BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI --- --- NGUYỄN THỊ HỒNG CHIÊN NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG VÀ BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ CHÉP CYPRINUS CARPIO GIỐNG NUÔI TẠI HÀ N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG CHIÊN
NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG VÀ BỆNH KÝ SINH
TRÙNG TRÊN CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO)
GIỐNG NUÔI TẠI HÀ NỘI VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG
TRỊ BỆNH DO CHÚNG GÂY RA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Quang Tề
TS Nguyễn Văn Thọ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất cứ luận văn nào
Tôi xin cam ñoan các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Chiên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn Ký sinh trùng, Ban chủ nhiệm khoa Thú y, Ban giám hiệu trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội ñã tạo ñiều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành chương trình cao học tại trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện ñào tạo sau ñại học trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội ñã tạo ñiều kiện thuận lợi ñể giúp tôi ñạt ñược kết quả tốt trong khoá học này
ðể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến thầy giáo hướng dẫn TS Bùi Quang Tề và thầy giáo TS Nguyễn Văn Thọ ñã tận tình hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài
Trong thời gian học tập của khoá học, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo ñã tham gia giảng dạy khoá học Các thầy giáo, cô giáo nhiệt tình truyền thụ kiến thức khoa học cũng như thực tiễn cho chúng tôi
Tôi xin cảm ơn Bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản – Khoa Chăn nuôi - ðại học Nông nghiệp Hà Nội, phòng thí nghiệm trung tâm VAC Yên Thường ñã giúp ñỡ tôi thực hiện thí nghiệm của ñề tài này
Tôi vô cùng biết ơn bố mẹ, chồng, anh, chị, em, họ hàng và bạn bè, ñồng nghiệp và các em sinh viên ñã giúp ñỡ ñộng viên tôi ñể hoàn thành chương trình học và thực hiện ñề tài tốt nghiệp này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Chiên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
1 ðẶT VẤN ðỀ 1
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 MỘT SỐ ðẶC ðIỂM SINH HỌC CỦA CÁ CHÉP 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 ðặc ñiểm hình thái 4
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Tập tính sống và dinh dưỡng 5
2.1.5 ðặc ñiểm sinh trưởng và sinh sản 5
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG Ở CÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới 6
2.2.2 Nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Việt Nam 11
2.3 NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG Ở CÁ CHÉP 14
2.3.1 Nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép ở nước ngoài 14
2.3.2 Nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép ở Việt Nam (Cyprinus carpio) 16
2.4 NGHIÊN CỨU BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ Ở VIỆT NAM 18
2.5 HOÁ CHẤT PHÒNG TRỊ BỆNH KÝ SINH TRÙNG 19
2.5.1 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản 19
2.5.2 Hóa chất phòng trị bệnh ký sinh trùng trên cá 22
2.5.3 Hóa chất phòng trị bệnh trùng bánh xe 24 2.6 ðẶC ðIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 26
Trang 53 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
3.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 29
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
3.5 DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT NGHIÊN CỨU 30
3.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.6.1 Phương pháp lấy mẫu 31
3.6.2 Nguyên tắc nghiên cứu ký sinh trùng ở cá: 31
3.6.3 Phương pháp thu mẫu ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá 33
3.6.4 Phương pháp thu mẫu ký sinh trùng nội ký sinh trên cá 33
3.6.5 Phương pháp nhuộm cố ñịnh mẫu và bảo quản mẫu 34
3.6.6 Phương pháp ñịnh loại ký sinh trùng 35
3.6.7 Phương pháp nghiên cứu bệnh ký sinh trùng thường gặp gây nguy hiểm trên cá chép 35
3.6.8 Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm phòng trị bệnh ký sinh trùng cho cá chép 35
3.7 ðO ðẾM KÝ SINH TRÙNG 37
3.7.1 Tính cường ñộ nhiễm 37
3.7.2 Tính tỷ lệ nhiễm 38
3.7.3 ðo kích thước 38
3.8 XỨ LÝ SỐ LIỆU 39
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 THÀNH PHẦN LOÀI KST TRÊN CÁ CHÉP 40
4.1.1 Loài Myxobolus toyamai Kudo, 1919 (Hình 4.1) 41
4.1.2 Loài Myxobolus artus Achmerov, 1960 (Hình 4.2) 42
4.1.3 Loài Thelohanellus acuminatus Ha Ky,1968 (Hình 4.3) 43
4.1.4 Loài Thelohanellus callisporis Ha Ky, 1968 (Hình 4.4) 45
4.1.5 Loài Epistylis sp (Hình 4.5) 46
Trang 64.1.6 Loài Trichodina nobilis Chen, 1963 (Hình 4.6) 47
4.1.7 Loài Trichodina gasterostei G.Stein,1967 (Hình 4.7) 49
4.1.8 Loài Trichodina acuta Lom, 1964 (Hình 4.8) 50
4.1.9 Loài Trichodinella subtilis Lom, 1959 (Hình 4.9) 51
4.1.10 Loài Dactylogyrus minutus Kuulwiec, 1927 (Hình 4.10) 52
4.1.11 Loài Dactylogyrus extensus Muellu et Vanebave, 1932 (Hình 4.11) 54 4.1.12 Loài Paraergasilus medius Yin, 1956 (hình 4.12) 55
4.1.13 Loài Lernaea cyprinacae Linne, 1758 (Hình 4.13) 56
4.1.14 Loài Lernaea lophiara Harding, 1950 (Hình 4.14) 58
4.2 MỨC ðỘ NHIỄM KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ VÀ TRÊN CÁC CƠ QUAN KIỂM TRA Ở CÁC GIAI ðOẠN CÁ CHÉP GIỐNG 61
4.2.1 Mức ñộ nhiễm ký sinh trùng trên giai ñoạn cá chép bột 62
4.2.2 Mức ñộ nhiễm KST trên giai ñoạn cá chép hương 62
4.2.3 Mức ñộ nhiễm KST trên giai ñoạn cá chép giống 62
4.3 NHỮNH BỆNH KÝ SINH TRÙNG THƯỜNG GẶP GÂY NGUY HIỂM TRÊN CÁ CHÉPỞ CÁC GIAI ðOẠN PHÁT TRIỂN 64
4.3.1 Bệnh trùng bánh xe 64
4.3.2 Bào tử sợi 66
4.4 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM PHÒNG TRỊ BỆNH TRÙNG BÁNH XE TRÊN CÁ CHÉP 70
4.4.1 Kết quả ñiều trị thử nghiệm trùng bánh xe ký sinh trên cá chép hương bằng CuSO4 70
4.4.2 Kết quả ñiều trị thử nghiệm trùng bánh xe ký sinh trên cá chép hương bằng Formalin 72
5 KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 84
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần giống loài KST trên giai ñoạn giống của cá chép 40
Bảng 4.2: Thành phần loài KST trên giai ñoạn giống của cá chép 61
Bảng 4.3: Kết quả thử nghiệm ðồng Sulphat dùng tắm 71
Bảng 4.4: Kết quả thử nghiệm ðồng Sulphat dùng ngâm 71
Bảng 4.5: Kết quả thử nghiệm Formalin dùng tắm 73
Bảng 4.6: Kết quả thử nghiệm Formalin dùng ngâm 73
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hình ảnh cá chép hương 3
Hình 2.2 Hình ảnh cá chép hương-giống 3
Hình 3.1: Sơ ñồ tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng 30
Hình 3.2: Giải phẫu cá A- sơ ñồ ñường cắt; B, C - các cơ quan nội tạng 32
Hình 3.3: Sơ ñồ thí nghiệm tắm CuSO4 cho cá chép hương 36
Hình 3.4: Sơ ñồ thí nghiệm ngâm CuSO4 cho cá chép hương 36
Hình 4.1: Myxobolus toyamai 42
Hình 4.2: Myxobolus artus 43
Hình 4.3: Thelohanellus acuminatus 44
Hình 4.4: Thelohanellus callisporis 45
Hình 4.5: A- Epistylis sp 47
Hình 4.6: Trichodina nobilis 48
Hình 4.7: Trichodina gasterostei 49
Hình 4.8: Trichodina acuta 50
Hình 4.9: Trichodinella subtilis 51
Hình 4.10: Dactylogyrus minutus 53
Hình 4.11: Dactylogyrus extensus 54
Hình 4.12: Paraergasilus medius 56
Hình 4.13: Lernaea cyprinacae 57
Hình 4.14: Lernaea lophiara 59
Hình 4.15: Trùng bánh xe bám trên mang cá 65
Hình 4.16: A- mang cá chép nhiễm Myxobolus bào nang bám trên mang cá; B- cá chép giống nhiễm Thelohanellus bào nang bám trên vây. 69
Trang 101 ðẶT VẤN ðỀ
Trong những năm gần ñây, ngành nuôi trồng thủy sản ñang trở thành thế mạnh của kinh tế nước ta ðặc biệt, ngành nuôi trồng thủy sản ñang góp phần quan trọng trong xuất khẩu, tăng thu nhập cho người dân và cung cấp thực thẩm trong nước
Nước ta là nước nhiệt ñới có hệ thực vật, ñộng vật phong phú, có bờ biển trải dài cả nước, có hệ thống sông suối ña dạng, nhiều ao hồ là ñiều kiện thuận lợi cho nuôi trồng các loài vật thủy sản
Trong ñó, nuôi cá nước ngọt ñang chiếm một ưu thế rất lớn Nuôi cá chép là một lĩnh vực có từ lâu ñời, cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu trong ñời sống nhân dân Nuôi cá chép mang lại lợi ích kinh tế cao, thịt cá thơm ngon Cá chép
có nhiều ưu ñiểm như chịu ñựng ñược ngưỡng oxy thấp và ngưỡng chịu nhiệt rộng, ăn ñược nhiều loại thức ăn – thức ăn tự nhiên, thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp Cá chép còn ñóng một vai trò quan trọng trong ñời sống tâm linh vào các dịp lễ tết, nhiều loài cá chép có mẫu mã ñẹp phù hợp nuôi làm cảnh Vì vậy, ở nước ta các mô hình nuôi cá chép ngày càng ñược mở rộng
Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản cũng ñối mặt với không ít khó khăn về chất lượng con giống kém, tỷ lệ cá giống nhiễm các loại bệnh là khá cao trong ñó có bệnh ký sinh trùng ðặc biệt ở giai ñoạn cá giống bệnh ký sinh trùng thường gây ra dịch bệnh làm cá sinh trưởng và phát triển kém hoặc chết nhiều gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi cá (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007) Bên cạnh ñó, hiện nay việc ñiều trị ñàn cá nhiễm bệnh ñang gặp nhiều khó khăn như thuốc và hóa chất có hiệu quả ñiều trị bệnh lại có ñộ ñộc, ảnh hưởng ñến môi trường sinh thái Vì vậy thử nghiệm các loại thuốc, hóa chất với nồng
ñộ thích hợp ñể xử lý ký sinh trùng cũng ñang ñược các nhà bệnh học thủy sản quan tâm nghiên cứu
Trang 11Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Nghiên
cứu ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng trên cá chép (Cyprinus carpio) giống nuôi tại Hà Nội và giải pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra”
Với mục ñích:
1 Xác ñịnh thành phần loài ký sinh trùng ở cá chép giống nuôi tại Hà Nội
2 ðề xuất 1 số giải pháp phòng trừ hữu hiệu bệnh do chúng gây ra
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ ðẶC ðIỂM SINH HỌC CỦA CÁ CHÉP
2.1.1 Vị trí phân loại
Thành phần loài trong họ cá chép ở nước ta rất phong phú, ña dạng và ñộc ñáo, rất ñặc trưng cho vùng nhiệt ñới gió mùa Cho tới nay họ cá chép ở nước ta có 306 loài, 9 phân loài thuộc 103 giống và 11 phân họ (chiếm 38,5%) số loài cá nước ngọt Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001)
Vị trí phân loại của cá chép như sau:
Trang 132.1.2 ðặc ñiểm hình thái
Cá chép thân có hình thoi, mình dầy, dẹp hai bên Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng ðầu thuôn, cân ñối Mõm tròn tù Có 2 ñôi râu: Râu mõm ngắn hơn ñường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn ñường kính mắt Mắt vừa phải ở 2 bên thiên về phía trên của ñầu Khoảng cách 2 mắt rộng và lồi Miệng ở mút mõm, hướng phía trước hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên, môi dưới phát triển hơn môi trên Màng mang rộng gắn liền với eo Lược mang ngắn thưa Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ
Khởi ñiểm của vây lưng sau khởi ñiểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây ñuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia ñơn cuối là gai cứng rắn chắc
và phía sau có răng cưa Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó Vây hậu môn viền sau lõm, tia ñơn cuối hoá xương rắn chắc và phía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây ñuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi dầy và tương ñối bằng nhau
Vẩy tròn lớn ðường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống ñuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài Lưng xanh ñen, hai bên thân phía dưới ñường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lưng và vây ñuôi hơi ñen Vây ñuôi và vây hậu môn ñỏ da cam (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001)
2.1.3 Phân bố
Cá chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca và châu Úc, chúng sống ñược trong các thủy vực nước ngọt Ở Việt Nam, cá sống tự nhiên trong các vực nước ở các tỉnh phía Bắc Giới hạn trong tự nhiên của cá này về phía Nam là sông Ba Nam Trung
Bộ (Nguyễn Hữu Thọ, ðỗ ðoàn Hiệp, 2004) Hiện nay do việc di chuyển và thuần hóa cá chép vào các tỉnh phía Nam nên nó ñã ñược phát tán ra nhiều khu vực nước tự nhiên Cá chép có rất nhiều loài: chép vảy, chép kính, chép
Trang 14trần, chép gù, chép ñỏ… nhưng loài nuôi phổ biến là Chép vảy, hay còn ñược gọi là chép trắng Từ năm 1972 ñến nay, nước ta ñã nhập thêm các loại cá chép kính, chép trần, chép vảy từ các nước Hungari, Indonesia, Pháp cho lai tạo với cá chép Việt (Nguyễn Duy Khoát, 2005)
2.1.4 Tập tính sống và dinh dưỡng
Cá chép sống ở tầng giữa và tầng ñáy là chủ yếu, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn ñáy và cỏ nước, trong các loại mặt nước ao, hồ, ñầm, sông, ruộng… Cá chịu ñược nhiệt ñộ từ 0 – 400 C, thích hợp ở 20 - 270 C Cá có thể sống trong ñiều kiện khó khăn khắc nghiệt Cá chép chịu ñược ngưỡng oxy thấp, do ñó có thể nuôi với mật ñộ cao Cá chép ăn tạp, thiên về ñộng vật không xương sống ở ñáy Trong ống tiêu hóa của cá chép, thức ăn khá ña dạng như mảnh vụn thực vật, hạt, rễ cây, các loài giáp xác, ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm Tùy theo kích thước cá và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có thay ñổi nhất ñịnh Cá 3 – 4 ngày tuổi dài 6 – 7,2mm, sống phổ biến
ở tầng nước trên là chính Cá ñược 4- 6 ngày tuổi dài 7,2 - 7,5 mm, sống ở tầng nước giữa, thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du Cá 8 – 10 ngày tuổi dài 14,3 – 19mm, các vây bắt ñầu hoàn chỉnh, có vẩy, râu, thức ăn chủ yếu là sinh vật ñáy
cỡ nhỏ Cá 20 – 28 ngày tuổi dài 19 – 28mm, chủ yếu sống ở tầng ñáy, ăn sinh vật ñáy, mùn bã hữu cơ và một ít sinh vật phù du Khi trưởng thành, cá chép ăn sinh vật ñáy là chính: giun, ấu trùng, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác… Ngoài
ra cá còn ăn thêm hạt, củ, mầm thực vật… nuôi trong ao cá ăn tạp Trong nuôi trồng thủy sản, có thể sử dụng các thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp ñể
nuôi cá chép (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001)
2.1.5 ðặc ñiểm sinh trưởng và sinh sản
Cá chép là loài cá có kích thước trung bình Cấu trúc thành phần tuổi của cá chép ở sông Hồng trước ñây có tới 7 nhóm tuổi Sinh trưởng chiều dài hàng năm của cá chép như sau: 1 tuổi là 17,3 cm; 2 tuổi là 20,6 cm; 3 tuổi là
Trang 1530,2 cm; 4 tuổi là 35,4 cm; 5 tuổi là 41,5 cm và 6 tuổi là 47,5 cm Tốc ựộ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng ựều về khối lượng Sinh trưởng của cá chép phụ thuộc nhiều vào mật ựộ và thức ăn Cá lớn khá nhanh sau một năm nuôi, có thể ựạt 1,5 Ờ 2kg Cá chép nội ựịa tăng 0,3 Ờ 0,5kg ở năm ựầu tiên và 0,7 Ờ 1,0kg ở năm thứ hai Cá sinh trưởng tốt ở các vùng ruộng trũng và các vực nước nông (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001)
Cá chép thành thục và sinh sản sau một năm tuổi, chúng có thể sinh sản nhiều lần trong năm Trong ao nuôi, cá chép có thể sinh sản tự nhiên vào mùa xuân và ựầu mùa hạ Khi gặp ựiều kiện thuận lợi, cá chép cặp ựôi tìm bãi có nhiều cây cỏ thủy sinh ựể ựẻ trứng
Ở miền Bắc, mùa sinh sản của cá chép thường có hai vụ: Vụ đông Ờ Xuân từ tháng 2 Ờ 5 và vụ Thu từ tháng 8 Ờ 9 Ở các sông, cá thường di cư vào các bãi ven sông có nhiều cỏ nước Cá chép thường ựẻ trứng vào lúc sáng sớm,
số lượng trứng phụ thuộc vào kắch thước cá bố mẹ và giống loài, khoảng 15 Ờ
20 vạn trứng/1kg cá cái Cá chép thành thục thường ựẻ tự nhiên vào những ngày thời tiết thay ựổi như: mưa, gióẦ hoặc khi có nước mới Trứng cá chép
có hình cầu, hơi vàng ựục, ựường kắnh trứng 1,2 Ờ 1,8mm Trứng cá chép thuộc loại trứng dắnh, bám vào các giá thể: cây cỏ, thực vật thủy sinh Nhiệt ựộ ựẻ trứng thắch hợp từ 20 Ờ 22oC (Nguyễn Hữu Thọ, đỗ đoàn Hiệp, 2004)
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG Ở CÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới
Trên thế giới ký sinh trùng cá ựã ựược nghiên cứu từ thời Linnae 1778) Tiếp theo ựó là các nhà khoa học Liên Xô cũ ựã có những nghiên cứu
(1707-về ký sinh trùng trên cá toàn diên nhất Viện sỹ V A Dogiel (1882 Ờ 1956) thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ ựã ựưa ra ỘPhương pháp nghiên cứu
ký sinh trùng trên cáỢ, mở ra một hướng phát triển mới cho nghiên cứu về các
Trang 16khu hệ ký sinh trùng trên cá và các loại bệnh do ký sinh trùng gây ra, cho ñến nay nhiều nhà nghiên cứu ký sinh trùng cá vẫn áp dụng Viện sỹ Bychowsky
và các cộng sự, năm 1962 ñã xuất bản cuốn sách: “Bảng phân loại ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô” ñã mô tả 1211 loài ký sinh trùng của khu hệ
cá nước ngọt Liên Xô Tiếp tục năm 1984, 1985, 1987 công trình nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Liên Xô ñã xuất bản thành hai phần gồm
ba tập, do O.N Bauer là chủ biên chính, S S Schulman chủ biên tập 1, Gussev chủ biên tập 2, Bauer chủ biên tập 3 Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu ký sinh trùng lâu năm của Liên Xô cũ Công trình ñã mô tả hơn 2.000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt Liên Xô cũ
Có thể nói Liên Xô cũ là nước có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá sớm nhất, toàn diện và ñồ sộ nhất
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô cũ cho thấy các loài
sán ñơn chủ thuộc một số họ Dactylogyridae, Tetraonchidae có tính ñặc hữu
rất cao, mỗi loài cá chỉ bị một số loài sán lá ñơn chủ nhất ñịnh ký sinh, nghĩa
là những loài sán lá ñơn chủ chỉ ký sinh ở một ký chủ nhất ñịnh Nghiên cứu
về sán lá ñơn chủ, Gussev (1976) cho rằng sự phân loại và tiến hóa của họ
Dactylogyridae, Diplozoonidae, Ancyloliscoidae có liên hệ với ký chủ của
chúng, sán lá ñơn chủ (Monogenea) ở cá nước ngọt chủ yếu ký sinh trên bộ cá chép Hầu hết giống cá chép là ký chủ của họ Dactylogyridae và
Diplozoonidae
Các nước châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Lom (1958 – 1997) người Tiệp Khắc ñã nghiên cứu ký sinh
trùng Ciliophora, Myxozoa, Microspora, Spotozoa và Mastigophora trên
ñộng vật trong ñó có cá Lom và G Grupcheva (1976), nghiên cứu ký sinh ñơn bào của cá chép ở Tiệp khắc và Bungari, các tác giả ñã so sánh sự xuất hiện bệnh và mô tả loài mới Năm 1992, Lom và Iva Dykova ñã xuất bản
Trang 17cuốn ỘKý sinh trùng ựơn bào (Protozoa) của cáỢ Các tác giả cho biết hiện nay có xấp xỉ 2.420 loài ký sinh trùng ựơn bào (Protozoa) ký sinh ở cá Nhiều
loài gây nguy hiểm cho cá nuôi nước ngọt và cá nuôi nước biển Cuốn sách ựã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành ký sinh
ựơn bào ở cá, gồm: ngành trùng roi (Mastigophora), ngành Opalinata, ngành
Amip (Amoebae), ngành trùng bào tử (Apicomplexa), ngành vi bào tử
(Microspora), ngành bào tử (Myxozoa), ngành trùng Lông (Ciliophora)
Ở Châu Phi và Trung Cận đông ựã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá, trong ựó phải kể ựến Paperna và Kritsky Paperna (1964) ựã nghiên cứu ký sinh trùng ựa bào của 29 loài cá nội ựịa Israel và phát hiện ựược 116 loài ký sinh trùng Năm 1996, Paperna cho xuất bản cuốn sách ỘKý sinh trùng và bệnh truyền nhiễm ở cá Châu PhiỢ, tác giả ựã mô tả các bệnh ký sinh trùng ở các trại nuôi cá và phân loại ký sinh trùng quan trọng của cá
Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu ký sinh trùng Ờ bệnh cá và ựộng vật thủy sản nói chung khá phát triển so với các nước Châu Á Từ giữa thế kỷ 20
ựã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng cá như Chen Chin Leu (1955, 1956, 1960); Nie Dashu (1960); Yin Wen-ying (1960, 1962, 1963); Wu H.S (1956) Chen Chin Leu (1973) là chủ biên cuốn sách: ỘKý sinh trùng cá nước ngọt tỉnh Hồ BắcỢ Tác giả ựiều tra 50 loài cá nước ngọt ựã phát hiện 382 loài ký sinh trùng trong ựó có 17 loài sán lá ựơn chủ, 33 loài sán lá song chủ, 10 loài sán dây
Ở Nhật Bản, công trình ựồ sộ nhất của nhà ký sinh trùng học Yamaguti S (1958, 1960, 1963, 1971) ựã tổng kết kết quả nghiên cứu giun, sán ký sinh ở ựộng vật và người trên toàn thế giới, xuất bản thành nhiều tập Nagasawa K.; Awakura T và Urawa S (1989) ựã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido - Nhật Bản và xác ựịnh ựược 96 loài ký sinh trùng trong ựó 38 loài chưa xác ựịnh ựược tên loài
Trang 18Ngoài ra, Ấn ðộ cũng có nhiều công trình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Gupta (1967) nghiên cứu ký sinh trùng ñơn bào và giun sán ký sinh trên cá Gussev (1976) nghiên cứu 37 loài cá nước ngọt Ấn ðộ, phân loại ñược 57 loài sán ñơn chủ trong ñó ñã phát hiện 40 loài sán lá ñơn chủ là loài mới ñối với khoa học
Ở một số nước trong khu vực như Thái Lan, công trình nghiên cứu ñầu tiên
về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là của Wilson (1926 – 1927) thông báo về hiện
tượng rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt Thái Lan và ñến
năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan có một loài
thuộc giống Carligus ký sinh Qua tổng kết, một số nguyên sinh ñộng vật, sán lá ñơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như: Chilodonella, Trichodina,
Costia, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus Ngoài ra, Paiboon Yutisri và
Aprirum Thuhanruksa (1985) khi ñiều tra khu hệ ký sinh trùng của một số cá sống tự nhiên ở một số vùng của Thái Lan ñã phát hiện 16 loài ký sinh trùng, trong ñó gồm 3 loài ngoại ký sinh và 13 loài nội ký sinh ở cá bống tượng
(Oxyeleotris marmoratus)
Ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun ñầu gai trên cá nước ngọt ở Java, Louis Bovien (1926, 1927, 1933) ñã mô tả một
giống mới và loài mới Djombangia penetrans tìm thấy ở cá trê trắng (Clarias
batrachus); Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu Tiếp theo nhà khoa
học người ðức Alfred L Buschkiel (1932, 1935) ñã nghiên cứu ký sinh trùng
ñơn bào (Ichthyophthyrius multifiliis) ở một số loài cá nước ngọt của
Indonesia ðến năm 1952, sự ra ñời của cuốn sách “Những dấu hiệu của những loại ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Indonesia” của tác giả M.Sachlan thực sự là bước ngoặt trong ngành ký sinh trùng học nước này Malaysia là nước nghiên cứu ký sinh trùng của cá muộn hơn Trong giai ñoạn 1861 – 1973, Furtado và Fernanda có báo cáo về phân loại và hình thái của một số giun sán ký sinh ở cá nước ngọt Malaysia (Richard Arthur J, 1996)
Trang 19Cũng như ở Thái Lan và nhiều nước khác, khu hệ ký sinh trùng ở cá nước ngọt Malaysia ngày càng phong phú khi sự nghiên cứu ựược chuyên sâu theo nhiều hướng khác nhau Susan Lim Lee- Hong (1983, 1985, 1986, 1987, 1990, 1997)
ựã nghiên cứu hệ thống phân loại của sán lá ựơn chủ ở cá nước ngọt Malaysia
Ở Philippin tác giả nghiên cứu ký sinh trùng cá sớm nhất là Tubangui M A (1928 - 1946) Ngay từ năm 1947, Tubangui ựã công bố kết quả nghiên cứu một
số loài mới thuộc sán lá ựơn chủ (Trematoda Ờ Digenea), giun tròn (Nematoda)
và giun ựầu móc (Acanthocephala) Carmen C.Velasquez (1975) xuất bản cuốn
sách về sán lá song chủ ở Philippin, tổng khóa phân loại sán lá song chủ Trong
ựó, tác giả mô tả 73 loài thuộc 50 giống 21 họ sán lá song chủ ký sinh trên 27 họ
cá của Philippines Các tác giả Arthur, J.R.; Lumanlan Ờ May (1997) khi tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng của cá ở Philippin ựã ựiều tra và xác ựịnh ựược 201
loài ký sinh trùng ở 172 loài cá, gồm: Apicomplexa Ờ 1, Ciliophora Ờ 16,
Mastigophora 2, Microspora Ờ 1, Myxozoa Ờ 9, Trematoda 90, Monogennea
-22, Cestoda Ờ 6, Nematoda Ờ 20, Acanthocephala Ờ 5, Mollusca -1, Branchiura Ờ 2, Copepoda -21 và Isopoda - 5
Ở Lào có Moravec và Scholz (1991) khi ựiều tra ấu trùng (metacercaria) của Trematoda ở 61 loài cá nước ngọt ựã xác ựịnh ựược 14 loài ký sinh trùng
Ở Banglades, tác giả Ahmed và Ezaz (1997) ựã nghiên cứu ký sinh trùng của
17 loài cá trơn kinh tế nước ngọt , ựã xác ựịnh ựược 69 loài giun sán ký sinh
Ở Mỹ và Canada Hoffman G.L (1998) ựã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng
cá nước ngọt gồm 416 loài thuộc 36 họ cá nội ựịa và cá nhập nội ngoài ra còn
114 loài cá nước lợ, cá nhiệt ựới và cá biển
Ở một số nước trong khu vực đông Nam Á ựã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá từ ựầu thế kỷ XX nhưng chưa nghiên cứu toàn diện các nhóm ký sinh trùng, thường chỉ nghiên cứu theo từng nhóm ký sinh trùng như: sán lá song chủ, sán lá ựơn chủ hoặc ở một vài loài cá (Kim Van Van & Dinh Thi Thuy, 2008)
Trang 202.2.2 Nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Việt Nam
Người ựầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam là nhà ký sinh trùng học người Pháp, bác sỹ Albert Billet (1856 Ờ 1915) Ông ựã mô tả
một loài sán lá song chủ mới Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong
bóng hơi cá Nheo ở Việt Nam P Chevey và J Lemasson (1936) ựã nghiên
cứu sự ký sinh của trùng mỏ neo Lernaea carassii, 1933 (syn của
L.cyprinacea Linne, 1758) trên cá chép nuôi
Trước năm 1960, lĩnh vực Bệnh học Thủy sản ở Việt Nam hầu như chưa ựược quan tâm Nhóm ựề tài nghiên cứu bệnh học thủy sản ựược hình thành ựầu tiên tại trạm nghiên cứu cá nước ngọt đình Bảng 1960, là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I hiện nay đến nay, do yêu cầu của thực tế sản xuất, các phòng nghiên cứu bệnh ở ựộng vật thủy sản (đVTS) ựược xây dựng
ở nhiều nơi: Viện Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) II (TP Hồ Chắ Minh) và III (Nha Trang Ờ Khánh Hòa), tại các trường ựại học có ựào tạo ngành NTTS như trường đại học Thủy sản Nha Trang, trường đại học Cần Thơ, trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chắ Minh ựều có các phòng nghiên cứu về bệnh học thủy sản Ngoài ra, tại các ựịa phương có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ựều có các trạm kiểm dịch giúp nông dân phát hiện và phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản (đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)
Từ năm 1961 - 1976, một số nhà khoa học của Liên Xô cũ Oschmarin P.G.; Mamaev U.L.; Paruchin A.M.; Lebedev B.I khi ựiều tra ký sinh trùng ở hơn 60 loài cá của vịnh Bắc Bộ, ựã công bố hơn 20 bài báo trong tạp chắ và sách tham khảo Các tác giả ựã xác ựịnh 190 loài giun sán ký sinh, trong ựó ựã
mô tả ựược 9 giống và 37 loài mới ựối với khoa học
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở cá nước ngọt mới chỉ bắt ựầu từ những năm 60 ở miền Bắc và từ sau năm 75 ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, ựồng bằng sông Cửu Long Tác giả Hà Ký là nhà
Trang 21ký sinh trùng học ñầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng ở cá Trong giai ñoạn 1960 – 1968, tác giả ñã nghiên cứu trên 16 loài cá kinh tế ở Bắc
Bộ – Việt Nam, ñã xác ñịnh ñược 120 loài ký sinh trùng thuộc 48 giống, 37 họ,
26 bộ và 10 lớp trong ñó có Mastigophora có 2 loài, Myxozoa có 18 loài,
Ciliophora có 17 loài, Monogenea 42 loài, Cestoda 4 loài, Crustacea 15 loài
Trong ñó, ông cũng ñã mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới (Хa Kи, 1968)
Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967), Lê Văn Hòa và Bùi Thị Liên Hương (1969) ñã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ Các tác
giả ñã mô tả 1 giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetia
campanarougetae
Nguyễn Thị Muội và cộng sự (1976) ñiều tra giun ñầu gai ký sinh trên một
số loài cá nước ngọt ở ñồng bằng Bắc Bộ bước ñầu phân loại ñược 9 loài ký sinh trên 12 loài cá
Nguyễn Thị Muội và ðỗ Thị Hoà (1981- 1985) khi ñiều tra ký sinh trùng của 20 loài cá nước ngọt Tây Nguyên ñã phát hiện phân loại ñược 117 loài ký sinh trùng
Hai nhà giun sán học F Moravec và O Sey (1986, 1988, 1989, 1991) thu mẫu ký sinh trùng của một số loài cá nước ngọt ở sông Hồng ñã ñược cố ñịnh tại bảo tàng ñộng vật Trường ðại học Tổng hợp Hà Nội Các tác giả ñã phân
loại ñược 16 loài sán lá song chủ (Trematoda), 21 loài giun tròn (Nematoda),
7 loài giun ñầu gai (Acanthocephala), trong ñó ñã mô tả 16 loài, 2 giống mới
ñối với khoa học
Ở miền Nam, Bùi Quang Tề và cộng sự (2001) ñã ñiều tra nghiên cứu
ký sinh trùng hơn 41 loài cá kinh tế nước ngọt ở ñồng bằng sông Cửu Long
và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra Kết quả xác ñịnh ñược 157 loài, 70 giống, 46 họ thuộc, 27 bộ thuộc 12 lớp, 8 ngành Trong số 157 loài, có 121 loài lần ñầu tiên ñược phát hiện tại Việt Nam
Trang 22Nguyễn Văn ðức và Nguyễn Văn Hà (2005) “Bổ sung một số dẫn liệu
mới về giun sán ký sinh ở cá Chép Việt Nam” ñã bổ sung 4 loài sán dây, 5 loài
sán lá, 2 loài giun tròn và 1 loài giun ñầu gai
Nguyễn Văn Hà (2005) ñã phát hiện 1 loài sán lá gan mới (Motorchis
kimbangensis) ký sinh ở cá Nheo Việt Nam
Nguyễn Văn Hà (2005) ñã phát hiện 5 loài giun tròn ký sinh ở cá nước ngọt vùng ðồng bằng sông Hồng Việt Nam
Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Văn ðức, Trần Thị Bính, Nguyễn Thị Lê (2003) ñã phát hiện 2 loài sán lá ký sinh ở cá Chuối mới tìm thấy ở Việt Nam Theo tổng kết của Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), thành phần giống loài
ký sinh trùng ở cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú Ở nước ta, ñiều tra nghiên cứu ký sinh trùng của 110 loài cá, thuộc 59 giống, 31 họ ñã xác ñịnh ñược 373 loài ký sinh trùng thuộc 132 giống, 83 họ, 18 lớp Trong ñó, phân loại ñược 78 loài, 3 giống, 1 họ phụ mới ñối với khoa học Ngoài ra còn một
số loài chưa ñủ tài liệu ñể ñịnh danh ñến loài
Hà Duy Ngọ và Nguyễn Văn Hà (2010) ñã mô tả các loài sán lá thuộc
giống Stephanostomum Looss, 1899 ký sinh ở cá biển vịnh Bắc Bộ
Cho ñến nay, ở Việt Nam ñã nghiên cứu và tổng kết ñược một số bệnh
ký sinh trùng thường gặp ở cá giống: bệnh trùng bào tử sợi; bệnh tà quản trùng; bệnh trùng bánh xe; bệnh trùng quả dưa; bệnh sán lá ñơn chủ; bệnh giun tròn; bệnh ấu trùng sán ở mang cá; bệnh trùng mỏ neo và bệnh rận cá (www.rial.org/projects/datagenBanh/htmls/data/ca20%chep%2oV1.htm)
Trang 232.3 NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG Ở CÁ CHÉP
2.3.1 Nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép ở nước ngoài
Nhiều loài ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai ñoạn sớm (cá hương, cá giống) Nguyên nhân gây bệnh cho cá do ký sinh trùng ñã ñược nhiều tác giả trên thế giới thông báo Nhiều loài ký sinh trùng
ñã gây thiệt hại cho nghề nuôi cá, như nhóm ñơn bào ngoại ký sinh, sán lá
ñơn chủ (Monogenea), giun sán và giáp xác (Crustacea)
Theo Chen Chin Leu (1973) nghiên cứu KST trên cá chép (Cyprinus
carpio) ñã xác ñinh ñược 61 loài KST gồm: Protozoa có 30 loài, Monogenea
có 9 loài, Cestoidea có 4 loài, Trematoda có 7 loài, Nematoda có 4 loài,
Acanthocephala có 2 loài, Bivavia có 2 loài, Crustacea có 4 loài
Laboratorio (1999) giới thiệu và cảnh báo về sự nhiễm Centrocestus
fomosanus trên cá trong nuôi trồng thủy sản ở Mexico Tác giả cho biết ký
chủ ñầu tiên của Centrocestus fomosanus là ốc Melanoides tubercularus Châu
Á ñã ñược giới thiệu ở nước ông từ năm 1979 ñến năm 1985 khi người ta
nhập cá chép từ Trung Quốc Centrocestus fomosanus ñã ñược phát hiện ở cá
hương tại tất cả các loài cá khác ở một trang trại ở Mexico Từ thời ñiểm ñó,
sán lá song chủ Centrocestus fomosanus ñã nhanh chóng phát triển khắp ñất
nước Mexico và lan ra cả những vùng lân cận như ðại Tây Dương, Thái Bình
Dương Cũng tại ñây, tác giả ñã nghiên cứu và phát hiện loài Diệc Butoridae
stritus là ký chủ cuối cùng của sán lá song chủ Centrocestus fomosanus
Mellisa Harvey (2000) làm thí nghiệm sử dụng tia cực tím ñể tiêu diệt
ấu trùng Centrocestus fomosanus sống tự do trong môi trường nước Trong thí
nghiệm này, khoảng 21 nghìn ấu trùng ñược xử lý bằng tia cực tím trong thời gian khác nhau từ 10, 100, 1000 và 10000 giây Cường ñộ tia cực tím trung bình/ giây là 28,34mW/cm2 với bước sóng là 257nm Như vậy cường ñộ tia tử ngoại trong các lô thí nghiệm là 283,4; 2834; 28340 và 283400 34mW/cm2
Trang 24Sau khi xử lý tia cực tắm theo thời gian khác nhau, ở mỗi công thức tiến hành thu 3 mẫu, mỗi mẫu lấy 50ml nước chứa ấu trùng sán ựược nhuộm bằng dung dịch FDA và Propidium iodide (PI), sau ựó lọc qua màng lọc có kắch thước là 8ộm Kết quả trung bình của 3 lần nhuộm và lọc cho thấy 99% ấu trùng
Centrocestus fomosanus vẫn sống ở tất cả các công thức, trừ công thức có
thời gian xử lý bằng tia cực tắm 10000 giây thì ấu trùng chết 100%
Bệnh trùng quả dưa do Ichthyophthyrius multifiliis gây ra, trùng ký sinh
trên da, mang, vây cá Bệnh lưu hành rộng trên khắp các châu lục trên thế
giới Ở đông Nam Á Ichthyophthyrius multifiliis ựã gây bệnh trên nhiều loài
cá trong ựó có 2 loài thuộc nhóm cá chép Ấn độ (Labeo rohita và Cirrhina
mrigala) Sự mẫn cảm ựối với bệnh này khác nhau tùy thuộc vào vị trắ ựịa lý,
với mức ựộ cảm nhiễm thấp cá trở thành vật mang bệnh (Paperna, 1961)
Tại Bangladet, 5 loài cá chép (Hypophthalmichthys molitrix, Cyprinus
carpio var specularis, Cyprinus idellus, Cyprinus carpio var communis và Puntius gonionotus) ựược kiểm tra bệnh ký sinh trùng ựã cho thấy có 793 loài
cá bị nhiễm bệnh do 3 loài sinh vật ựơn bào (Trichodina sp, Ichthyophthirius
sp và Chilodonella sp), 2 Monogenean (Gyrodactylus sp, Dactylogyrus sp), 2 Trematoda (Gorgotrema sp, Metadena sp), 4 Cestoda (Rhopalothyrax sp, Marsipometra sp, Lytocestus sp và Senga sp), 2 Nematoda (Camallanus sp, Procamallanus sp), 3 giáp xác (Argulus sp, Alitropus sp và Lamproglena sp)
và côn trùng 1 (ấu trùng Dipteran) ký sinh Những ký sinh trùng ựược phân
lập từ nhớt trên cơ thể, mang và ruột của cá bị nhiễm bệnh Trong các loài ký
sinh, nói chung tỷ lệ trung bình nhiễm cao nhất là Argulus sp (20,07%) ở H
molitrix và thấp nhất là Metadena sp (2,85%) ở Cyprinus carpio var communis Mật ựộ trung bình nhiễm cao nhất là Chilodonella sp (10,00) trong Cyprinus carpio var specularis và thấp nhất là Procamallanus sp (2,08) trong Cyprinus carpio var communis (Ahmed A.T.A.and M.T Ezaz, 1997)
Trang 252.3.2 Nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép ở Việt Nam (Cyprinus carpio)
Khi nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên 6 loại hình cá chép ở Việt Nam, tác giả Bùi Quang Tề (1981 Ờ 1985) ựã phát hiện 41 loài ký sinh trùng thuộc 23 giống, 21 họ, 14 bộ, 9 lớp ở cá chép trắng Việt Nam, cá chép vàng, chép kắnh hung, chép vảy hung, chép lai 1, chép lai 2 Hầu hết các loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian
(32 loài chiếm 75%) Trong ựó chú ý nhất là lớp bào tử trùng (Chidosporidia)
10 loại và lớp sán lá ựơn chủ (Monogenoidea) 9 loại Thành phần giống loài
ký sinh trùng ở từng loại hình cá chép khác nhau: chép trắng Việt Nam gặp 29 loài, chép vàng gặp 19 loài, chép kắnh hung gặp 25 loài, chép vảy hung gặp
16 loài, chép lai 1 gặp 37 loài, chép lai 2 gặp 11 loài Tuy nhiên cá chép trắng Việt Nam và chép lai 1 có thành phần giống loài ký sinh trùng phong phú nhưng mức ựộ cảm nhiễm thấp Ngược lại cá chép kắnh hung và cá chép vảy hung số loài ký sinh trùng không nhiều nhưng mức ựộ cảm nhiễm một số loài
ký sinh trùng rất cao ựã gây thành dịch bệnh làm cá chết hàng loạt đáng chú
ý nhất là loài: Myxobolus chúng thường gây bệnh cho cá chép Hungari, hao
hụt rất lớn trong giai ựoạn ương từ bột lên giống Các nhóm tuổi khác nhau thì thành phần loài ký sinh trùng cũng khác nhau như ở cá chép trắng Việt Nam số loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển phức tạp qua ký chủ trung gian tăng dần ở giai ựoạn cá giống và cá thịt Nguyên nhân chủ yếu là sự thay ựổi tắnh ăn của cá chép, cá hương ăn sinh vật phù du sang cá giống và
cá thịt ăn sinh vật ựáy
Thắch bào tử trùng ký sinh trên da, mang, vây, thành ruột và cơ cá Theo Bùi Quang Tề (1981-1985) cho biết cá chép kắnh Hungari nhập nội ở giai ựoạn cá hương, cá giống thường mắc bệnh thắch bào tử trùng với tỷ lệ cảm nhiễm cao (có trường hợp tới 96%), cường ựộ cảm nhiễm rất cao, bào nang bám dày ựặc trên các cung mang làm cá không khép nổi nắp mang
Trang 26Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), trùng bánh xe phân bố rộng với tỷ lệ cảm nhiễm và cường ựộ cảm nhiễm cao gây tác hại lớn cho cá hương và cá giống ở Việt Nam Tại đông Nam Á, người ta phát hiện một số loài trùng
bánh xe như Trichodina acuta, T nobilis, T nigra, T pediculus, T
domerguei, Tripartiella bulbosa, Trichodinella epizootica ký sinh trên da,
vây, mang 2 loài cá chép Ấn độ
Ở cá, ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus ký sinh chủ yếu trên
mang Số lượng các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá song chủ khá ựa dạng, hầu hết
là các loài cá nước ngọt, phổ biến là cá chép (Cyprinus carpio), cá Mè trắng Việt Nam (Hypophthalmichthys harmandi), cá Chim Trắng (Colossoma
macropomum)Ầ nuôi ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên,
Thái Nguyên, Bắc Cạn, đồng Bằng sông Cửu Long Theo Bùi Quang Tề ựiều tra ký sinh trùng trên cá Rô hu và Mrigal cho thấy tỷ lệ nhiễm: 22,88% (Hà Ký Ờ Bùi Quang Tề, 2007)
Trong những năm gần ựây, tỷ lệ và cường ựộ cá nhiễm ấu trùng sán lá
song chủ Centrocestus fomosanus trong các ao hồ nuôi miền Bắc rất cao, làm
giảm chất lượng ựàn cá nuôi, ựặc biệt là cá chép ở giai ựoạn cá giống đã có nhiều nghiên cứu về sán lá song chủ, song phạm vi nghiên cứu còn chưa rộng, hầu hết tập trung vào nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ở các ựịa phương (Nguyễn Thị
Hà, 2007)
Ngoài ra ựối với cá tự nhiên, hầu như bị nhiễm các loại ấu trùng sán lá, trong
ựó ấu trùng sán lá song chủ với tỷ lệ nhiễm rất cao, có thể lên tới 100% (Kim Van Van & Dinh Thi Thuy, 2008)
Theo nghiên cứu của tác giả Hà Ký - Bùi Quang Tề (2007) cho biết hiện ở
cá chép nước ta có Protozoa có 23 loài, Monogenea có 9 loài, Cestoidea có 2 loài, Trematoda có 11 loài, Nematoda có 2 loài, Acanthocephala có 3 loài,
Bivalvia có 1 loài, Crustacea có 14 loài
Trang 272.4 NGHIÊN CỨU BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ Ở VIỆT NAM
Hiện nay, có nhiều loài ký sinh trùng gây bệnh ở cá, ñặc biệt là giai ñoạn cá hương cá giống Trong ñó chủ yếu là bệnh do ngoại ký sinh trùng, sán lá ñơn chủ, giun sán, giáp xác
Theo tác giả Hà Ký (1961) bệnh Lernaeosis và Dactylogyrosis ở cá mè
hoa giai ñoạn cá hương trong một số ao nhiễm bệnh 100%, khi cường ñộ nhiễm 210 – 325 cá thể/ 1con cá, cá bị chết 75% Bệnh ñã làm chết 3 vạ cá hương mè hoa và trắm cỏ của Trung Quốc mới nhập vào nước ta nuôi ở trại
cá Nhật Tân
Theo tác giả Hà Ký ( 1976) cho biết tháng 5/1969 hàng loạt mè trắng
cỡ 12-15 cm ở hợp tác xã Tứ Hiệp – Hà Nội ñã bị chết do Lernaea ký sinh
Theo tác giả Bùi Quang Tề (1995) cho biết năm 1982 trong 100 ao nuôi
cá của tỉnh ðắc Lắc, Bình ðịnh cá mè, cá trắm cỏ bị nhiễm Lernaea với tỷ lệ
nhiễm 70 -80% và cường ñộ 5 -20 cá thể/ 1 con cá, thậm chí 80 cá thể/1 con
cá Ở miền Trung, Dactylogyrus ký sinh làm chết hàng loạt cá vàng, gây tổn
thương cho 1 số cơ sở nuôi cá cảnh
Theo tác giả Hà Ký và cộng sự (1992) cho biết năm 1979, cá chép của
một số hồ nuôi cá ở Hà Nội ñã nhiễm Gyrodactylus với tỷ lệ nhiễm ở da và
mang 100%, cường ñộ nhiễm 20 – 30 cá thể/10x9 trênt hị trường kính hiển vi,
có lamen ñếm ñược 1125 cá thể, bệnh ñã gây chết hàng loạt cá chép các kích
cỡ khác nhau
Từ năm 1975 – 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thường xuyên gây
bệnh cho cá chép Hungari nhập nội nuôi ở Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, trại cá Lạng Giang – Bắc Giang, Trại cá Tiền Phong – Quảng Ninh Bệnh ñã làm kênh nắp mang của cá chép giống và gây chết cá hàng loạt (Theo Bùi Quang Tề, 1995)
Trang 28Theo tác giả Bùi Quang Tề (1999) cho biết tháng 5/1998 hơn hai tạ cá trắm cỏ hương ñưa từ trạm thủy sản hồ Núi Cốc ra nuôi lồng ở ngoài hồ, sau 3 ngày cá chết hầu hết, nguyên nhân chính là do cá bị nhiễm ấu trùng
Centrocestus formosanus ở mang, tỷ lệ nhiễm 100%, bào nang ký sinh dầy
ñặc trên tơ mang
Bệnh sán lá ñơn chủ 16 móc Dactylogyrosis ñược phát hiện lần ñầu năm
1961 tại một số ao cá giống ở Hà Nội và Bắc Ninh Tác nhân gây bệnh là sán
lá ñơn chủ 16 móc thuộc giống Dactylogyrus Ở nước ta ñã phát hiện hơn 60
loài thuộc giống này ký sinh ở cá nước ngọt Cá chép cũng bị cảm nhiễm với loại trùng này Sán lá ñơn chủ 16 móc ký sinh chủ yếu trên mang cá, hút máu
và niêm dịch cá, song nguy hiểm nhất là giai ñoạn cá hương và cá giống Tỷ
lệ cảm nhiễm có thể lên tới 100% Tỷ lệ tử vong do bệnh này có thể lên tới 90% ở một vài loài cá nuôi trong ao tại một số trại cá (ðỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội, 2004)
Theo ðỗ Thị Hòa (2004) khi cá bị bệnh do Myxobolus có thể nhìn thấy rất
nhiều bào nang màu trắng bám dày ñặc trên cung mang, làm xương nắp mang không bị khép lại ñược và có thể làm cá chết hàng loạt
2.5 HOÁ CHẤT PHÒNG TRỊ BỆNH KÝ SINH TRÙNG
2.5.1 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản
Các nhà nghiên cứu ký sinh trùng (KST) cá ñều thống nhất chung một quan ñiểm rằng việc dùng thuốc ñể chữa trị cho cá là rất khó khăn, tốn kém nên phòng bệnh là chính, tuỳ bệnh và từng ñiều kiện hoàn cảnh mà chúng ta
có thể sử dụng các biện pháp xử lý khác nhau Năm 2001, trong luận án tiến
sỹ tác giả Bùi Quang Tề ñã nghiên cứu biện pháp phòng bệnh ký sinh trùng trên cá tốt nhất là tạo ñiều kiện môi trường thuận lợi cho cá nuôi ñồng thời diệt ñược ký sinh trùng, ao nuôi phải ñuợc kiểm tra KST và xử lý nếu cá nhiễm bệnh
Trang 29Việc dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản có thể ñưa lại nhiều lợi ích khác nhau như có thể làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng thức
ăn, tăng tỷ lệ sống sót của ñàn ấu trùng trong các trại giống Nhờ tác dụng của các loại thuốc khác nhau ñã và ñang dùng trong nuôi trồng thủy sản ñã làm giảm ñáng kể những rủi ro bệnh tật nếu dùng ñúng thuốc, ñúng liều lượng, ñúng thời gian quy ñịnh và ñặc biệt là giai ñoạn sớm của bệnh Tuy nhiên việc dùng thuốc quá lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản nói chung và trong nuôi công nghiệp (nuôi thâm canh) ñã và ñang phổ biến ở Việt Nam và các nước trong khu vực, có thể dẫn ñến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người, phá hủy môi trường sinh thái, làm ảnh hưởng ñến chất lượng các ñàn giống, ảnh hưởng ñến chất lượng sản phẩm thương phẩm và tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc Những ảnh hưởng này càng nặng nề khi những người ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản không có ý thức và hiểu biết ít về hiệu quả
và tác dụng của từng loại thuốc mà họ dùng hàng ngày Trong nuôi thâm canh (nuôi công nghiệp) dùng thuốc là ñiều không thể tránh khỏi, nhưng ñể dùng có hiệu quả, giảm ñi các tác ñộng phụ vốn có của thuốc tới môi trường, sức khỏe của con người và vật nuôi, các cơ quan quản lý nhà nước về thuốc thú y thủy sản phải ban hành những quy ñịnh nghiêm ngặt về các loại hóa chất ñược sử dụng và cấm dùng trong nuôi trồng thủy sản Có biện pháp xử lý thích ñáng những người mua
và bán những thuốc ñã cấm Mặt khác, cần bồi dưỡng nâng cao ý thức và sự hiểu biết cho ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản về tác dụng và hiệu quả hai mặt của tất cả các chủng loại thuốc dùng trong nuôi trồng thủy sản (http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenthuongchanh/120707-catom.htm)
Theo Alderman (1998), cho biết trong nuôi trồng thủy sản, muối ăn (NaCl) là loại hóa chất ñược sử dụng sớm nhất ñể hạn chế ký sinh trùng ðến ñầu thế kỷ XIX, KMnO4 ñược coi như một loại thuốc chủ yếu ñể phòng và chữa bệnh cho cá Năm 1920 và 1930, Formalin ñược sử dụng trong
Trang 30thời gian dài ựể trị bệnh do hai loại ký sinh trùng Gyrodactylus và
Dactylogyrus (Paperna I, 1961)
Trong những năm tiếp theo, nhờ những tiến bộ của khoa học mà nhiều loại thuốc và hóa chất ựã ựược thử nghiệm và ựưa vào sử dụng phổ biến như: sulphat ựồng (CuSO4), Xanh malachite (hiện nay ựã cấm sử dụng) ựể phòng trừ bệnh do nấm gây ra Sau ựó những năm 30 của thế kỷ XX, hệ thống vaccin lần ựầu tiên ựược sử dụng ựể hạn chế các bệnh do vi khuẩn đây là bước tiến nhảy vọt của khoa học trong việc làm hạn chế các dịch bệnh xảy ra ựối với ựộng vật thủy sản đến nay vaccine ựược coi như biện pháp ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh trên cạn cũng như ựộng vật thủy sản (Alderman, 1998)
Trong những năm trước ựây, Chloramphenicol là một loại kháng sinh có hiệu lực cao ựối với cả hai loại vi khuẩn gram âm và gram dương Loại kháng sinh này từ khi xuất hiện ựược sử dụng phổ biến và lan rộng sang các nước đông Âu và Châu Á (Tonguthai and Chanratchakool P, 1992) Hiện nay do hàm lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm thủy sản ảnh hưởng xấu ựến sức khỏe con người và môi trường nên Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn ựã ra quyết ựịnh cấm sử dụng loại thuốc kháng sinh này trong nuôi trồng, ựánh bắt, chế biến và bảo quản sản phẩm thủy sản Khuynh hướng sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản hiện nay là sử dụng các thuốc kháng sinh tổng hợp có tác dụng tốt ựối với ựộng vật thủy sản nhưng không ảnh hưởng ựến sức khỏe con người
Từ những năm 1950, CuSO4 ựược coi là một loại hóa chất sử dụng có hiệu quả trong ựiều trị nấm, ựồng thời CuSO4 cũng là một trong những hóa chất ựược sử dụng rộng rãi và lâu ựời nhất trong nuôi trồng thủy sản đầu tiên người ta biết ựến CuSO4 như một loại hóa chất diệt tảo Tuy nhiên, chúng vẫn ựược coi như một loại hóa chất ựể trị bệnh vi khuẩn, nấm, KST ựơn bào, sán
lá ựơn chủ, giáp xác ký sinhẦ(Davis, 1953; Brakev, 1961; Herman, 1972;
Trang 31Hoffman, 1972; Mayer, 1974…) Hiệu quả ñiều trị KST của CuSO4 thì thấy
rõ, còn hiệu quả ñiều trị vi khuẩn còn nghi ngờ
Bên cạnh CuSO4, Xanh malachite cũng là một loại hóa chất có hiệu quả trị nấm và KST trên ñộng vật thủy sản Là loại hóa chất có ảnh hưởng tới quá trình sinh tổng hợp Protein từ các axit amin, ảnh hưởng tới quá trình tạo năng lượng, do vậy chúng có hiệu quả cao trong ñiều trị bệnh Xanh malachite là loại hóa chất có khả năng diệt trùng mạnh nên hiệu quả phòng trị bệnh do KST gây
ra rất tốt Tuy nhiên, Xanh malachite là loại hóa chất có thời gian phân hủy dài, gây ảnh hưởng xấu ñến sức khỏe con người (gây ung thư da) Vì vậy hiện nay Xanh malachite ñã bị cấm sử dụng ở Việt Nam và các nước khác (Hà Ký – Bùi Quang Tề, 2007)
2.5.2 Hóa chất phòng trị bệnh ký sinh trùng trên cá
2.5.2.1 Vôi nung – CaO
Vôi nung thường ở dạng cục màu trắng tro, ñể trong không khí rất dễ hút
ẩm, làm mất tác dụng Do vậy khi bảo quản cần phải bọc kỹ lưỡng Khi cho xuống ao thì ở trong nước CaO sẽ chuyển thành CaOH phản ứng này sinh nhiệt
và sau cùng chuyển sang CaCO3 Loại vôi này có khả năng làm sát thương cả ñộng và thực vật thủy sinh trong môi trường nước, bao gồm cả ký sinh trùng gây hại cho ñộng vật thủy sản Ngoài ra còn có thể làm lắng ñọng các vật chất hữu cơ lơ lửng, làm xốp chất ñáy, tăng không khí ở tầng ñáy, làm tăng khả năng phân hủy chất hữu cơ của vi khuẩn, giữ ổn ñịnh môi trường nước
Thường dùng vôi nung ñể tẩy ñáy ao, sát trùng dụng cụ nuôi, phòng dịch bệnh cho ðVTS Liều lượng dùng phải phụ thuộc vào pH của thủy vực nuôi Trong thủy vực nước ngọt thường dùng 1000 kg/ 1ha ñể tẩy dáy
ao, khử trùng nước 15 – 20 g/m3 Trong NTTS nước mặn cần chú ý chỉ dùng khi pH < 6,5 nếu dùng tùy tiện rất dễ gây sốc cho ðVTS (ðỗ Thị Hòa, Bùi Quang Tề và cộng sự, 2004)
Trang 322.5.2.2 ðồng Clorua
Clorua ñồng là chất bột màu xanh lam, không mùi, tan dễ dàng trong nước, hút ẩm mạnh, bảo quản nơi ẩm ướt sẽ chảy nước
Trong NTTS, có thể dùng CuCl2 ñể diệt ký chủ trung gian là ñộng vật
thân mềm, như ốc Linnaea , ngoài ra còn trị một số ký sinh trùng thuộc họ
ñỉa, dùng nồng ñộ 0,5 – 0,7 ppm phun xuống hoặc tắm 5 -7 ppm trong thời
gian 5 phút ñể trị bệnh ký sinh do ñỉa (pasicola) gây ra ở cá (ðỗ Thị Hòa, Bùi
Quang Tề và cộng sự, 2004)
2.5.2.3 Nước oxy già Hydrogen Peroxyte
Nước oxy già có công thức phân tử là H2O2 ñây là chất có khả năng oxy hóa rất cao, tác dụng diệt mầm bệnh gây hại lớn, ngoài ra còn có tác dụng khử mùi hôi, oxy hóa các tế bào ñã chết
Có thể dùng oxy già ñể trị một số bệnh do ñộng vật ñơn bào ở cá tôm
và bệnh do sán lá ñơn chủ (Monogenea) ký sinh ở cá, cũng có thể dùng ñể sát
trùng vật nuôi
2.5.2.4 Xanh Methylen – Methylen Blue
Xanh Methylen có màu xanh nước biển ñậm, kết tinh hạt dạng hình trụ sang bóng hay dạng bột ngậm 3 phân tử nước, không mùi vị, ñể ra không khí
bị biến ñổi, dễ tan trong nước và trong rượu
Trong nuôi trồng thủy sản Xanh Methylen ñược dùng ñể trị các bệnh
cho ñộng vật thủy sản như: nấm ở cá và trứng cá, bệnh trùng quả dưa, bệnh tả quần trùng, sán lá ñơn chủ 16 và 18 móc với liều dùng 2 – 5 ppm, Tắm cho vật nuôi trong 20 – 30 phút và lặp lại sau 1 tuần
Cũng có thể phun vào ao, bể nuôi, với nồng ñộ 0,2 – 0,5 ppm ñể phòng
và trị các bệnh do vi khuẩn, ký sinh trùng
Ngoài ra, trong thục tế sản suất và trong phòng thí nghiệm cũng ñã và ñang dùng một số hóa chất khác như PVP – Iodine, Fomalin, ðồng sulphat, muối ăn, TCCA (Trichloisocyanuric axit)
Trang 332.5.3 Hóa chất phòng trị bệnh trùng bánh xe
Formalin: là hóa chất ñược sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản
ðặc biệt ñây là loại hóa chất có hiệu lực cao trong việc phòng trị các bệnh KST ñơn bào, nấm, giáp xác…(Bùi Quang Tề, 1997)
Nguyên tắc khi dùng loại hóa chất này là dùng với liều cao ñiều trị trong thời gian ngắn hoặc dùng với liều thấp ñiều trị trong thời gian dài Tùy theo phương pháp sử dụng mà liều dùng của Formalin khác nhau: phun vào nước ao, bể nồng ñộ 15 – 20 ppm, tắm 200 – 250 ppm trong thời gian 30 – 60 phút.Tuy nhiên trong ñiều kiện nhiệt ñộ nước cao ta có thể dùng nồng ñộ thấp hơn ñể tránh gây ngộ ñộc cho ñộng vật thủy sản (Bùi Quang Tề, 1997) Vì ở ñiều kiện nhiệt ñộ nước cao loại hóa chất này có thể gây ảnh hưởng nguy hiểm cho ñộng vật thủy sản, nó làm giảm hàm lượng Oxy hòa tan trong nước
ao vì thế gây tác hại cho cá bột, hương và cá giống (Tonguthai và Chenratchakool, 1992) Pungkachonboon (1997) cho rằng Formalin ở nồng
ñộ 75ppm có thể làm giảm Oxy hòa tan trong nước xuống 0 ppm trong 48 giờ Vì vậy khi sử dụng Formalin cần phải sục khí liên tục Ngoài ra Formalin
có thể hạn chế hiện tượng nở hoa do thực vật phù du trong ao ở liều lượng 15ppm (Allison, 1962) Formalin ở nồng ñộ 25, 50, 75 ppm không gây ảnh hưởng ñến ñộ kiềm, ñộ cứng nhưng Tasakool (1987) lại cho rằng hợp chất này làm giảm pH trong nước
ðồng Sulphat (CuSO 4 5H 2 O): là tinh thể màu xanh lam ñậm ngậm 5
phân tử nước, dễ tan trong nước và có tính axit yếu CuSO4 có tác dụng kìm hãm và có khả năng tiêu diệt các sinh vật gây bệnh tương ñối mạnh CuSO4
có khả năng kết hợp với protein tạo thành phức chất, làm vón cục tế bào tổ chức dẫn ñến tiêu diệt ñược nhiều nguyên sinh ñộng vật ký sinh trên cá Ngoài ra CuSO4 phòng và trị bệnh rất có hiệu quả ñối với các bệnh ký sinh trùng ñơn bào như: trùng bánh xe, trùng loa kèn, trùng miệng lệch… hạn chế
Trang 34ñược sự phát triển của hiện tượng tảo nở hoa, khử trùng ñáy ao và diệt các ký chủ trung gian như ốc, nhuyễn thể khác Khả năng diệt trùng của CuSO4 bị các yếu tố môi trường chi phối rất lớn Thường trong môi trường nước có nhiều mùn bã hữu cơ, pH cao, môi trường nước cứng, ñặc biệt môi trường nước lợ, mặn ñộc lực của CuSO4 giảm, do vậy phạm vi an toàn lớn Ngược lại trong môi trường nhiệt ñộ nước cao tác dụng của chúng tăng lên nên phạm vi an toàn ñối với ñộng vật thủy sản nhỏ Do ñó khi sử dụng CuSO4
ñiều trị cho ñộng vật thủy sản cần lưu ý nhiệt ñộ nước
Thuốc tím ( KMnO 4 ): Thuốc tím dạng tinh thể nhỏ dài, 3 cạnh, màu
tím, không có mùi vị, dễ tan trong nước
2KMnO4 + H2O = 2KOH + 2MnO2 + 3O KMnO4 là dung dịch oxy hóa mạnh Khi gặp chất hữu cơ, oxy nguyên tử vừa giải phóng lập tức kết hợp với chất hữu cơ nên không xuất hiện bọt khí MnO2 kết hợp với albumin cơ thể tạo thành hợp chất muối albuminat Ở nồng
ñộ cao nó kých thích ăn mòn tổ chức cơ thể
Trong môi trường nước KMnO4 có khả năng tạo ra Oxy nguyên tử mà chính nó tham gia vào quá trình Oxy hóa các Protein của tác nhân gây bệnh
ñể tiêu diệt tác nhân gây bệnh Trong thủy sản KMnO4 dùng ñể: Sát trùng dụng cụ, tẩy ao, phòng và trị một số bệnh như: nguyên sinh ñộng vật, nấm Phương pháp sử dụng: Nồng ñộ dùng 10 - 20 ppm ñể tắm cho cá trong thời gian 30 - 40 phút ở nhiệt ñộ 20 – 300C Nếu nhiệt ñộ thấp thì tăng nồng
ñộ lên Khi tắm cần chú ý sức chịu ñựng của cá (Bùi Quang Tề, 2003)
Muối ăn (NaCl): Dạng tinh thể màu trắng, có vị mặn, dễ tan trong nước
NaCl = Na+ + ClNaCl tạo áp suất thẩm thấu và làm biến tính protein tế bào sinh vật, làm chết một số sinh vật ký sinh bên ngoài cơ thể ñộng vật thủy sản ðặc biệt ký sinh trùng thuộc ngành nguyên sinh ñộng vật và một số vi khuẩn trong nước ngọt
Trang 35-Thường dùng nồng ñộ từ 1 – 3% tắm cho ñộng vật thủy sản Thời gian tắm và nồng ñộ tắm thích hợp phải tùy từng tình hình cụ thể nhất là trạng thái cơ thể của ñộng vật thủy sản Muối NaCl thường dùng ñối với ñộng vật thủy sản nước ngọt
2.6 ðẶC ðIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
ðặc ñiểm ñịa lý, khí hậu, khu hệ ñộng - thực vật, sự phân bố dân cư, tập quán sinh hoạt của con người, tình hình nuôi trồng thủy sản ở một vùng có quan hệ chặt chẽ với sự tồn tại, phát triển ký sinh trùng ký sinh Nghiên cứu của chúng tôi ñược thực hiện tại thủ ñô Hà Nội Vì vậy hiểu rõ ñiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Nội là một yêu cầu cần thiết cho chúng tôi thực hiện ñề tài
Hà Nội là thủ ñô, ñồng thời là thành phố ñứng ñầu Việt Nam về diện tích tự nhiên và ñứng thứ hai về diện tích ñô thị sau thành phố Hồ Chí Minh,
nó cũng ñứng thứ hai về dân số với 6.913.161 người Nằm giữañồng bằng sông Hồng trù phú, nơi ñây ñã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi ñầu của lịch sử Việt Nam
Hà Nội hiện nay có diện tích 3.344,7 km², gồm một thị xã, 10 quận và
18 huyện ngoại thành Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả quốc gia Năm 2009, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 6,67%, tổng thu ngân sách khoảng 70.054 tỷ ñồng
Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấp quốc gia và các trường ñại học lớn
- Vị trí ñịa lý
Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng ñồng bằng Bắc Bộ trù phú Với vị trí và ñịa thế ñẹp, thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn, ñầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
Trang 36Hà Nội nằm ở vĩ ựộ bắc: 20o53' ựến 21o23', Kinh ựộ ựông: 105o44' ựến 106o02' Hà Nội giáp với năm tỉnh: Thái Nguyên ở phắa bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phắa ựông và ựông nam, Hà Nam và Vĩnh Phúc ở phắa nam và phắa tây.
- Sông ngòi
Hà Nội là thành phố gắn liền với những dòng sông, trong ựó sông Hồng
là lớn nhất Sông Hồng bắt ựầu từ dãy Ngụy Sơn (Trung Quốc), ở ựộ cao 1776m, chảy theo hướng tây - bắc - ựông - nam vào Việt Nam từ Lào Cai và chảy ra vịnh Bắc Bộ Sông Hồng chảy qua Hà Nội dài khoảng 30 km
đê sông Hồng ựược ựắp từ năm 1108, ựoạn từ Nghi Tàm ựến Thanh Trì, gọi là ựê Cơ Xá Ngày nay sông Hồng ở Việt Nam có 1267km ựê ở cả hai bên tả, hữu ngạn độ cao mặt ựê tại Hà Nội là 14m so với mặt nước biển
Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt ựời sống cũng như trong sản xuất Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu tấn/năm Phù sa giúp cho ựồng ruộng thêm màu mỡ, ựồng thời bồi ựắp và mở rộng vùng châu thổ Nguồn cá bột của sông Hồng ựã cung cấp cá giống ựáng
kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở ựồng bằng Bắc Bộ
Ngoài sông Hồng, trong ựịa phận Hà Nội còn có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ và sông Cà Lồ
- Khắ hậu
Khắ hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với ựặc ựiểm của khắ hậu nhiệt ựới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa ựông lạnh, ắt mưa Thuộc vùng nhiệt ựới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt ựộ cao Và do tác ựộng của biển, Hà Nội có ựộ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một ựặc ựiểm rõ nét của khắ hậu Hà Nội là sự thay ựổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt ựộ trung bình 28,1 ồC Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khắ hậu của mùa ựông với nhiệt
Trang 37ñộ trung bình 18,6 °C Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng
10, thành phố có ñủ bốn mùa xuân, hạ, thu và ñông
- Thực vật và ñộng vật
Các loại thực vật tự nhiên chỉ còn dạng thứ sinh, tập trung trong huyện Sóc Sơn Ở ñây còn khoảng hơn 6.700 ha ñất lâm nghiệp ñang ñược gấp rút trồng rừng, phủ xanh ñất trống, ñồi trọc ñể khôi phục thảm thực vật, bảo vệ môi sinh Do có rừng, gần ñây ñã thấy xuất hiện trở lại nhiều loại chim ăn ngũ cốc, các loài gậm nhấm và thú rừng (lợn rừng, chồn, sóc, trăn, rắn ) vốn trước kia có rất nhiều
Giới ñộng vật còn tương ñối phong phú là ñộng vật dưới nước như cá, tôm, cua, ốc, kể cả cá trong ñồng và ngoài sôngHà Nội là vùng ñất trù phú, có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu ñời, ñã cung cấp nhiều giống cây trồng, vật nuôi quí, có giá trị kinh tế và nổi tiếng trong cả nước
- Hệ sinh thái ao hồ
Hồ, ao, ñầm của Hà Nội thuộc hệ sinh thái nước tĩnh (Lentil Ecosystem), tức là nước không chảy, khác với hệ sinh thái nước chảy như sông, suối (Lotic Ecosystem) Giữa hồ và ao không có sự phân biệt thực sự rõ ràng, tuy nhiên theo Brown, A.L (1987) ao là nơi mà ánh sáng có thể soi qua tầng nước xuống tận ñáy và hồ là nơi mà ánh sáng không soi tới ñáy ñược ðầm là nơi nước ngập rất nông có các loại thực vật có thể sống ñược tạo thành hệ sinh thái ñặc biệt Các hồ và ñầm lớn vừa thuộc hệ sinh thái nước tĩnh, vừa thuộc hệ sinh thái ñất ngập nước thuộc hồ và ñầm
- Tình hình nuôi cá nước ngọt ở vùng Hà Nội
Theo thống kê Hà Nội ñang có khoảng 18.000 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản
Ngoại thành Hà Nội với diện tích nuôi trồng thủy sản khá lớn nhưng năng suất nuôi trồng thủy sản không cao Theo ñánh giá báo cáo của tổng cục thống kê thì năng suất nuôi của Hà Nội mới chỉ ñạt 2,5 tấn/ha
Trang 383 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Cá chép (Cyprinus carpio), ở các giai ñoạn phát triển:
- Cá bột: cá nở sau 3-5 ngày, thu một ñợt mẫu
- Cá hương: ương từ cá bột sau 25-30 ngày, thu 2 ñợt mẫu (10-15 ngày/ñợt)
- Cá giống: cá ương từ cá hương sau 30-60 ngày thu 2-3 ñợt mẫu
(15-20 ngày/ñợt)
3.2 ðỊA ðIỂM NGHIÊN CỨU
- ðịa ñiểm thu mẫu: Các trại cá nuôi tại Yên Thường, ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Gia Lâm – Hà nội
- Tiến hành thí nghiệm, xử lý và phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm : Phòng thí nghiệm Bộ môn Ký sinh trùng thú y, Khoa Thú y, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội; Phòng thí nghiệm trung tâm VAC Yên Khê, Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội; Phòng thí nghiệm bộ môn Nuôi trồng thủy sản – Khoa Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
3.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 11/2010 ñến tháng 11/2011
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên cá chép ở giai ñoạn cá con, gồm cá bột, cá hương, cá giống nuôi tại khu vực Hà Nội
- Xác ñịnh vị trí ký sinh của các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá chép
- Xác ñịnh tỷ lệ, cường ñộ nhiễm các loài ký sinh trùng trên cá chép ở các giai ñoạn
- ðiều tra nghiên cứu bệnh ký sinh trùng thường gặp gây nguy hiểm trên cá Chép
Trang 39- Thí nghiệm phòng trị bệnh ký sinh ñơn bào (Trùng bánh xe-
Trichodina spp)
3.5 DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT NGHIÊN CỨU
- Dụng cụ nghiên cứu: Bể chứa cá, máy sục khí, thước ño, cân, công tơ hút, khay men, khăn lau, giấy thấm, kính lúp, kính hiển vi, bộ ñồ giải phẩu gồm có dao liền cán, kéo, dùi, phanh, lam kính, lamen, ñĩa lồng, hộp ñựng tiêu bản
-Hóa chất: cồn 700, 800, 900 và cồn tuyệt ñối, thuốc nhuộm Ag NO3 2%, Carmin CuSO4, Formalin
3.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá của Dogiel và ñược bổ sung của Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007
Các bước tiến hành ñược mô tả trong sơ ñồ dưới ñây:
Hình 3.1: Sơ ñồ tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng
Phân loại KTS
Thu mẫu da, vây Thu mẫu mang Thu mẫu cơ quan
nội tạng Mẫu cá bệnh
Hình thái KST Nhuộm AgNO3
Tính mức ñộ nhiễm KST
Thử hóa dược với KST
Phác ñồ ñiều trị
Bảo quản
Trang 403.6.1 Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên ñơn giản
Số lượng mẫu nghiên cứu
Chiều dài (cm) Khối lượng (g)
TT Giai ñoạn Số mẫu
(con) Min Max TB Min Max TB
1 Cá bột 40 x 2 (ñợt) 0,4 0,6 0,44 0,01 0,02 0,012
2 Cá hương 80 x 2(ñợt) 1,1 1,7 1,47 0,02 0,15 0,08
3 Cá giống 80 x 2(ñợt) 2,2 8,2 3,86 0,23 9,61 4,45
Tổng cộng 400
3.6.2 Nguyên tắc nghiên cứu ký sinh trùng ở cá: cá nghiên cứu phải là cá
vừa mới chết hoặc còn tươi chưa bị khô
- Trước lúc kiểm tra ký sinh trùng phải xác ñịnh loài cá, tiến hành ño, cân, xác ñịnh tuổi cá sau ñó mới tiến hành kiểm tra ký sinh trùng từ da, vây, mang ñến các cơ xoang và tiến hành giải phẫu các cơ quan bên trong
- Giải phẫu: cung mang Cá chép gồm 5 cung mang
- Giải phẫu cá:
+ Tay trái cầm cá hơi giữ ngửa bụng lên trên, dùng kéo nhọn chọc nhẹ vào da bụng mềm ở lỗ hậu môn cắt một ñường ngang vừa phải về phía vây lưng, cắt tiếp ñường dọc theo ñường bên tới phần dưới mang, sau ñó cắt dọc bụng từ hậu môn về phía ñầu, vòng lên phía trên gặp giáp với ñường trước Lấy hẳn cả miếng cắt ra ngoài, sẽ thấy rõ các cơ quan nội tạng Cần chú ý thận trọng khi ñưa kéo, tránh không làm thủng các cơ quan bên trong