Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định có ba hình thức chủ yếu là: Xí nghiệp liên doanh , xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng và hình thức ký hợp
Trang 1hoá nền kinh tế Chúng ta coi trọng nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền kinh tế
a) Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua
Giai đoạn trước 1996: FDI liên tục gia tăng cả về số dự án
và vốn đầu tư, đạt mức kỷ lục là 8,6 tỷ USD về tổng số vốn
đăng ký vào năm 1996 Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 50% một năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng
đáng kể từ mức 37 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng
ký 8640 triệu USD năm 1996
Giai đoạn sau 1996: FDI vào Việt Nam liên tục giảm Trong giai đoạn 1997-2000 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm trung bình khoảng 24% một năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu tư đăng ký khoảng 8,6
tỷ USD năm 1996 xuống còn 1,9 tỷ USD năm 2000 Ngoài ra, trong giai đoạn này, còn có một xu hướng khác rất đáng lo ngại và vốn đầu tư giải thể tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước Tổng số vốn đầu tư giải thể giai đoạn 1997-2000 khoảng 2,56% tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của năm trước đó cộng lại
Trang 2Tính đến cuối năm 2002 đã có hơn 4500 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký và tăng vốn đạt trên 80 tỷ USD Trừ các dự án giải thể trước thời hạn hoặc đã hết hạn hoạt động, hiện có trên 3670
dự án đang có hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 39 tỷ USD Trong đó có gần 2000 dự án đang triển khai hoạt động kinh doanh 980 dự án đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản và làm các thủ tục hành chính, gần 700 dự án chưa triển khai do nhiều nguyên nhân Tổng số vốn đầu tư thực hiện của các dự
án đã cấp giấy phép khoảng 24 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện của các dự án còn hiệu lực là trên 21 tỷ USD Đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 66% số dự án và 64,5% vốn thực hiện Lĩnh vực này cũng thu hút tới trên 70% số lao động và tạo ra trên 90% giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài Lĩnh vực dịch vụ chiếm 21% số dự án và 22,5% vốn thực hiện, lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 13% số dự án và 6% vốn thực hiện
Về địa bàn đầu tư thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng kinh tế trọng điẻem ở phía Nam Trong số các địa phương thu hút
Trang 3vực phía Bắc thu hút được ít hơn, trong đó đáng kể là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh với tổng số 634 dự án, 9.625 triệu USD vốn đăng ký còn hiệu lực
b) Những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định có ba hình thức chủ yếu là: Xí nghiệp liên doanh , xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng và hình thức ký hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao(BOT) Với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam
+ Hình thức xí nghiệp liên doanh
Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài
sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua, bởi vì:
Một là, họ tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết
Hai là, các nhà đầu tư nước ngoài muốn san sẻ rủi ro với các đối tác Việt Nam do môi trường đầu tư Việt Nam còn nhiều bất trắc
Trang 4Ba là, hình thức này có khả năng thuận lợi hơn để các nhà
đầu tư nước ngoài mở rộng phạm vi và lãnh thổ hoạt động kinh doanh so với hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài
Mặt khác, nhà nước cũng tạo điều kiện và giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài nhằm sử dụng có hiệu quả mặt bằng và nhà xưởng, máy móc thiết bị hiện có
Hiện nay, hình thức này chiếm 66,4% trong tổng số 815
xí nghiệp liên doanh đã được cấp giấy phép, 51% số vốn đăng
ký và 30% số dự án
+ Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Hình thức này ngày càng phát triển trong những năm gần
đây, từ 5% năm 1989 đến 27% năm 1995 trong tổng số các dự
án đã được cấp giấy phép
Hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lựa chọn ngày càng nhiều vì nó có phần dễ thực hiện và thuận lợi hơn cho họ nhưng bằng hình thức đầu tư này, về phía nước nhận đầu tư thường chỉ nhận được các lợi
Trang 5Khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, hoặc áp dụng các hoạt động xây dựng- vận hành- chuyển giao(BOT) hay xây dựng chuyển giao vận hành (BTO)
Hiện nay hình thức này chiếm 36% vốn đăng ký và 66%
số dự án
+ Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là hình thức mà theo đó bên nước ngoài và bên Việt Nam cùng nhau thực hiện một hợp đồng đã được ký giữa hai bên, quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân mới
Hình thức này đã xuất hiện sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các qui định pháp
lý cho nó Điều đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích hướng dẫn và vận dụng vào thực tế
Lợi dụng sơ hở này, một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn tránh sự quản lý của nhà nước, đầu tư chui vào Việt Nam Hoặc khi thực hiện các dự án lớn, các bên hợp doanh thường gặp khó khăn trong việc điều hành dự án
Trang 6Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức dễ thực hiện và
có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản xuất các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty ở nhiều quốc gia Đây cũng sẽ là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần, xu hướng của sự phân công lao
động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế
Và hình thức này chiếm 13% vốn đăng ký và 4% số dự
án
c) Các đối tác đầu tư
Đối tác Việt Nam
Theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài (LĐTNN) đã sửa đổi bổ sung 12/1992 thì mọi tổ chức kinh tế Việt Nam, kể cả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp tư nhân (DNTN) được hợp tác trực tiếp với nước ngoài
Nhưng thực tế thời gian qua, hầu như chỉ có các DNNN tham gia hợp tác kinh doanh với nước ngoài (chiếm 96% số dự
án và 99% tổng số vốn đầu tư) Tình hình này phản ánh tình trạng thực tế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn nhỏ
Trang 7Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có chính sách thích hợp
để khuyến khích phát triển DNTN và đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các DNTN
Đối tác nước ngoài:
Thời kỳ đầu mới thực hiện luật đầu tư nước ngoài chủ yếu
là các công ty nhỏ, thậm chí cả công môi giới đầu tư vào nước
ta phần lớn là công ty thuộc khu vực Đông á-TBD và Tây- Bắc âu
Về khu vực các nước đầu tư vào Việt Nam thì khu vực
Đông Bắc á(gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông) chiếm 55,4% số dự án và 40,8 vốn đăng ký của tất cả dự án đang còn hiệu lực Đầu tư các nước ASEAN vào Việt Nam từ năm 1997 trở lại đây có chiều hướng suy giảm do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu vực và những hạn chế về khả năng phục hồi kinh tế (Singapore, vẫn giữ vị trí hàng đầu với 236 dự án và 7,2 tỷ USD vốn đăng ký) Đầu tư các nước Châu Âu như Pháp, Hà Lan vẫn nằm trong số 10 nước đầu tư lớn nhất vào Việt nam, Hoa Kỳ đứng ở vị trí 13 với hơn 1,1 tỷ USD vốn đăng ký trong năm 2002
d) Thực trạng đầu tư của mỹ vào Việt Nam
Trang 8Tính đến ngày 31-8-2001, Mỹ có dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 1058 triệu USD và vốn đầu tư thực hiện đạt 489,4 triệu USD, Mỹ có 82 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm 58,6% tổng số vốn đầu tư là 306,2 triệu USD, tiếp đến là ngành dầu khí, công nghiệp nhẹ, xây dựng và thực phẩm Nông, lâm nghiệp có 16 dự án chiếm 13,5% tổng vốn đầu tư
Theo hình thức đầu tư, Mỹ có 83 dự án 100% vốn nước ngoài (chiếm 64,3% tổng số dự án), với tổng số vốn đầu tư là 554,3 triệu USD (chiếm 52,4% tổng vốn đầu tư); Tiếp theo là hình thức liên doanh có 33 dự án (25,6%) với vốn đầu tư là 369,8 triệuUSD (34,9%) và hợp đồng hợp tác liên doanh có 11
dự án (10,1%) với tổng vốn đầu tư là 134,1 triệu USD (12,7%)
Các dự án đầu tư của Mỹ đầu tư tại 26 tỉnh thành phố nhưng tập trung chủ yếu tại thành phố HCM với 37 dự án, với vốn đầu tư là 187,5 triệu USD; Hà Nội: 22 dự án với 158,1 triệu USD và Đồng Nai với 14 dự án, với vốn đầu tư là 181,4 triệu USD; 3 địa phương này chiếm 56% tổng số dự án và 50% tổng vốn đầu tư của Mỹ tại Việt Nam Đây là những địa bàn có cơ sở hạ tầng và điều kiện sản xuất kinh doanh tốt hơn so với
Trang 9Tác động của hiệp định thương mại Việt - Mỹ đến triển vọng thu hút đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam
Cơ hội đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam thể hiện ở những điểm chính sau:
Thứ nhất, với mức thuế suất của nhiều mặt hàng giảm từ 40-60% xuống còn 3%, xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ sẽ tăng Ngân hàng Thế giới dự báo xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ sẽ tăng từ 368 triệu USD (mức năm ngoái) lên 1 tỷ USD/năm trong vòng 4 năm tới Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt có lợi cho ngành sản xuất quần áo, giày dép vì các doanh nghiệp Mỹ muốn tận dụng lợi thế nhân công rẻ ở Việt Nam "Việt Nam thực sự là nơi lý tưởng cho sản xuất, và điều này sẽ còn trở nên tốt hơn trong thời gian tới" Đó là lời phát biểu của ông Lalit Monteiro (Tổng giám đốc hãng Nike tại Việt Nam)
Thứ hai, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ sẽ làm cho vị thế của Việt Nam được nâng trên trường quốc tế do đó sẽ có một số nhà đầu tư nước ngoài đến đây để xây dựng nhà máy sản xuất hàng hoá xuất khẩu đi Mỹ và những nhà đầu tư nước ngoài khác đang đầu tư tại Việt Nam sẽ có kế hoạch sản xuất
Trang 10Thứ ba, bằng những cam kết thực hiện dần việc minh bạch hoá, giảm thuế xuất, bỏ hàng rào phi thuế quan, cởi mở hơn nữa cho đầu tư nước ngoài, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Môi trường kinh doanh của Việt Nam chắc chắn sẽ ngày càng tốt hơn và mọi bên đều có lợi Điều đó đồng nghĩa với đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam sẽ tăng
II Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
1 Quy mô nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh
Từ khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực cho đến hết ngày 12 năm 2001 thì nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh từ 1988 đến 1995 cả về số lượng
dự án cũng như vốn đăng ký
839 1322.3
2156 2900
3765.6 6530.8 8492.3
4649.1 3892
1568
2012.4 2436
2000
3000
4000
5000
6000
7000
8000
9000