1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu về các nhân vật lịch sử Việt Nam_tập 3 pot

41 348 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 682,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bấy giờ, hưởng ứng chiếu Cần vương, nhân dân Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân đã nổi dậy chiếm được tỉnh thành, nhưng sau đó Nguyễn Thân đem quân về chiếm lại

Trang 1

82 DƯƠNG BÁ CUNG gồm 2 quyển, xuất bản năm

1895 — 1896

LƯƠNG ĐỊNH CỦA

(1920 - 1975)

Ông quê ở xã Đại Ngãi, huyện

Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Mồ côi

cha mẹ từ nhỏ, ông được người bác

ruột đưa sang Trung Quốc nuôi cho

ăn học Sau khi đỗ Tú tài, ông thi

vào ngành nông nghiệp Trường Đại

học Tổng hợp ở Nhật Bản Tốt

nghiệp loại giỏi, ông được giữ lại

trường và làm việc tại phòng thí

nghiệm về di truyền, đã bảo vệ

xuất sắc luận án Tiến sĩ nông học

Ít lâu sau, ông được phong Phó

giáo sư

Sau năm 1954, bắt liên lạc

được với tổ chức cách mạng trong

nước, ông đưa vợ là người Nhật và

hai con nhỏ về miền Nam Việt Nam,

rồi ra vùng chiến khu và tập kết

ra Bắc

Lần lượt làm việc ở Viện Khảo cứu nông lâm, Trường Đại học Nông nghiệp, Viện Cây lương thực

và cây thực phẩm, ông đã lai tạo thành công nhiều giống lúa mới cho năng suất cao, ngắn ngày, chịu ngập nước, và những cây ăn quả (dưa lê, dưa hấu, táo, cà chua ) ; được phong danh hiệu Anh hùng lao động Sau ngày miền Nam giải phóng, ông chuẩn bị trở lại quê hương Nam Bộ, chẳng may mất đột ngột năm 1975 tại Hà Nội

Tên tuổi Lương Định Của gắn

liên với tình cảm của bà con nông dân, họ lấy tên ông đặt cho các giống cây mới: “lúa ông Của”,

“táo ông Của”, “cà chua ông

Của” Ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh

năm 1996,

DƯƠNG BÁ CUNG (1794 — 1848)

Hiệu Cấn Đình, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (Thường Tín, Hà Tây) Thuở nhỏ, ông tên là Dĩnh Năm 1821, ông đỗ

Cử nhân, thi Hội đỗ tam trường, được cử giữ các chức Học chính tỉnh Hưng Yên rồi Đốc học tỉnh Biên Hoà

Ông là soạn giả cuốn Hà Nội dia du, ghi rõ hình thể, sông núi, di tích, phong tục, sản vật, tên các

6B- TĐNVLSVN

Trang 2

TỪ BIEN NHAN VAT LICH SU VIET NAM 83

phủ huyện thuộc Hà Nội bấy giờ

Gần như toàn bộ đời mình, ông

dành thời gian cho công việc sưu

tầm thơ văn Nguyễn Trãi

Ông ở làng Nhị Khê, là con cháu

nhà khoa bảng Dương Công Độ

(iến sĩ 1683), rể của dòng họ

Nguyễn Trãi (lấy con gái ông

Nguyễn Chúc, dòng dõi Nguyễn Trãi),

nên có nhiều thuận lợi trong việc

tìm các tư liệu gốc Hàng chục năm

trời, ông bôn ba từ Bắc vào Nam

để sưu tầm thêm Cuối cùng, ông

hoàn thành bộ sách Ức Trai thỉ tập

Ông xứng đáng là người đặt nên

móng cho ngành nghiên cứu về

Nguyễn Trãi và là tấm gương cho

những người sau Sách hoàn thành,

ông đã đưa cho nhiều người góp ý

Người đương thời là Nguyễn Năng

Tĩnh và Ngô Thế Vinh đã đề tựa

cho sách Năm 1868, bảy tháng sau

khi ông mất, sách mới In xong

BO Uc Trai thí tập gồm 7

quyển, sưu tập tương đối đầy đủ và

có hệ thống các tác phẩm của

Nguyễn Trãi Riêng Quyển II ¡in

thơ văn của Nguyễn Phi Khanh

NGUYÊN DUY CUNG

(2 — 1885)

Ông quê ở huyện Sơn Tịnh,

tỉnh Quảng Ngãi Khi kinh thành

Huế thất thủ (5-7—1885), ông đang

làm Án sát tính Bình Định Bấy

giờ, hưởng ứng chiếu Cần vương, nhân dân Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Lê Trung Đình, Nguyễn

Tự Tân đã nổi dậy chiếm được tỉnh thành, nhưng sau đó Nguyễn Thân đem quân về chiếm lại Được tin, Nguyễn Duy Cung đem quân ứng cứu không kịp, phải trở về tham gia phong trào chống Pháp ở Bình Định do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo

Tháng 8-1885, quân Pháp đổ

bộ lên Quy Nhơn, ông cùng văn thân trong tỉnh đem quân chống giữ, nhưng bị thua phải lui về

An Nhơn Sau bị bọn phản bội lừa gạt, lập mưu với giặc bố trí bắt ông Chúng dùng nhiều thủ đoạn

thâm độc hòng mua chuộc, không

xong, chúng lại dùng cực hình để

tra tấn, nhưng trước sau ông vẫn

không khai điều gì Chúng đem xử

tử ông ngày | thang 7 nam At Dau

(8-1885) Trước khi chết, trong

nhà tù, ông cắn tay, lấy máu viết bài Hịch Cần vương nói lên lòng căm phẫn và ý chí quyết chiến của mình, đồng thời lên án đanh thép bọn đầu hàng phản bội, kêu gọi mọi người tiếp tục sự nghiệp phục quốc

NGUYÊN ĐỖ CUNG

(1912 — 1977)

Ong sinh thang 2-1912 tai x4

Xuan Tao, huyén Tir Liém, ngoai

thành Hà Nội.

Trang 3

84 NGUYEN ĐỖ CUNG

Ông học Trường Cao đẳng

Mi thuật Đông Dương và tốt

nghiệp năm 1935

Nguyễn Đỗ Cung xuất hiện

trong thời kì Mặt trận dân chủ với

những cuộc triển lãm tranh mang

tính yêu nước và những bài viết

giới thiệu nghệ thuật truyền thống

Việt Nam

Say mê nghệ thuật dân tộc, ông

vẽ nhiều tranh Tết, điêu khắc

truyền thống và vẽ bìa sách theo

quan điểm riêng Những cuốn

sách như Nguồn sinh lực, Ngoại ô,

Việt Nam cổ văn học sử do ông

trình bày có sức hấp dẫn nghệ

thuật, khẳng định tài năng của ông

Năm 1942, ông vẽ phụ bản

Nguyễn Du văn hoạ tập, thể hiện

cảnh mai, hạc theo mô típ dân gian

(tranh làng Hồ và Hàng Trống) Từ

đó, ông nổi danh là một hoạ sĩ đồ hoạ

Về khuynh hướng nghệ thuật, ngay

từ năm 1944, ông đã công khai tán thành phương pháp hiện thực xã hội chu nghia

Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đỗ Cung là người Việt Nam đầu tiên vẽ mẫu giấy bạc nước ta Năm 1946, ông cùng với hai hoạ sỊ

Tô Ngọc Vân và Nguyễn Thị Kim vào Phủ Chủ tịch vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh Cuối năm

ấy, ông cùng các chiến sĩ “Nam tiến”, rồi hoạt động ở Liên khu V đến năm 1948, vừa dạy vẽ, vừa sáng tác, đến với các đơn vị bộ đội, dân quân, công binh xưởng Năm

1949, ông ra Việt Bắc

Sau những chuyến đi ấy, trong nửa đầu cuộc kháng chiến, ông đã

để lại nhiều tác phẩm có giá trị như

Buổi luyện quân, Dấy nhà phá hoại, Khai hội, Du kích tập bản thể hiện những nét hiện thực mới của cuộc kháng chiến Hoà bình lập lại, trong khoảng hơn 20 năm (1954 - 1977), ông tiếp tục có nhiều tác phẩm giá trị: Học hỏi lẫn nhau, Công nhân cơ khí, Tan

ca mời chị em ra thi chọn thợ giỏi Đặc biệt một số công trình nghiên cứu nghệ thuật thể hiện rõ ông có một trìrh độ lí luận vững vàng, một cái nhìn mới về nghệ thuật truyền thống và hiện đại

Trang 4

TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 85

Hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung cũng

có những đóng góp lớn trong lĩnh

vực truyền thụ kiến thức và tay

nghề cho lớp trẻ Ông đã được

truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh

năm 1996

NGUYEN VAN CUNG (BOI CUNG)

(?- 1941)

Ông quê ở xã Đông Thọ, huyện

Đông Sơn (nay thuộc thành phố

Thanh Hoá), giữ chức đội trưởng

lính Khố xanh nên thường gọi là

Đội Cung

Từ đầu năm 1940, dưới sự lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Đông

Dương, phong trào cách mạng

ngày càng lan rộng và có ảnh

hưởng đến các binh lính trong quân

đội Pháp Tiếp theo tiếng súng khởi

nghĩa Bắc Sơn (Lạng Sơn) và Nam

Kì, vào đêm ngày 13-1-1941 Đội

Cung đã câm đầu binh sĩ đồn

Chợ Rạng (Thanh Chương), rồi

kéo sang chiếm đồn Đô Lương

(Anh Sơn), sau đó cùng nhau kéo

về Vinh định chiếm tỉnh lị

Nghệ An Nhưng giặc Pháp đã kịp

thời phản công, đồn quân đàn áp,

nhanh chóng đập tắt cuộc binh

biến Sau một thời gian trốn tránh,

ông đã bị bắt đưa về Vinh xử tử

cùng 10 người khác Nhiều người

khác déu bi dua di day biệt xứ

PHUNG VAN CUNG

(1909 — 1987)

Bac si y khoa, nguyén Phé Chu tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miên Nam Việt Nam, Uỷ viên Uy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Năm 1937, Phùng Văn Cung tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội Trong Cách mạng tháng Tám (1945), ông tham gia đấu tranh giành chính quyền tại Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) Trong những năm 1957 — 1959, ông là Giám đốc Y tế các tỉnh Châu Đốc, Rạch Giá Sau đó, ông làm việc tại bệnh viện Phúc Kiến (Chợ Lớn) Năm 1960, ông bí mật tìm đường lên chiến khu tham gia kháng chiến chống Mi cứu nước Ông được bầu là Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ 20-12-1960 ; Chi tich Uy ban bao

vệ hoà bình thế giới, Chù tịch Hội Chữ thập đó miền Nam Việt Nam Tháng 6-1969, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Từ tháng 3-1977, ông là Uỷ

viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam.

Trang 5

(1906 - 1977)

Ông quê ở xã Nghi Hoa, huyện

Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, học

trung học tại thành phố Vĩnh Năm

1925 Trần Văn Cung bắt đầu tham

gia những hoạt động yêu nước

Năm 1926, ông sang Quảng Châu

dự lớp huấn luyện chính trị do

Nguyễn Ái Quốc tổ chức và gia

nhập Hội Việt Nam cách mạng

thanh miên

Năm 1927 - 1928, ông hoạt

động tại Hà Nội, tháng 3-1929,

tham gia thành lập chi bộ cộng sản

đầu tiên ở trong nước (tại 5D Hàm

Long, Hà Nội) Tháng 5—1929, ông

làm Trưởng đoàn đại biểu Thanh

niên Bắc Kì đi dự Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ nhất của

niên tại Hương Cảng (Trung Quốc) Ông đã cùng với hai đại biểu Bắc

Kì (trong số đó có Ngô Gia Tự) bỏ

về nước để phản đối việc Đại hội không chấp nhận đề nghị của Kì bộ Bắc Kì lập Đảng Cộng sản Việt Nam Tháng 6-1929, ông dự Hội nghị thành lập Đóng Dương Cộng sản Đảng, được cử làm Uỷ viên trung ương, sau đó được điều vào hoạt động tại Trung Kì Tháng 9-1929, ông bị địch bắt ở Nghệ

An, bị toà án tỉnh của chính quyền phong kiến tay sai kết án tử hình, sau giảm xuống án chung thân và

day di Lao Bao Nam 1936, nhờ

phong trào đấu tranh của nhân dân

ta và sự ủng hộ của Mặt trận nhân

dân Pháp, ông được ra tù và về

hoạt động tại Nghệ An Năm 1945, ông tham gia Ban lãnh đạo khởi nghĩa ở liên tỉnh Nghệ — Tinh

Từ năm 1946 đến năm 1954, ông lên Việt Bắc nhận chức Uỷ viên Ban Thường trực Quốc hội Sau ngày giải phóng thủ đô (10-10-1954), ông về Hà Nội giữ chức Uỷ viên Ban Thường trực Quốc hội cho tới năm 1957, từ năm

1957 đến năm 1972 làm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế —

kế hoạch cho tới lúc về hưu.

Trang 6

TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 87

NGUYEN CU

(2 — 1741)

Ông qué ở làng Ninh Xá,

huyện Chí Linh (Hải Dương), là

con của Trấn thủ Sơn Tây

Nguyễn Mại Vì cha bị chúa Trịnh

giết oan, ông căm thù bỏ quan, về

quê, cùng anh là Nguyễn Tuyển

mộ quân, liên kết với Vũ Trác Oánh,

khởi nghĩa giương cao lá cờ

“phù Lê diệt Trịnh” chống lại chúa

Trịnh Nghĩa quân mạnh lên nhanh

chóng, ngay từ năm đầu (1739) đã

đánh lui nhiều cuộc tiến quân đàn

áp của quân triều đình Ông đóng

quân ở Đỗ Lâm (Gia Phúc — Bắc

Ninh), yểm trợ cho quân của anh

minh ở Phao Sơn (Chí Linh)

Tháng 6 năm 1740, nhân khi quân

triều đình tập trung sức đánh sang

Sơn Nam, ông đã đem quân đánh

xuống Hồng Châu, Khoái Châu

(Hưng Yên) Năm 1741, sau khi

dẹp yên cuộc khởi nghĩa Ngân Già

ở Sơn Nam, chúa Trịnh dồn quân

đánh vào các đồn Phao Sơn, Đỗ

Lâm ; Nguyễn Tuyền tử trận Đồn

Đỗ Lâm cũng bị phá tan Ông phải

chạy lên Lạng Sơn, nương nhờ Thổ

tù Toản Cơ, sau đó về lại Đông

Triều và bị bắt ở đây

NGUYEN VAN CU (1912 - 1941)

Nguyễn Van Cừ quê ở làng Phù Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo, có truyền thống yêu nước Anh là học sinh xuất sắc ở Trường Bưởi (tức Trường Chu Văn An, Hà Nội ngày nay) Năm 1927, anh bị đuổi khỏi trường vì tham gia phong trào yêu nước

Tháng 6-1929, anh được kết

nạp vào chí bộ đầu tiên của Đông Dương Cộng sản đảng, rồi ra công tác tại mỏ Mạo Khê để vừa rèn luyện trong lao động, vừa giác ngộ quần chúng, xây dựng Đảng Sau ngày thành lập Đảng

(3-2-1930), anh được bầu làm Bí

thư đặc khu uỷ Hòn Gai —- Uông Bí,

Trang 7

88 ĐÀO CỬ

sau đó bị địch bắt kết án tù khổ sai,

đày đi Côn Đảo Trong nhà tù, anh

vẫn tiếp tục tổ chức anh em đồng

chí đấu tranh, học tập lí luận Anh

trở thành một nhà lí luận của Đảng

Năm 1936, Mặt trận nhân dân

lên cầm quyền ở Pháp, anh được ra

tù và hoạt động tích cực cho Xứ uỷ

Bắc Kì trên mọi mặt công tác Năm

1937, anh được cử vào Ban thường

vụ Trung ương Đảng, năm sau làm

Mùa thu năm 1939, trước nguy

cơ Chiến tranh thế giới thứ hai, đế

quốc Pháp phát xít hoá bộ máy cai

trị ở Đông Dương, Nguyễn Văn Cừ

vào Sài Gòn họp Hội nghị Trung

ương lần thứ VI, đề ra nhiệm vụ

tập họp toàn dân đấu tranh giải

phóng dân tộc

Giữa lúc cách mạng đang ở

bước ngoặt mới, thì tháng 6—1940

anh bị địch bát Bọn đế quốc đã

dùng mọi thủ đoạn tra tấn cực hình

để khai thác tài liệu, nhưng trước

sau anh vẫn kiên cường bất khuất,

giữ vững khí tiết của người cộng

sản Sau khởi nghĩa Nam Kì (1940),

chúng khép anh vào tội là “người

có trách nhiệm tinh thần trong

cuộc khởi nghĩa Nam Kì” để kết án

tử hình Nguyễn Văn Cừ cùng một

số đồng chí khác đã bị xử bắn tại trường bắn Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) ngày 28—8—1941

ĐÀO CỬ

(1449 - ?) Ông quê ở xã Thuần Khang, huyện Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh) sau đổi tên là Đào Thuấn Cử, đỗ Tiến sĩ năm 18 tuổi (1466), năm sau lại thi đỗ

khoa Hoành Từ (1467), làm quan ở

Viện Hàn lâm, được bổ các chức

Thị độc học sĩ, Đông các hiệu thư,

cuối cùng (1500) thăng lên đến

Thượng thư Bộ Hộ Ông đã từng

theo Lê Thánh Tông hành quân ở Chiêm Thành (1470) và Lão Qua (1482) Đào Cử được Lê Thánh Tông quý trọng, là thành viên trong Hội Tao Đàn Cùng với nhiều văn thần khác, ông được giao biên soạn

bộ Thiên Nam dư hạ tập, giúp nhà vua viết quyển Thân chỉnh kí sự và hoạ thơ cuốn Cổ Tâm bách vịnh Trong Quỳnh uyển cửu ca có bài tựa của ông Ông là tác giả bài văn bia tiến sĩ dựng năm Hồng Đức thứ 15 (1484) Sách Toàn Việt thi luc con chép 10 bài thơ của ông Gia đình Đào Cử cũng nổi tiếng về văn học Anh ruột ông là

Đào Chính Kí đỗ Hoàng giáp, hai

anh em đều làm quan đồng triều

Trang 8

TỪ ĐIỀN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 89

TRỊNH CƯƠNG

(1686 — 1729)

Năm 1709, lên làm Chúa, tự

phong là Nguyên soái, Tổng quốc

chính, Án đô vương Trong thời gian

trị vì, ông thực hiện nhiều chính

sách mới về kinh tế như quân điền,

cấm lập trang trại, đánh thuế ruộng

đất ; về chính trị đặt 6 phiên, cho

sứ sang nhà Thanh đòi lại các đất

bị chiếm ở Tuyên Quang trong đó

có mỏ chì, mỏ đồng lớn Tụ Long ;

sử dụng những người có năng

lực như Nguyễn Công Hãng,

Lê Anh Tuấn ; định lại hình luật,

phép thi văn, võ ; tỉnh giản quan

chức ; định lại giới mốc các phủ,

huyện ; định lại phẩm phục quan

lại v.v Năm 1729, ông bị bệnh

nặng rồi mất, được truy xưng Nhân

Đến tháng 10 năm 1909, do có lệnh trục xuất người Việt Nam, ông phải qua lánh nạn tại Trung Quốc, rồi qua Xiêm, sang châu Âu, có lần

về miền Nam Việt Nam nhằm vận động kinh phí cho tổ chức Đông Du

và anh em hoạt động ở hải ngoại Trở lại Nhật Bản vào tháng

5 năm 1915, ông cũng xưng là người Trung Quốc, lấy tên Lâm Thuận Đức Ông được sự giúp đỡ của Thủ tướng Nhật bấy giờ là Khuyển Dưỡng Nghị đnukai Tsuyoki) Một thời gian, nhờ cuộc vận động Đóng Du của Phan Bội Châu, Cường Để đã có ít nhiều ảnh hưởng trong một số người Việt Nam hoạt động yêu nước đầu thế ki XX Tháng 2 năm 1939, ông lập ra hội Việt Nam phục quốc đồng mình nhằm chờ thời cơ để theo quân Nhật vào Đông Dương Nhưng ý đồ của ông đã không thành Cường Để sống lưu vong ở Nhật và mất tại Tôkiô năm 1951, thọ 69 tuổi.

Trang 9

90 MẠC CỬU

CAO CUU

Đại tướng của Hai Ba Trưng

Theo thần tích, ông quê ở vùng

Tam Đới thuộc châu Phong

(Sơn Tây — Phú Thọ) Căm giận tên

Tô Định tàn ác, tham bạo, ông đã

mộ quân chuẩn bị khởi nghĩa Một

hôm, ông đang hội các tướng thì

được tin Trưng Nhị đến, xin bàn

chuyện cùng nhau chống giặc Ông

vui mừng, cùng vợ là Đào Nương

và bạn là Trương Quan cùng quân

sĩ kéo về Hát Môn

Khởi nghĩa toàn thắng, ông được

phong Đại vương

Quân Hán do Mã Viện chỉ huy

kéo sang nước ta Ông được lệnh

cầm quân lên vùng biên giới Đông

Bắc chặn giặc Thế giặc mạnh,

quân ta chống không nổi Ông một mình, một ngựa chạy về phía nam, rồi mất

MẠC CỬU

(1655 — 1735)

Người có công khai thác và thành lập vùng Hà Tiên Ông quê gốc ở Lôi Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), không thần phục nhà Thanh, đem cả gia đình vào miền Nam nước ta tìm kế sinh nhai Ông

đã chiêu tập dân nghèo khai phá và thành lập 7 xã đầu tiên vùng ven biển Tây Nam Kì, sau thành huyện

Hà Tiên (nay thuộc Kiên Giang) Năm 1714, Hà Tiên được sáp nhập vào phủ Gia Định Mạc Cửu được chúa Nguyễn cho giữ chức Tổng binh

Trang 10

DÃ TƯỢNG

(Xem Yết Kiêu)

LÊ NGHI DÂN

(1439 — 1460)

Ông là con của Lê Thái Tông,

lên một tuổi thì được lập làm thái

tử Vì mẹ ông (Dương Thị Bí) nhân

đó quá kiêu căng nên Thái Tông

ghét, đã truất bỏ lệnh cũ Năm 1459,

ông đã mưu cùng một số nghịch

thần, đang đêm vào cung giết vua

và hoàng thái hậu, tiếm ngôi Sau

đó, ông cử người sang Trung Quốc

cầu phong, bàn đặt phủ huyện,

định lại các bộ, các khoa Một số

đại thần mưu sự lật đổ, chẳng may

việc lộ, bị giết hết Mãi đến tháng

7 năm 1460, nhóm đại thần

Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng,

Lê Niệm v.v mới tổ chức được

cuộc đảo chính, đưa Lê Tư Thành

lên ngôi (Lê Thánh Tông) Nghi

Dân bị buộc phải tự thất cổ chết

NGUYÊN HỮU DẬT

(1604 — 1681) Ông quê ở Gia Miêu, huyện Tống Sơn (Hà Trung, Thanh Hoá), làm quan giúp chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) từ năm 16 tuổi, sau trở thành vị tướng xuất sắc có nhiều mưu lược Ông cầm quân đánh Trịnh nhiều lần, liên tiếp thắng lợi Ông được cử làm Trấn thủ Bố Chính (Quảng Bình), là trụ cột của các chúa Sai, chia Thuong

và chúa Hiền Khi mất, ông được truy tặng tước Quận công, xếp hạng công thần, thờ ở Võ Miếu Nguyễn Hữu Dật có tài chương, có lần bị chúa Nguyễn nghi ngờ hạ ngục, ông viết truyện Hoa Van Cdo thi tỏ lòng trung Truyện kể Hoa Vân, tướng của Chu Nguyên Chương tử tiết để trọn nghĩa với chủ Vợ là Cáo thị cũng trầm mình Truyện này sau được chuyển thành tuồng goi 1a Hué Van Hữu Lượng và Hoa Vân diễn ca Nguyễn Hữu Dật còn viết tập Minh sơ anh liệt chí

văn

Trang 11

92 HO DAC DI

Dân chúng Quảng Bình trước

đây tôn ông là Phật Bồ Tát, lập đền

thờ Hai con của ông : Nguyễn

Hữu Kính là danh tướng mở đất

Gia Định và Nguyễn Hữu Hào, tác

giả truyện thơ Song Tỉnh bất dạ

(thường gọi là Truyện Song Tình)

HO DAC DI

(1900 — 1984)

Giáo sư Hồ Đắc Di sinh năm

1900 Ông sinh ra và lớn lên trong

một gia đình trâm anh, thế phiệt

ở Huế

Hỏi nhỏ, ông học tiểu học ở

Huế, sau học trung học tại Trường

Anbe Xarô ở Hà Nội

Năm 1918, sang Pháp du học ;

ông học nốt chương trình trung học

ở Boócđô, thi vào khoa Y — Trường

Dai hoc Y Pari

Ông tốt nghiệp bác sĩ với luận văn về một phương pháp mới trong phẫu thuật dạ dày - tá tràng để điều trị chứng hẹp môn vị mà không phải cắt bỏ dạ dày như trước Cách điều trị mới do Hồ Đắc

Di đề xướng được ứng dụng ở nhiều nước trong suốt mấy chục năm liền

Năm 1931, ông về nước và lập gia đình Sau đó ra Hà Nội, vừa giảng dạy ở Trường Y, vừa làm bác sĩ phẫu thuật thường trú tại Bệnh viện Phủ Doãn (Bệnh viện Việt Đức ngày nay)

Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, Hội đồng giáo sư Trường Đại học Y — Dược Hà Nội

đã bầu ông làm Giáo sư, ông là người Việt Nam đầu tiên được

bổ nhiệm giáo sư Đại học thời thuộc Pháp

Sau Cách mạng tháng Tám, Giáo sư Hồ Đắc Di được Chủ tịch

Hồ Chí Minh và Chính phủ rất mực tín nhiệm, giao cho nhiều trọng trách : vừa làm Giám đốc Trường Đại học Y —- Dược ở Chiến khu Việt Bắc, Tổng Giám đốc Đại học

vụ, vừa giữ chức Tổng thanh tra Y

tế, Giám đốc Bệnh viện Đồn Thuỷ Trong kháng chiến chống Pháp

(1946 - 1954), Trường Y phải di

chuyển nhiều lần, mỗi lần di chuyển là một lần phải xây dựng

Trang 12

TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 93

lại cơ sở, nhưng vẫn không ngừng

đào tạo cán bộ y tế có trình độ cao

cho đất nước, kịp thời phục vụ

cho các chiến trường, chiến dịch

Những sinh viên Trường Y học tập

ở Việt Bắc, nhiều người đã trở

thành viện sĩ, giáo sư, bộ trưởng,

viện trưởng của ngành y tế trong cả

nước Có được những kết quả trên

là nhờ ở một phần lớn lao đóng góp

của Giáo sư Hồ Đắc Di

Sau ngày giải phóng Thủ đô

(1954), ông còn viết nhiều luận

văn về y học dưới ánh sáng của chủ

nghĩa duy vật biện chứng, về cuộc

Danh tướng trong cuộc khởi

nghĩa Trần Quý Khoáng Ông là

con của Nguyễn Cảnh Chân Khi

cha bị Giản Định Đế giết hại một

cách oan uống, ông đã cùng Đặng

Dung —- con của Đặng Tất - đem

quân vào Nghệ An, tôn Trần Quý

Khoáng lên làm minh chủ (tức

Trùng Quang dé) Thang 7 nam

1409, nghĩa quân của ông kéo ra

Bắc đánh giặc ở nhiều nơi, đẩy

chúng vào thế bị động, phải cho

người về nước xin cứu viện Nhà

Minh sai Trương Phụ dem 10 van

quân sang cứu Năm 1410, nghĩa quân đánh bại giặc ở Hạ Hồng (Hải Phòng), nhưng rồi phải lui về Nam Tháng 7 năm 1412, ông cùng Nguyễn Suý chặn giặc ở Mô Độ (Yên Mô —- Ninh Bình), chiến đấu

rất dũng cảm, nhưng cuối cùng

bị thua, phải vượt biển vào Nghệ

An Năm 1413, ông lại đem quân đánh ra Vân Đồn (Quảng Ninh), rồi rút về Giặc tập trung lực lượng đánh vào, nghĩa quân phải rút vào Hoá Châu Tháng 12 năm đó, sau

thất bại ở Ái Tử (Quảng Trị), ông

và Đặng Dung chạy về phía tây rồi

bị bắt ở thượng lưu sông Gianh Ông bị thương nặng nhưng không ngớt lời chửi mắng giặc, quát vào mặt Trương Phụ : “Chúng ta muốn giết mày, nay lại bị mày bắt” Trương Phụ tức quá, đã sai người giết ông rồi cắt đầu đưa về nước

NGÔ ĐÌNH DIỆM

(1901 — 1963) Quê ở làng Đại Phong, huyện

Lệ Thuy, tỉnh Quảng Bình Xuất thân trong một gia đình quan lại cao cấp triều Nguyễn

Sau khi tốt nghiệp Trường Hậu

bổ (1920), Ngô Đình Diệm ra làm quan ở nhiều tỉnh miền Trung

Năm 1933, được Bảo Đại cử làm

Thượng thư Bộ Lại trong Nội các mới được thành lập, đồng thời là đại thần Viện Cơ mật Nhưng vì

Trang 13

94 NGUYEN QUANG DIEU

tranh chấp với Phạm Quỳnh là

người của Pháp, năm 1934, Ngô

gian Năm 1950, được MI đưa sang

Mi đào tạo chờ ngày về nước làm

việc cho chúng Năm 1954, dưới

áp lực của MI, Bảo Đại đã mời

Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng

Nhưng chỉ năm sau, cũng do chỉ

thị của MI, Ngô Đình Diệm đã lật

đổ Bảo Đại nắm lấy quyền Từ đó,

Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu

với cách mạng Việt Nam, với nhân

dân miền Nam, ra sức phá hoại

Hiệp định Giơnevơ với ý đồ chia

cắt lâu dài đất nước Do mâu thuẫn

trong hàng ngũ thân MI, ngày

I-II-1963 Ngô Đình Diệm cùng

em là Ngô Đình Nhu bị giết chết

TÔ VĨNH DIỆN

(1924 — 1953)

Anh sinh nam 1924 tai xa

Nông Trường, huyện Nông Cống,

tỉnh Thanh Hoá, trong một gia đình

nông đân nghèo, phải đi ở kiếm ăn

Cách mạng tháng Tám 1945 thành

công, anh tham gia dân quân ở địa

phương, năm 1949 xung phong vào

Có lệnh kéo pháo ra, anh lai di sat từng người, động viên giải thích rõ nhiệm vụ, giúp anh em quyết tâm khắc phục khó khăn

Đêm tối, đường dốc, dây kéo

pháo đứt, pháo lao nhanh xuống

dốc Trước cảnh hiểm nghèo đó,

anh hô anh em: “Tha hi sinh,

quyết bảo vệ pháo”, và buông tay lái xông lên trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh xe pháo Pháo bị vướng, nghiêng tựa vào bờ, nhờ đó đơn vị giữ được pháo không rơi xuống vực

Anh được Quốc hội, Chính phủ truy tặng Hjuán chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Hai và danh hiệu Anh hing luc lượng vũ trang nhân dân

NGUYÊN QUANG DIÊU

(1880 — 1936) Ông quê ở xã Tân Thuận, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Ông có tư chất thông minh, học giỏi, biết làm thơ văn và sớm có

Trang 14

TỪ ĐIỀN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 95

tinh thần yêu nước, căm thù thực

dân Pháp xâm lược

Năm 1906, khi phong trào

Đông du lan rộng ở Nam Kì, ông

đã hăng hái hoạt động, là một

trong những người tích cực vận

động thanh niên yêu nước Nam Kì

xuất dương du học, đồng thời

quyên góp được nhiều tiền bạc cho

phong trào

Tháng 5-1913, ông cùng hai

người nữa bí mật sang Trung Quốc

lên lạc với Việt Nam Quang

phục hội Đến Hương Cảng, chưa

kịp hoạt động, cảnh sát Anh khám

thấy một số tạc đạn và giấy tờ quan

trọng tại nơi các ông tạm trú, ông

và các đồng chí đều bị bắt giao cho

nhà đương cục Pháp giải về Hà Nội

Tại phiên toà, ông bị kết án

“âm mưu phản loạn”, phải 1Ö năm

khổ sai, đày biệt xứ sang tận

Guyana (Nam Mi) Ở tù một thời

gian, đến đầu năm 1917 ông vượt

ngục trốn sang đảo Toriniđát

(Trinidad) của Anh

Trở về Hương Cảng khoảng

cuối năm 1920, ông tiếp tục hoạt

động trong tổ chức những người

Việt Nam yêu nước Sau khi cụ

Phan Bội Châu bị bắt (7-1925),

ông trở về nước, lấy tên là Trần

Văn Vu đi khắp đó đây trong vùng

“lục tỉnh” để tìm bạn chiến đấu và

phát động phong trào chống Pháp,

đồng thời sáng tác nhiều thơ ca yêu nước để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân Từ năm 1932, ông dạy học và làm nghề Đông y tại làng Vĩnh Hoà gần Tân An Ông có dịch một số tác phẩm của Tôn Trung Sơn như Tam dân chủ nghĩa, Ngũ quyển hiến pháp nhằm phổ biến trong các giới đồng bào yêu nước tư tưởng dân quyền, dân chủ Còn bản thân ông vẫn giữ vững khí tiết một sĩ phu yêu nước trong điều kiện bị chính quyền thực dân theo dõi ngặt

nghèo Mùa hè năm 1936, ông bi

bệnh mất

NGUYEN CHi DIEU

(1908 — 1939)

Nguyễn Chí Diểu sinh năm

1908 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Thành Tiên, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên — Huế

Thuở nhỏ, Nguyễn Chí Diểu học chữ Hán, lên mười tuổi học chữ Quốc ngữ Năm 1925, ông vào học Trường Quốc học Huế, trong thờ gian này kết bạn với

Võ Nguyên Giáp Năm 1925, ông

đã tham gia hoạt động trong Đảng Việt Nam cách mạng và Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Ong van dong hoc sinh kéo dén Nha Phủ doãn đòi thả cụ Phan Bội Châu đang bị giữ, do đó đã bị đuổi học

Trang 15

96 HOÀNG DIỆU

Năm 1928, Nguyễn Chí Diểu

là Uỷ viên Xứ uỷ Trung Kì của

Đảng Việt Nam cách mạng (sau

đổi là Tân Việt) Năm 1929, ông

vào Sài Gòn hoạt động cùng

Nguyễn Đình Kiên, Bí thư Xứ uỷ

Nam Kì Giữa năm 1929, Tân Việt

có sự phân hoá, Nguyễn Chí Diểu

đầu tiên của Thành uỷ Sài Gòn —

Chợ Lớn Sau ông là Bí thư Tỉnh uỷ

Gia Định

Tháng 10-1930, Nguyễn Chí

Diểu bị bắt Ở tù, Nguyễn Chí Diểu

có bí danh là Trọng, người ta gọi là

“Trọng lớn” để phân biệt với Lý Tự

Trọng, là “Trọng con”, cả hai đều

bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn

Nguyễn Chí Diểu bị tra tấn hết

sức dã man, nhưng vẫn giữ vững

khí tiết của người cộng sản

Ngày 2—5—1933, thực dân Pháp

mở phiên toà “đặc biệt” để xử án

các chiến sĩ cộng sản, trong đó có

Nguyễn Chí Diểu Bọn chúng đã

kết án ông khổ sai chung thân và

đày đi Côn Đảo

Tháng 6—1936, Nguyễn Chí Diểu

được trở vé đất liên Ông lại về

Huế, tiếp tục hoạt động, xúc tiến tổ chức lãnh đạo phong trào Đông Dương đại hội và chỉ đạo đấu tranh cách mạng ở Trung Kì

Nguyễn Chí Diểu là Uỷ viên Trung ương Ddng Cộng sản Đông Dương, đã hoạt động không mệt mỏi cho sự nghiệp của Đảng

Về sau, ông bị bệnh lao nặng, mất ngày 15—9—1939 Cụ Phan Bội Châu

đã đồng ý để Nguyễn Chí Diểu, người chiến sĩ cách mạng đầu tiên được an nghỉ tại nghĩa địa của cụ ở dốc Nam Giao (Huế)

Trang 16

TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 97

Nam 16 tudi, Hoang Diéu da

nổi tiếng về văn thơ Năm 20 tuổi

đỗ Cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ Phó

bảng (1853) Sau một thời gian ra

làm quan ở các địa phương Trung Kì

và Bắc Kì, năm 1873 ông được

điều động về Huế giữ chức Tham

tri Bộ Hình, rồi Tham tri Bộ Lại

kiêm Đô sát viện, sung Cơ mật đại

thần Năm 1878, sau khi hoàn

thành tốt việc cứu giúp nạn nhân ở

Quảng Nam bị bão lụt, ông được

thăng Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An —

Hà Tĩnh) Chưa đầy một tháng, ông

được triệu về kinh, đại diện cho

triều đình đứng ra điều đình với sứ

thân Tây Ban Nha về việc thông

thương Ít lâu sau, ông được thăng

Binh bộ Thượng thư

Năm 1880, ông được bổ nhiệm

làm thự Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội ~

Ninh Bình) để thay Nguyễn Tri Phương

đã tuẫn tiết với thành Hà Nội từ

với chức vụ Tổng đốc Hà Nội, ông

đã khẩn trương bắt tay vào việc đào

hào, đắp luỹ để tổ chức phòng thủ

Ông không lùi bước trước những

yêu sách vô lí của giặc Ngày

3-4-1882, Rivie (Henri Rivière)

từ Sài Gòn ra Hà Nội, đóng tại

Hà Thành thất thủ ca

TRAN QUANG DIEU

(2 — 1802)

Danh tướng và trong thần triều

Tây Sơn (vợ là Bùi Thị Xuân) Ông

đã tham dự nhiều trận đánh lớn, đặc biệt là trận đại phá quân Thanh xuân Kỉ Dậu Năm 1789 ông được vua Quang Trung cử làm Đốc trấn Nghệ An trông coi việc xây dựng thành Phượng Hoàng trung đô Năm 1790 - 1791, ông chỉ huy đánh dẹp các lực lượng chống đối của nhà Lê cũ Bấy giờ, Hoàng thân Lê Duy Chỉ được một số tù trưởng Bảo Lạc (Cao Bằng) và cả Quốc trưởng Vạn Tượng (Lào) giúp đỡ, hoạt động khá mạnh Ông

đã đánh tan quân Lê Duy Chỉ và các lực lượng trên Thời Quang Toản, ông là chủ tướng quan trọng nhất trong việc chống lại thế lực

Trang 17

98 TRỊNH DOANH

của Nguyễn Ánh, bảo vệ phần đất

phía nam Năm 1801, ông chiếm

thành Quy Nhơn, không xử tội

quân lính, chôn cất 2 viên tướng

Ngô Tòng Chu và Võ Tánh chu đáo

Năm 1802, ông dẫn tượng binh ra

Nghệ An để lo chống giữ, nhưng

chẳng may bị bắt tại Thanh Chương

Nguyễn Ánh tìm cách chiêu dụ,

nhưng ông không chịu khuất phục

nên bị Nguyễn Ánh giết

LÊ THIẾU DĨNH

Nhà thơ sống vào nửa đầu thế

kỉ XV, tự Tử Kì, hiệu là Tiết Trai

Tổ tiên ông người Thuần Lộc, trấn

Thanh Hoa (Hậu Lộc - Thanh Hoá),

sau đời về Mộ Trạch, huyện Đường

An (Bình Giang - Hải Dương)

Ông là con trai của Lê Cảnh Tuân

Trong thời nhà Minh thống trị

(1407 — 1427), ông ẩn lánh nhiều

nơi, sau đó tham gia nghĩa quân

Lam Sơn Quân Minh bị đánh bại,

Lê Lợi cử ông cùng một số người

khác giao thiệp với nhà Minh

Việc giao thiệp có kết quả, ông

được thăng chức Thiên trị viện su,

sau thăng lên chức An phủ sứ

Trường An, về sau bị giáng làm

Viên ngoại lang bộ Lễ

Thơ văn còn lại 13 bài trong bộ

Toàn Việt thí lục nói lên cảnh

tượng long đong trong những ngày

loạn lạc và tình cảm nhớ làng, nhớ

nước của ông khi đất nước bị giặc

chiếm đóng

TRỊNH DOANH (1720 — 1767)

Con thứ ba của Trịnh Cương,

em Trịnh Giang Vì có văn tài võ lược Doanh được Trịnh Giang phong cho làm Khâm sai tiết chế các xứ thuỷ bộ chủ quân, Thái uý An quốc công Vì không thiết gì đến chính

sự nên năm 1736 Giang trao quyền nhiếp chính cho Doanh Doanh là

1 viên tướng có tài cầm quân Năm

1740, nông dân nổi dậy khắp nơi, ông đã khéo léo thí hành nhiều chủ trương mới để ổn định tình hình, chấn chỉnh hệ thống quan lại, bãi

bỏ các công trình xây dựng xa xỉ,

ưu đãi tướng si

Trịnh Doanh có tập thơ do con ông đặt tên là Càn nguyên ngự chế thi tập, gồm 4 quyển, 263 bài, trong đó có 241 bài thơ Nôm và 22

bài thơ chữ Hán Năm At Hoi

(1755), vua Lê gia phong cho Trịnh Doanh làm Thượng sư Thương phụ anh đoán văn tự võ công Minh vương Lịch sử ghi nhận những năm Trịnh Doanh ở Bắc Hà là những năm đất nước ổn định và thịnh đạt

Tháng Giêng năm Dinh Hoi

(1767), Trịnh Doanh mất, con là

Trịnh Sâm nối ngôi Hai mươi tuổi, Trịnh Doanh lên nắm quyền, mất lúc 48 tuổi, ở phủ chúa 28 năm

7B- TDNVLSVN

Trang 18

TU DIEN NHÂN VẬT LICH SU VIET NAM 99

LE CAO DONG

(? — 1861)

Ong qué ở làng Thuận Mi,

huyện Tri Tôn, tỉnh Gia Định, làm

nghề cày ruộng, tính tình trung

hậu, giàu lòng nhân ái Ông được

bà con xóm làng thương mến

Trong cao trào kháng chiến của

nhân dân miền Nam từ sau khi Gia

Định bị giặc Pháp chiếm (2—1859),

Lê Cao Dõng đã cùng cử nhân

D6 Trinh Thoại (người xã Tân Long,

huyện Tân Hoà) tập hợp nghĩa

quân sẵn sàng chống giặc

Sau trận đánh lớn vào căn cứ

của Pháp ở Gò Công bị thất bại

(22-6-1861), ông bị bọn tay sai

của giặc bố trí bắt sống đem nộp

lấy thưởng

Giặc Pháp tra khảo dã man,

trước sau ông vẫn giữ vững khí tiết

Ông bị ốm, chúng mang thuốc tới

bắt uống, ông cương quyết cự tuyệt

Ông còn lớn tiếng kêu gọi đồng bào

phải hi sinh vì nước không được

theo giặc Điên cuồng và bất lực

trước thái độ hiên ngang của người

yêu nước, chúng đã bắn ông

ĐỖ NGỌC DU

(1907 - 1938)

Đỗ Ngọc Du (tức Phiếm Chu),

sinh ngày 20-12-1907 tai thi xã

Hải Dương, nhưng chính quê ở xã

Tả Thanh Oai, tính Hà Đông cũ

(nay thuộc Hà Tây)

Đỗ Ngọc Du học ở Trường Bưởi (Chu Văn An ngày nay) được tiếp xúc với sách báo tiến bộ nên sớm giác ngộ cách mạng, tham gia

phong trào bãi khoá của học sinh,

đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh, nên bị đuổi học

Tháng 10-1926, Đỗ Ngọc Du được cử đi Quảng Châu (Trung Quốc)

dự lớp huấn luyện chính trị, khoá thứ hai do Nguyễn Ái Quốc mở Anh được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Cộng sản đoàn, sau đó về hoạt động cách mạng ở Hải Phòng Tháng 3-1929, Đỗ Ngọc Du và một số đồng chí khác đã họp ở 5D Ham Long (Hà Nội) thành lập chi

bộ cộng sản đầu tiên ở nước ta Ngày 17-6-1929, anh lại tham gia thành lập Đông Dương Cộng sản đảng ở 312 Khâm Thiên (Hà Nội), được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời, phụ trách giao thông và tài chính, trực tiếp làm Bí thư Xứ uý Bắc Kì và Bí thư Thành ủy Hà Nội

Sau ngày Đđng Cộng sản Viét Nam thanh lap (3-2-1930), anh sang công tác ở Trung Quốc, lên hệ với Đảng Cộng sản

Trang 19

100 NGUYEN DU

Trung Quốc Anh đã cùng đồng chí

Nguyễn Lương Bằng xuất bản báo

chí, như các tờ jồng quán (Armée

rouge), Kén gọi lính, vận động

binh lính và gây cơ sở cách mạng

trong quân đội Pháp

Thang 6-1931, Dé Ngoc Du bi

bắt tại Thượng Hải (Trung Quốc),

chúng giải anh về Sài Gòn, rồi đưa

ra giam ở Hoả Lò (Hà Nội), tra tấn

cực hình Chúng xử án anh tại Toà

án Hải Dương, đày lên nhà tù

Sơn La, sau đó đày ra Côn Đảo

(12-1933), năm 1936 được “ân xá”

và đưa về Hà Nội quản thúc Anh

bị bệnh lao phổi và mất ngày

12-1-1938 tại Hà Nội

NGUYEN DU

(1766 ~ 1820)

Đại thi hào, tên tự là Tố Như,

hiệu là Thanh Hiên Ông quê ở

làng Tiên Điền, huyện Nghị Xuân,

Hà Tĩnh, xuất thân trong một gia

đình quý tộc lớn Thân sinh của

ông là Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm làm

Tể tướng thời Lê — Trịnh, năm 1775,

vào Thuận Quảng có tiếp xúc với

Tây Sơn Nguyễn Nghiễm còn là

nhà thơ, nhà sử học, nhiều năm

làm Tế tướng, được chúa Trịnh

rất tin cậy Mẹ Nguyễn Du là bà

Trần Thị Tần người huyện Đông

Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc

Tiên Sơn, Bắc Ninh) Năm ông

10 tuổi, cha mất, năm 12 tuổi mẹ mất Nguyễn Du sống với anh cả là Nguyễn Khản cũng là quan đầu triều, rất giàu sang ở Kinh đô Thăng Long Năm 1783, Nguyễn Du

th Hương đỗ Tam trường (sau không rõ vì lí do gì mà không thi tiếp), giữ chức quan võ ở Thái Nguyên Năm 1786, Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản bỏ Thăng Long về quê tổ chức chống lại, nhưng bị bệnh rồi chết Sau đó, gia đình, họ hàng Nguyễn Du phân hoá sâu sắc, nhiều người ủng hộ tập đoàn

Lê Chiêu Thống trong đó có người anh là Nguyễn Quýnh bị giết chết, nhưng cũng có người đi theo Tây Sơn Sau chiến thắng Đống Đa đầu năm 1789, Nguyễn Nễ (anh cùng mẹ) và Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ) công khai hợp tác với Tây Sơn, ra làm quan triéu Quang Trung Còn Nguyễn Du thì có lúc muốn chống lại, nhưng bất lực bơ

vơ, phải chạy về quê vợ ở Quỳnh Côi (Thái Bình) sống nhờ, rồi về quê hương xứ Nghệ Năm 1802, Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh lên làm vua ra chiếu trưng tập các cựu thần nhà Lê, Nguyễn Du cũng bị gọi và bị bắt buộc ra làm quan Tháng 8 năm ấy, ông làm Tri huyện Phù Dung (Phù Tiên, Hưng Yên) Năm 1805, ông về Huế làm Đông các đại học sĩ, rồi làm Cai bạ Quảng Bình Năm 1813, ông làm Chánh sứ sang Trung Quốc, khi về

Trang 20

TU DIEN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM 101

nước làm Tham tri Bộ Lễ Tháng

6-1920, ông lại được vua Minh

Mệnh cử làm Chánh sứ Nhưng đến

tháng 9, ông bị cảm, rồi mất

Nguyễn Du trong cuộc đời gặp

nhiều phức tạp, trắc trở Ông xuất

thân là quý tộc nhưng lớn lên trong

bối cảnh biến động lớn của đất

nước ; gia đình, anh em li tan, ban

than long dong nay day mai do

Ong đã trực tiếp trông thấy những

cảnh đau khổ của nhân dân, đặc

biệt là của phụ nữ, cảnh suy tàn

của triều đình Lê - Trịnh và nỗi

bất hạnh của chính gia đình mình

Đồng thời chính ông đã chứng kiến

những chiến công vĩ đại của

Quang Trung, những cải cách quan

trọng của triều Tây Sơn cũng như

những ngày tàn của triểu đại

này và sự phục hồi của triểu

Nguyễn Gia Long mà sau này ông

hợp tác với nó Những cống hiến

vĩ đại nhất là những văn phẩm thể

hiện tâm huyết, tài năng của ông

lưu lại cho nhân dân, đất nước

Nguyễn Du trước hết là nhà thơ

của thời đại, là người phát ngôn

của những người bị chế độ phong

kiến chà đạp

Các văn phẩm chữ Hán của

ông có Thanh Hiên thi tap, Nam

Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục,

chữ Nôm có Truyện Kiều (Đoạn

trường tân thanh) và nhiều bài thơ

khác Dưới ngòi bút của Nguyễn Du,

ngôn ngữ Việt Nam được hoàn thiện thật sự trong sáng, phong phú Truyện Kiểu là tác phẩm

vĩ đại, bất hủ

PHAM NGUYEN DU (1740 — 1786) Ông vốn tên là Phạm Vĩ Khiêm,

hiệu là Thạch Động, Dưỡng Hiên, người làng Đặng Điền, huyện Chân Phúc (Nghi Lộc, Nghệ An) Năm

1779, ông đỗ Hoàng giáp, từng làm Giám sát ngự sử đạo Hải Dương Khi chúa Trịnh chiếm được Thuận Hoá, ông được cử vào Phú Xuân, sau đổi về làm Đốc đồng Nghệ An Năm 1786, Tây Sơn

ra Bắc, Phạm Nguyễn Du trốn vào rừng rồi mất (có tài liệu nói ông đã

về huyện Thanh Chương toan khởi bình phục Lê, nhưng không thực hiện được)

Tác phẩm có Thạch Động thi tập, Đoạn trường lục, Độc sử si tưởng, Nam hành kí đắc tập Năm

1775, ông cùng Ngô Thì Sĩ, Ninh Tốn biên soạn Đại Việt sw kí tực biên Ông viết văn khoáng đạt,

có cá tính, thường đề cập tới những

để tài cuộc sống hằng ngày Ở Đoạn trường lục của ông bộc lộ

những tình cảm chân thực, riêng

tư : tình yêu, nỗi nhớ tiếc, cảm giác

cô đơn thiếu vắng Độc sử sĩ tưởng

là tập thơ vịnh sử, gồm 169 bài

Ngày đăng: 14/08/2014, 03:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w