NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ1.1: CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ1.1.1: Mô tả môn học Kinh tế vĩ mô là môn học kinh tế học căn bản cung cấp cho sinh viên kiếnt
Trang 1CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
MSSV : LỚP :
Thanh Hóa, tháng 02 năm 2013
Trang 2LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1: Lý do chọn đề tài 1
2: Mục tiêu nghiên cứu 1
3: Đối tượng nghiên cứu 1
4: Phạm vi nghiên cứu 1
5: Phương pháp nghiên cứu 1
6: Kết cấu chuyên đề 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ 3
1.1: CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ 3
1.1.1: Mô tả môn học 3
1.1.2: Hệ thống kinh tế vĩ mô 3
1.1.3: Vị trí và mục đích của môn học 4
1.1.4: Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu 4
1.2: CHƯƠNG 2: HẠCH TOÁN THU NHẬP QUỐC DÂN 6
1.2.1: Khái niệm hạch toán thu nhập quốc dân 6
1.2.2: Hố cách GDP và số nhân 6
1.2.3: Điều chỉnh hố cách: 7
1.3.1: Khái niệm về lạm phát - thất nghiệp 7
1.3.2: Chỉ số đo lường lạm phát 7
1.3.3: Nguyên nhân đưa đến lạm phát 8
1.3.4: Tác hại của lạm phát đối với kinh tế 9
1.3.5: Thất nghiệp 10
1.4: CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH 10
Trang 41.5: CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ NGÂN HÀNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
11
1.6: CHƯƠNG 6: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 12
1.7: CHƯƠNG 7: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 13
1.8: TÓM TẮT CHƯƠNG 1 14
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16
2.1: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 16
2.1.1: Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 16
2.2: NHẬN XÉT TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ 18
2.2.1: Tác động của lạm phát tới lĩnh vực sản xuất 18
2.2.2: Tác động hoạt động của ngân hàng 18
2.2.3: Ảnh hưởng của lạm phát tới đời sống của người dân 19
2.3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KIẾM CHẾ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 20
2.4: TÓM TẮT CHƯƠNG 2: 23
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ .24
3.1: GIẢNG DẠY MÔN HỌC 24
3.1.1: Giáo trình, tài liệu môn học, giảng dạy 24
3.1.2: Cơ sở vật chất 24
3.1.3: Tính thực tiễn, thiết thực của môn học 25
3.3: TÓM TẮT CHƯƠNG 3 26
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU1: Lý do chọn đề tài
Trong suốt 3 năm học chúng ta đã được học rất nhiều môn từ căn bản đếnchuyên ngành, mỗi môn học đều mang lại cho chúng ta những kiến thức quantrọng tạo nền tảng vững chắc, trang bị kiến thức cho chúng ta để làm việc thực
tế Trong đó em thích nhất là môn học kinh tế vĩ mô Bởi Môn kinh tế vĩ môcung cấp các kiến thức nền về kinh tế học trước khi chúng ta học các mônchuyên ngành kinh tế và qua môn học sẽ giúp cho chúng ta biết được mô hìnhnền kinh tế quốc dân và hoạt động của nền kinh tế Ngày nay nền kinh tế trênthế giới nó chung và nước ta nói riêng luôn gặp phải những vấn đề lạm phát, suythoái, thất nghiệp vì vậy các doanh nghiệp nên có một cái nhìn đúng đắn vềnền kinh tế để hoạch định chiến lược phát triển cho doanh nghiệp của mình
Chính vì vậy, em chọn môn học kinh tế vĩ mô làm chuyên đề môn học, một
môn học thú vị
2: Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về kinh tế vĩ mô
- Phân tích thực trạng tình hình lạm phát ở nước ta
- Đưa ra một số giải pháp để khắc phục tình trạng lạm phát
3: Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu môn học kinh tế vĩ mô
- Tình hình lạm phát ở nước ta
4: Phạm vi nghiên cứu
- thời gian thực hiện: từ 5/11/2011 đến 5/12/2011
- phạm vi nghiên cứu : tình trạng lạm phạt ở nước ta, các số liệu của cụcthống kê từ nam 2008 đến nay
5: Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thống kê
Trang 6- Phương pháp diễn dịch
6: Kết cấu chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, mục lục đề tài gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Tổng quan về môn học kinh tế vĩ mô
- Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình lạm phát ở Việt Nam
- Chương 3: Nhận xét và đánh giá môn học
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ1.1: CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ
1.1.1: Mô tả môn học
Kinh tế vĩ mô là môn học kinh tế học căn bản cung cấp cho sinh viên kiếnthức đại cương về mô hình nền kinh tế quốc dân và hoạt động của nền kinh tế.Nội dung môn học gồm cách tính tổng sản lượng quốc gia; sản xuất và tăngtrưởng; tổng chi tiêu và sản lượng quốc gia; những dao động của tổng chi tiêu;tổng cầu và tổng cung; tiền tệ, ngân hàng, giá cả và lãi suất; cung-cầu lao động
và thất nghiệp; lạm phát; chính sách tài chính và chính sách tiền tệ và tìm hiểu
về tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán
Kinh tế vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặcđiểm,cấu trúc và hành vi của cả một nền hinh tế nói chung kinh tế học vĩ mô vàkinh tế học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học
Kinh tế vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học nghiên cứu sự vận đông và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên binh diện toàn bộ nền kinh tế cuốc dân
1.1.2: Hệ thống kinh tế vĩ mô
Có nhiều cách mô tả hoạt đông của nền kinh tế.theo cách tiếp cạn hệthống,nền kinh tế được xem như một hệ thống – gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô.hệthống này như P.A samuelson mô tả - được đặc trưng bởi 3 yếu tố:đầu vào,đầu
ra và hộp đen kinh tế vĩ mô
Các yếu tố đầu vào bao gồm:
- Những tác động từ bên ngoài,bao gồm chủ yếu là các biến số phi kinhtế.thời tiết ,dân số,chiến tranh…
- Những tác động chính sách,bao gồm các công cụ của nhà nước nhằm điềuchỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô,hướng tới các mục tiêu đã định trước
Trang 8Các yếu tố đầu ra bao gồm:
- Sản lượng,việc làm ,giá cả,xuất – nhập khẩu.đó là các biến do hoạt độngcủa hộp đen kinh tế vĩ mô tạo ra
- Yếu tố trung tâm của các hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô,còn foij là nềnkinh tế vĩ mô.hoạt động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng củacác biến đầu ra.hai lực lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô
là tổng cung và tổng cầu
1.1.3: Vị trí và mục đích của môn học
Môn kinh tế vĩ mô cung cấp các kiến thức nền về kinh tế học trước khi sinhviên học các môn chuyên ngành kinh tế Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô là mônhọc kinh tế đại cương nền tảng cho các môn kinh tế ứng dụng và các môn vềkinh tế kinh doanh được dạy cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, phát triển
Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế
1.1.4: Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu
Để đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên,Nhà nước có thể sử dụngnhiều công cụ chính sách khác nhau.mỗi chính sách lại có những công cụ riêng biệt.dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu thường sử dụng trong lịch sử lâu dài và đa dạng của họ
Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính phủ để
Trang 9hướng nền kinh tế vào một mức sản lượng và việc làm mong muốn.
Chính sách tài khóa có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế.chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp với quy mô chi tiêu công cộng,do đó có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lượng.thuế làm giảm các khoản thu nhập ,do đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân,từ đó cũng tác động đến tổng cầu và sản lượng.thuế khóa cũng có thể tác động đến đầu tư và sản lượng về mặt dài hạn
Trong thời gian ngắn ,1 đến 2 năm,chính sách tài khóa có tác động đến sản lượng thực tế và lạm phát ,phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế
Về mặt dài hạn chính sách tài khóa có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế,giúp cho tăng trưởng và phát triển lâu dài
Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chủ yếu nhằm tác động đến đầu tư tư nhân,hướng nền kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mong muốn
Chính sách tiền tệ có hai công dụng chủ yếu là cung ứng tiền tệ và lãi
suất.khi ngân hàng trung ương thay đổi cung tiền lãi suất sẽ tăng hoặc giảm,tác động đến đầu tư tư nhân ,do vậy ảnh hưởng tới tổng cầu và sản lượng
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thực tế về mặt ngắn hạn,song đó tác động đến đầu tư,nên nó cũng có ảnh hưởng đến GNP tiềm năng về mặt dài hạn
Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các biện pháp(công cụ) mà chính phủ sử dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền công,giá cả để kiềm chế lạm phát.Chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ,từ các công cụ có tính chất cứng rắn như đồng giá,đồng lương,những chỉ dẫn chung để ấn định tiền công và giá cả,những quy tắc pháp lý ràng buộc sự thay đổi giá cả và tiền lương….đến những công cụ mềm dẻo hơn như việc hướng dẫn,khuyến khích bằng thuế thu nhập…
Trang 10 Chính sách kinh tế đối ngoại
Chính sách kinh tế đối ngoại trong các nền kinh tế mở là nhằm ổn định tỷ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được
Chính sách này bao gồm các biện pháp giữ cho thị trường hối đoái cân băng,các quy định về hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch, và cả những biện pháp tài chính và tiền tệ khác,tác động vao hoạt động xuất khẩu
Trên đây là tập hợp các chính sách và công cụ chính sách chủ yếu mang sắc thái lý thuyết phù hợp với nền kinh tế thị trường đã phát triển
Trong thực tế biểu hiện và sự vận dụng các chính sách nay rất đa dạng ,đặc biệt là các nước đang phát triển
1.2: CHƯƠNG 2: HẠCH TOÁN THU NHẬP QUỐC DÂN
1.2.1: Khái niệm hạch toán thu nhập quốc dân
“Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng do công dân của một nước sản xuất ra trong khoảng thời gian nhất định,thường là một năm”.
Hệ thống kế toán thu nhập quôc dân là thước đo của tổng sản phẩm và thunhập hàng năm Nó cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế cũng như việchiểu biết về các thành phần kinh tế tác động với nhau như thế nào Phương pháp
đo toàn diện nhất đối với sản phẩm của chúng ta là GDP và GNP Sự khác biệtgiữa GDP và GNP đó là : GDP là giá trị tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùngđược sản xuất trên lãnh thổ một nước, còn GNP là giá trị tất cả hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng do công dân 1 nước sản xuất ra
1.2.2: Hố cách GDP và số nhân
Hố cách GDP: sự khác biệt hay chênh lệch giữa chi tiêu ở mức GDP cân
bằng với GDP ở mức toàn dụng
Hố cách suy thoái: chênh lệch của mức chi tiêu mong muốn theo sản lượng
toàn dụng thấp hơn mưc sản lượng toàn dụng
Trang 11Hố cách lạm phát: chênh lệch cua mức chi tiêu mong muốn theo mức sản
lượng toàn dụng vượt qua mức sản lượng toàn dụng
Số nhân đơn giản: là số nhân theo đó một sự thay đổi ban đầu của chi tiêu
sẽ tạo ra một sự thay đổi chi tiêu được hình thành sau một loạt các vòng chi tiêukéo theo
1.2.3: Điều chỉnh hố cách:
Theo quan điểm của Keynes cần có sự can thiệp của chính phủ
Theo quan điểm cổ điển không cần sự can thiệp của chính phủ
GDP là chỉ tiêu tốt về phúc lợi kinh tế nhưng nó không phải là chỉ tiêu hoànhảo về phúc lợi Vì một số yếu tố tốt đẹp như thời gian nghỉ ngơi sẽ bị loại bỏ rakhỏi GDP Tổng Thu nhập của các gia đình, công ty, chính phủ cung cấp sứcmua để mua sản phẩm Khi sức mua được sử dụng, GDP cũng được sáng tạothêm và quá trình sản xuất mới được tiếp tục
1.3: CHƯƠNG 3 : CHÚNG TA CÙNG NHAU TÌM HIỂU VỀ LẠM PHÁT – THẤT NGHIỆP
1.3.1: Khái niệm về lạm phát - thất nghiệp
Lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền Điều này cũng đồngnghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùngmột số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả mộtgiá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ Một khái niệm khác về lạm phát là khốilượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hànhthêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngânsách v.v ) Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầmtrong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêulạm phát Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trongnhững năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng,
có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thếchiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng
Trang 121.3.2: Chỉ số đo lường lạm phát
Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index): Đây là chỉ số giá
thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu Mang so sánh với thời
kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào Chỉ số PPI tuy có thể là dấu báohiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra
Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI (Consumer Price Index): chỉ số giá cả của một
số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sựđang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước đó Ảnh hưởng của lạm phát đối vớinền kinh tế Lạm phát khó có thể là một điều tốt lành cho nền kinh tế trừ trườnghợp ở mức độ nhẹ và trong tầm kiểm soát của chính phủ Ví dụ, hàng năm chínhphủ có thể phát hành thêm một lượng tiền mới để tiêu xài cho những chươngtrình công cộng hoặc giải quyết thiếu hụt ngân sách khiến đồng tiền được xoayvòng tạo ra thêm của cải, trực tiếp đẩy cao tổng sản lượng quốc dân GDP (GrossDomestic Product) lên thêm một mức Dĩ nhiên nếu quá đà sẽ có nguy cơ gây ralạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm các hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt.Nhiều người quan niệm việc chính phủ in thêm tiền trong giới hạn cho phép củanền kinh tế là một hình thức thu “thuế lạm phát” Chính phủ sử dụng khoản phụtrội này để quân bình ngân sách với hi vọng sang năm kinh tế tiếp tục phát triển
sẽ được nộp ngân sách nhiều hơn Một chút lạm phát cũng khiến doanh nghiệpkiếm thêm lợi nhuận vì thông thường từ khâu nhập nguyên liệu (giá trước lạmphát) đến lúc hoàn thành sản phẩm bán được cao giá hơn cũng tốt thêm chodoanh vụ
Ngoài những trường hợp kể trên, bao giờ lạm phát cũng có ảnh hưởng xấuđối với kinh tế Tỉ lệ lạm phát bao nhiêu là vừa phải cũng tùy thuộc vào tìnhhình phát triển kinh tế của từng nơi, đặc điểm của nền kinh tế của từng quốc giakhác nhau Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn
tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh
Trang 13tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát caohơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%)
1.3.3: Nguyên nhân đưa đến lạm phát
Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân đưa đến lạm phát, trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhậnhơn cả với “mô hình tam giác” nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên nhân của nó:
• Lạm phát do nhu cầu tăng (Demand-pull inflation).Lạm phát do nhu cầu
sản xuất và dịch vụ (gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trongkhi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp Còn gọi là Phillips Curve - đường cong Phillips.Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽgây lạm phát
• Lạm phát do đột biến giá cả (Cost-push inflation).Giá cả một số nguyên
vật liệu trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạmphát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo
• Lạm phát sẵn có tự nhiên (Built-in inflation).Lạm phát sẵn có, liên quan
đến hiện tượng “vòng xoắn giá/lương” (price/wage spiral) nghĩa là hiện tượngcông nhân luôn luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộcphải trả thêm vì không tìm đâu ra công nhân nữa, kinh tế phát triển nên ai cũng
có công ăn việc làm cả rồi Người chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này quangười tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm lên Công nhân, đồng thời là người tiêuthụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùnggây ra lạm phát Cả ba dạng này có thể cộng hưởng và tạo ra mức lạm phát hiệnhành của nền kinh tế của một quốc gia
1.3.4: Tác hại của lạm phát đối với kinh tế
Đối với các quốc gia đang phát triển, tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủđịnh (negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăng trưởng kinh tế Ví
dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4%
Trang 14nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3% Như vậy, trung bình người dân có thu nhậpcao hơn 8.4% nhưng đời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi nhưcũng không tích lũy được gì Tiêu chuẩn đời sống không được cải thiện baonhiêu Nếu không có biện pháp ngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máykinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt động sản xuất nữa vì không có lợinhuận Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và chuyển tài sản thành kimloại quý hay ngoại tệ mạnh để tránh lạm phát Điều này rõ ràng không có lợi cho
sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinh tế
Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đãchuyển qua dạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình 3bước:
- Lạm phát
- Giảm phát
- Suy thoái kinh tế
1.3.5: Thất nghiệp
Là tình trạng người trong lực lượng lao động không tìm được việc làm
Sự mất mát kinh tế vĩ mô do nạn thất nghiệp gây ra là sản lượng hàng hóa vàdịch vụ bị giảm sút Luật Okun giả thiết rằng cứ 1% thất nghiệp sẽ làm giả sút2% sản lượng Cái giá mà con người phải trả cho thất nghiệp không chỉ bao gồmcác mất mát tài chính ngoài ra còn bao gồm cả những sự trả giá về tâm lý, thểchất và xã hội
Muốn giảm thất nghiệp chu kỳ cần áp dụng chính sách chống suy thoái,muốn giảm thất nghiệp tự nhiên cần phải tạo thuận lợi cho người lao động trongquá trình tìm viêc
Luôn luôn có sự đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp nhưngkhông có sự đánh đổi trong dài hạn
1.4: CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
Chính sách tài chính là khái niệm dùng để chỉ việc chính phủ thay đổi chi
Trang 15tiêu hoặc thuế để ổn định hoạt động của nền kinh tế Chính sách tài chính bao
gồm 2 công cụ là chi tiêu và thuế
Thất bại vĩ mô xảy ra khi các mức chi tiêu mong muốn không bằng với giátrị sản xuất ở điều kiện làm việc đầy đủ gây ra thất nghiệp và lạm phát Việc chitiêu của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoài thu nhập và thunhập hiện có Việc tiết kiệm của người tiêu dùng biểu hiện bằng sự rò rỉ củaluồng luân chuyển Đó là nhừng luồng tiền không quay lại thị trường sản phẩm,thuế và nhập khẩu cũng làm rò rỉ tiền ra khỏi nền kinh tế Những khoản rò rỉ đóđược bù lại bằng các khoản đầu tư, chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu Mất cânbằng trong chi tiêu sẽ gây ra lạm phát và thất nghiệp, không có sự điều chỉnh tựđộng nào để trở lại mức việc làm đầy đủ
Chính sách thuế của chính phủ không trực tiếp tác động lên tổng cầu, nógián tiếp làm thay đổi tổng cầu thông qua việc làm thay đổi hành vi của khu vực
tư nhân Khi chính phủ thay đổi thuế thì tác động đầu tiên của nó là làm thay đổithu nhập sử dụng của mọi người
Theo lý thuyết Keynes, nền kinh tế không thể tự cân bằng và ổn định đượcchính vì vậy cần có sự can thiệp của chính phủ Những chính sách tài chính củachính phủ đề cập tới cách dùng thuế và chi tiêu chính phủ như thế nào để đạtđược kết quả vĩ mô như mong muốn Mục tiêu của chính sách tài chính là lấpđầy khoảng cách GDP, khi sử dụng chính sách tài chính thì ngân sách của chínhphủ có thể thăng dư, thâ hụt hay cân bằng một cách ngẫu nhiên.Trong thực tế,đôi khi chính sách tài chính sẽ gây ra sự khó khăn trong nền kinh tế chính vì vậymột số nhà kinh tế cho rằng nên sử dụng cơ chế tự ổn định như thuế và trợ cấp
để hạn chế phần nào sự biến động của nền kinh tế
1.5: CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ NGÂN HÀNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Tiền: Một cách khái quát, là những gì được thừa nhận chung để làm trung
gian cho việc mua bán hàng hóa.
Sử dụng tiền: Trung gian trao đổi, dự trữ giá trị, đơn vị tính toán
Trang 16Loại tiền: Tiền hàng, tiền pháp lệnh
Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ đảm nhận chức năng cơ bản trong việctạo thuận lợi cho việc trao đổi và chuyên môn hóa, do vậy cho phép tăng sảnlượng Ngân hàng trung ương có năng lực tạo ra tiền tệ bằng cách cho vay.Trong việc cấp các khoản vay, ngân hàng tạo nên các khoản tiền gửi giao dịchmới mà chúng sẽ trở thành một phần của cung tiền tệ Tiềm năng tạo tiền củamỗi ngân hàng đều bị giới hạn bởi các qui định của chính phủ Ngân hàng TWkiểm soát tiền tệ của mỗi quốc gia bằng 3 công cụ cơ bản đó là tỷ lệ dự trữ bắtbuộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở
Theo quan điểm của phái Keynes, nhu cầu về tiền là quan trọng Nhu cầunày phản ánh mong muốn giữ tiền cho các mục đích giao dịch, đầu tư và dựphòng Tác động qua lại giữa cung và cầu tiền tệ quyết định lãi suất cân bằng.Chính sách tiền tệ là khái niệm dùng để chỉ việc chính phủ thay đổi cungtiền hoặc lãi suất để ổn định hoạt động của nền kinh tế Cơ quan hoạch địnhchính sách tiền tệ là chính phủ hoặc ngân hàng TW, nhưng cơ quan thực thichính sách tiền tệ luôn luôn là ngân hàng TW
Sự gia tăng cung ứng tiền làm giảm lãi suất cân bằng, ngược lại giảm cungứng tiền sẽ làm tăng lãi suất cân bằng Để chính sách tiền tệ phát huy hết tácdụng, lãi suất phải thể hiện được hết những thay đổi trong cung tiền và chi tiêuđầu tư phải phản ứng được với những thay đổi trong lãi suất Không có điềukiện nào được đảm bảo Trong tính trạng bẫy thanh khoản, người ta muốn giữtiền không hạn chế ở mức lãi suất thấp nào đó Lãi suất sẽ không giảm xuốngmức thấp này khi cung tiền tăng cao Hơn nữa kỳ vọng của nhà đầu tư sẽ làmthay đổi quyết định đầu tư
Để chống thất nghiệp, chính phủ cũng có thể sử dụng chính sách tiền tệ.Trong trường hợp này chính phủ phải thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng,thông qua việc mua trái phiếu chính phủ, giảm lãi suất chiết khấu hoặc cắt giảm
tỷ lệ dự trữ bắt buộc Tuy nhiên, họ phải trả giá cho thành công này bằng mức