Hệ thống thị trường tài chính là một cơ cấu hết sức phức tạp, một trong những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính là thị trường chứng khoán, mặc dù vai trò c
Trang 1UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước
TTGDCK : Thị trường giao dịch chứng khoán
Trang 2Phần 1 : Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài chuyên đề , môn học
Hệ thống thị trường tài chính luôn được xem là trung tâm của nền kinh tếquốc dân Nó được xem như là một trái tim hoạt động không mệt mỏi để bơm vốn từ nơi thị trường thừa đến nơi thiếu, giúp hoạt động kinh tế trong toàn xã hội diễn ra một cách suôn sẻ với hiệu suất cao nhất
Hệ thống thị trường tài chính là một cơ cấu hết sức phức tạp, một trong những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính là thị trường chứng khoán, mặc dù vai trò của thị trường chứng khoán chỉ thể hiện khi các giao dịch trên thị trường diễn ra
Chính vì điều này, mà em nghĩ rằng thị trường chứng khoán cần một thị trường nóng bỏng và có nhiều triển vọng đi lên Nó không chỉ là một kênh huy động vốn có hiệu quả cho hoạt động đầu tư trong nền kinh tế
mà còn là nhân tố thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế diễn ra suôn xẻ hơn Vì vậy em chọn Đề tài “đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán của việt nam hiện nay”
2 Mục đích và phương pháp viết chuyên đề
Trang 3Mục đích:
- Làm rõ hơn về tình hình chứng khoán của việt nam những năm gần đây
- Hệ thống hóa , tóm tắt sơ lược về thị trường chứng khoán trong nước
- Mạnh dạn đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hoạt động của thị trường Nhằm tìm hiểu sâu hơn về thị trường chứng khoán và tăng thêm khả năng tự nghiêm cứu, tích lũy một số kiến thức cần thiết cho việc là chuyên đề
phương pháp nghiên cứu như:
Trong quá trình tìm hiểu và làm bài chuyên đề, các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng là phương pháp luận duy vật biện chứng,
phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê… Ngoài ra, trong bài còn sử dụng một số biểu, bảng để minh họa và một số phương pháp khác
3 Nội dung chuyên đề
- Đối tượng nghiêm cứu: Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt
Nam, hoạt động đầu tư chứng khoán và một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của thị trường chứng khoán
Phần 1: Thực trạng về thị trường ngoại hối của việt nam hiện nay
Phần 2: một số giải pháp nâng cao chất lượng thị trường chúng khoán
Phần 3: kết luận
- Phạm vi nghiêm cứu: Tìm hiểu về môn thị trường tài chính cụ thể là vấn đề về thị trường chứng khoán của việt nam trong những năm gần đây
Phần 2 : Nội dung
Chương 1: Giới thiệu về môn học
1.1 Giới thiệu chung về môn học
Trang 4Thị trường tài chính là môn học thuộc kiến thức chuyên ngành đối với sinh viên chuyên ngành kế toán, tài chính ngân hàng Học phần cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản chung
về cơ sở lý luận như; bản chất chức năng, vai trò, các công cụ hoạt dộng trên thị trường tài chính và diễn biến thị truongf tài chính của nước ta trong thời gian gần đây khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới- WTO
Giáo trình được biên soạn bởi PGS.TS Phan Thị cúc- Trưởn khoa tài hính – kế toán và TS Nguyễn Trung Trực – Trưởng bộmôn tài chính doanh nghiệp đã đồng chủ biên giáo trình Thị Trường Tài Chính
1.2 Những kiến thức chính trong môn học thị trường tài chính1.2.1 Thị trường tài chính
a Cơ sở hình thành thị trường tài chính
Nền kinh tế thị trường là nơi gặp gỡ của không những các nguồn cung cầu hàng hóa mà còn diễn ra các quan hệ điều tiếtvốn, giao lưu giữa những nguồn cung cầu về vốn, nhu cầu vốn Sự kết nối giữa cung và cầu về vốn được thực hiện dưới nhiều hình thức
- Hình thức giản đơn nhất và cũng tồn tại lâu đời là những quan hệ vay mượn trực tiếp giữa các tầng lớp dân cư hoặc doanh nghiệp Song với hình thức này qui mô vớn vận động không lớn và phạm vi điều tiết vốn không rộng vì chủ yếu chỉ diễn ra trên cơ sở quen biết và tín nhiệm giữa hai chủ thể trong quan hệ tín dụng
- Hình thức thứ hai tương dối phổ biến đó là sự ra đời và phát triển của các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính Hoạt động của các tổ chức này thật sự là nhịp cầu giao lưu giữa cung và cầu vốn vì chúng vừa là người đi vay và người cho vay Cùng với sụ phát triển kinh tế, các ngân hàng đã mở rộng quy mô hoạt động với số lượng chi nhánh ngàycàng tăng và trỏ thành trung tâm tín dụng quan trọng của nền kinh tế
- Hình thức thứ ba được phát triển khi mà chủ thể đại diện cho nhu cầu vốn đầu tư khồn muốn thông qua các tổ chức tài chính trung gian mà
họ sẽ chủ động tìm kiến nguồn vốn đầu tư bổ sung bằng cách phát
Trang 5hành các chứng từ có giá Phát triển lớn nhất là các tờ công trái do ngân sách phát hành đề huy động vốn nhằm thoản mãn nhu cầu chi vàsau này khi các nhà doanh nghiệp cần tập trung vốn đầu tư thì các loại
cổ phiếu, trái phiếu ra đời và ngày càng nhiều trong nền kinh tế
Trên thực tế một thị trường giao dịch các laoij chứng từ có giá đã hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ mà người ta đã dùng thuật ngữ; Thị trường tài chính để mô tả về thị trường của các lọa tiền tệ được giao như là một loại hàng hóa, trong đó thị trường các chứng từ có giá được xem là hình thức phát triển cao của thị trường tài chính và là sản phẩm đặc trưng duy nhất của nền kinh tế thị trường
b Khái niệm
Thị trường tài chính là thị trường trong đó các loại vốn ngấn hạn, trung hạn, dài hạn được chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế xã hội, là nơi trao đổi, mua bán các loại hàng hóa tài chính như tiền mặt, cổ phieus, trái phiếu, các chứng từ có giá,… giữa các chủ thể trong nền kinh tế
Nói cách khác: Thị trường tài chính là nơi diễn ra việc trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định
- Các yếu tố của thị trường tài chính:
yếu tố cơ bản: Gồm 3 yếu tố
Đối tượng của thị trường tài chính; đó là những nguồn cung và nguồn cầu về vốn trong xã hội của các chủ thể kinh tế như nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các hộ giai đình và
cá nhân
Công cụ tham gia trên thị trường tài chính; đây là nguồn sống cho hoạt động của thị trường bao gồm các lọa chứng từ có giá trị như công trái nhà nước phát hành, chứng khoán…
Chủ thể tham gia trên thị trường tài chính; đây là những pháp nhân hay thể nhân đại diện cho những nguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi tahm gia trên thị trường tài chính
Yếu tố cấu thành: Gồm 4 yếu tố
Trang 6 Yếu tố hàng hóa; thị trường tài chính là thị trường mua bán các loại hàng hóa hàng hóa tài chính.
Yếu tố cung; trong thị trường tài chính, hoạt dộng cảu các nhà đầu tư góp vốn vào công ty cổ phần dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp được diễn ra thườngxuyên và liên tục
Yếu tố cầu; trong thị trường tài chính, các nhà đầu tư cầu hàng hóa tài chính từ các công ty trên thị trường tài chính
Yếu tố cơ sở hạ tầng của thị trường; là nơi diễn ra việcmua bán trao đổi giữa nhà đầu tư và công ty cổ phần các hàng hóa tài chính, trong đó sở giao dịch chứng khoán là nơi giao dịch chính thức, người ta gọi đây là
là cơ sở hạn tầng cứng của thị trường
c Phân loại thị trường tài chính
• Căn cứ theo phương thức huy động nguồn vốn
o Thị trường nợ; là thị trường mà chủ thể huy động nguồn tài chính bằng cách đưa
ra công cụ vay nợ và thanh toán một khoản tiền cố định trong khoảng thời gian điều đặn cho tới thời điểm quy định trước
o Thị trường vốn cổ phần; là thị trường mà các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua phương thức phát hành cổ phiếu
• Căn cứ vào sự luân chuyển của các nguồn tài chính
o Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính trong đó, những hứng khoán phát hành lần đầu được phát hành bán cho người đầu tiên mua
o Thị trường thứ cấp là thị trường trong đó thựhiện giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Trang 7• Căn cứ vào nguồn thời gian sử dụng tài nguồn tài chính huy động được.
o Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính ngắn hạn, trên thị trường có các công nợ ngắn hạn được mua bán
o Thị trường vốn là thị trường tài chính dài hạn, trên thị trường có các công cụ nợ dài hạn và cổ phiếu được mua bán
d Chức năng của thị trường tài chính
• Chức năng trung gian dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có nguồn tài chính nhàn rỗi chưa
sử dụng đến những chủ thể cần nguồn tài chính
• Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán; các chứng khoán được mua bán, trao đổi trên thị trường, có thể dễ dàng chuyển đổi thàng tiền hoạc các chứng từ có giá khác trên thị trường
• Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị doanh nghiệp; thị truongf tài chính cung cấp các thông tin liên quan đến cung cầu từng loại chứng khoán trong những thời điểm nhất định như tình hình hoạt động của doanh nghiệp, chính sách tài chính – tiền tệ của nhà nước, tình hình kinh tế thế giới… bằng những phương tiện kỹ thuật thông tin hiện đại
e Vai trò của thị trường tài chính trong nền kinh tế thị trường
Với hai bộ phận cấu thành chủ yếu là thị trường tiền tệ và thịtrường vốn, thị trường tài chính đã thật sự đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường
• Thứ nhất; thị trường tài chính là trung tâm điều tiết cung nguồn vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu Thực hiện vai trò này thị trường tài chính là nơi đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, là nơi dừng của những nguồn
Trang 8vốn nhàn rỗi Thị trường tài chính đã tạo môi trường thuận lợi đẻ dung hòa các lợi ích kinh tế khác nhau; người đi vay có điều kiện thu hút vốn và người cho vay có thể sinh lời cho lượng tiền tiết kiệm Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển nhượng sở hữu vốn, từ đó góp phần tưng thêm sự mời gọi đối với giớiđầu tư, bởi lẽ người ta cảm thấy không bị bó buộc trong một phạm vi may rủi hạn hẹp mà có thể dẽ dàngchuyển vốn đầu tư trên thị trường tài chính so với những hình thức đầu tư khác.
• Thứ hai thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tàichính, các chủ thể trên thị trường tài chính tận dụng mọi nguồn tài chính trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho nguồn tài chính vận động từ nguồn tài chính kém hiệu quả sang nơi kinh doanh có hiệu quả
• Thứ ba tạo điều kiện thực hiện chính sách tài chính tiên tệ của nhà nước, thị trường tài chính tạo điều kiệnthúc đẩy chính sách đầu tư, chính sách huy động và sựdụng nguồn tài chính, kiềm chế lạm phát, thự hiện chính sách tiền tệ thông qua các nghiệp vụ thị trường
mở, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc lại suấtchiết khấu…
1.2.2 Kết luận: sau khi hoàn thành môn học
Em biết thêm được rất nhiều vấn đề liên quan tới thị trường chứng khoán
Và một số vấn đề cần thiết để học những môn học có liên quan khác và bổ xung kiến thức sau này khi đi làm
Chương 2: Tổng quan về thị trường chứng khoán
Trang 92.1 Khái niệm:
Thị trường chứng khoán ( TTCK ) được hiểu một cách chung nhất
là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán Nghĩa là ở đâu có giao dịch mua bán chứng khoán ở đó là hoạt động của TTCK
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi
sổ, nó có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư, cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán , tùy theo tính chất sở hữu của chúng Có nhiều cách để phân loại chứng khoán dựa theo các tiêu thức khác nhau Nếu dựa theo tính chất của chứng khoán thì hàng hóa trên thị trường bao gồm hai loại chủ yếu là chứng khoán vốn và chứng khoán nợ
Đối với chứng khoán vốn, mà đại diện là cổ phiếu, nó xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu phần góp vốn đó của cổ đông đối với tài sản của công ty cổ phần Cổ đông có thể tiến hành mua bán,
chuyển hượng các cổ phiếu trên thị trường thứ cấp theo quy định của pháp luật Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham gia quản lý công ty thông qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại đại hội cổ đông, quyền mua trước đối với cổ phiếu phát hành mới
Với chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của tổ chức phát hành phải trả cho chủ sở hữu chứng khoán toàn bộ giá trị cam kết bao gồm cả gốc và lãi sau mộtthời hạn nhất định
Với đặc tính trên, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính
mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ sở hữu đối với tổ chức phát hành
Trang 10Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường
sơ cấp hay ở thị trường thứ cấp, tại cơ sở giao dịch hay tại thị trường giaodịch qua quầy, ở thị trường giao ngay hay ở thị trường kì hạn Các quan
hệ mua bán trao đổi là thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang
tư bản kinh doanh
Quá trình vận động của tư bản được thực hiện xuất phát từ chức năng kinh tế nòng cốt của thị trường tài chính trong việc dẫn vốn từ người tạm thời dư thừa vốn sang người cần vốn Sự di chuyển vốn được thể như sau:
Tài trợ gián tiếp
Các trung gian tài chính
o hàng thương mại
o Ngân Bảo hiểm, quỹ hưu trí
o Tổ chức nhận tiền gửi và cho vayvốn Vốn
Vốn
Người cho vay vốn Người đi vay vốn
1 Hộ gia đình 1 Hộ gia đình
2 Doanh nghiệp 2 Doanh nghiệp
3 Chính phủ 3 Chính phủ
Thị trường tài chính
Trang 11Tài trợ trực tiếp
Sơ đồ 1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dich vốn được thực hiện qua hai con đường trực tiến, gián tiếp Những người cần vốn có thể huy động trực tiếp từ những người tạm dư thừa vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ Hoặc con đường thứ hai để dẫn vốn là thông qua các trung gian tài chính, đây là một bộ phận đã chuyển tải một khối lượng đáng kể nguồn tiết kiệm đưa vào đầu tư và góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ lưu chuển vốn
Như vậy, thị trường tài chính có vai trò hết sức quan trọng trong việc tích tụ, tập trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế được xem là đặc trưng cơ bản cửa thị trường vốn, TTCK làthị trường mà giá cả của chứng khoán ( hàng hóa trên thị trường) chính là giá cả của vốn đầu tư, vì vậy, TTCK được coi là hình thứcphát triển bậc cao của nền kinh tế thị trường
2.3 Cơ cấu tổ chức trên thị trường chứng khoán
a căn cứ vào phương thức giao dịch
- Thị trường giao dịch ngay ( thị trường thời điểm ):
Thị trường giao dịch mua bán theo giá tại thời điểm ngày hôm đó, việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra sau đó vài ngày , tùy theo mỗi thị trường chứng khoán quy định riêng số ngày
Thị trường tương lai: thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp đồng mà giá cả được thỏa thuận ngay trong ngày giao dịch, việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn ở tương lai ( 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm,…)
b Căn cứ vào tính chất chứng khoán giao dịch
Trang 12Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch mua bán các loại cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
Thị trường trái phiếu: Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch
và mua bán trái phiếu đẫ được hình thành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường chứng khoán phái sinh bao gồm, thị trường hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn,… Đây là thị trường cấp cao mua bán chuyển giao các công cụ tài chính cấp cao, do đó thị trường này chỉ xuất hiện ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao
c Căn cứ vào lưu chuyển vốn
Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát hành, nhà đầu tư mua đai bán lại chứng khoán nhằm vàomột trong các mực đích như cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch giá
2.4 Chức năng của thị trường chứng khoán
a Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán cho các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mực đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ nhu cầu chung của xã hội
Trang 13b Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chon phong phú Các lại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đàu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
c Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán cac nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác nhau khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặ tính thanh khoản là một trong những đặc tính hấn dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường ngày càng cao
d Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính sác, giữ cho việc đáng giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo
ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ báocủa thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá của chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nên kinh tế tăng trưởng Ngược lại giá chứng khoán giảm
sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi
là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp chínhphủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo nguồn thu bù đắp thâmhụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động và TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
2.5 Vai trò của thị trường chứng khoán
Xu thế hội nhập và quốc tế hóa nền kinh tế đòi hỏi tự bản thân mỗi quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao
Trang 14Một thị trường tài chính năng động có khả năng là tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế hơn bất cứ một loại tài nguyên nào, mà trong đó TTCK làmột định chế tài chính rất quan trọng Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của TTCK trong phát triển kinh tế.
- TTCK tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối, chuyển tạm thời của vốn phù hợp với yêu cầu pháttriển của nền kinh tế
- TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp
- TTCK góp phần thực hiện tái phân phối, giải tỏa tập trung quyền lực kinh tế tạo điều kiện cạnh tranh công bằng, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế
- TTCK tạo cơ hội cho các chính phủ có thể huy động được các nguồn tài chính để phục vụ cho các mục đích của mình, hơn nữa hoạt động tài chính còn góp phần giúp tăng ngân sách cho nhà nước, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ
- Việc mở của TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tạo cơ hội cho các công ty trong nước có thể phát triển mạnh hơn
- TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời cho nhà kinh doanh trong tươnglai
Ngoài những tác động tích cực trên, thì TTCK cũng có những tác động tiêu cực nhất định Thị trường hoạt động dựa trê cơ sở thông tin hoàn hảo, tuy nhiên, thị trường không phải nhà đầu tư nào cũng có khả năng tiếp cận thông tin đầy đủ như nhau, vì vậy việc đưa ra các quyết định đầu
tư không hoan toàn dựa tên việc sử lý thông tin, dẫn tới việc giá cả chứngkhoán không phản ánh chính xác giá trị công ty và chưa phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực, hay hiện tượng đâu cơ mua bán nội gián, xung đột quyền lực… Gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư
2.6.1 Chuyên đề môn học
Để thuận hơn cho việc nghiên cứu và hiểu hơn về ngoại hối, em chọn đề tài “Thị trường chứng khoán của Việt Nam hiện nay” Đặc biệt là những biến đổi về chứng khoán trên thị trường SGDCK TP.HCM
Trang 15Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán việt nam
2.1 Tổng quan thực trạng thị trường chứng khoán việt nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển SGDCK TP.HCM
Sau hơn 6 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán còn non trẻ của việt nam đã dần phát triển về nhiều mặt, dần định hình trở thành một kênh huy động vốn năng động, hiệu quả cho nền kinh tế đất nước
Cho đến nay, SGDCK TP.HCM đã đật những thành quả rất đáng khích
lệ Tính đến ngày 31/12/2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 ngàn tỷ đồng, đặc biệt có 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia niêm yết; 03 chứng quỹ đầu tư với khối lượng 171,4 triệu đơn vị và 366 trái phiếu các loại Dự kiến thời gian tới khối lượng cổ phiếu niem yết tại SGDCK TP.HCM sẽ tăng lên rất nhiều do chính phủ
đã có chủ trương đưa cổ phiếu của một số tổng công ty lớn, các ngan hàng thương mại quốc doanh cổ phần hóa vào niêm yết trên thị trường
Thị trường chứng khoán đã huy động được một khối lượng vốn nhất địnhcho ngân sách nhà nước thông qua việc đấu thầu và bảo lãnh phát hành hàng nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu của quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để niêm yết trên TTCGCK Một hệ thống các tổ chức tài chính trung gian tham gia trên thị trường với 19 công ty chứng khoán, 16 các tổchức hoạt động lưu ký cùng với ngân hàng lưu ký, ngân hàng chỉ định thanh toán đã thực hiện các nghiệp vụ về kinh doanh chứng khoán, về lưu
ký, đăng ký và thanh toán bù trừ Trong những năm qua, các công ty chứng khoán điều đã triển khai được các nghiệp vụ cơ bản là mô giới và
tự kinh doanh, tích cực tham gia tư vấn niêm yết với kết quả kinh doanh
có chiều hướng phát triển tốt các công ty phần lớn đã mở thêm chi nhánh
và đại lý nhận lệnh để mở rộng phạm vi hoạt động Đồng thời thị trường chứng khoán đã thu hút được sự tham gia của công chúng đầu tư trong vàngoài nước với số lượng hơn 53.000 tài khoản của nhà đầu tư được mở ở các công ty chứng khoán, góp phần quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán
Trước sự tăng trưởng của TTCK, số lượng công ty chứng khoán thành viên của SGDCK TP.HCM cũng không ngừng tăng về số lượng, quy mô