Khái niệm ODA Official Development Assistance các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trang 2THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN VỐN ODA MỤC LỤC
I Lý thuyết chung về ODA
1.Khái niệm
2 phân loại
3 đặc điểm của ODA
4 Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam
II Thực trạng sử dụng vốn ODA
1 Quá trình huy động và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam 1.1Giai đoạn từ : 1993 – 2000
1.2 Giai đoạn 2001-2005
1.3.Giai đoạn 2006 đến nay
1.4 Dự báo Năm 2010
2 Những kết quả đạt được và hạn chế
2.1 Kết quả
2.2 Hạn chế
3 Giải pháp quản lý vốn ODA
3.2 Giải pháp thu hút ODA
3.2 Giải pháp sử dụng ODA có hiệu quả
Trang 3I.LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ODA
1 Khái niệm
ODA (Official Development Assistance) các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển
Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang phát triển và chậm phát triển gồm có: ODA, tín dụng thương mại từ các ngân hàng, đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI) , viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tín dụng tư nhân Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để cải thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội thì cũng khó có thể thu hút được các nguồn vốn FDI cũng như vay vốn tín dụng để mở rộng kinh doanh nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn ODA mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn FDI và các nguồn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởng nhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vay ODA
2 Phân loại
a Phân theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại.
- Viện trợ không hoàn lại: bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận trước giữa các bên
Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
+ Hỗ trợ kỹ thuật
+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
- Viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp
Những điều kiện ưu đãi thường là:
+ Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay)
+ Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
+ Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)
Trang 4- ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của
tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
b Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại:
- ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ
- ODA đa phương: là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB1 ) hay tổ chức khu vực (ADB, EU, ) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP (Chương trình phát triển Liên hiệp quốc), UNICEF (quĩ nhi đồng Liên Hiệp quốc) có thể không
Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
+ Ngân hàng thế giới (WB)
+ Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF)
+ Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
3 Đặc điểm của ODA
+ Vốn ODA mang tính ưu đãi Vốn ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm
+ Vốn ODA mang tính ràng buộc ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác
và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật
+ ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần
do không có khả năng trả nợ
4 Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam
- Là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển Sự nghiệp CNH, HÐH mà Việt Nam đang thực hiện đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn mà nếu chỉ huy động trong nước thì không thể đáp ứng
Trang 5được Do đó, ODA trở thành nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển
- ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HÐH đất nước đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài, cử các cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài, tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình,
dự án Thông qua những hoạt động này các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng
kể vào việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và đây mới chính là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta
- ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh t ế Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
- ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu
tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là
lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu
tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút
Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết
Trang 6nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn và nếu chỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì không thể tiến hành được do đó ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng cho ngân sách nhà nước Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI Mặt khác, việc
sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng thu hút vốn
từ nguồn FDI góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HÐH đất nước
II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ODA Ở VIỆT NAM
Quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam có thể được chia làm 3 giai đoạn :
1 Quá trình huy động và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam
1.1 Giai đoạn từ : 1993 – 2000
2 Hình 1: Tình hình thu hút vốn ODA của Việt Nam từ năm 1993 đến 2000
3
Thu hút vốn ODA của Việt Nam
0
1
2
3
4
5
6
1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008 2010
Năm
ODA cam kết (Tỉ USD)
4 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 7Năm 1993, đã đánh dấu sự quay trở lại Việt Nam của các nhà tài trợ song phương và đa phương sau một thời gian ngừng cung cấp các chương trình, dự án viện trợ (trừ một số nước Bắc Âu) Với việc nối lại các chương trình, dự án viện trợ, mỗi năm cộng đồng các nhà tài trợ cam kết cung cấp cho nước ta hơn 2 tỷ USD
Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đã đóng vai trò quan trọng, góp phần giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân
Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác phát triển với
25 nhà tài trợ song phương, 19 đối tác đa phương và hơn 350 tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO) Từ năm 1993 tới nay, Việt Nam đã hợp tác với cộng đồng các nhà tài trợ tổ chức thành công 9 Hội nghị Nhóm
tư vấn các nhà tài trợ (Hội nghị CG) và được cộng đồng tài trợ cam kết
hỗ trợ nguồn vốn ODA với giá trị là 19,94 tỷ USD:
Trong giai đoạn 1993-2002, các điều ước quốc tế về ODA đã được
ký kết với tổng giá trị đạt 16,6 tỷ USD,trong đó có 13,29 tỷ là vốn vay
và 3,32 tỷ là viện trợ không hoàn lại
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch đầu tư thì hết năm 2001 tổng công số vốn cam kết các nhà tài trợ dành cho Việt Nam là gần 20 tỷ USD vốn ODA giải ngân khoảng 9,5 tỉ USD, tương đương với khoảng 54% tổng nguồn vốn ODA đã cam kết Tốc độ giải ngân bình quân hàng năm khoảng 49.2%.Tình hình giải ngân các năm cụ thể như sau :
n v : Tri u USD Đơn vị: Triệu USD ị: Triệu USD ệu USD
(triệu USD)
Ký kết (triệu USD)
Giải ngân
Trang 8Ðể sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, từ 1993 - 2001, Chính phủ Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các Ðiều ước quốc tế cụ thể
về ODA trị giá 14,72 tỷ USD, đạt khoảng 73,8% tổng vốn ODA đã cam kết tính đến hết năm 2001, trong đó, ODA vốn vay khoảng 12,35 tỷ USD (84%) và ODA vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 2,37 tỷ USD (16%)
Tình hình thực hiện ODA đã có bước tiến triển khá, năm sau cao hơn năm trước và thực hiện tốt kế hoạch giải ngân hằng năm
Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội ưu tiên của Chính phủ, đó là: năng lượng điện (24%); ngành giao thông (27,5%); phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ sản, lâm nghiệp, thuỷ lợi (12,74 %); ngành cấp thoát nước (7,8%); các ngành y tế xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học -công nghệ - môi trường (11,87%)
Ngoài ra, nguồn ODA cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của Chính phủ để thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế (các khoản tín dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế mở rộng, Quỹ Miyazawa, PRGF và PRSC)
1.2 Giai đoạn 2001-2005
Trong giai đoạn 2001- 2005, bình quân hằng năm nợ ODA tăng 12,53%, trong khi đó tốc độ tăng tươn vị: Triệu USDng ứng của GDP (theo giá thực tế) là 16,13%, nên tỷ trọng nợ ODA/GDP giảm dần, đến cuối năm 2006 tỷ trọng này gần 23% Nếu tính cả các khoản nợ khác của khu vực công, tỷ trọng này
gần 37%, nằm trong giới hạn tỷ lệ nợ an toàncho phép của quốc gia Tổng lượng ODA cam kết đạt 14,7 tỷ USD Số vốn ODA cam kết nói
trên bao gồm viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 15 - 20%, phần còn lại là vốn vay ưu đãi
Trong các Chính phủ tài trợ ODA, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga là nhiều nhất, đặc biêt là Chính phủ Nhật Bản Riêng Liên bang Nga do khoản nợ tồn đọng trước đây, thời gian qua chủ yếu là trả nợ trong khi tài trợ mới rất ít nên dư nợ giảm dần Trong các Tổ chức
Trang 9tài chính quốc tế, IDA (International Development Association) và ADB (Asian Development Bank) cho Việt Nam vay ODA nhiều nhất Vì vậy, hơn 80% nguồn vay nợ ODA chỉ phải chịu mức lãi suất dưới 3%/năm
Năm Cam kết
(tỷ USD)
Thực hiện (tỉ USD)
Thực hiện
%
Tăng vốn %
%
Để sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các điều ước quốc tế về ODA (dự án, nghị định thư, hiệp định, chương trình) Tính từ năm 2001 đến hết 2004, tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết đạt 8.781 triệu USD, trong đó 7.385 triệu USD vốn vay và 1.396 triệu USD viện trợ không hoàn lại, chiếm khoảng 78% tổng nguồn vốn ODA đã được cam kết trong cùng giai đoạn
Nguồn vốn ODA đã được ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực như giao thông vận tải; phát triển nguồn và mạng lưới truyền tải và phân phối điện; phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm thuỷ lợi, thuỷ sản, lâm nghiệp kết hợp xoá đói giảm nghèo; cấp thoát nước và bảo vệ môi trường; y tế, giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực và thể chế
Nguồn vốn ODA đã bổ sung một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển, chiếm khoảng từ 22% đến 25% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả phần vốn ODA cho vay lại từ ngân sách nhà nước)
Nguồn vốn ODA đã được giải ngân tính cho ngân sách nhà nước (không bao gồm phần giải ngân cho các khoản chi tại nước tài trợ, chi cho chuyên gia ) trong giai đoạn từ năm 2001 đến hết năm 2004 ước đạt khoảng 6.172 triệu USD, bằng 71,9% tổng giá trị các điều ước quốc
tế về ODA đã ký kết và bằng 55% tổng lượng ODA đã cam kết trong thời kỳ này
1.3.Giai đoạn 2006 đến nay
Trang 10Năm Cam
kết tỷ USD ngân tỷGiải
USD
% thực hiện tăng vốn%
%
20,58
%
-*Dự kiến
Các nhà tài trợ có khả năng ký các hiệp định giá trị lớn vẫn là các đối tác truyền thống như WB, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Nhật Bản, chiếm khoảng 70 – 80%
Chiếm tỷ trọng cao nhất (30,9%) trong thu hút ODA đến thời điểm này là lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ với 1,67 tỷ USD vốn ODA ký kết Tiếp đến là lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn, xóa đói giảm nghèo với gần 1,37 tỷ USD (chiếm 24,7%)
Ở ba lĩnh vực còn lại, giao thông vận tải với 899 triệu USD, chiếm
tỷ trọng 16,7%; năng lượng với 818 triệu USD, chiếm 15,2%; cấp thoát nước và phát triển đô thị với gần 679 triệu USD, chiếm 12,6%
Dự báo Năm 2010
Tổng số vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam trong năm 2010 đến
từ 9 quốc gia tài trợ trực tiếp, 15 quốc gia thuộc Cộng đồng chung Châu
Âu (EU), và 5 tổ chức phát triển đạt con số kỷ lục trên 8,06 tỷ USD Trong 5 tổ chức phát triển, Ngân hàng Thế giới (WB) là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam, với gần 2,5 tỷ USD; tiếp đến là (ADB), với gần 1,5 tỷ
Về phía các quốc gia tài trợ trực tiếp cho Việt Nam, Nhật Bản vẫn là quốc gia tài trợ quan trọng nhất, với 1,64 tỷ USD Tổng cộng 15 nhà tài trợ thuộc EU cam kết tài trợ trên 1,08 tỷ USD trong năm tới
Như vậy, năm 2010 cam kết ODA dành cho Việt Nam sẽ đạt con số lớn nhất kể từ trước tới nay
Trang 11Những khoản vốn vay lớn dự kiến ký kết trong năm tới gồm: Dự án xây dựng nhà ga hành khách quốc tế T2 (710 triệu USD), Dự án xây dựng đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi (580 triệu USD), Dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng khu công nghệ cao Láng – Hòa Lạc (615 triệu USD), Dự
án xây dựng đường nối từ cầu Nhật Tân đi sân bayNội Bài (150 triệu USD),…
Trong số hơn 8 tỷ USD tài trợ cho Việt Nam có 1,4 tỷ USD là khoản hỗ trợ không hoàn lại; số còn lại là khoản cho vay ưu đãi WB là nhà tài trợ lớn nhất với mức cam kết 2,498 tỷ USD, tiếp đến là Nhật Bản với 1,64
tỷ USD, ADB cam kết 1,479 tỷ USD, các nhà tài trợ EU cam kết 1,082
tỷ USD Số vốn này nhằm hỗ trợ Việt Nam tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng, cải cách hành chính công, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững
Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2006 - 2010, cam kết vốn đã vượt chỉ tiêu trước một năm, đạt trên 23,85 tỉ USD so với mức 19 - 21 tỉ đô la dự kiến Số vốn ký kết thông qua các hiệp định cũng vượt chỉ tiêu trước một năm, đạt 16,66 tỉ USD, so với mức 12,35-15,75
tỉ USD dự kiến Về giải ngân, dự kiến sẽ đạt 12,9 tỉ USD cho cả thời kỳ 2006-2010
2 Những kết quả đạt được và hạn chế
2.1 Kết quả
Kể từ khi các nhà tài trợ quốc tế nối lại viện trợ phát triển cho Việt Nam vào tháng 11/1993, Việt Nam đã tiếp nhận nguồn vốn ODA với tổng giá trị vốn cam kết của các nhà tài trợ đạt hơn 48,4 tỷ USD; tổng vốn ODA giải ngân trong thời kỳ này đạt 22,12 tỷ USD
Từ năm 2001 - 2008, số vốn ODA cam kết đạt 29,77 tỷ USD; số vốn đã ký kết đạt hơn 22 tỷ USD; giải ngân theo kế hoạch đạt 15,51 tỷ USD; thực hiện đạt 14,33 tỷ USD Với nguồn vốn này, tỷ lệ giải ngân/cam kết đạt 57,8%; tỷ lệ giải ngân/ký kết đạt 64,9%; tỷ lệ giải ngân/kế hoạch đạt 92,4% Số liệu này cho thấy mức độ giải ngân nguồn vốn ODA trong các năm gần đây đã được cải thiện đáng kể, nhưng so với các nước trong khu vực thì vẫn còn chậm
Cho đến gần đây, Việt Nam luôn được coi là một trong những quốc gia sử dụng hiệu quả vốn ODA nhất trên thế giới, đưa tỷ lệ đói nghèo giảm từ khoảng 58% năm 1992 xuống khoảng 11% năm 2009