hàng hợp tác, Quỹ tín dụngnhân dân Trung ương TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ sở, Ngân hàng Chính sách xã hội *Tiền gửi ở các ngân hàng khác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trang 2Lý thuyết chung về nghiệp vụ ngân hàng thương mại.
Nghiên cứu các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại thực chất là việcxác định các nội dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản Đó là mộtbảng báo cáo tài chính tổng hợp, được trình bày dưới dạng cân đối, phản ánhtổng quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của một ngân hàng thươngmại tại một thời kỳ nhất định
Bảng tổng kết tài sản gồm hai phần, tài sản nợ và tài sản có
Tài sản nợ phản ánh nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại,bao gồm các khoản ngân hàng nợ thị trường và vốn của ngân hàng Cáckhoản vốn nợ thị trường biểu hiện thông qua các khoản vốn mà dân chúnggửi vào hoặc các khoản vốn ngân hàng đi vay các chủ thể trong nền kinh tếnhư các các nhân, hộ gia đình, tổ chức tài chính trung gian…Tài sản có phảnánh việc sử dụng vốn của ngân hàng thương mại hay các khoản thị trường
nợ ngân hàng Mỗi khoản ngân hàng cho vay ra hay đầu tư vào chứng khoánđều ghi vào bên có của bảng tổng kết tài sản, làm tăng tài sản có của ngânhàng
Tính chất quan trọng của bảng cân đối tài sản là tổng số tiền bên tài sản
nợ phải bằng tổng số tiền bên tài sản có, ngoài ra còn có các nghiệp vụ ngoạibảng
b Phân loại
* Tiền mặt tại quỹ: gồm tiền giấy và tiền kim loại hiện có tại kho của ngân
hàng: Các NHTM bao giờ cũng phải giữ một khoản dự trữ tiền mặt nhất định tại kho của mình vào mỗi ngày để đề phòng những chi trả bất ngờ cho dân vào đầu ngày hôm sau Dự trữ tiền mặt tại kho của các NH ở các nước phát triển hiện nay xấp xi mức 1 – 2% tổng tài sản có Trong những nước có thị trương tiền tệ tài chính hoàn hảo như Mỹ, Anh Đức, Nhật… các NHTM giữ tiền mặt taị kho rất ít, dưới 1% Vào cuối mỗi ngày nó thường đầu tư vào
Trang 3chựng khoán hoặc trái phiêu qua đêm của TTTT và sáng hôm sau lại bán ra được ngay theo thoả thuận để thu tiền mặt nếu có nhu cầu Với những nước
mà TTTT chưa phát triển mạnh băng như Hàn Quốc, Singapo… các NHTM vẫn giữ từ 3 – 5% tiền mặt tại kho vì không có cách đầu tư qua đêm
*Tiền mặt ký gửi ở NHTW: bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định
của NHTƯ và tiền gửi thanh toán tại NHTW, thông thường dự trữ ký gửi cũng chỉ chiếm từ 1 – 2% tổng tài sản có của các NHTM
rd = RR/D
re = ER/DTrong đó: r là tỷ lệ dự trữ bắt buộc
RR: Lượng tiền dự trữ bắt buộc
ER: Tiền dự trữ dư thừa ( gồm tồn quỹ tiền mặt ở NH và tiền gửi thanh toán của NHTM tại NHTW)
D: tổng tiền gửi không kỳ hạn
Ưu tiên hàng đầu trong quản trị tiền mặt ký gửi tại NHTW là việc chấp hành dự trữ bắt buộc do NHTW quy định
Theo văn bản 3158/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008, áp dụng từ 01/01/2009
A
Không kỳ hạn và dưới 12 tháng
Từ 12 tháng trở lên
Các NHTM Nhà nước
(không bao gồm NHNo &
PTNT), NHTMCP đô thị,
chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, ngân hàng liên
doanh, công ty tài chính,
công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng Nông nghiệp và
Trang 4hàng hợp tác, Quỹ tín dụng
nhân dân Trung ương
TCTD có số dư tiền gửi
phải tính dự trữ bắt buộc
dưới 500 triệu đồng,
QTĐN cơ sở, Ngân hàng
Chính sách xã hội
*Tiền gửi ở các ngân hàng khác: ngân hàng nhỏ gửi tiền trong ngân hàng
lớn để đổi lấy nhiều dịch vụ khác nhau như thanh toán giữa các ngân hàng, giao dịch ngoại tệ, giúp mua chứng khoán.Các ngân hàng cũng có thể mở tàikhoản ở ngân hàng khác để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán
*Tiền mặt trong quá trình thu: Là khoản phát sinh do các quan hệ vãng lai
giữa các NH, khi NH đã ghi vào bên nợ nhưng thực chất vẫn chưa nhận được tiền
Vd: Một tờ sec được phát ra từ một tài khoản ở NH A, gửi ở NH B và số tiền ở sec này vẫn chưa đến NH B, tở séc này được coi như là tiền mặt trongquá trình thu và là một tài sản có đối với NH B, vì NH B có quyền đòi nó sau này
c.Ý nghĩa: Các bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của NHTM Mặc dù
dự trữ của ngân hàng không tạo nên lợi nhuận nhưng nó đảm bảo khả năng thanh toán và các nghĩa vụ tài chính khác cho ngân hàng.Vì thế mà nó hạn chế rủi ro thanh khoản, nâng cao uy tín cho ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời của ngân hàng
2/ Nghiệp vụ tín dụng
a Khái niệm : nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng cóthể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên mục đích sử dụng tiền vay Đối với các ngân hàng truyền thống, cho vay là ngiệp vụ sinh lời chủ yếu
Theo quy định NHNN VN lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh Theo khoản 1,điêu 476
bộ lụât dân sự “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá
Trang 5Lãi suất cơ bản 7,0% 172/QĐ-NHNN ngày
* Chiết khấu thương phiếu : là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong đó ngân
hàng mua những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với giá trị bằng giá trị của thương phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí Đến thời hạn thanh toán của thương phiếu, ngân hàng đòi người mắc nợ thương phiếu theo giá trị của thương phiếu
Điều kiện chiết khấu:
- Chứng từ có giá phải do các đơn vị được phép phát hành hợp pháp
- Chứng từ có giá còn thời hạn thanh toán phù hợp với thời hạn chiết khấu ngân hàng quy định
- Chứng từ có giá phải được phép chuyển nhượng mua bán
Quy trình chiết khấu
- Khách hàng lập và nộp hồ sơ xin chiết khấu
- Ngân hàng thẩm định hồ sơ xin chiết khấu Ngân hàng tiến hành kiểm tra các điều kiện chiết khấu Ngân hàng trả lời ngay cho khách hàng biết những chứng từ được chấp nhận chiết khấu
- Mức chiết khấu: Mức chiết khấu bằng 80% - 120% mức sinh lời của chứng
từ chiết khấu, trong phạm vi thời hạn hiệu lực còn lại của chứng từ Trường hợp chứng từ không ghi rõ lãi suất, thì ngân hàng lấy lãi suất của chứng từ tại thời điểm xin chiết khấu để xác định mức sinh lời của chứng từ
+ Nếu chứng từ có lãi suất được trả lãi trước:
Lãi chiết khấu = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Lãi suất chiết khấu
Lãi chiết khấu =(Mệnh giá X lãi chứng từ)x Thời hạn chiết khấu x Lãi suất chiết khấu
Trong một số trường hợp, ngân hàng thực thi nghiệp vụ này còn thu hoa hồng phí
+ Hoa hồng phí là các chi phí cho nghiệp vụ chiết khấu mà khách hàng phải trả cho ngân hàng Nó cũng được xác định khác nhau tùy theo chứng từ đó
Trang 6được trả lãi trước hay trả lãi sau hoặc được quy định cố định cho nghiệp vụ chiết khấu.
Nếu chứng từ được trả lãi trước:
Hoa hồng phí = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Tỷ lệ hoa hồng phí
Nếu chứng từ được trả lãi sau:
- Ngân hàng xác định số tiền cho vay Sau khi đã xác định được mức chiết khấu, ngân hàng sẽ xác định số tiền cho vay khi ngân hàng xin chiết khấu Nói chung, số tiền ngân hàng cho khách hàng vay (hay trả cho khách hàng) là:
Số tiền phải trả cho khách hàng = Tổng số mệnh giá chứng từ - Tổng số mức chiết khấu
Vd: Doanh nghiệp B mang thương phiếu có mệnh giá 100 trđ đến ngân hàngxin chiết khấu Thời hạn hiệu lực còn lại của thương phiếu là 3 tháng Doanhnghiệp xin chiết khấu toàn bộ thời gian còn lại của chứng từ Hai bên thỏa thuận lãi suất chiết khấu (dựa vào lãi suất cho vay ngắn hạn hiện hành) là 1,2%/ tháng
Hoa hồng phí chiết khấu là 0,1% cho khoản chiết khấu trên
Tổng số tiền ngân hàng cho doanh nghiệp B vay được tính như sau:
- Lãi suất chiết khấu:
c Ý nghĩa: Đây là một nghiệp vụ cấp tín dụng khá an toàn do:
- Tính thanh khoản của thương phiếu cao (ngắn hạn, dễ chuyển đổi), nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng khi nắm giữ thương phiếu, không bị ứ đọng vốn lâu
- Theo luật thì ngân hàng có quyền truy đòi tất cả các đối tượng có mặt trên tấm thương phiếu (kể cả người đã chuyển nhượng thương phiếu đó)chứ
Trang 7không riêng gì người có trách nhiệm chi trả ghi trong thương phiếu (chiết khấu có truy đòi) Do đó rủi ro tín dụng sẽ thấp đi do có nhiếu người phải chịu trách nhiệm trả nợ hơn.
Về mặt quản trị ngân hàng thì đây là một dạng dự trữ thứ cấp khá tốt vừa đảm bảo thanh khoản lại vừa sinh lãi ở mức chấp nhận được
* Cho vay ứng trước: là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó người đi vay được phép sử dụng một mức cho vay nhất định Để thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng mở cho khách hàng một tàikhoản cho vay, chuyển số tiền cho vay vào tài khoản đó để khách hàng sử dụng
Ví dụ: Ở NH sacombank: Liên kết cho vay ứng trước T 3 là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng cho khách hàng bằng việc ứng trước tiền “T 3” đối với khách hàng đã bán chứng khoán tại các công ty chứng khoán có liên kết với Sacombank
Đối tượng khách hàng: cá nhân sở hữu chứng khoán đã khớp lệnh bán
Loại tiền vay: VND
- Điều kiện vay:
với Sacombank bằng tài khoản tiền gửi của công ty chứng khoán mở tại Sacombank
khoản của khách hàng tại Sacombank
Lãi suất: thay đổi linh hoạt theo từng thời kỳ
- Mức vay:
Số tiền vay ứng trước = số tiền bán (trừ) – phí giao dịch bán chứng khoán (trừ) – lãi phải trả của khoản vay ứng trước này (trừ) – số tiền gốc và lãi vay cầm cố chứng khoán đã bán (nếu có) (trừ) – phí bảo lãnh của công ty chứng khoán (nếu có)
Thời hạn cho vay: do Sacombank quy định trong từng thời kỳ
Phương thức cho vay: từng lần
Phương thức trả tiền vay: vốn lãi trả cuối kỳ
- Hồ sơ vay vốn:
theo mẫu của Sacombank
Trang 8Biểu đồ dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán và BĐS của NH
* Nghiệp vụ thấu chi
Thấu chi là một nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động nhằm cân đối ngân quỹ hàng ngày trên tài khoản vãng lai của khách hàng
Nghiệp vụ thấu chi được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được dư
nợ tài khoản vãng lai một số lượng tiền nhất định và trong một thời gian nhấtđịnh
Quy trình nghiệp vụ thấu chi:
+ Khách hàng và ngân hàng ký hợp đồng tín dụng, trên hợp đồng này phải thỏa thuận được hạn mức tín dụng, thời hạn vay, lãi suất vay, đảm bảo tiền vay (nếu có), hướng sử dụng tiền vay …
+ Tài khoản sử dụng là tài khoản vãng lai
Tài khỏa vãng lai là tài khoản mà ngân hàng mở cho khách hàng để ghi chépnghiệp vụ gửi tiền và rút tiền của khách hàng Khi rút tiền lớn hơn gửi tiền (tức là tài khoản vãng lai dư nợ) thể hiện nghiệp vụ thấu chi
+ Ghi chép và hạch toán:
Trang 9Ngày xuất, nhập là ngày ghi chép các nghiệp vụ phát sinh Căn cứ vào ngày phát sinh nghiệp vụ để xác định “ngày giá trị” Căn cứ vào “ngày giá trị” tổng dư nợ và tổng dư có được xác định, đó là cơ sở để tính lãi.
+ Lãi suất:
Hai loại số dư nợ và có được tính riêng sau đó bù trừ Nếu dư nợ và dư có ápdụng cùng một lãi suất gọi là “lãi suất qua lại”
Nếu lãi suất dư có nhỏ hơn lãi suất dư nợ gọi là “lãi suất chênh lệch” Nếu
áp dụng lãi suất cố định trong một thời gian dài gọi là “lãi suất bất biến”.Ngoài phần lãi phải trả, khách hàng còn phải trả một số khoản phí như phí quản lý tài khoản, hoa hồng phí, phí tất toán …
+ Thu nợ: Mỗi lần khách hàng có thu, hạch toán vào bên có tài khoản vãng lai, coi như khách hàng trả nợ ngân hàng
Ngân hàng luôn kiểm tra số dư nợ để không vượt quá hạn mức và thời gian
sử dụng mà khách hàng đã ký trong Hợp đồng tín dụng Trường hợp xuất hiện khả năng thanh toán yếu ở khách hàng, ngân hàng sẽ hạn chế và có thể đình chỉ cho vay
Mọi trường hợp không thanh toán được nợ đúng hạn, khách hàng đều bị xử
lý như các trường hợp nợ quá hạn khác
* Tín dụng uỷ thác thu hay bao thanh toán : là các dịch vụ do các công ty
con của Ngân cam kết mua lại các khoản thanh toán chưa tới hạn phát sinh
từ những hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hoá dịch vụ với giá chiết khấu Các khoản nợ này thường là ngắn hạn (từ 30 đến 120 ngày) Về mặt
được xếp chung với cho vay chiết khấu vì:
-Đối với chiết khấu thương phiếu có sự khống chế về hạn mực còn với bao thanh toán thì không
- NH sẽ quy định danh mục các giấy tờ có giá được chiết khấu nhưng với bao thanh toán thì không
Nghiệp vụ này giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh chóng Ngân hàng thu được lãi do chênh lệch giá thanh toán và giá mua chứng từ nợ Tuy nhiênnghiệp vụ này cũng gặp nhiều rủi ro
* Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng
của cá nhân Tuỳ thuộc vào tình hình tài chính của mình mà người vay có nhu cầu vay khác nhau Tín dụng tiêu dùng chủ yếu tài trợ cho việc mua sắm, sửa chữa, cải tạo , nâng cấp nhà ở, xe hơi, xe máy, đồ dùng sinh hoạt đắt tiền…
- Điều kiện cho vay: Để vay được tiền khách hàng phải chứng minh nguồn thu nhập ổn định , có tính thuyết phục và có đầy đủ căn cứ của mình Căn cứvào nhu cầu vay và thu nhập , chi dùng tối thiểu hàng tháng, ngân hàng
Trang 10thương mại cho vay định kỳ hạn trả góp hàng tháng hoặc hàng quý, hoặc 6 tháng 1 lần Ngân hàng giữ giấy tờ bản chính tài sản đã qua đăng kí giao dịch đảm bảo và công chứng theo luật định.
Cho vay tiêu dùng kích thích tiêu dùng trong xã hội, thúc đẩy chu chuyển hàng hoá và dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đa dạng hoá dịch vụ ngânhàng, phân tán rủi ro trong cho vay
Biểu đồ tăng trưởng vốn và cho vay trên địa bàn tp HCM
3/ Nghiệp vụ đầu tư:
Đầu tư vào chứng khoán là hình thức phổ biến trong nghiệp vụ tài sản có củaNHTM và các tổ chức tín dụng Ngân hàng có thể đầu tư vào trái khoán Chính phủ hoặc trái khoán công ty để thu lợi tức đầu tư, do đó mang lại thu nhập cho ngân hàng Nghiệp vụ này cũng nâng cao khả năng thanh toán cho ngân hàng, bảo tồn ngân quỹ, đặc biệt khi đầu tư vào trái khoán chính phủ vìloại trái khoán này có tính lỏng cao Đồng thời nó còn làm đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ở Việt Nam, theo luật các Tổ chức tín dụng, ngoài việc đầu tư vào trái khoán, các tổ chức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trự để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp
và của các tổ chức tín dụng khác
4/ Nghiệp vụ kinh doanh khác: góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư tài sản cố định…
II Nghiệp vụ tài sản nợ:
Tài sản nợ diễn tả những khoản mà ngân hàng thưong mại mắc nợ thị trường hay nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại Trong đó , nguồn vốn hoạt động bao gồm cả khoản vốn huy động được từ người người
Trang 11gửi , vốn tự có và cách khoản vốn cổ phần , lợi nhuận trước thuế hay tài sản ròng
Nghiệp vụ tài sản nợ phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ tài sản nợ gồm có nghiệp vụ tạo vốn và nghiệp vụ huy động vốn khác
1/ Nghiệp vụ tạo vốn :
1.1Nghiệp vụ tiền gửi :
Theo điều 45 Luật các TCTD số 03/1997/QH10 : Ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi từ các tổ chức kinh tế , cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn , tiền gửi ko kỳ hạn và tiền gửi khác -Nghiệp vụ tiền gửi là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào ngân hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà
từ đ ó ngân hàng thương mại có thể huy động và sử dụng vào kinh doanh Các loại tiền gửi bao gồm :
a ) Tiền gửi không kỳ hạn : đây là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra
sử dụng bất kì lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn điều kiện đó của khách hàng Tiền gửi ko kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc ko phải trả lãi Tiền gửi ko kỳ hạn còn gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi ko kỳ hạn thuần tuý
- Tiền gửi thanh toán : Đó là khoản tiền gửi để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hoá , dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách an toàn , tiện lợi
+ Việc rút tiền , chi trả cho bên thứ 3 thường được thực hiện bằng séc haychuyển khoản
+ Tiền gửi không kỳ hạn là 1 khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ độngtrả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý : là khoản tiền được ký gửi với mục tiêu
an toàn tài sản , không mang tính chất phục vụ thanh toán Khi cần khách hàng có thể rút ra để chi tiêu Giống trường hợp trên , ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép chovay khoản tồn chi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả
* Tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn vốn quan trọng của NH Tuy nhiên dongười gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thường xuyên
có biến động, vì vậy NH chủ yêu dùng nó để cho vay ngắn hạn
b ) Tiền gửi có kỳ hạn :
Đây là loại tiền gửi có thoả thuận trứơc giữa khách hàng và ngân hàng vềthời gian rút tiền
Ở Việt Nam , tiền gửi có kỳ hạn được thể hiện dưới hình thức phát hành
kỳ phiếu ngân hàng có mục đích , thời hạn 3 tháng , 6 tháng … Lý do là các