Trong đó phải kểđến các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với sựphát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội; là nơi thu hút lao động nhiều nhất, huy độngcá
Trang 1Hệ thống chính sách phát triển doanh nghiệp (Có 17 chính sách liên quan đến
phát triển doanh nghiệp kể từ năm 1998 đến nay)
1 Nghị định 56/2009/NĐ-CP Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Ban hành: 30/06/2009
2 Quyết định 01/2008/QĐ-TTg Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và
tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp
Ban hành: 07/01/2008
Hiệu lực: 29/01/2008
Văn bản liên quan
Trang 2thay thế
Quyết định Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và
tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Trang 34 Chỉ thị 22/2007/CT-TTg Về phát triển doanh nghiệp dân doanh
Trang 4 Số ký hiệu: 102/2005/QĐ-TTg
Ngày ban hành: 12/05/2005
Ngày có hiệu lực: 02/06/2005Văn bản
Trang 5nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng công ty nhà nước
dẫn chiếu
Quyết định Về chức năng, nhiệm vụ và thành viên Hội đồng khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Số ký hiệu: 12/2003/QĐ-TTg
Trang 6sửa đổi bổ sung
Nghị định Về đăng ký kinh doanh
chiếu Luật Doanh nghiệpSố ký hiệu: 13/1999/QH10
Ngày ban hành: 12/06/1999Ngày có hiệu lực: 01/01/2000
Luật Doanh nghiệp Nhà nước
Trang 7Số ký hiệu: Không sốNgày ban hành: 20/04/1995Ngày có hiệu lực: 30/04/1995
Quyết định Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và
tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Quyết định Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và
tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Số ký hiệu: 121/2000/QĐ-TTg
Ngày ban hành: 01/11/2000
Ngày có hiệu lực: 01/11/2000
Trang 8Quyết định Về việc sắp xếp Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương
Số ký hiệu: 98/2000/QĐ-TTg
Ngày ban hành: 17/08/2000
Ngày có hiệu lực: 02/09/2000
14 Quyết định 121/2000/QĐ-TTg Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
và tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
(Không có văn bản liên quan)
16 Quyết định 133/1999/QĐ-TTg Về việc thành lập Tổ Nghiên cứu cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ban hành: 31/05/1999
Hiệu lực: 31/05/1999
Văn bản liên quan
Văn bản căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
Trang 9I – MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những năm đầu đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, cộng đồng DN thuộccác thành phần kinh tế của nước ta cũng bắt đầu ra đời và phát triển nhanh chóng Trongchặng đường ngắn 10 năm đầu khởi động (1989 - 1999), cả nước mới có gần 50.000 DNlớn, nhỏ thuộc các thành phần kinh tế đăng ký thành lập, hoạt động Trong đó phải kểđến các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với sựphát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội; là nơi thu hút lao động nhiều nhất, huy độngcác nguồn lực, tiềm năng trên mọi lĩnh vực, địa bàn để làm ra nhiều của cải vật chất cho
xã hội, đóng góp lớn vào ngân sách quốc gia Và cũng chính từ những kết quả đóng gópnày (thuế), cộng đồng DNVVN càng tạo nhiều cơ hội lớn, tăng sức cạnh tranh của nềnkinh tế trong xu thế hội nhập sâu vào kinh tế thế giới Nói cách khác, cơ chế, chính sách
và giải pháp cụ thể để khuyến khích, động viên, hỗ trợ DNVVN phát triển ổn định, đúnghướng chính là chiếc chìa khóa thành công của tất cả các DN, tập đoàn, tổng công tytrong cả nước trong đó có 97% số DNVVN Từ thực tiễn trên nhằm tạo môi trường pháp
lý hoàn thiện cho các DN hoạt động, năm 2000 Nhà nước ban hành Luật Doanh nghiệp,tiếp theo đó năm 2001 ban hành Nghị định số 90 về tiếp tục thực hiện các chính sách trợgiúp phát triển DNVVN Đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời không chỉ có ý nghĩalớn về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn cả về mặt xã hội, nhân văn
Các khó khăn, hạn chế chung của các DNVVN là thiếu vốn tự có, khó tiếp cận vớinguồn vốn của các tổ chức tín dụng do không có tài sản thế chấp, độ tin cậy về hiệu quả
dự án và chương trình sử dụng vốn chưa đủ sức thuyết phục cán bộ tín dụng ngân hàng;mặt bằng sản xuất, kinh doanh chật hẹp (thậm chí là không có); kỹ thuật lạc hậu; quản trị
DN nói chung còn yếu kém; đối tác làm ăn chưa nhiều; thị trường nhỏ hẹp; mối liên kếtvới các DN, Tập đoàn lớn trong nước, trong cùng lĩnh vực kinh doanh còn ít, lại chưachặt chẽ thường xuyên Về khách quan, hệ thống văn bản, pháp luật áp dụng cho cộngđồng DNVVN tuy đã được xây dựng nhưng chưa thực sự hoàn thiện, đầy đủ, thậm chícòn chồng chéo, đang dần chỉnh sửa, bổ sung, nên trong nhiều trường hợp vừa mới ápdụng lại phải điều chỉnh, giảm tốc độ, cơ cấu, quy mô vì thế trong bài tiểu luận này em
Trang 10xin di vào phân tích về khía cạnh chính sách trợ giúp vốn của chính phủ cho các DNVVN
trong văn bản nghị định Số: 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất các ý kiến để hoàn thiện chính sách trợ giúp
về nguồn vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận này là chính sách trợ giúp phát triển doanhnghiệp vừa và nhỏ về mặt vốn kinh doanh
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: được tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu trên đất nước Việt Nam.+ Phạm vi thời gian: giai đoạn 2001 - 2009
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Trang 11Các số liệu thứ cấp được thu thập ở các báo cáo, các bài báo, trang wed của chínhphủ, từ tài liệu, bài giảng của thầy Lưu Văn Duy…
+ Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Tiến hành trao đổi thảo luận, thu thập ý kiến của các thầy giáo, bạn bè và nhữngngười hiểu biết vấn đề vay trợ giúp vốn tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển
- Phương pháp phân tích, xử lý thông tin
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh để thấy những tác động củacác chính sách trong phạm vi thời gian nghiên cứu
II - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
- Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, laođộng hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vàoquy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có
số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới
50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêuchí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình Ở Việt Nam, theo Nghị định
số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bìnhhàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì đượccoi là Doanh nghiệp vừa
- Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữnhững vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng nhưsau:
Trang 12+ Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thườngchiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét cácdoanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sảnlượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
+ Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầuphụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, doanh nghiệp nhỏ
và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
+ Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên
dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
+ Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ vàvừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành mộtsản phẩm hoàn chỉnh
+ Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ởnhững trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp cácđịa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạocông ăn việc làm ở địa phương
Nguồn: vi.wikipedia.org
2.2 Cơ sở thực tiễn
Kể từ khi Luật doanh nghiệp được ban hành vào 1/1/2000 Trong vòng 1 năm kể từukhi luật doanh nghiệp có hiệu lực đã có 14.417 doanh nghiệp mới được thành lập vớitổng số vốn đăng ký đến hơn 24.000 tỷ (trong đó 17.000 tỷ là vốn đăng ký mới và 7.000
tỷ là vốn đăng ký bổ xung của các doanh nghiệp đang hoạt động tức là tăng hơn ba lầnnếu xét về mặt lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh, và tăng hơn năm lần nếu xét về sốvốn so với năm 1999 Năm 2001, có thêm hơn 21.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp, tăng 1,46 lần so với năm 2000 tổng số vốn huy động được củacác doanh nghiệp đạt khoàng 35.000, tăng gấp 1,78 lần so với cùng kỳ năm 2000 Có thểthấy tình hình năm 2001 như sau:
Trang 13Báo nghỉKD
Tổng
số đăng ký
Đanghoạtđộng
Báo nghỉ KD
Nguồn: báo dantri.com
DNVVN đã giải quyết việc làm cho trên 12 triệu lao động và là một động lực quantrọng cho phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo Mặc dù trong giai đoạn hội nhập cácdoanh nghiệp có quy mô nhỏ gặp nhiều khó khăn, song trong một nền kinh tế đang pháttriển như Việt Nam thì việc phát triển lực lượng này là rất quan trọng Và theo chủ trươngcủa Chính phủ, đến 2010, ước tính cả nước có khoảng 500.000 DNVVN
Qua thực tế cho ta thấy số lượng các doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng chỉ trongvòng 9 năm điều đó thể hiện bước đi đung đắn của đảng và nhà nước ta trong việc đánhgiá đúng vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong giai đoạn 2001 - 2008, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã có sự góp mặtkhoảng 250.000 doanh nghiệp, trong đó đội ngũ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V)khoảng trên 232.000 doanh nghiệp (chiếm khoảng 90%) Bên cạnh đó, có khoảng 2,4triệu hộ sản xuất kinh doanh đã thu hút một nguồn lực lớn của xã hội vào sản xuất kinhdoanh, tạo việc làm và đóng góp ngày càng cao vào cho ngân sách nhà nước Hàng năm
Trang 14đối tượng DNN&V đóng góp vào khoảng 30% GDP, khoảng 30% giá trị tổng sản lượngcông nghiệp, khoảng gần 80% tổng mức bán lẻ, khoảng 64% tổng lượng vận chuyểnhàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa một số ngành hàng thủ công mỹ nghệ…Tuy giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, lại nhận được quan điểm khuyếnkhích phát triển của Nhà nước, thái độ ngày càng cởi mở của chính quyền các cấp, nhưng
có một thực tế là DNN&V còn gặp nhiều khó khăn cần được tháo gỡ trong hoạt động
Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh.
Thống kê của Dự án nghiên cứu TF/VIE/03/001 cho thấy, không dưới 10 nhómvướng mắc, bất cập từ thể chế, chính sách của Nhà nước cũng như từ nền kinh tế đang lànhững rào cản lớn cho sự phát triển của khối doanh nghiệp này Trong đó DNN&V vẫnkhó tiếp cận với các nguồn tài chính, các nguồn tín dụng cũng như các hình thức góp vốnkhác, hạn chế các quyền về tài sản liên quan đến đất đai, bất động sản và các tài sản vôhình, thiếu các hình thức bảo lãnh tín dụng Tình trạng đất đai, mặt bằng sản xuất cũngvậy, thông thường đây là khoản chi phí rất lớn và mất nhiều thời gian (1,5 – 2năm), hệthống các khu công nghiệp tuy đã phát triển, nhưng giá thuê đất tại đây không phù hợpvới đa số các DNN&V
Nguồn: TC Tài chính Doanh nghiệp 4/2007
Sự tồn tại trong thể chế và chính sách cũng còn nhiều đối với sự phát triển DNN&V.Tuy Luật doanh nghiệp đã có nhiều cởi mở hơn đối với quá trình đăng ký kinh doanh vàhoạt động các doanh nghiệp, nhiều giấy phép đã được bãi bỏ, nhưng hiện vẫn tồn tại cácquy định làm giảm hiệu lực pháp lý của đạo luật này như Luật thương mại cũng có điềukhoản quy định về đăng ký kinh doanh, một số địa phương còn quyết định ngừng đăng kýkinh doanh ở một số lĩnh vực, hệ thống thuế quá phức tạp và không rõ ràng
Trong giai đoạn này Nhà nước cũng đã và đang thực hiện nhiều biện pháp khuyếnkhích đầu tư và phát triển DNN&V như ban hành, sửa đổi các chính sách thuế, chínhsách tài chính – tín dụng nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các DNN&V Sự hỗ trợ tàichính từ phía Nhà ước cho các DNN&V thông qua hình thức tín dụng ngân hàng chủ yếuđược thực hiện bằng các khoản cho vay của ngân hàng thương mại quốc doanh; xây dựnghành lang pháp lý tạo điều kiện cho các ngân hàng nới lỏng điều kiện vay vốn Các ngân
Trang 15hàng thương mại chủ động hỗ trợ DNN&V trong việc lập dự án sản xuất kinh doanh, loại
bỏ sự phân biệt đối xử của ngân hàng đối với các DNN&V ngoài quốc doanh
Mặc dù đã có những bước chuyển biến tích cực, nhưng trên thực tế, tài chính vẫnđang là vấn đề yếu nhất của doanh nghiệp, đặc biệt là tình trạng thiếu vốn diễn ra phổbiến ở các DNN&V Các DNN&V muốn vay vốn ngân hàng không phải là chuyện dễ vàcũng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn và dàihạn từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng… mà nguyên nhân chính của tình trạng này
là từ chính bản thân doanh nghiệp do vốn chủ sở hữu rất thấp, ít có tài sản thế chấp, cầm
cố, không có người bảo lãnh; không lập được phương án sản xuất, kinh doanh có đủ sứcthuyết phục Trình độ quản lý hạn chế, báo cáo tài chính không đủ độ tin cậy đối vớingười cho vay…
Các doanh nghiệp để hoạt động và phát triển họ phải vay vôn từ các nguồn tài chínhphi chính thức như họ hàng bạn bè…nhưng mức lãi suất từ các nguồn này là khá cao vàkhông phải là trung hạn và dài hạn bên cạnh đó chưa nói đến tính ổn định của các nguồnvay vốn phi chính thức là không cao
Tình trạng khó khăn về vốn tín dụng của doanh nghiệp bắt đầu tư giữa quý I/2008,khi chính sách tiền tệ bị thắt chặt Không có vốn tiếp tục cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh làm cho các hoạt động phải hoãn lại có khi là không thực hiện được Điều nàykhiến các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất giảm bớt số lượng lao động, máy móc thiết
bị phải bỏ không, gây lãng phí và thiệt hại lớn cho bản thân doanh nghiệp cũng như nềnkinh tế Thậm chí có thể doanh nghiệp rơi vào nguy cơ bị phá sản
Các ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện hạn mức tín dụng theo yêu cầu kiềmchế lạm phát và an toàn hoạt động Năm 2008, hạn mức tín dụng được đưa ra là tăngtrưởng dư nợ cho vay không quá 30% so với cuối năm 2007, chỉ bằng gần 1/2 so với mứctăng khoảng 55% của năm 2007 Song đến nay mức tăng trưởng tín dụng của các khốiNHTM có khác nhau Nhiều NHTM tăng trưởng tín dụng cao trong 2 tháng đầu năm
2008 đến nay phải “hãm phanh lại”, hầu như rất ít cho vay mới
Trang 16Một số NHTM chỉ cho vay khách hàng truyền thống, quan hệ có uy tín, kinh doanh
có hiệu quả Do đó nhiều doanh nghiệp khác không vay được Một số NHTM, chủ yếu làNHTM cổ phần, đến nay đã đạt được mức tăng trưởng 30% rồi, nên họ cũng hầu nhưkhông cho vay mới, mà chỉ thu nợ được số vốn vay cũ thì mới cho vay ra, nhưng cho vay
ra cũng chọn lọc chứ không phải doanh nghiệp nào cũng có thể vay được
Một số NHTM khác, nhất là NHTM có quy mô lớn, mặc dù chưa đạt mức tăng dư nợ30%, nhưng lo ngại rủi ro, nên tốt nhất để bảo đảm an toàn trong bối cảnh hiện nay họcũng không mặn mà gì cho vay ra Các NHTM này hầu như chỉ giải quyết vốn cho các
dự án lớn về điện, xi măng, của các khách hàng lớn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
ký từ đầu năm hay ký trước đây, một số dự án sản xuất hàng xuất khẩu, còn lĩnh vực khácthì rất hạn chế
Lãi suất cho vay mặc dù đã được số đông các NHTM điều chỉnh giảm, nhưng mứcgiảm không nhiều, chỉ khoảng 0,5%-1%/năm, nên vẫn đang ở mức rất cao, gấp 1,5 lần lãisuất cho vay thời điểm đầu năm 2008 hay cùng kỳ này năm 2007
Với mức lãi suất cho vay nội tệ vẫn lên tới 1,6%-1,65%/tháng, hay19,5%-20,5%/năm, các doanh nghiệp không biết phải làm thế nào để trả nợ gốc và lãi choNHTM được chứ chưa nói gì đến lãi Nhưng nếu không vay vốn, hợp đồng dở dangkhông thanh toán được Máy móc thiết bị và nhà xưởng bỏ không, vừa lo khấu hao, vừahao mòn vô hình, vừa tốn chi phí trông coi và bảo dưỡng Công nhân không việc làm vừaphải trợ cấp 70% lương cho họ, hoặc không họ bỏ đi làm nơi khác, sau này rất khó thuhút trở lại Không còn con đường nào khác đành chấp nhận phải vay
Từ thực trạng trên trước khó khăn về vay vốn của các DNVVN Đang đứng trướcngã ba nếu tiếp tục hoạt động kinh doanh nhưng với mức lãi xuất cao và khó vay như thếthì DN sẽ không có lãi thậm chí là lỗ Nhưng không tiếp tục vay vốn thì doanh nghiệpphải ngừng hoạt động và đóng cửa trước thực trạng trên nhà nước đã ban hành và chỉnhsửa lại nghị định Số: 90/2001/NĐ-CP thay bằng Nghị định số 56/2009/NĐ-CP