Khái niệm: Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá GTCG giữa mộtbên là Ngân hàng Nhà nước với bên kia là các tổ chức tín dụng TCTD trong đó NHNNđóng vai trò là ngườ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây nền kinh tế nước ta chuyển dịch mạnh dần sang cơ chế hộinhập Sự đổi mới kinh tế đòi hỏi phải nhanh chóng tiếp cận những lý luận và thực tiễnquản lý kinh tế của các nước tiên tiến trên thế giới Cùng với sự phát triển của nền kinh tếthì vai trò điều hành của các cơ quan nhà nước nói chung và ngân hàng nhà nước nóiriêng là hết sức cần thiết Và chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô quan trọnggiúp nhà nước điều hành quản lý nền kinh tế phát triển theo mục tiêu định hướng riêngcủa mình Tuy nhiên, để chính sách tiền tệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò củamình lại phụ thuộc vào quá trình sử dụng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ củangân hàng trung ương Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ được ngân hàng nhà nước lựachọn thường xuyên để thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình
Trải qua hơn 10 năm hoạt động, nghiệp vụ thị trường mở đã được thực hiện antoàn, góp phần quan trọng vào việc điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngânhàng Nhà nước Tuy nhiên, cũng như các công cụ chính sách tiền tệ khác của Ngân hàngnhà nước, nghiệp vụ thị trường mở đã bộc lộ những hạn chế nhất định Việc điều hànhchưa nhạy bén và linh hoạt, số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh số giao dịchnhỏ, hàng hoá giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lý thông tin còn nhiềubất cập và hạn chế Vì vậy, nhu cầu đổi mới và hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trưởng
mở là hết sức cấp bách và cần thiết Nhận thức được điều đó, qua những điều đã được
học, tham khảo qua sách báo, em đã lựa chọn đề tài “Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Đề tài của em gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhànước
Chương II: Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhànước Việt Nam thời gian qua
Chương III: Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhànước Việt Nam
Trang 2Tuy nhiên do hiểu biết còn hạn chế nên trong quá trình làm bài không thể tránhkhỏi những sai sót, em rất mong nhận được những lời đóng góp của cô để đề án của emđược tốt hơn.
Trang 3CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm:
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá (GTCG) giữa mộtbên là Ngân hàng Nhà nước với bên kia là các tổ chức tín dụng (TCTD) trong đó NHNNđóng vai trò là người điều hành hoạt động thị trường Nghiệp vụ TTM là một trong cáccông cụ được NHNN sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật NHNN năm 2003, nghiệp vụ TTMđược định nghĩa là nghiệp vụ mua bán ngắn hạn các GTCG do Ngân hàng Nhà Nướcthực hiện trên TTTT nhằm thực hiện CSTT quốc gia
Theo khoản 1 điều 2 Quy chế Nghiệp vụ thị trường mở 2007 thì NVTTM là việcNgân hàng Nhà nước thực hiện mua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá với các tổ chứctín dụng
1.2 Cơ chế tác động của nghiệp vụ TTM:
Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác độngtrực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trênthị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá
và mặt lượng
1.2.1 Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng:
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác độngngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi củacác ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia TTM) và tiền gửi củakhách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia TTM)
Trang 4Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của TTM tới dự trữ ngân hàng
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tạiNHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Trường hợpngười mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dưtiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảmsút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thốngngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụnggiảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thịtrường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHTW thựchiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởngđến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
1.2.2 Về mặt giá - Tác động qua lãi suất:
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếpđến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốnNHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thayđổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này, thôngqua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tớicác mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trườngxác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyếtđịnh
Trang 5Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của TTM qua lãi suất
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu vềloại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinhlời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trongcác giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trởlại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng.Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suấtngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường Bên cạnh
đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tínphiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này làmảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sựchuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịchchuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạtđộng đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm
Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởngđến lượng tiền cung ứng
Cung của quỹ cho vay giảm
Lãi suất ngắn hạn tăng
Lãi suất thị trường tăng
Giá TPKB giảm
LS thị trường tăng tăng
Trang 61.3 Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở:
1.3.1 Đối với ngân hàng trung ương:
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thicác công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường.Trong đó, TTM là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thayđổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ Thông qua việc muabán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữtrong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cungứng Như vậy, TTM đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tínhtrực tiếp trong điều hành CSTT
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua muabán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướngđiều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt Đặc biệt khi thực hiện TTMthường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việcđịnh hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến độngcủa lãi suất thị trường
TTM là một công cụ CSTT có tính chủ động cao TTM do NHTW chủ động khởixướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngânhàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng Như vậy, NHTW có thể chủ động thựchiện TTM theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết TTM có thể được thực hiện linhhoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch NHTW có thể thực hiệnTTM ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳtheo quyết định mua/bán GTCG
TTM có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ trựctiếp và các công cụ gián tiếp khác Các giao dịch TTM có tính hai chiều, qua đó NHTW
có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ
có thể bơm thêm tiền vào lưu thông Mặt khác, với công cụ TTM, NHTW có thể chủ
Trang 7động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan củaNHTM như trong công cụ TCV Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng nhưlượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêmhoặc rút về từ lưu thông
1.3.2 Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đadạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh hoạthơn Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳhạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70% Vì vậy, vấn đề cấpbách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả vàgiải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây áchtắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bánGTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường Các thành viên tham giathị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thịtrường mở có độ an toàn rất cao Bên cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chấtlượng các GTCG được giao dịch trong TTM sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tưGTCG của các ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn củangân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngânhàng
Ngoài ra, TTM góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD.Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống nhưcho vay, bảo lãnh, dịch vụ… mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiệnnghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG TTM cũng thúc đẩy các mối quan hệmang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường
TTM do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thịtrường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như một
Trang 8hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB Lãi suất trên thịtrường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiếtkhấu GTCG của NHTW.
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngânhàng
1.3.3 Đối với nền kinh tế
Mặc dù thành viên của TTM chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và NHTWnhưng TTM cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thịtrường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này Điều này góp phầnthúc đẩy các thị trường tài chính phát triển Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tàichính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộgia đình trong nền kinh tế
Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thịtrường nội tệ liên ngân hàng Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoànthiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nềnkinh tế thế giới Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức tài chính,tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách
hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW Tại cácquốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đều sử dụng TTM trongđiều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Chính vì vậy, việc sử dụngTTM là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới
Trang 91.4 Thành viên tham gia nghiệp vụ TTM
1.4.1 Ngân hàng Trung ương
NHTW vừa là thành viên vừa là người điều hành thị trường NHTW là người tổchức xây dựng và vận hành hoạt động của TTM theo các mục tiêu CSTT NHTW làngười quyết định lựa chọn sử dụng các loại TTM và tần suất sử dụng NVTTM NHTWtham gia thị trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệthống NH để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động đến thị trường theo mụctiêu CSTT NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiệnchức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiệnthanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế
Như vậy, NHTW tham gia TTM không phải vì mục tiêu kinh doanh mà để quản
lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo mục tiêu xác định của
nó
1.4.2 Các ngân hàng thương mại
Các NHTM là đối tác quan trọng trong nghiệp vụ TTM của NHTW xét ở haiphương diện: độ tin cậy và tính hiệu quả Các NHTW tham gia thị trường nhằm điều hòamức dự trữ ngân quỹ để duy trì khả năng thanh toán, cho vay khoản vốn dư thừa để kiếmlãi Đồng thời qua thị trường này, các NHTM thực hiện nghiệp vụ môi giới và kinh doanhchứng khoán
Với vai trò là trung gian tài chính có mạng lưới hoạt động rộng và gắn kết thành
hệ thống qua trung tâm thanh toán nên mỗi sự thay đổi dự trữ của các NH này sẻ gây ảnhhưởng nhiều chiều đến khối lượng tiền cung ứng theo mong muốn của NHTW Trongđiều kiện tỷ trọng dư nợ NH chiếm đa số trong thị trường tài chính như các nước đangphát triển thì ảnh hưởng này càng mang tính quyết định đến hiệu quả CSTT và do đó, sựtham gia của NHTM trong nghiệp vụ TTM càng thể hiện tính chất quan trọng của nó
Trang 101.4.3 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, các hội tiết kiệm nhà ở và cácđịnh chế tài chính các coi TTM như là nơi kiếm thu nhập qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi
để mua, bán các chứng khoán có giá ngắn hoặc dài hạn Các tổ chức này thường có khốilượng các CK lớn và họ thường xuyên thay đổi cơ cấu doanh mục đầu tư nhằm đảm bảomức sinh lợi cao nhất và rủi ro dự tính thấp nhất cho bộ đầu tư Đó chính là động cơ của
họ để tham gia vào nghiệp vụ TTM và trở thành đối tác của NHTW Khác với cácNHTM, hành vi giao dịch của NHTW đối với các đối tác này có tác dụng trực tiếp tớikhối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường qua sự biến động giá cả của loại CKđược giao dịch
1.4.4 Các nhà giao dịch sơ cấp
Các nhà giao dịch chuyên nghiệp tham gia vào nghiệp vụ TTM với tư cách làngười trung gian trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác như các hãngsản xuất – kinh doanh, các nhà đầu tư tư nhân, các ngân hàng và tổ chức tài chính phingân hàng Qua nghiệp vụ này, họ hưởng chênh lệch giá mua, bán Các nhà giao dịchcũng tham gia nghiệp vụ TTM cho bản thân mình khi họ có quỹ riêng để giao dịch vớiNHTW Trong thực tế, ở hầu hết các nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trênTTM được thực hiện thông qua vai trò người giao dịch Những người giao dịch thường làcông ty CK chuyên nghiệp
1.4.5 Điều kiện tham gia NVTTM ở Việt Nam
Theo điều 5 của Quy chế Nghiệp vụ Thị trường mở 2007 thì :
1 Các tổ chức tín dụng được công nhận là thành viên tham gia nghiệp vụ thịtrường mở khi có đủ các điều kiện sau đây:
1.1 Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch Ngânhàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố);
1.2 Có đủ các phương tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trường mởgồm: máy FAX, máy vi tính nối mạng internet;
Trang 111.3 Có giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ thị trường mở (theo Phụ lục số01/TTM của Quy chế này).
2 Các tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này đượcNgân hàng Nhà nước cấp giấy công nhận là thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở
1.5 Hàng hoá giao dịch trên TTM
Hàng hóa trên TTM có xu hướng đa dạng hóa Điều này phụ thuộc vào các yếu tốsau:
Một là, do cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng gay gắt, ảnh hưởng xuhướng toàn cầu hóa các hoạt động tài chính và sự xuất hiện nhiều tổ chức cung cấp tàichính mới buộc các tổ chức tài chính phải tìm kiếm công cụ mới thỏa mãn nhu cầu thuhút vốn về các mặt: thời hạn mức độ rủi ro, mức sinh lời, cách thức thanh toán nợ Xuhướng này sẽ có ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu hàng hóa trên TTM
Hai là, sự tiến bộ nhanh chóng của hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầungày càng phức tạp của khách hàng và mức độ khẩn trương của cuộc sống là động lựcquan trọng ra đời các sản phẩm tài chính mới có ảnh hưởng đến chủng loại hàng hóa trênTTM
Về mặt lý thuyết, nghiệp vụ TTM không giới hạn chủng loại cũng như thời hạncủa chứng khoán giao dịch nhưng những loại chứng khoán bao gồm:
1.5.1 Tín phiếu kho bạc (Treasury Bills)
Tín phiếu kho bạc là loại CK chính phủ thường được phát hành nhằm mục đíchđền bù thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính Thời hạn của tín phiếu khobạc thông thường là dưới một năm Đây là hàng hóa chủ yếu của nghiệp vụ TTM ở hầuhết NHTW các nước vì tín phiếu kho bạc có các đặc điểm:
- Có tính thanh khoản cao
- Phát hành định kỳ với khối lượng lớn Vì vậy, có thể đáp ứng nhu cầu can thiệpcủa NHTW với mức đọ và quy mô khác nhau
Trang 12- Nó còn có một số ưu điểm nhất định như khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thaycho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt, thì gánh nặng về chiphí thực hiện CSTT sẽ chuyển sang Ngân sách và được thể hiện một cách rõ ràng trên sốliệu ngân sách Nhà Nước Do vậy, sử dụng tín phiếu kho bạc trên TTM có ý nghĩa nhưmột chất xúc tác cho sự phát triển của thị trường tài chính nói chung
Bộ Tài chính là cơ quan có vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng pháthành định kỳ cũng như việc thanh toán lãi và gốc của tín phiếu Khối lượng tín phiếu khobạc phát hành được thay đổi tùy theo nhu cầu về vốn của Chính Phủ Do vậy, để sử dụngmột cách có hiệu quả tín phiếu kho bạc trong các giao dịch nghiệp vụ TTM thì cần phải
có mức độ phối hợp chặt chẽ giữa NHTW và Bộ Tài chính Nếu không có sự hợp tác tốtcủa bộ tài chính thì hiệu quả của điều hành CSTT bị hạn chế
1.5.2 Tín phiếu NHTW (Central Bank Bills)
NHTW có thể phát hành loại GTCG thường là tín phiếu ngắn hạn của NHTW làmcông cụ cho nghiệp vụ TTM Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm công cụ trên TTM cómột số ưu nhược điểm nhất định
Thứ nhất, nó làm tăng cường tính độc lập của NHTW Tuy nhiên, việc NHTWphát hành tín phiếu để thực hiện CSTT sẽ làm cho lợi nhuận của NHTW giảm hoặc thậmchí NHTW bị lỗ nếu phát hành với số lượng lớn
Thứ hai, tín phiếu NHTW là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng,nhưng sử dụng tín phiếu NHTW có thể đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tàichính nhằm tránh trường hợp phân đoạn thị trường (giữa thị trườn tín phiếu kho bạc, thịtrường tín phiếu NHTW)
1.5.3 Trái phiếu chính phủ (Government Bonds)
Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do chính phủ phát hành thông thườngnhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách Nhà Nước Mặt dù trái phiếu chính phủ làGTCG dài hạn có thể có thời hạn lên đến 30 năm nhưng trái phiếu chính phủ cũng được
sử dụng khá rộng rãi trong các giao dịch nghiệp vụ TTM ở một số nước đặc biệt bởi tính
Trang 13an toàn, tính ổn định trong phát hành, khối lượng phát hành thường lớn và khả năng tácđộng trực tiếp đến giá trị trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính
1.5.4 Trái phiếu chính quyền địa phương (Municipal Bonds)
Trái phiếu chính quyền địa phương là giấy nhận nợ dài hạn do chính quyền địaphương phát hành Thông thường, trái phiếu chính quyền địa phương khác với trái phiếuchính phủ và thường do các chính quyền địa phương lớn phát hành Loại trái phiếu nàythường được các NHTM sử dụng để tái chiết khấu tại NHTW và đây cũng là một loạiGTCG được các nhà đầu tư rất ưa chuộng do tính an toàn khá cao (các loại trái phiếuchính quyền địa phương thường được bảo đảm bằng các khoản thu từ các công trình cụthể hay thu thuế của địa phương phát hành trái phiếu) Sự can thiệp của NHTW qua việcmua bán trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ
1.5.5 Chứng chỉ tiền gửi (Certificates of Deposits)
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của NH hoặc của các định chế tài chính phingân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào NH trong một thời giannhất định với một mức lãi suất định trước Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường ngắnhạn (cũng có trường hợp thời hạn lên tới 3-5 năm) Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánhdấu sự thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: chuyển từ quản lý tài sản Nợsang quản lý tài sản Có bởi nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngânhàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền Tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửi làđảm bảo cho sức sống của nó và do đó, được sử dụng như là hàng hóa phổ biến chonghiệp vụ TTM
1.5.6 Thương phiếu (Commercial Paper)
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kếtthanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong thời giannhất định Thương phiếu thường do các công ty (doanh nghiệp) phát hành nhằm đáp ứngnhu cầu vốn ngắn hạn hteo cách thức gần giống như ngân hàng phát hành chứng chỉ tiềngửi Tuy nhiên khác với chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu thường được phát hành dưới
Trang 14hình thức chiết khấu Thời hạn của thương phiếu có thể từ 1, 2 ngày đến 270 ngày nhưngnhìn chung thương phiếu có thời hạn ngắn hơn 30 ngày Luật và pháp lệnh thương phiếu
ở các nước đảm bảo tính an toàn cho công cụ này bằng các quy định về điều kiện đượcphép phát hành thương phiếu, các công ty phải được các tổ chức xếp loại tín dụng và xếploại thương phiếu chẳng hạn như Moody’s hay Standard & Poor’s xem xét đánh giá Lãisuất áp dụng đối với thương phiếu thường thấp hơn lãi suất vay NH khiến cho thươngphiếu có tính hấp dẫn nhất định nhất là trong thời kỳ thắt chặt tiền tệ Thương phiếu cóthể có tài sản có của NH (thông qua các hành vi chiết khấu) Vì vậy việc mua bán thươngphiếu của NHTW trong các giao dịch TTM sẽ ảnh hưởng đến dự trữ của NH
1.5.7 Quy định ở Việt Nam
Theo quy định tại điều 8 Quy chế Nghiệp vụ Thị trường mở 2007 các loại giấy tờ
có giá được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở phải
có đủ các điều kiện sau đây:
- Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giaodịch qua nghiệp vụ thị trường mở
- Được phát hành bằng đồng Việt Nam
- Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán
- Giấy tờ có giá được mua hẳn hoặc bán hẳn có thời hạn còn lại tối đa là 90 ngày.Danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tạithời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp
vụ thị trường mở do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ
1.6 Phương thức giao dịch
1.6.1 Giao dịch mua bán hẳn
Là việc mua bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ bên bán cho bênmua và không kèm theo thoả thuận mua, bán lại Với phương thức này, chỉ được thựchiện với các loại hàng hoá mà thời hạn còn lại (tức thời gian thanh toán còn lại của giấy
Trang 15tờ có giá ngắn hạn tính từ ngày giấy tờ có giá được mua, bán thông qua nghiệp vụ TTMđến hạn thanh toán) tối đa theo quy định trong từng thời kỳ.
Thường được sử dụng trong trường hợp NHTW muốn điều chỉnh cơ cấu hoặc canthiệp vào thị trường để thay đổi các điều kiện tiền tệ
+ Hợp đồng mua lại: Khi cần bổ sung tăng dự trữ tạm thời NHTW tham gia trựctiếp vào việc ký hợp đồng mua lại chứng khoán của nhà môi giới, tức là NHTW muachứng khoán của nhà môi giới; còn nhà môi giới đồng ý mua lại chứng khoán đó vào mộtngày nhất định với một mức giá nhất định Vì dự trữ bổ sung này sẽ dừng lại một cách tựđộng khi hợp đồng mua lại đến hạn nên nghiệp vụ này chỉ là cách bơm thêm dự trữ vào
hệ thống tiền gửi tạm thời mà thôi Thời gian thực hiện hợp đồng mua lại thường là 7ngày
+ Hợp đồng mua lại đảo ngược: khi cần giảm khối lượng tiền tệ NHTW thực hiệngiao dịch theo hình thức bán - mua đảo ngược với các nhà môi giới, bằng một hợp đồngbán ngay chứng khoán cho nhà môi giới và một hợp đồng đảo ngược để mua lại tiếp theocác chứng khoán từ nhà môi giới đó Thời hạn thực hiện hợp đồng thường là 7 ngày
Mục đích của giao dịch có kỳ hạn là điều tiết vốn khả dụng của các ngân hàng mộtcách linh hoạt, định hướng lại chính sách tiền tệ tránh đi chệch hướng
Trang 161.7 Hình thức mua bán
1.7.1 Giao dịch song phương:
Giao dịch song phương là giao dịch được thực hiện trực tiếp giữa NHTW với mộthoặc một số các đối tác được lựa chọn mà không thông qua thủ tục đấu thầu Xét theođịnh nghĩa này, giao dịch song phương có thể được thực hiện bằng 2 cách:
- Giao dịch trực tiếp giữa NHTW với các đối tác: điều chủ yếu trong giao dịchsong phương trực tiếp là lựa chọn đối tác giao dịch sao cho có hiệu quả nhất Các giaodịch này được sử dụng đối với các hợp đồng có hoàn lại và không hoàn lại trong giaodịch hoán đổi ngoại tệ và huy động tiền gửi có kỳ hạn
- Giao dịch thực hiện thông qua Sở giao dịch CK hoặc các đại lý thị trường Đốivới các giao dịch này, các đối tác không bị giới hạn và thủ tục giao dịch các công cụ nợđược điều chỉnh theo tập quán của thị trường Trong giao dịch này, NHTW đóng vai trònhư những người tham gia khác trên thị trường CK
Thông thường, các giao dịch song phương không được thông báo trước ra côngchúng và ngày can thiệp tùy thuộc vào quyết định của NHTW
1.7.2 Phương thức đấu thầu:
1.7.2.1 Phương thức đấu thầu khối lượng:
Là việc xác định khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng tham gia nghiệp
vụ TTM trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng giấy tờ cógiá mua hoặc bán và lãi suất do NHTW thông báo cụ thể như sau:
- NHTW thông báo cho các tổ chức tín dụng mức lãi suất và khối lượng các loạigiấy tờ có giá cần mua hoặc cần bán (NHTW có thể không thông báo khối lượng cần muahoặc cần bán)
- Các đơn vị thành viên tham gia dự thầu khối lượng các loại giấy tờ cần mua hoặccần bán theo mức lãi suất do NHTW công bố
Trang 17Sau khi mở thầu, NHTW xác định khối lượng trúng thầu của các đơn vị tham gia
dự thầu theo nguyên tắc sau :
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng bằng hoặc thấp hơn khốilượng NHTW cần mua hoặc cần bán thì khối lượng trúng thầu của đơn vị chính là khốilượng dự thầu
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng lớn hơn khối lượngNHTW cần mua hoặc cần bán thì khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng sẽ đượcphân bổ theo tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng
1.7.2.2 Phương thức đấu thầu lãi suất:
Là việc xác định lãi suất trúng thầu của các tổ chức tín dụng tham gia NVTTMtrên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng giấy tờ có giá màNHTW cần mua hoặc cần bán
- NHTW có thể công bố hoặc không công bố khối lượng giấy tờ có giá cần muahoặc cần bán
- Các đơn vị thành viên dự thầu theo mức lãi suất và khối lượng giấy tờ có giá cầnmua hoặc cần bán ứng với mức lãi suất đó Lãi suất dự thầu được tính theo tỷ lệ phầntrăm và được làm tròn đến hai con số sau dấu phẩy Lãi suất sẽ được sắp xếp theo thứ tựlãi suất dự thầu giảm dần, nếu NHTW là người mua và ngược lại lãi suất sẽ được sắp xếptheo thứ tự tăng dần nếu NHTW là người bán
- Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu cao nhất (trường hợp NHTW bán) và lãisuất dự thầu thấp nhất (trường hợp NHTW mua) mà tại đó đạt được khối lượng giấy tờ cógiá NHTW cần mua hoặc cần bán
Có hai phương thức xét thầu theo lãi suất là xét thầu theo lãi suất thống nhất hoặctheo lãi suất riêng lẻ:
+ Lãi suất thống nhất: Là toàn bộ khối lượng trúng thầu được tính theo một mứclãi suất trúng thầu để tính số tiền phải thanh toán
Trang 18+ Lãi suất riêng lẻ: Khối lượng trúng thầu được tính tương ứng với từng mức lãisuất dự thầu được công bố trúng thầu để tính số tiền thanh toán.
Khối lượng trúng thầu được tính theo nguyên tắc :
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng nhỏ hơn hoặc bằng khốilượng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng dự thầu chính là khối lượng trúngthầu
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng lớn hơn khối lượng màNHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng đượctính tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng đó
1.8 Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM
1.8.1 Ưu điểm
Nghiệp vụ TTM có nhiều ưu điểm hơn so với các công cụ khác của CSTT:
- Nghiệp vụ TTM xảy ra theo sáng kiến của NHTW và vì vậy NHTW kiểm soátquy mô của nó một cách hoàn toàn Sự phát triển như vậy không thể đạt được khi sửdụng các nghiệp vụ khác, ví dụ cho vay chiết khấu, trong đó NHTW có thể khuyến khíchhoặc cản trở các Ngân hàng vay chiết khấu thông qua việc thay đổi lãi suất chiết khấu,nhưng không thể kiểm soát khối lượng cho vay chiết khấu
- Nghiệp vụ TTM vừa linh hoạt, vừa chính xác Nó có thể được sử dụng với bất kìquy mô nào Nếu NHTW muốn có sự thay đổi nhỏ trong dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, nghiệp
vụ TTM có thể giúp nó đạt được mục tiêu này thông qua bán hoặc mua một lượng nhỏchứng khoán Ngược lại nếu nó muốn có sự thay đổi rất lớn trong dự trữ hoặc thay đổitiền tệ, thì công cụ nhiệp vụ TTM cũng mạnh đủ để làm điều đó thông qua việc mua hoặcbán một lượng CK rất lớn
- Nghiệp vụ TTM có thể dễ dàng đảo ngược Nếu phạm phải một sai lầm nào đótrong nghiệp vụ TTM, NHTW có thể sửa chữa ngay Nếu NHTW cho rằng lãi suất vốn
Trang 19liên bang quá thấp do đã mua quá nhiều trên TTM, nó có thể ngay lập tức sửa đổi tìnhtrạng này bằng cách thực thi việc bán trên TTM.
- Nghiệp vụ TTM có thể được thực hiện một cách nhanh chóng Nó không gắn vớibất kỳ độ trễ hành chính nào Khi NHTW quyết định thay đổi cơ sở tiền tệ hoặc dự trữ,
nó chỉ cần ra lệnh cho các CK nhà buôn thực hiện và hoạt động giao dịch ngay lập tứcđược thực hiện
1.8.2 Nhược điểm
- Vì ảnh hưởng của nghiệp vụ TTM đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác độngngược chiều nên dự trữ của Ngân Hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau các hoạtđộng mua, bán CK của NHTW Chẳng hạn, dòng tiền chảy ngược chiều của vốn, do mấtcân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi ngân sách ở NHTW tăng lên, cáchoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng lượng tiền cung ứng sẽ bị triệt tiêumột phần hay toàn bộ
- Các NHTW không phải lúc nào cũng tăng, hay giảm lượng cung ứng tín dụng vàđầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của nghiệp vụ TTM Có nhiềuyếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mục tiêu mở rộng tín dụngnhư: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng lên
- Khi lãi suất thị trường giảm xuống như là kết quả tất yếu của sự tăng lên của MB(lượng tiền cung ứng của NHNN tăng thêm hằng năm), không phải lúc nào khối lượng tíndụng cũng tăng lên tương ứng Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nềkinh tế, mức độ rủi ro và thiếu ổn định trong môi trường đầu tư
- Như vậy khả năng phát huy hiệu quả tối đa của nghiệp vụ TTM nhiều khi khôngphụ thuộc vào NHTW, mà nó còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi củacông chúng và các quyết định của các NHTM
Trang 20CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ TTM vào hoạt động.Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN theo hướng từ sử dụng cáccông cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự pháttriển của đất nước Nó đã mở ra một kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của cácTCTD cho NHNN và tạo điều kiện cho các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG củamình Công cụ TTM liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và dần trở thànhmột công cụ CSTT chủ yếu của NHNN
2.1 Doanh số trúng thầu nghiệp vụ thị trường mở
Ngay từ khi triển khai, NHNN đã xác định TTM sẽ là một công cụ chủ yếu trongđiều hành CSTT của NHNN Để đạt được mục đích đó, NHNN đã tập trung thực hiệnviệc điều hoà lưu thông tiền tệ thông qua công cụ này Điều này thể hiện ở doanh số muabán GTCG trên thị trường mở tăng nhanh qua các năm Những năm gần đây, tốc độ nàyđạt trên 200%
Trang 21Bảng 1 Tổng doanh số trúng thầu TTM qua các năm:
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm thực
hiện
Số phiên thực hiện
Khối lượng trúng thầu theo các phương thức giao dịch
Khối lượng trúng thầu (tỷ đồng)
LS trúng thầu bình quân (%/năm)
Mua có kỳ hạn
(260 phiên) 979.800 3.883.098 947.205 12,92Bán hẳn
(133 phiên) 368.000 135.553 76.837 4,60Bán có kỳ hạn
Tổng số 1.359.822 1.030.673 1.036.066
Nguồn: NHNN
Trang 22Thông qua hoạt động TTM, NHNN không chỉ mua GTCG để bơm thêm vốn khảdụng khi thị trường thiếu hụt vốn khả dụng và mà còn bán GTCG để hút tiền nhàn rỗi khithị trường dư thừa vốn nhằm thực hiện mục tiêu CSTT Doanh số trúng thầu TTM tăngmạnh qua các năm, trung bình tăng gần 2 lần/năm trong giai đoạn 2000-2008, qua đótăng khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của TCTD cũng như các điềukiện tiền tệ.
Năm 2008, sở giao dịch ngân hàng nhà nước đã tổ chức 402 phiên giao dịch TTM,tăng 47 phiên so với năm 2007 Mua giấy tờ có giá chiếm 64,67% tổng phiên giao dịchvới doanh số trúng thầu chiếm 91,42% Không chỉ tăng số phiên giao dịch, doanh số giaodịch cũng tăng kỷ lục so với năm 2007, trong đó chủ yếu là giao dịch Mua kỳ hạn (tăng
15 lần so với năm 2007) Trong khi đó, giao dịch bán hẳn chỉ còn 76.837 tỷ đồng, giảm4,6 lần so với năm 2007 Những con số trên đã phản ánh sự nhộn nhịp trên thị trường tiền
tệ Quý I/2008, trên TTM vẫn diễn ra cả hai phiên giao dịch mua bán xen kẽ nhau nhưngcác tổ chức tín dụng chủ yếu tham gia mua Trước tình hình các NHTM chạy đua tăng lãisuất để huy động vốn trên thị trường, NHNN đã áp dụng các biện pháp mạnh như khốngchế lãi suất huy động tối đa, nâng lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu Sang quý II/2008khi nguồn vốn trên thị trường ngày càng khan hiếm, để đảm bảo tính thanh khoản cho hệthống ngân hàng, NHNN một mặt thắt chặt tiền tệ, mặt khác cung cấp thanh khoản cho tổchức tín dụng thông qua thị trường mở Lượng vốn bơm ra trên TTM thời kỳ này chiếmđến 99,65% tổng khối lượng giao dịch thành công trên thị TTM TTM đã trở thành công
cụ hữu hiệu của NHNN cũng như các TCTD trong thời kỳ này Sự thành công của TTM
đã thu hút ngày càng nhiều tổ chức tín dụng tham gia Nếu năm 2007, TTM chỉ có 44thành viên tham gia giao dịch thì năm 2008 đã tăng lên 56 TCTD, trông đó 35 TCTD cógiao dịch thường xuyên trên TTM, tăng 66,67% so với năm trước Đặt biệt, trước đây cácngân hàng nước ngoài chỉ tham gia giao dịch bán GTCG thì nay đã tham gia cả mua vàbán
Năm 2009, với 63 phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc, khối lượng giao dịch cũng chỉđạt 10.714 tỷ đồng, chiếm 15,75 tổng khối lươngj dự kiến (62.200 tỷ đồng), giảm gần
Trang 2350% so với năm 2008 ( hơn 20.000 tỷ đồng) bất chấp khối lượng đặt thầu hợp lệ của cácthành viên đạt 54.957,5 tỷ đồng.
Năm 2010, trong 3 tháng đầu năm 2010: NHNH đã chào mua 264.000 tỷ đồng,nhưng các NHTM chỉ mua 153.000 tỷ đồng; tháng 2, chào mua 262.000 tỷ đồng nhưngcác NHTM trúng thầu 73.000 tỷ đồng; tháng 3 chào mua 218.000 tỷ đồng nhưng cácNHTM chỉ mua 94.000 tỷ đồng và riêng 12 ngày đầu tháng 4/2010 NHNN chào mua97.000 tỷ đồng, các NHTM chỉ trúng thầu 47.000 tỷ đồng Cũng theo thông tin từ NHNNcho biết trong sáu tháng đầu năm 2010, để đảm bảo tính thanh khoản và đáp ứng nhu cầucủa khách hàng, NHNN đã thực hiện tăng lượng tiền cung ứng thông qua việc điều hànhlinh hoạt nghiệp vụ thị trường mở Cụ thể, mức bơm ròng trong tháng 5 là 19.000 tỷ,tháng 6 là 9.000 tỷ và 3 tuần đầu tháng 7 là xấp xỉ 10.000 tỷ
Kết quả đấu thầu trên thị trường mở từ tháng 7 đến tháng 9
Nguồn: Bloomberm, TLSSau khi sụt giảm đáng kinh ngạc ở trung tuần tháng 8, nhu cầu vay vốn trên TTM
đã trở lại đẩy giao dịch sôi động Trong các tuần kết thúc vào các ngày 13/8 và 20/8, nhucầu vay vốn trên TTM đột ngột giảm mạnh, thể hiện qua lượng đăng kí đấu thầu và trúngthầu Tuy nhiên, quy mô các phiên đấu thầu đầu tháng chín đã tăng mạnh trở lại, đặc biệt
Trang 24ở lượng đăng kí Cụ thể, lượng đăng kí ở các tuần kết thúc vào các ngày 27/8, 1/9 lầnlượt là 43.982 , 43.218 tỷ đồng và tuần kết thúc vào ngày 10/9 lên tới 90.950 tỷ đồng.Tương tự, khối lượng trúng thầu cũng tăng lần lượt là 36.110, 23.000 và 46.179 tỷ đồng.
NHNN vừa công bố 9 nhiệm vụ từ nay đến hết năm 2010, trong đó sẽ tăng khốilượng vốn giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở với lãi suất và kỳ hạn hợp lý (cụthể tăng thêm kỳ hạn 2 tuần bên cạnh các kỳ hạn đang duy trì) để hạ nhiệt lãi suất đangtăng cao hiện nay
2.2 Tần suất và phương thức giao dịch trên TTM:
2.2.1 Tần suất giao dịch:
Để tăng cường khả năng tác động của công cụ này, NHNN đã tăng tần suất giaodịch thị trường mở Trong thời gian đầu khi mới triển khai, các phiên TTM được tổ chứcvới tần suất 10 ngày/phiên Ngày giao dịch TTM được tính theo ngày làm việc Từ phiênthứ 14 vào ngày 29/11/2000, TTM được thực hiện với tần suất 1 tuần/phiên vào ngày thứ
Tư hàng tuần Điều này đã giúp cho các TCTD chủ động điều chỉnh kịp thời, linh hoạtvốn khả dụng của mình Từ năm 2001, Ban điều hành TTM đã tăng định kỳ tổ chức cácphiên giao dịch TTM 2 phiên/1 tuần vào ngày thứ 3 và thứ 5 hàng tuần Ngoài ra để đápứng kịp thời vốn khả dụng cho TCTD, NHNN đã tổ chức các phiên đấu thầu đột xuấttheo ngày, cá biệt 2 phiên/ngày trong thời gian giáp Tết Nguyên đán Việc tổ chức cácphiên đột xuất đã hỗ trợ kịp thời cho các TCTD khắc phục khó khăn về thiếu hụt vốn khảdụng, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ Bắt đầu
từ tháng 11/2004, giao dịch TTM đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, vào ngày thứ
2, 4 và 6, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD Trong năm 2005, NHNN
đã tổ chức được 158 phiên thị trường mở, tăng 28,5%so với năm 2004 Hiện nay NHNN
đã tổ chức giao dịch với tần suất 2 phiên/ngày để đáp ứng nhu cầu giao dịch vốn của cácngân hàng cũng như tăng cường khả năng điều tiết của NHNN
Trang 25Bảng 3: Số lượng các phiên giao dịch TTM
Năm phiênSố
Số phiên mua Số phiên bán
Tần suấtMua
kỳ hạn
Muahẳn
số trúng thầu chiếm 91,42%/năm Không chỉ tăng số phiên giao dịch, doanh số giao dịchcũng tăng kỷ lục so với năm 2007
Từ ngày 23/12/2009, NHNN đã tăng thêm phiên giao dịch buổi chiều trên TTMthay vì chỉ một phiên buổi sáng Trong đó phiên giao dịch buổi sáng cho kỳ hạn 28 ngày
và phiên giao buổi chiều cho kỳ hạn 7 ngày Lý do được đưa ra là trước tết Nguyên Đánnhiều NHTM gặp khó khăn trong thanh khoản do tính thời vụ, để đảm bảo tính ổn địnhcủa thị trường và hoạt động của hệ thống thời gian trên, NHNN phải tăng cường hỗ trợvốn cho các tổ chức tín dụng Trong tháng 2/2010, mỗi ngày Ngân hàng Nhà nước hỗ trợqua thị trường mở từ 12.000 – 15.000 tỷ đồng
Sau tết Nguyên Đán lượng tiền gởi của dân cư vào hệ thống ngân hàng cũng tănglên, trong khi lượng vốn đáo hạn rút ra khỏi hệ thống đã giảm bớt nên kể từ ngày 4/3-