây bệnh do thực phẩm ở Nhật Bản Đến cuối những năm 1960 và đầu những
năm 1970, V parahaemolyticus đã được công nhận là một căn nguyên gây ra bệnh
tiêu chảy trên toàn thế giới
V parahaemolyticus là một loại vi khuẩn ưa mặn, có khả năng gây ngộ độc
thực phẩm và viêm dạ dày ruột, nhiễm trùng vết thương, và nhiễm trùng huyết ở người Trong đó, nhiễm trùng huyết là mối đe dọa nghiêm trọng do vi khuẩn lây lan
Trang 23nhanh, do sự hiện diện và tồn tại lâu dài của các độc tố do chúng sản xuất ra tuần hoàn trong máu Dấu hiệu đặc trưng là sốt hoặc hạ huyết áp và khả năng phát tán các
vi sinh vật từ máu Trong trường hợp nhiễm trùng huyết, các triệu chứng có thể bao gồm sưng, đau đớn tứ chi với xuất huyết (Hlady, 1997; Klontz, 1990) Tử vong cũng
có thể xảy ra tiếp theo sau nhiễm trùng huyết (Barker và Gangarosa, 1974)
Các triệu chứng đặc trưng do V parahaemolyticus gây ra là tiêu chảy đôi khi
còn kèm theo đau đầu, nôn mửa, sốt, ớn lạnh Thời kỳ ủ bệnh thường từ 12 giờ – 24 giờ và bệnh thường tự khỏi sau 3 ngày Thông thường bệnh nhẹ và ít nguy hiểm,
song nếu phát hiện chậm và không được điều trị kịp thời cũng có thể gây tử vong V parahaemolyticus gây ra hai hội chứng lâm sàng khác biệt nhau:
o Ca bệnh lâm sàng:
+ Dạng tả nhẹ: nôn và tiêu chảy dạng tả, phân lỏng, tóe nước, màu xanh hoặc xanh vàng, mùi hơi tanh Nôn và tiêu chảy nhiều có thể dẫn đến mất nước cấp, hầu như không sốt, không đau bụng
+ Dạng lỵ trực khuẩn: tiêu chảy phân lỏng lờ lờ máu cá, mùi thối kèm theo đau bụng và sốt, kiểu lỵ trực khuẩn
o Ca bệnh xác định: là ca bệnh tiêu chảy cấp khi lấy phân hoặc chất nôn nuôi
cấy bắt được V parahaemolyticus
Trang 24Bảng 1.5 Các triệu chứng lâm sàng viêm dạ dày ruột gây ra bởi Vibrio
(Nguồn Barker và Gangarosa, 1974; Levine và cộng sự, 1993)
1.2.5 Các phương pháp kiểm tra sự có mặt của Vibrio parahaemolyticus
Có nhiều phương pháp được sử dụng để phát hiện V parahaemolyticus như:
quan sát hình thái dưới kính hiển vi, dựa vào các đặc tính sinh hóa và các kĩ thuật sinh học phân tử như PCR, RAPD, miễn dịch phân tử
Khi quan sát dưới kính hiển vi, V parahaemolyticus có hình dấu phẩy, di
động nhờ tiên mao đơn cực, kích cỡ tùy thuộc vào chủng Khi nhuộm Gram, chúng được xác định là vi khuẩn Gram âm
Các loài V parahaemolyticus khi nuôi cấy trên môi trường chọn lọc TCBS
(Thiosulfate Citrate Bile Salt Sucrose) có màu xanh lá cây hoặc màu xanh đậm
(Kudo và cộng sự, 2003) V parahaemolyticus còn phát triển trên môi trường chọn
lọc khác là CHROMagarTM
, khuẩn lạc có màu tía hoặc tím Ngoài ra V parahaemolyticus còn có thể được phát hiện bằng cách nuôi cấy vi khuẩn trên môi
trường thạch Wagatsuma (một loại môi trường thạch máu đặc biệt) để kiểm tra khả
năng sản xuất β – hemolysin xung quanh khuẩn lạc bởi TDH của V parahaemolyticus (Miyamoto và cộng sự, 1969) hoặc bằng kĩ thuật ELISA (Enzyme
Trang 25– linked immunosorbent assay) để phát hiện chủng sản xuất TDH (Honda và cộng
sự, 1989)
Cuối cùng, V parahaemolyticus có thể được phát hiện bằng các kĩ thuật sinh
học phân tử dựa trên nguyên lý PCR như Multiplex PCR, RT- PCR, RAPD, LAMP
Kỹ thuật PCR được sử dụng để phát hiện V parahaemolyticus trong các mẫu khác
nhau bao gồm thủy hải sản hoặc mẫu nước Phương pháp này thực hiện nhanh, dễ dàng và đáng tin cậy do vậy thường được sử dụng để phân tích Các gen thường
được sử dụng để xác định loài V parahaemolyticus bằng kỹ thuật PCR là toxR và gyrB Gen toxR là gen điều hòa operon độc tố, bảo thủ đối với V parahaemolyticus (Kim và cộng sự, 1999) Ngoài toxR, gen gyrB cũng là gen bảo thủ ở V parahaemolyticus nên cũng có thể được sử dụng để xác định loài V parahaemolyticus (Zulkifli và cộng sự, 2009) Trong khi phản ứng khuếch đại các gen độc tố như tdh, tlh, trh lại được sử dụng để kiểm tra khả năng gây bệnh của vi khuẩn (Zulkifli và cộng sự, 2009)
1.3 Tính cấp thiết và mục tiêu của đề tài
1.3.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, việc phát hiện vi sinh vật trong thực phẩm hầu hết chỉ dựa trên phương pháp truyền thống: nuôi cấy kết hợp với các thử nghiệm sinh hóa, miễn dịch Các quy trình này rất phức tạp, tiêu tốn thời gian ít nhất từ 2 đến 6 ngày Đó cũng là lý do vì sao một vụ ngộ độc phải mất cả tuần mới tìm được nguyên nhân gây bệnh Mặt khác, phương pháp nuôi cấy kết hợp hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu kiểm tra, giám sát và kiểm dịch của các cơ quan quản lý Vì vậy, việc nghiên cứu phương pháp chẩn đoán nhanh chóng để kiểm soát bệnh và để sản xuất
ra thuốc điều trị kịp thời, tiện dụng là vô cùng cần thiết
Trong năm 2010, đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên “Phân lập và xác định
gen độc tố của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus trong hải sản tươi sống tại các chợ
của thành phố Nha Trang” của sinh viên Nguyễn Thị Cẩm Ly đã xây dựng được
quy trình PCR đơn phát hiện hai gen độc tố toxR, tlh là gen phổ biến ở tất cả các
Trang 26chủng của loài V parahaemolyticus Tuy nhiên, trong đề tài này gen tdh vẫn chưa được phát hiện Gen này tuy có mặt với xác suất rất thấp trong các mẫu môi trường
(1 - 5%), nhưng lại có mặt trong hầu hết các mẫu lâm sàng và là gen mã hóa protein độc tố trực tiếp TDH TDH là độc tố chính, tác động trực tiếp lên tế bào hồng cầu, phá vỡ hồng cầu Đây là protein bền nhiệt, do đó nếu ăn phải mẫu thực phẩm nhiễm bệnh chưa được nấu chín thì khả năng bị ngộ độc rất cao Hơn nữa ở Việt Nam hiện vẫn chưa có một báo cáo cụ thể nào về việc phát hiện đồng thời các gen độc tố này
Do đó việc xác định được gen độc tố tdh và xây dựng một quy trình Multiplex PCR
nhằm phát hiện nhanh đồng thời 3 gen độc tố này có thể giúp cho việc phát hiện sớm nguyên nhân gây ngộ độc là rất cần thiết
Ưu điểm của phương pháp Multiplex PCR là cho phép phát hiện đồng thời các gen độc tố với các cặp mồi tương ứng trong cùng một phản ứng, do đó sẽ giảm thời gian phát hiện các gen độc tố, giảm chi phí về hóa chất, dụng cụ… Dùng phương
pháp Multiplex PCR để phát hiện đồng thời 3 gen độc tố toxR, tdh, tlh của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus vừa cho kết quả chính xác vừa rút ngắn thời gian phát hiện
các gen độc tố trên các mẫu thủy sản
1.3.2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài được tiến hành nhằm các mục tiêu sau:
Phân lập chủng vi khuẩn có đặc điểm hình thái và hóa sinh đặc trưng cho
Trang 27CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu
2.1.1 Mẫu
Mẫu hải sản (tôm, mực) được thu mua tại các chợ ở thành phố Nha Trang:
chợ Đầm, chợ Vĩnh Hải, chợ Vĩnh Thọ
Hai chủng V parahaemolyticus (kí hiệu Vp1, Vp2) phân lập từ mẫu bệnh
phẩm do Viện Pasteur – Nha Trang cung cấp
Bảng 2.1 Các mẫu hải sản thu mua tại các chợ ở thành phố Nha Trang dùng để
phân lập vi khuẩn Vibrio
Tủ cấy (Telstar AV 100, OSI Co, Ltd, Tây Ban Nha)
Tủ sấy (Binder, Đức) Nồi khử trùng autoclave (Sturdy industrial Co, Ltd, Đài Loan)
Lò vi sóng (LG, Hàn Quốc) Máy chụp và phân tích ảnh gel (VWRTM
, Mỹ) Máy block nhiệt (VWRTM, Mỹ)
Trang 28Máy vortex Maxi mix II M37615 (Thermolyne, Mỹ) Kính hiển vi (Motic BA 300, Mỹ)
Wizard SV lysis buffer
Wizard SV wash solution
Taq buffer 10X (Fermentas, Mỹ)
Taq polymerase 5 u/µl (Fermentas, Mỹ)
- Các hóa chất dùng tromg điện di
Loading dye 6X (Fermentas, Mỹ)
Agarose (Fermentas, Mỹ)
DNA marker 100 bp (Fermentas, Mỹ)
Ethidium bromide 10 mg/ml (Biorad, Mỹ)
Trang 29- Nước cất : 1 lít
pH = 8,5 ± 0,2 Hoà tan các thành phần, chỉnh pH theo yêu cầu rồi chia vào các bình tam giác Đậy nút bông không thấm nước và giấy bạc rồi đem hấp ở nhiệt độ 121oC, 1atm trong 10 phút Khi bảo quản phải vặn chặt nắp bình, để tránh bay hơi nước và
C, 1atm trong 10 phút Khi bảo quản phải vặn chặt nắp bình, để tránh bay hơi nước và pH bị thay đổi
Môi trường chọn lọc: Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose Agar (TCBS)
Trang 30- Sắt (III) citrate (FeC6H5O7) : 1 g
Môi trường kiểm tra khả năng chịu muối: muối trypton có dải nồng độ NaCl là 0; 3; 6; 8 và 10% NaCl (ký hiệu lần lượt là: T1N0; T1N3; T1N6; T1N8 và
T1N10)
Hoà tan 10 g trypton trong 1 lít nước cất Sau đó, thêm lần lượt: 30, 60, 80 và
100 g NaCl để được các canh thang trypton có giải nồng độ NaCl 0; 3; 6; 8 và 10
% Sau đó, khuấy đều, rồi chỉnh pH sao cho môi trường sau khi hấp có pH = 7,2 ± 0,2 Tiến hành rót 5 ml môi trường vào mỗi ống nghiệm Đậy nút bông không thấm nước và giấy bạc Hấp ở nhiệt độ 121o
C, 1atm trong 15 phút Các ống môi trường phải được nút chặt trong quá trình bảo quản để tránh bốc hơi nước làm thay đổi nồng độ muối
Môi trường thử decarboxylase (Môi trường cơ bản)
Trang 31- Phenol đỏ 0,02 g
- pH = 7,0 ± 0,2 Tuỳ theo loại môi trường cần pha, thêm 5 g của một trong các loại amino acid: L-lysin hoặc L-arginin hoặc L-ornithin vào môi trường cơ bản trên Sau đó, rót
5 ml môi trường vào các ống nghiệm, nới lỏng nắp Hấp ở nhiệt độ 121o
C, 1atm trong 10 phút Các ống phải được nút chặt trong khi bảo quản và sau khi cấy
Môi trường lên men đường (Môi trường cơ bản)
C, 1atm trong 10 phút Pha các loại dung dịch cacbonhydrat 50% (như: sucrose, lactose, D-mannitol
và arabinose) trong nước cất rồi lọc vô trùng Thêm 0,5 ml dung dịch này vào ống nghiệm chứa 5 ml môi trường cơ bản Môi trường cuối cùng có nồng độ carbohydrat là 5%
Dung dịch nước muối sinh lý
Hoà tan 8,5 g NaCl trong 1 lít nước cất Chia vào mỗi ống nghiệm 9ml, đậy nút bông không thấm nước và giấy bạc Hấp khử trùng ở nhiệt độ 121o
C, 1atm trong
15 phút rồi để nguội
Thuốc nhuộm Tím Violet
Trang 32- Rượu ethylic 1 g
- Phenol tinh thể 2g
Pha chế:
Hòa tan 1 g tím violet vào trong 10 ml cồn (dung dịch 1)
Hòa tan 2 g phenol tinh thể vào 10 ml nước cất (dung dịch 2)
Trộn chung dung dịch 1 và dung dịch 2 lại với nhau ta có dung dịch thuốc nhuộm tím violet
Thuốc nhuộm Liugol
- Iod tinh thể : 1 g
- KI : 2 g
- Nước cất : 200 ml Pha chế: Hòa tan iod vào nước cất, sau đó cho KI vào, bảo quản trong lọ tối màu
Thuốc nhuộm Fuschin
Hòa tan Fuchsin vào trong 10 ml cồn 95% (dung dịch 1)
Hòa tan phenol tinh thể vào 100 ml nước cất (dung dịch 2)
Trộn đều dung dịch 1 và dung dịch 2 đem lọc, ta có thuốc nhuộm Fuchsin
2.2 Nội dung nghiên cứu
Quy trình thực hiện được sơ đồ hóa trong hình 2.1:
Cấy ria
Khuẩn lạc thuần chủng
Phân lập Vibrio
Quan sát hình thái tế bào vi khuẩn bằng cách nhuộm Gram
Trang 33Hình 2.1 Sơ đồ cách tiếp cận các nội dung nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phân lập vi khuẩn
Quy trình phân lập và nuôi cấy thực hiện qua 4 bước và sơ đồ hóa ở Hình 2.2
Hoạt hóa trên môi trường APW 3% NaCl
Trang 34 Tăng sinh trên môi trường LB 3% NaCl
Phân lập Vibrio trên môi trường thạch TCBS
Quan sát hình thái vi khuẩn bằng cách nhuộm Gram
Kiểm tra các đặc điểm hóa sinh (khả năng chịu muối, khả năng lên men
đường, khả năng sử dụng lysin) để chọn chủng có đặc tính giống với V parahaemolyticus
Cấy 0,1 ml dịch tăng sinh sang môi trường LB
3%, ủ 42oC trong 18 – 24 giờ
Phân lập khuẩn lạc đơn trên môi trường TCBS, ủ
37oC trong 24 giờ Ðồng nhất 25 g mẫu trong 225 ml môi trường APW 3%, ủ 37oC trong 18 – 24 giờ
Trang 35- Ủ mẫu đã dập ở 37oC trong thời gian 6-8 giờ trong tủ ấm
- Tăng sinh: hút 100 µl dịch ủ sang 5ml môi trường LB 3% NaCl trong ống nghiệm đã pha sẵn, sau đó ủ trong tủ ấm 37oC từ 18 – 24 giờ
- Pha loãng :