Bốn là hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao, chưa được quản lý giám sát chặt chẽ; Năm là các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường cần được tính toán đo lường chính
Trang 17 tồn tại cơ bản trong quản lý nợ công
(eFinance Online) - Theo ông Hoàng Hải, Phó cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính, công tác quản lý nợ công tại Việt Nam hiện đang có 7 tồn tại cơ bản
> Dự thảo Luật Thủ đô: Cần làm rõ tính đặc thù
Một là thị trường trái phiếu trong nước phát triển còn hạn chế Thực tế cho thấy tỷ lệ huy động vốn thông qua trái phiếu còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và tiềm năng trong xã hội
Hai là công tác huy động vốn ODA còn thụ động, nhiều khoản vay ODA còn gắn với những ràng buộc làm tăng chi phí đầu vào (nhiều dự án phải cùng lúc thực hiện 2 hệ thống thủ tục: một thủ tục giải quyết vấn đề nội bộ trong nước, một thủ tục với nhà tài trợ, gia tăng chi phí chuẩn bị dự án, chi phí đầu tư do lạm phát trong thời gian bị kéo dài)
Ba là phân bổ vốn vay còn dàn trải; chủ trương huy động và sử dụng vốn cần gắn kết hơn với ngưỡng an toàn nợ
Bốn là hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao, chưa được quản lý giám sát chặt chẽ;
Năm là các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường cần được tính toán đo lường chính xác hơn; rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong phí cho vay lại và phí bảo lãnh của Chính phủ
Sáu là cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế
Bảy là quyền hạn quản lý của các cơ quan còn chồng chéo; năng lực cán bộ cần được cải thiện
Cộng thêm thách thức mới
Phạm vi quản lý nợ công gồm Nợ Chính phủ, Nợ Chính
quyền địa phương, Nợ Chính phủ bảo lãnh
Thời gian qua, nợ công đã đáp ứng được nhu cầu bổ
sung vốn cho đầu tư phát triển và cân đối ngân sách
Nhà nước (vốn vay Chính phủ chiếm khoảng 17% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội; bù đắp bội chi ngân sách Nhà
nước khoảng 5% GDP (năm 2009 là 6,9%)) Hiện tại,
nợ công của Việt Nam vẫn đang trong giới hạn an toàn,
phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có
kỳ hạn dài, lãi suất cố định và ưu đãi.
Trang 2Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lý nợ công tại Việt Nam còn phải
“đối mặt” với 3 thách thức mới, gồm:
Nhu cầu đầu tư phát triển và thâm hụt ngân sách đòi hỏi phải tiếp tục tăng huy động vay trong nước và nước ngoài;
Việt Nam đã là quốc gia có mức thu nhập trung bình nên tỷ trọng vốn ODA sẽ giảm dần, vốn vay thương mại tăng dần;
Thị trường tài chính quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều biến động về lãi suất và tỷ giá giữa các đồng tiền, đem lại cả các rủi ro và cơ hội
Đã sẵn sàng giải pháp
Để vượt qua những khó khăn, tồn tại, thách thức từ thực tế, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại đã đề ra 8 giải pháp cụ thể
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng khung pháp lý: Hoàn thiện các chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát hành trái phiếu, công trái, quản lý phòng ngừa rủi
ro, mô hình PPP (đối tác công tư); Gắn kết quản lý nợ Chính phủ trong nước và ngoài nước; Hoàn thiện các quy định quy trình hoạt động, phân công chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền
Thứ hai, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay: Huy động, sử dụng vốn vay đáp ứng các mục tiêu và nguyên tắc quản lý nợ; Vay cho ngân sách phải kiểm soát chặt chẽ đảm bảo bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước không quá 5% GDP; Rà soát danh mục
dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ, vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh; Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đấu thầu; Tăng cường theo dõi, giám sát và dự báo thị trường
Thứ ba, đảm bảo an toàn, bền vững nợ: Theo dõi chặt chẽ, đảm bảo thanh toán nợ đầy đủ, đúng hạn; Xây dựng ngưỡng an toàn và hạn mức vay phù hợp; Thu thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; Định kỳ báo cáo Chính phủ, hoặc báo cáo đột xuất
Trang 3khi dự đoán có nguy cơ mất an toàn nợ; Phối hợp với các cơ quan Chính phủ xây dựng các giải pháp xử lý an toàn nợ mang tính thống nhất với các mục tiêu tài khoá và tiền tệ
Thứ tư, tăng cường công tác quản lý rủi ro: Xây dựng quy chế quản lý rủi ro (trong đó, theo dõi toàn diện các loại rủi ro: tỷ giá, lãi suất, tái cấp vốn, thanh khoản, tín dụng, hoạt động; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cách tính mức phí bảo lãnh và cho vay lại để phản ánh mức rủi ro tín dụng và thị trường của các khoản vay); Xây dựng các chỉ tiêu giám sát; Thực hiện linh hoạt các giao dịch xử lý rủi ro (các giao dịch phòng ngừa và phái sinh); Báo cáo đầy đủ các phân tích, đánh giá
Thứ năm, tăng cường phát triển thị trường vốn trong nước: Tăng dần một cách hợp lý tỷ trọng nợ trong nước trong danh mục nợ Chính phủ; Xây dựng chính sách, quy trình, và
hệ thống cho thị trường sơ cấp và thứ cấp; Chỉ định các nhà tạo lập thị trường; Xây dựng chương trình quan hệ với
các nhà đầu tư; Nghiên
cứu để từng bước huy
động trái phiếu trong nước
theo lãi suất thị trường
(xây dựng đường cong lãi
suất); Tích cực thực hiện
hiệu quả các giao dịch
mua lại nợ, hoán đổi nợ
Thứ sáu, chuyên nghiệp
hoá, hiện đại hoá bộ máy
tổ chức: Hoàn thiện quy
chế hoạt động; Nâng cao
năng lực cán bộ; Trang bị
các công cụ, thiết bị hiện
đại phục vụ công tác ghi chép nợ; tính toán chi phí và rủi ro; đánh giá bền vững nợ; các công cụ theo dõi cập nhật thị trường; Tăng cường công tác kiểm toán nội bộ, giám sát rủi
ro hoạt động, tự đánh giá công tác quản lý đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế (ví dụ: bộ tiêu chuẩn DeMPA do World Bank xây dựng)
Thứ bảy, tiếp tục từng bước tăng cường cập nhật và công khai minh bạch hoá thông tin đối với: Thông tin danh mục nợ công và nợ nước ngoài quốc gia; các chỉ tiêu giám sát nợ; Các chiến lược nợ; Các báo cáo đánh giá an toàn, bền vững nợ
Những số liệu đáng lưu ý (tính đến 31/12/2009):
- Nợ công so với GDP: 52,6%.
- Nợ Chính phủ bảo lãnh so với GDP: 41,9% (Thủ tướng Chính phủ quy định ≤ 50%).
- Nợ chính quyền địa phương so với GDP: 0,8%.
- Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP: 38,8% (Thủ tướng quy định ≤ 50%).
- Nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thu ngân sách Nhà nước: 15,8% (Thủ tướng quy định ≤ 30%.
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn so với xuất khẩu: 4,2%
(Thủ tướng quy định ≤ 25%).
- Nghĩa vụ thanh toán nợ Chính phủ theo dư nợ tính đến 31/12/2009
là hơn 2.000 triệu USD
Trang 4Thứ tám, đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế: Tăng cường quảng bá, giới thiệu trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế; Tạo các kênh cập nhật thông tin về kinh tế vĩ mô, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia; Tích cực cập nhật tin tức và dữ liệu thị trường từ các cổng thông tin tài chính quốc tế; Học hỏi kinh nghiệm quản lý và xây dựng chính sách từ các tổ chức quốc tế có uy tín, các quốc gia thành công trong công tác quản lý nợ; Nghiên cứu để từng bước cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia