1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CÓ TRẢ LỜI MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

15 967 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 99,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về đạo đức. Người để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyên về đạo đức. Ngay trong tác phẩm lý luận đầu tiên Người viết để huấn luyện những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi, cuốn Đường Kách mệnh, vấn đề đầu tiên Người đề cập là tư cách người cách mệnh. Tác phẩm sau cùng bàn sâu về vấn đề đạo đức được Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (321969), đăng trên báo Nhân dân là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong Di chúc thiêng liêng, khi nói về Đảng, Bác cũng căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Trang 1

Câu 3: Trình bày tư tưởng HCM về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc Ý nghĩa vấn đề này đối với công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

a Kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp

Do điều kiện lịch sử Mác-ănghen chỉ nhấn mạnh vấn đề giai cấp quan tâm giải quyết lợi ích giai cấp trên toàn thế giới

Lênin cũng ưu tiên vấn đề giai cấp lợi ích vô sản trong một nước phải phục tùng lợi ích vô sản trên toàn thế giới

Quốc tế cộng sản đề cao vấn đề giai cấp coi nhẹ vđề dân tộc ko qtâm tới chủ nghĩa yêu nước của các dân tộc thuộc địa thậm chí coi đó là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi

HCM: xuất phát từ điều kiện cụ thể của VN, người cho rằng phải kết hợp hài hoà vấn đề dân tộc với vđề giai cấp mà trước hết là vđề dtộc Theo người ở các nước thuộc địa kinh tế còn kém phát triển mâu thuẫn dân tộc chưa nổi trội trong khi mâu thuẫn với đế quốc là gay gắt do dó phải giải quyết vđề dtộc Trong khi đang giải quyết vđề dtộc thì ở một trừng mực nào đó cũng giải quyết vđề giai cấp

b Giải phóng dtộc là vđề trên hết, trước hết; độc lập dtộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

- Năm 1920 ngay khi quyết định phương hướng giải phóng và phát triển dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản, ở HCM đã có sự gắn bó thống nhất giữa dtộc và giai cấp, dtộc và quốc tế, độc lập dtộc và chủ nghĩa xã hội

- Năm 1960 Người nói: "chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dtộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khói ách nô lệ"

- Tư tưởng HCM vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dtộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phán ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dtộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người HCM nói "Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" Do đó sau khi giành được độc lập, phải tiến lên XDCNXH, làm cho dan giàu nước mạnh, mọi người được sung sướng tự do

Trang 2

c Giải phóng dtộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp

HCM giải quyết vđề dtộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồng thời đặt vđề giai cấp trong vđề dtộc Giải phóng dtộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện giải phóng gcấp Vì thế lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích của dtộc

d Giữ vững độc lập của dân tộc mình đồng thời tôn trọng đlập của các dân tộc khác

- Là một chiến sĩ qtế chân chính, HCM ko chỉ đấu tranh cho đlập của dtộc VN mà còn đấu tranh cho đlập của tất cả các dân tộc bị áp bức

- Người nhiệt liệt ủng hộ của kháng chiến chống nhật của nhân dân TQ, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của ndân Lào

và Campuchia, đề ra khẩu hiệu là " giúp bạn là tự giúp mình", và chủ trương phải bằng thắng lợi chung của cách mạng thế giới

Câu 7: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng và nêu ý nghĩa của quan điểm đó đối với công tác xây dựng Đảng

Thứ nhất, là nguyên tắc tập trung dân chủ

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong học thuyết về Đảng kiểu mới Nguyên tắc này, vừa bảo đảm quyền chủ động, sáng tạo của mọi thành viên trong tổ chức, vừa bảo đảm thống nhất ý chí và hành động vì sự nghiệp chung Nguyên tắc tập trung dân chủ là

thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cá nhân phải phục tùng

đoàn thể để đảm bảo sức chiến đấu của toàn Đảng(tất nhiên, ý kiến cá nhân được tôn trọng và bảo lưu ý kiến) Dân chủ là cơ sở bảo đảm cho tập trung thống nhất Tập trung dựa trên cơ sở dân chủ làm cho Đảng ta thống nhất ý chí cùng hành động trở thành một tổ chức chính trị tiên phong.

Thứ hai, là nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách

Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung Tập thể lãnh đạo, nghĩa là mọi vấn đề đều đưa ra trước chi bộ bàn bạc thảo luận để cùng nhau giải quyết, một vấn đề có nhiều ý kiến, nhiều người sẽ cho nhiều ý kiến hay Khi đã bàn bạc đi đến thống nhất, thì giao cho một người

Trang 3

phụ trách để tránh tình trạng trong chờ, ỷ lại làm cho công việc không trôi chảy Lãnh đạo mà không tập thể thì dễ dẫn đến tệ bao biện, chuyên quyền độc đoán.

Thứ ba, là nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Nguyên tắc này là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh, thông qua nguyên tắc này để giúp nhau cùng tiến bộ, tăng cường sự đoàn kết, Người nhắc nhở mỗi cán bộ đảng viên, hàng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa như soi gương, rữa mặt hàng ngày Được như vậy thì trong cơ thể Đảng sẽ không có bệnh mà mạnh khỏe vô cùng Mục đích của nguyên tắc tự phê bình và phê bình là chỉ ra khuyết điểm, sữa chữa khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ Cho nên, khi phê bình đồng chí mình, thì trước hết phải tự nhận lấy khuyết điểm của mình trước Hồ Chí Minh cũng đặc biệt lưu ý, khi phê bình không được thêm, không được bớt, không phải bới lông để tìm vết, để nhằm mục đích nói xấu, hay hạ bệ đồng chí mình Để cho tự phê bình và phê bình có hiệu

quả, Hồ Chí Minh yêu cầu, khi phê bình phải hợp với hoàn cảnh, phải có nghệ thuật và

đặc biệt là phải có văn hóa Phê bình phải trên tinh thần tình đồng chí, thương yêu đùm

bọc lẫn nhau.

Thứ tư, là nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác

Đây là sức mạnh to lớn của Đảng Kỷ luật phải do lòng tự giác của mỗi đảng viên

về nhiệm vụ của họ đối với Đảng Việc đề cao kỷ luật Đảng đối với mỗi cán bộ đảng viên

từ trên xuống dưới là điều kiện tăng thêm uy tín và sức mạnh của Đảng Hồ Chí Minh mỗi đảng viên phải phục tùng kỷ luật Đảng vô điều kiện, tất cả các đảng viên đều bình đẳng trước Điều lệ Đảng Chấp hành kỷ luật Đảng, là tất cả mọi đảng viên đều nói và làm đúng theo Nghị quyết của Đảng.

Thứ năm, là nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng

Đoàn kết theo Hồ Chí Minh là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc ta Người căn dặn các đồng chí đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình Để thực hiện đoàn kết, Người yêu cầu phải thực hiện dân chủ nội bộ, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình thằng thắn nghiêm túc Đối với Hồ Chí Minh, là cán bộ đảng viên, chúng ta không chỉ có nhiệm vụ đoàn kết trong Đảng mà còn phải đoàn kết rộng rãi trong xã hội và đặc biệt là phải có

Trang 4

nhiệm vụ thực hiện đoàn kết giữa các đảng anh em trên thế giới, nối lại sự đoàn kết giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Liên xô, trên tinh thần phê bình có tình có

lý được xác lập trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin.

2 Ý nghĩa của các nguyên tắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay

- Định hướng cho công tác tổ chức, sinh hoạt Đảng, đảm bảo cho Đảng ta thật sự

là một đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới

- Xác định rõ các vấn đề trong tổ chức, sinh hoạt Đảng: Mở rộng dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ cương; thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình; tăng cường trách nhiệm của cá nhân đảng viên trong giai đoạn mới.

Câu 8: Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc? Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa cần lưu ý những vấn đề gì khi xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc?

a Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nhiều quan điểm- có quan điểm mang tính nền tảng, có quan điểm mang tính nguyên tắc, có quan điểm mang tính phương pháp đại đoàn kết Dưới đây là những quan điểm chủ yếu của Người.

1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.

Với Hồ Chí Minh đại đoàn kết dân tộc không phải là sách lược, không phải là thủ đoạn chính trị

mà là chính sách dân tộc, là vấn đề chiến lược của cách mạng.

Bởi vậy, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của dân tộc “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công” Đoàn kết là điểm mẹ “Điểm này

mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”.

Trang 5

2 Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

Hồ Chí Minh nói với dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc” Bởi vậy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Xét về bản chất thì đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng Nhận thức rõ điều đó, Đảng tiên phong cách mạng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của quần chúng thực hiện mục tiêu cách mạng của quần chúng.

Như vậy đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc.

3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

Trước hết, khái niệm dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh được đề cập với nghĩa rất rộng- vừa với nghĩa là cộng đồng, “mọi con dân nước Việt”, vừa với nghĩa cá thể “mỗi một con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo, quý tiện” ở trong nước hay ở ngoài nước đều là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc Như vậy Hồ Chí Minh đã dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam.

Đại đoàn kết toàn dân, theo Hồ Chí Minh thì phải bằng truyền thống dân tộc mà khoan dung, độ lượng với con người, mà đoàn kết ngay với những người lầm đường, lạc lỗi, nhưng đã biết hối cải, không được đẩy họ ra khỏi khối đoàn kết Muốn vậy, cần xoá bỏ hết thành kiến, cần thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân.

Đại đoàn kết toàn dân, theo Hồ Chí Minh là cần phải có lòng tin ở nhân dân, tin rằng hễ là người Việt Nam “ai cũng có ít nhiều tấm lòng yêu nước” mà khơi dậy và đoàn kết với nhau vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Đoàn kết toàn dân tộc, toàn dân phải được xây dựng trên nền tảng “trước hết phải đoàn kết đại đa

số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của địa đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” Người còn chỉ ra lực lượng nòng cốt tạo ra cái nền tảng ấy “là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt

Trang 6

trận dân tộc thống nhất” Về sau, Người xác định thêm: lấy liên minh công nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đoàn kết toàn dân.

4 Đại đoàn kết dân tộc phải có tổ chức, có lãnh đạo

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trở thành chiến lược đại đoàn kết của cách mạng Việt Nam, hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất, tạo ra sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi của cách mạng.

Ngay từ dầu, Hồ Chí Minh đã chú ý tập hợp người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào các tổ chức phù hợp với giai tầng, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo, phù hợp từng thời kỳ cách mạng Tất cả được tập hợp thành Mặt trận dân tộc thống nhất để liên kết và phát huy sức mạnh của toàn dân Tuỳ thời kỳ lịch sử mà Mặt trận dân tộc thống nhất

có tên gọi khác nhau.

Mặt trận dân tộc thống nhất hình thành được và hoạt động được phải trên cơ sở những nguyên tắc: 1- Mặt trận phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản 2- Mặt trận hoạt động trên nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc và lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố

và không ngừng mở rộng 3- Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

5 Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế

Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm xác định: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng chỉ có thể thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới Trong mối quan hệ này phải được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.

Ngay khi thành lập Đảng (1930), Hồ Chí Minh đã viết trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là cách mạng Việt Nam “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” Tư tưởng này đã soi sáng và được cụ thể hoá suốt chiều dài lãnh đạo cách mạng của Đảng về sau, tiêu biểu là hình thành ba tầng Mặt trận ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Có thể thấy đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trang 7

b Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần lưu ý những vấn đề

gì khi xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, chúng ta phải tiếp tục xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, phát huy cao độ tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước phải vững mạnh, kinh doanh có hiệu quả, giữ vai trò chủ đạo Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển Khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng, đồng thời tích cực xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc đời sống những gia đình có công với nước, những người có số phận rủi ro, quan tâm hơn nữa việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh làm điểm tương đồng để gắn

bó đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân, đồng bào ở trong nước cũng như đồng bào định cư ở nước ngoài vì sự nghiệp chung Trong nhận thức cũng như trong hành động, phải thật sự xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ, thành phần, giai cấp, nghề nghiệp, vị trí xã hội, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát huy hơn nữa nền dân chủ XHCN gắn liền với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức và hình thức dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và tự quản của nhân dân Thực hiện tốt sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội, thực sự coi trọng lợi ích trực tiếp của người lao động Lấy việc xây dựng

bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức thực sự của dân, do dân, vì dân là tiền đề xây dựng nền dân chủ XHCN.

Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta không ngừng tăng cường nền quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đặc biệt chú trọng xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững chắc, xây dựng an ninh nhân dân, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tăng cường sức mạnh tổng hợp để bảo về vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân, chế độ XHCN.

Trang 8

Chúng ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, và đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển Chúng ta ra sức giữ vững môi trường hòa bình và tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu, hợp tác trên các linh vức khác vừa phát huy cao độ nội lực vừa tranh thủ tốt nhất mọi nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Câu 9: Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và

vì dân Từ đó rút ra ý nghĩa đối với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam hiện nay

Nhà nước của dân

Đó là một Nhà nước thể hiện đầy đủ tư tưởng bao nhiêu quyền hạn đều của dân,

nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nguồn gốc của quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân Điều 1 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Năm 1946)

nói: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

Điều 32, viết: Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ đề ra khá sớm

ở nước ta.

Theo Hồ Chí Minh, trong nhà nước của dân, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, mà trước hết là quyền bầu ra nhà nước, bầu ra chính quyền các cấp Nhà nước chỉ là tổ chức do dân lập ra để thực hiện quyền lực nhân dân Chủ trương tổng tuyển cử

của Hồ Chí Minh thể hiện rõ tinh thần đó: “Tổng tuyển cử là một dịp để cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà; do

Trang 9

tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là một chính phủ của toàn dân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân không chỉ bao hàm ý nghĩa nhà nước

do dân tín nhiệm bầu ra, mà còn là dân phải kiểm soát nhà nước Người đã từng nhắc

nhở: “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình

để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ thật trung thành, tận tụy của nhân dân ta” Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu

những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Nhà nước của dân thì mọi người dân là chủ, người dân có quyền làm bất cứ việc

gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, chỉ là công bộc của dân.

b) Nhà nước do dân Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình, nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bình xây dựng, giúp đỡ Do đó Hồ Chí Minh yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước

là phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát

của nhân dân Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ nghĩa là khi cơ

quan nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có

quyền bãi miễn nó Hồ Chí Minh khẳng định: mỗi người có trách nhiệm ghé vai gánh vác một phần vì quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.

Nhà nước do dân phản ánh mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng, còn nhân dân

mà không có chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường”; lực lượng bao nhiêu đều ở dân hết, công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Nhà nước do dân tức là công việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của dân Do

đó phải phát huy được vai trò của mặt trận, các đoàn thể trong công tác quản lý nhà nước

và xã hội Nhà nước muốn điều hành quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả, nhất định phải dựa vào lực lượng của dân, dựa vào sáng kiến và trí tuệ của dân Nhà nước do dân trong

Trang 10

tư tưởng Hồ Chí Minh là “dân tự làm, tự lo thông qua các mối quan hệ xã hội, qua các đoàn thể, chứ không phải do nhà nước bao cấp, lo thay cho dân Chức năng của nhà nước

là điều hành vĩ mô, Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động” CHính vì vậy mà nhà nước

do dân là nhà nước tin dân và dân tin nhà nước.

c) Nhà nước vì dân

Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không

có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính Trong nhà nước đó, cán

bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân.

“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm,

Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”

Nhà nước vì dân là nhà nước làm lợi cho dân, theo Hồ Chí Minh không chỉ làm lợi cho dân, mà còn phải yêu dân, kính dân “chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu chúng ta” Nhà nước vì dân là nhà nước mọi chủ trương chính sách, mọi quy định của pháp luật từ trung ương xuống địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân , cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, cả lợi ích cá nhân và tập thể và xã hội trong sự kết hợp

hài hòa Nhà nước vì dân phải “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân co chỗ ở; làm cho dân có học hành” Nhà nước vì dân là nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước dân, Người nói: “Nếu để dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu để dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu để dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi” Nhà

nước vì dân là nhà nước sống trong lòng dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

+ Ý nghĩa

- Quan điểm của Hồ Chí Minh trở thành cơ sở lý luận để xây dựng một nhà nước thật sự dân chủ, của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam

- Nhà nước là công cụ làm chủ của nhân dân; mở rộng dân chủ nhất là dân chủ ở

cơ sở; đảm bảo thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; mọi chính sách phải hướng vào cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân

Ngày đăng: 14/08/2014, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w